intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho HS trường THPT Con Cuông thông qua hoạt động TNST gắn với môn Ngữ văn

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:61

17
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu sáng kiến "Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho HS trường THPT Con Cuông thông qua hoạt động TNST gắn với môn Ngữ văn" nhằm góp phần giáo dục HS nâng cao nhận thức, phát triển năng lực, hình thành thái độ và hành vi đúng đắn trong việc bảo tồn và phát huy BSVHDT; Góp phần rèn luyện kĩ năng thu thập, xử lí và tổng hợp thông tin; kĩ năng làm việc nhóm cho HS.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho HS trường THPT Con Cuông thông qua hoạt động TNST gắn với môn Ngữ văn

  1. PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. Lí do chọn đề tài Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu hướng đã, đang và sẽ diễn ra ngày càng mạnh mẽ trong thế giới ngày nay của chúng ta. Toàn cầu hoá thâm nhập tới hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống, từ kinh tế, chính trị, giáo dục cho tới xã hội, đời sống của mỗi người. Toàn cầu hoá thúc đẩy sự hội nhập và mang tới nhiều cơ hội phát triển KTXH, nhưng cũng tạo ra những thách thức vô cùng to lớn, có thể có những ảnh hưởng tiêu cực khó lường đối với vấn đề bảo tồn, phát huy và phát triển các giá trị văn hóa riêng biệt, độc đáo, có tính truyền thống của mỗi dân tộc, quốc gia trong bối cảnh và đặc điểm mới của thế giới hiện đại. Đáng chú ý, sự phát triển chóng mặt của toàn cầu hoá, đặc biệt là công nghệ 4.0, đã tạo cơ hội thuận lợi trong việc tương tác xã hội, giao thoa văn hoá đối với lớp trẻ ngày nay. Trong khi đó nhận thức và tâm lý của thế hệ này thường thích mới mẻ, hiện đại, thích sự thể hiện bóng bẩy bên ngoài mà không chú trọng tới giá trị cốt lõi bên trong. Đây chính là một thách thức to lớn cho việc bảo tồn bản sắc văn hoá (BSVH) của từng dân tộc trước xu thế hội nhập. Từ đó, đặt ra một yêu cầu bức thiết cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc cần phải đưa ra các chính sách phù hợp, hiệu qủa trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc (BSVHDT) trong quá trình phát triển. Việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT cho học sinh (HS) có ý nghĩa và chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nhà trường. Con Cuông là huyện miền núi vùng cao biên giới thuộc miền Tây của tỉnh Nghệ An, là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Trong quá trình sinh sống, các tộc người đã làm nên đặc trưng văn hóa mang đậm bản sắc tộc người, góp phần làm phong phú thêm VHDT xứ Nghệ. Từ đó đến nay, Con Cuông vẫn còn lưu giữ tron g lòng những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của cộng đồng cư dân Thái, Kinh, tộc người Đan Lai chung sống bao đời nay trên đất Con Cuông. Trường THPT Con Cuông là trường học có số lượng HS với nhiều dân tộc khác nhau, nhiều nét đặc thù riêng. Ngày nay, HS có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, trong đó có những nền văn hóa mới có sức hút mạnh mẽ, nhất là đối với HS dân tộc thiểu số. Điều này làm cho các em dễ xa rời nền văn hóa truyền thống, nhất là văn hóa của dân tộc thiểu số các em, làm cho một bộ phận không nhỏ các em không còn yêu thích, quý trọng truyền thống văn hóa của dân tộc mình, thậm chí muốn rũ bỏ để tiếp cận văn hóa hiện đại, BSVH tộc người đứng trước nguy cơ 1
  2. bị lãng quên. Vì vây, vấn đề đặt ra là cần phải tìm những cách thức để nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT cho HS. Vấn đề này chưa có tác giả nào nghiên cứu chi tiết và đưa ra những giải pháp cụ thể. Việc giáo dục ý thức bảo tồn, phát huy BSVHDT trong nhà trường THPT nói chung, trường THPT Con Cuông nói riêng đã được thực hiện, nhưng nhìn chung chưa toàn diện và hiệu quả. Chúng t ôi nhận thấy một số giáo viên (GV) còn chưa chú trọng nhiều về giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT cho HS, ngay cả đối với GV bộ môn Ngữ văn, bộ môn vốn có rất nhiều lợi thế trong việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT cho các em, do đó nhận thức của các em về vấn đề này còn nhiều hạn chế. Thậm chí còn có tình trạng HS cho rằng đó là trách nhiệm của chính quyền hoặc của người lớn. Thực trạng đó đã làm cho BSVHDT dần mai một. Nhằm giúp cho HS nhìn nhận sâu sắc và có thái độ, hành vi đúng đắn trước vấn đề bảo tồn và phát huy BSVHDT của địa phương nơi các em đang sinh sống, cũng như việc tìm hiểu tích lũy kiến thức và nâng cao chất lượng dạy học ngữ văn trong bối cảnh đổi mới nền giáo dục nước nhà, chúng tôi đã suy nghĩ, tìm tòi và mạnh dạn chọn đề tài “Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT cho HS trường THPT Con Cuông thông qua hoạt động TNST gắn với môn Ngữ văn” để viết sáng kiến kinh nghiệm. 1.2. Lịch sử nghiên cứu Trên thực tế, đã có không ít các tài liệu liên quan, như các bài viết mang tính nghiên cứu riêng, các tham luận hội thảo, các đề tài luận văn, các SKKN...Riêng về vấn đề trải nghiệm sáng tạo (TNST), nghiên cứu về BSVHDT và giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT bản thân tôi đã sưu tầm được một số tài liệu sau: Huỳnh Công Bá, (2008), Cội nguồn và văn hóa dân tộc Việt Nam, nhà xuất bản Thuận Hóa; Phan Ngọc (2010), Văn hóa dân tộc Việt Nam, nhà xuất bản văn học; Trần Quang Phúc (2010), Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nhà xuất bản lao động xã hội.; Đinh Thị Kim Thoa (2015), Tài liệu tập huấn kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường Trung học, Chương trình phát triển GV Trung học của Bộ GD& ĐT; Di sản văn hóa Con Cuông (2020), nhà xuất bản Nghệ An; SKKN Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy di sản văn hóa qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường THPT (trên địa chỉ https://sangkienkinhnghiem.org); SKKN Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT (trên địa chỉ https://thpt-tranhungdao.namdinh.edu.vn) ... Kết quả nghiên cứu của các tác giả được đề cập ở phạm vi rộng lớn 2
  3. và mang tính bao quát. Riêng vấn đề giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT cho HS trường THPT đã được đề cập đến trong một số bài viết trên một số trang web, SKKN nhưng chưa cụ thể; và việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT thông qua hoạt động TNST gắn với môn Ngữ văn đang là vấn đề còn mới mẻ. Con Cuông là vùng đất có bề dày lịch sử và văn hóa, đậm đà BSDT, hiện là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng các dân tộc thiểu số như Thái (chiếm hơn 70% dân số huyện), tộc người Đan Lai, Kinh, Hoa, Nùng... Những di tích lịch sử - văn hóa, các hoạt động lễ hội, phong tục tập quán, kho tàng ngữ văn dân gian nơi đây... phản ánh sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, các cuộc đấu tranh, cải tạo thiên nhiên dựng bản, lập mường, tổ chức xã hội của các dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An. Tuy nhiên, những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số huyện Con Cuông, đặc biệt là kho tàng ngữ văn dân gian vô cùng phong phú nhưng chưa được nhiều người biết đến nhất là thế hệ trẻ. Vì vậy, những giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một bởi công tác giáo dục cho thế hệ trẻ chưa được chú trọng đúng mức. Kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học, đồng thời thực hiện mục tiêu giáo dục tích cực hóa hoạt động nhận thức cho HS, giúp các em phát triển các năng lực và có hành vi đúng đắn trước vấn đề bảo tồn và phát huy BSVHDT, chúng tôi đã chọn đề tài “Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT cho HS trường THPT Con Cuông thông qua hoạt động TNST gắn với môn Ngữ văn”. 1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1.3.1. Mục đích - Giáo dục HS nhận thức được ý nghĩa của BSVHDT cho HS THPT. - Góp phần giáo dục HS nâng cao nhận thức, phát triển năng lực, hình thành thái độ và hành vi đúng đắn trong việc bảo tồn và phát huy BSVHDT - Góp phần rèn luyện kĩ năng thu thập, xử lí và tổng hợp thông tin; kĩ năng làm việc nhóm cho HS. 1.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của nội dung giáo dục BSVHDT thông qua hoạt động TNST để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong học tập môn Ngữ văn gắn với địa phương. - Sử dụng các phương pháp, hình thức dạy học phù hợp để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong vấn đề bảo tồn và phát huy BSVHDT. 3
  4. - Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của đề tài. - Đưa ra được các kết luận và kiến nghị. 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.4.1. Đối tượng - GV tham gia giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT - HS THPT trong việc bồi dưỡng ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT thông qua việc tham gia các hoạt động TNST. 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu - Kiến thức: Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT thông qua việc tổ chức hoạt động TNST cho HS ở trường THPT. - Không gian: Tổ chức cho HS thực nghiệm tại một số địa điểm trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An - Thời gian thực hiện: Năm học 2021 - 2022. 1.5. Phương pháp nghiên cứu 1.5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết Phương pháp lí thuyết là phương pháp thu thập thông tin thông qua đọc sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và tư tưởng cơ bản là cơ sở lí luận của đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán những thuộc tính của đối tượng nghiên cứu xây dựng những mô hình lí thuyết hay thực nghiệm ban đầu. - Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đọc các tài liệu liên quan đến đề tài để chọn lọc những kiến thức cơ bản phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. - Phương pháp hệ thống hóa: Nghiên cứu các tài liệu, phân chia thành những mục theo mục đích mà mình nghiên cứu. - Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tiến hành so sánh, đối chiếu các tài liệu và các nội dung, hoạt động có liên quan để phục vụ cho quá trình nghiên cứu. 1.5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp quan sát: Quan sát thực trạng tổ chức các hoạt động TNST ở trường THPT. Từ thực tế đó rút ra được những mặt đã làm được, những mặt chưa làm được của việc tổ chức hoạt động TNST trong dạy học trên lớp môn Ngữ văn. - Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên diện rộng nhằm phát hiện các quy luật phân bố, trình độ phát 4
  5. triển, đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Kết quả của phương pháp điều tra là những thông tin quan trọng về đối tượng nghiên cứu làm cơ sở thực tiễn để đề xuất các giải pháp. Phương pháp này được thực hiện nhằm thu thập thông tin về thực trạng tổ chức hoạt động TNST trong nhà trường THPT. - Phương pháp chuyên gia: Tổ chức thảo luận chuyên đề để lấy ý kiến các chuyên gia về một số kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Tìm hiểu những nội dung chuyên sâu, có độ chính xác cao để phục vụ cho đề tài. Phương pháp cũng được sử dụng để đánh giá tính khả thi của việc tổ chức hoạt động TNST khi tổ chức thực nghiệm. - Phương pháp thực nghiệm sư phạm + Xây dựng các mẫu hoạt động TNST trong dạy học trên lớp môn ngữ văn ở THPT, tiến hành thực nghiệm ở một số lớp trong khối 10. + Lựa chọn các lớp thực nghiệm. + Xử lí kết quả thực nghiệm: Phân tích kết quả khảo sát, điều tra theo dõi của lớp thực nghiệm. - Phương pháp thống kê và phân tích số liệu: là phương pháp sử dụng một số công thức toán học, phần mềm Excel để xử lí thống kê và đánh giá kết quả điều tra, kết quả thực nghiệm. 5
  6. PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1. Cơ sở lí luận 2.1.1. Lí luận chung về bản sắc văn hóa dân tộc 2.1.1.1. Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "bản sắc" dùng để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó. Trong thực tế, khi nói "bản sắc" thường là nói tới cái riêng, cái rất riêng của một sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác trong thế giới khách quan. Cách định nghĩa này có phần nhấn mạnh cái riêng, cái đặc thù, cái biểu hiện ra bên ngoài của bản chất sự vật. "Bản sắc" là một từ ghép có gốc Hán - Việt nên có một cách tiếp cận khác là phân tích trên ngữ nghĩa của hai từ "bản" và "sắc". Theo đó, "bản" là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; "sắc" là sự biểu hiện cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài. Cách tiếp cận thứ hai này có tính hợp lý hơn bởi khái niệm "bản sắc" được nhận thức trên cả 2 mặt: mặt bản chất bên trong và mặt biểu hiện bên ngoài và giữa hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau. Thuật ngữ bản sắc thường được sử dụng gắn với văn hóa và dân tộc. Có thể hiểu BSVH là hệ thống các giá trị đặc trưng bản chất của một nền văn hoá được xác lập, tồn tại, phát triển trong lịch sử và biểu hiện thông qua nhiều sắc thái văn hóa. Nhưng chỉ khi tiếp cận BSVH của dân tộc thì ý nghĩa của nó mới thể hiện một cách trọn vẹn. Nếu tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử thì BSVHDT là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được dân tộc sáng tạo ra trong lịch sử, là những nét độc đáo rất riêng của dân tộc này so với dân tộc khác. Xét về bản chất, BSVHDT thể hiện linh hồn, cốt cách, bản lĩnh của một dân tộc. Đây được coi là “dấu hiệu khác biệt về chất” giữa dân tộc này với dân tộc khác. Tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp ở Venise, F. Mayor - nguyên Tổng giám đốc UNESCO đã đưa ra một định nghĩa khái niệm văn hóa trên cơ sở nhấn mạnh tính đặc thù của BSVHDT: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”. Trong quá trình tồn tại và phát triển, BSVH là yếu tố mang sức mạnh tinh thần dân tộc, giúp dân tộc vượt qua những thử thách của lịch sử, bởi vì “bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất, tính cách, 6
  7. khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất”. Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy BSVHDT đã và đang được nhiều quốc gia coi trọng và có những giải pháp cụ thể trong quá trình phát triển. 2.1.1.2. Kết cấu bản sắc văn hóa dân tộc BSVHDT là một hiện tượng phức tạp, biểu hiện phong phú, đa dạng. Để có nhận thức đầy đủ hơn thì ngoài việc định nghĩa, còn có thể sử dụng phương pháp phân tích kết cấu của BSVHDT qua mô hình hóa cấu trúc phương thức biểu hiện của nó (theo chiều dọc và chiều ngang). Ngôn ngữ, trang phục, Tầng diện 3 phong tục tập quán, nghi lễ, kiến trúc, văn hóa ẩm thực,… Tầng diện 2 Cách thức Lối sống, lý tư duy tưởng,… BSVHDT Thế giới Nhân sinh Tầng diện 1 quan quan Hình 1. Cấu trúc phương thức biểu hiện của bản sắc văn hoá dân tộc (theo chiều dọc) Với kiểu mô hình hóa theo chiều dọc như ở hình 1, kết cấu của BSVHDT được biểu đạt thông qua 3 tầng diện của cấu trúc phương thức biểu hiện Tầng diện 1 – Đây là tầng diện sâu nhất, mang tính bản chất và tương đối ổn định so với các tầng diện khác trong toàn bộ hệ thống cấu trúc. BSVHDT nằm ở tầng diện này mang vai trò "kép": một mặt, giữ vai trò là hạt nhân chi phối toàn bộ hệ thống và quyết định biểu hiện của các yếu tố ở tất cả các tầng diện; mặt khác, nó chính là cái ẩn sâu bên trong các yếu tố trong hệ thống hay nói cách khác, phương thức biểu hiện sự tồn tại của nó là phải thông qua các yếu tố, trước hết ở tầng diện 1- qua thế giới quan và nhân sinh quan. Qua đó, những đặc trưng lớn, những hệ giá trị căn bản của BSVHDT được biểu hiện như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử của mỗi dân tộc. Tầng diện 2 - Cách thức tư duy, lối sống, lý tưởng thẩm mỹ. Đây là tầng nấc trung gian để từng bước hiện thực hoá thế giới quan, nhân sinh 7
  8. quan mang đậm BSVHDT trong đời sống xã hội. Ở tầng diện này, quá khứ và hiện tại kết nối với nhau bởi các mối liên hệ lịch sử và lôgíc. Nếu ở tầng diện 1 BSVHDT biểu hiện có tính cô đọng, phổ quát cao và mang tính ổn định tương đối, thì ở tầng diện 2 nó được biểu hiện có tính cụ thể, đa dạng, phong phú và biến đổi hơn. Tầng diện 3 – Ngôn ngữ, trang phục, phong tục tập quán, lễ nghi, kiến trúc, kho tàng văn học nghệ thuật dân gian… là những biểu hiện vô cùng phong phú và đa dạng của BSVHDT trong đời sống xã hội. Ở cấp độ biểu hiện này, một mặt, nó phản ánh sự tiếp nối của lịch sử dân tộc. Cũng có thể diễn đạt rõ hơn sự biến đối của BSVHDT qua mô hình cấu trúc phương thức biểu hiện của BSVHDT theo chiều ngang. Tầng diện 1 Tầng diện 2 Tầng diện 3 Sự biến đổi của kinh tế - xã hội Sự biến đổi của môi trường tự nhiên Hình 2. Cấu trúc phương thức biểu hiện của bản sắc văn hoá dân tộc (theo chiều ngang) Việc mô hình hóa kết cấu BSVHDT thể hiện qua 3 tầng diện biểu hiện theo chiều dọc và chiều ngang nhằm làm rõ hơn bản chất, xu hướng biến đổi của nó trong lịch sử; từ đó, có nhận thức đúng đắn trong quá trình bảo tồn và phát huy BSVHDT. Tuy nhiên, đó mới chỉ là làm sáng tỏ hơn về mặt khái niệm và kết cấu của BSVHDT, còn để có cơ sở nghiên cứu đầy đủ, toàn diện hơn, cần tiếp tục phân tích trên một số vấn đề lý luận khái quát từ thực tiễn lịch sử xã hội để định hướng cho quá trình nghiên cứu BSVHDT. 2.1.2. Lí luận về hoạt động trải nghiệm sáng tạo 2.1.2.1. Quan niệm về hoạt động trải nghiệm sáng tạo Hoạt động TNST là hoạt động giáo dục trong đó từng HS được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, các kĩ năng và 8
  9. tích lũy kinh nghiệm riêng như phát huy tiềm năng sáng tạo cá nhân mình. Trong dạy học ở phổ thông hiện nay, cụm từ hoạt động TNST được nhắc đến khá nhiều, đang là một vấn đề quan tâm của ngành giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung. Đây là các hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông. Theo GS.TS Nguyễn Minh Thuyết – Tổng chủ biên chương trình sách giáo khoa THPT, chương trình mới có hai loại hoạt động TNST: Loại 1 là hoạt động TNST trong từng môn học nhằm trải nghiệm kiến thức môn học trong thực tiễn. Loại 2 là hoạt động TNST mang tính tích hợp, trong đó HS dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực giáo dục và nhóm kĩ năng khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống và tham gia hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục. Hoạt động TNST được phân bổ thời lượng giáo dục riêng trong Dự thảo chương trình tổng thể thuộc loại 2 chiếm 105 tiết/năm (riêng lớp 10 là 70 tiết). Như vậy, hoạt động TNST là một hoạt động quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới; là hoạt động giúp HS vận dụng những tri thức, kĩ năng, thái độ đã học từ nhà trường và những kinh nghiệm của bản thân vào trong thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo. Bên cạnh việc hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực chung của chương trình giáo dục, HĐTNST còn tập trung hình thành, phát triển các năng lực đặc thù cho HS: Năng lực tổ chức hoạt động, năng lực tổ chức và quản lí cuộc sống, năng lực tự nhận thức và tích cực hoá bản thân, năng lực định hướng và lựa chọn nghề nghiệp. Đây là cơ sở giúp HS hình thành những phẩm chất và phát triển năng lực cá nhân. Với cách hiểu về HĐ TNST như trên, có thể thấy bất kỳ môn học, lĩnh vực nào cũng có thể xây dựng nội dung trải nghiệm. Nội dung TNST rất đa dạng, mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập, giáo dục như: đạo đức, trí tuệ, kỹ năng sống, giá trị sống, nghệ thuật, thẩm mỹ, thể chất, an toàn giao thông, môi trường... GV có thể lựa chọn những vấn đề thiết thực, gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của HS, giúp các em vận dụng hiểu biết vào thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi. 2.1.2.2. Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo Đặc điểm nổi bật của hoạt động TNST là HS được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn, kết hợp với kiến thức đã học, dưới sự hướng dẫn, tổ chức của GV để nâng cao kiến thức, hình thành phẩm chất và phát triển năng lực. Một trong những nguyên tắc của việc tổ chức 9
  10. hoạt động TNST đó là gắn với các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương nhằm “trang bị cho HS những hiểu biết về nơi sống, bồi dưỡng cho HS tình yêu quê hương, ý thức tìm hiểu và vận dụng những kiến thức đã học để góp phần giải quyết những vấn đề của địa phương” . Hoạt động TNST là hoạt động giáo dục theo chủ đề; được thiết kế, tổ chức, thực hiện theo hướng tích hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ đề mang tính chất mở, hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, giúp HS có nhiều cơ hội tự trải nghiệm và phát huy khả năng sáng tạo của bản thân. HĐ TNST có một số đặc điểm chính sau: - Về mục tiêu: Hoạt động TNST hướng đến việc hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, kĩ năng sống và những năng lực chung cần có trong xã hội hiện đại. Trong đó, chú trọng tới việc vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, gắn với môi trường văn hóa, kinh tế, xã hội của địa phương để góp phần giáo dục giá trị văn hóa truyền thống địa phương cho HS. - Về nội dung: Gắn kiến thức trong nhà trường với thực tiễn địa phương, tổng hợp nhiều lĩnh vực giáo dục, môn học. Những nội dung này được thiết kế thành các chủ đề giáo dục mang tính mở, không yêu cầu mối liên hệ chặt chẽ giữa các chủ đề. - Về hình thức tổ chức: Hoạt động TNST có sự đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng. Có thể được tổ chức trong và ngoài lớp học, trong và ngo ài nhà trường, thông qua các hoạt động thực tế như: tham quan , dã ngoại, cắm trại, tham gia trò chơi, sân khấu tương tác, trải nghiệm thực tế,... HS có cơ hội được trải nghiệm; nhiều lực lượng cùng tham gia chỉ đạo, tổ chức trải nghiệm với các mức độ khác nhau (GV, các chuyên gia, phụ huynh, các doanh nghiệp,...). Tương tác trong hoạt động TNST là đa chiều. Hoạt động TNST là một trong những hoạt động được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông mới. Những nghiên cứu lí luận và thực tiễn dạy học cho thấy, một trong những ưu thế của hoạt động TNST là nâng cao nhận thức, góp phần giáo dục cho HS các giá trị văn hóa, truyền thống của địa phương; là cơ sở để gắn lí luận với thực tiễn, phát triển cho HS năng lực vận dụng kiến thức, năng lực tự học và học tập suốt đời. Đồng thời, đây chính là cơ sở để đạt được các mục tiêu giáo dục khác. 2.1.2.3. Một số hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông Hoạt động TNST trong nhà trường phổ thông cần được thiết kế, tổ chức phong phú, đa dạng và thu hút được sự hứng thú tham gia của HS. Hoạt động 10
  11. TNST cần nghiên cứu phù hợp với độ tuổi, mối quan tâm của HS và thích hợp với các điều kiện đáp ứng của trường học. Từ đó, việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT được thực hiện một cách tự nhiên, nhẹ nhàng nhưng không kém phần sinh động, hấp dẫn. Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định. Qua nghiên cứu, chúng tôi xin đề xuất một số hình thức dạy học giúp HS TNST hiệu quả khi học tập các môn học trong nhà trường phổ thông, trong đó có môn Ngữ văn. a. Tổ chức các câu lạc bộ - Câu lạc bộ là hình thức hoạt động ngoại khoá cho cùng một nhóm HS có cùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu, mối quan tâm. Câu lạc bộ văn hoá dân tộc sẽ tập hợp những em HS yêu thích văn hoá, văn nghệ của dân tộc mình, truyền cho các em cảm hứng và niềm tự hào về vẻ đẹp của dân tộc mình. Từ việc thiết kế các hoạt động của câu lạc bộ sẽ thúc đẩy các em tìm tòi tài liệu, tìm hiểu thông tin về văn hoá, dân tộc, các tác phẩm văn học giàu tính văn hoá dân tộc như Vợ chồng A Phủ,…từ đó sẽ giúp các em vừa củng cố được kiến thức bài học ngữ văn trên lớp, vừa có nhiều hiểu biết về văn hoá, dân tộc sâu rộng hơn. Sinh hoạt câu lạc bộ cũng giúp truyền thông, quảng bá được các hoạt động liên quan tới văn hoá, dân tộc, thu hút thêm nhiều người quan tâm và tìm hiểu, sẽ góp phần bảo tồn và phát huy BSVHDT. - Để hoạt động CLB đạt hiệu quả, cần tổ chức hoạt động định kì và với các chủ đề thảo luận thú vị, phong phú và phù hợp với tâm lý HS như tình yêu của trai gái đồng bào dân tộc thiểu số, tục lệ cưới hỏi của người Thái, ngày tết của đồng bào Mông qua các tác phẩm văn học, v.v. b. Giao lưu - Giao lưu là hoạt động kết nối, chia sẻ và lan toả hiệu quả một chủ đề nào đó. Có thể là tổ chức gặp gỡ, giao lưu với một nhân vật, đối tượng trong một lĩnh vực nào đó, hoặc giao lưu giữa những nhóm sở thích, nhóm có nguyện vọng kết nối với nhau. Đặc biệt, Con Cuông là địa phương có nhiều nghệ nhân văn hoá, nhà dân tộc học giàu kinh nghiệm, là một lợi thế rất lớn để tổ chức các hoạt động giao lưu. - Trong việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT thông qua hoạt động TNST gắn với môn Ngữ văn, có thể tổ chức các buổi giao lưu giữa HS với các nhà dân tộc học, nghệ nhân, những người có uy tín, am hiểu sâu rộng về các phong tục tập quán, văn hoá truyền thống của dân tộc. Các nhân vật được mời giao lưu sẽ chia sẻ những hiểu biết, câu chuyện về VHDT để truyền dạy kiến thức cũng như tình yêu với văn hoá cho các em HS. Cũng qua đây, các em HS có cơ hội được hỏi thêm về những tác phẩm ngữ văn có màu sắc VHDT đã được học. Những kiến thức trong các tác phẩm sẽ dễ dàng khắc ghi đối với HS thông qua những câu chuyện, sự chia sẻ của những buổi giao lưu. 11
  12. c. Sân khấu tương tác - Sân khấu tương tác là một hình thức nghệ thuật tương tác thông qua hoạt động biểu diễn, thông thường là diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được thực hiện bởi những người tham gia. Tổ chức hoạt động sân khấu tương tác trong nhà trường sẽ thu hút được đông đảo HS tham gia. Có thể tổ chức trong không gian lớp học hoặc không gian mở trước toàn trường. - Các HS sẽ lựa chọn những tác phẩm ngữ văn có chủ đề, nội dung liên quan tới VHDT để diễn kịch, ví dụ như tác phẩm Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái, khán giả là các HS khác sẽ phải tương tác thông qua trả lời câu hỏi, hay thực hiện tiếp nội dung như các em đã được học qua tác phẩm hoặc sáng tạo mới từ đó. Điều này vừa giúp các em nhớ lại được những bài học ngữ văn, vừa giúp các em tìm hiểu sâu hơn về ý nghĩa của các giá trị VHDT thông qua các các tác phẩm, và tạo sự hứng thú đối với việc học ngữ văn. d. Tổ chức tham quan, dã ngoại - Tham quan, dã ngoại là một trong những hình thức học tập trải nghiệm thú vị, thu hút được sự quan tâm của các em HS và mang đến những hiệu quả đáng ghi nhận. Các em HS không chỉ ngồi gò bó trong lớp học để nghe giảng mà sẽ có cơ hội được tham quan danh lam thắng cảnh của địa phương gắn với văn hoá lịch sử như thành Trà Lân trong Bình Ngô đại cáo,…Đặc biệt sẽ được trải nghiệm các phong tục, tập quán mang đậm BSVHDT của đồng bào thiểu số tưởng như chỉ được nghe qua lời giảng của GV, ví dụ như lễ tết của đồng bào Mông, chợ phiên miền núi, v.v. - Mỗi nội dung tham quan, dã ngoại sẽ gắn với chủ đề BSVHDT để bổ sung thêm kiến thức thực tiễn cho các em HS, để các em thấy rằng VHDT cũng thật gần gũi, sinh động và gắn liền với cuộc sống, đồng thời nâng cao ý thức bảo tồn, giữ gìn và phát huy. - Việc tổ chức hoạt động trải nghiệm tham quan, dã ngoại đang ngày càng được các nhà trường và phụ huynh chú trọng, tuy nhiên hoạt động này cần được chuẩn bị, tổ chức kỹ lưỡng, an toàn và phù hợp với điều kiện về thời gian, kinh phí của nhà trường cũng như HS. e. Tổ chức các cuộc thi - Các cuộc thi trong phạm vi lớp học, toàn trường sẽ là hoạt động đòi hỏi các em HS dành thời gian tìm hiều, nghiên cứu thông tin, kiến thức đã được học trong các tác phẩm cũng như ngoài cuộc sống. Độ tuổi HS phổ thông là thời kỳ thích được thể hiện bản thân, thích được khẳng định khả năng của mình. Vì vậy các cuộc thi sẽ giúp các em vừa nâng cao được kiến thức, bổ trợ hiểu biết và rèn luyện được kỹ năng mềm như kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp. - Hoạt động trải nghiệm qua các cuộc thi có thể lồng ghép, đan xen được các hình 12
  13. thức trải nghiệm khác như diễn kịch các tác phẩm, giao lưu, thuyết minh kể chuyện lại chuyến tham quan, dã ngoại, v.v. Có thể đưa một tác phẩm ngữ văn yêu cầu các HS tìm hiểu và trả lời các câu hỏi mở rộng, hoặc yêu cầu các em tìm hiểu một nét văn hoá của dân tộc thông qua nhiều tác phẩm ngữ văn trong nhà trường cũng như ngoài sách giáo khoa. - Tính chất cuộc thi sẽ tạo nên tâm lý và nhu cầu tìm hiểu sâu của HS, từ đó các bài học sẽ được khắc ghi hiệu quả hơn, mong muốn khám phá các kiến thức cũng sẽ được thôi thúc. Tuy nhiên cần nghiên cứu tổ chức các cuộc thi với những nội dung phù hợp, cách thức hấp dẫn, thú vị và tạo hiệu quả cũng như truyền tải được tinh thần cầu thị, đoàn kết của HS. f. Tổ chức thảo luận - Đây có lẽ là hình thức tổ chức dạy học trải nghiệm phổ biến và đơn giản nhất trong nhà trường. HS sẽ cùng thảo luận, trao đổi về một nội dung liên quan tới BSVHDT, từ đó hiểu kỹ hơn về tác phẩm và tạo hứng thú mỗi khi học các tác phẩm về văn hoá, dân tộc. Ví dụ có thể yêu cầu các em thảo luận tục bắt vợ, cúng trình ma trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ. - Thực tế hoạt động này hiện nay vẫn chưa tạo được sự thú vị và thu hút sự tham gia của HS. Tuy nhiên nếu GV biết cách tổ chức, dẫn dắt, tạo tâm lý tò mò, tạo sự chủ động cho HS thì có thể đạt hiệu quả cao. GV mang tính chất định hướng, còn HS sẽ chủ động lựa chọn nội dung, hình thức thảo luận, cách tạo hứng thú cho các bạn như tặng quà, phần thưởng, v.v. Ngoài ra, GV cần giải thích và truyền động lực cho HS để HS thấy rằng hoạt động thảo luận sẽ giúp các em nâng cao kỹ năng thảo luận, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng tổ chức, chủ trì, v.v. Từ đó, các em sẽ thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của hoạt động thảo luận. 2.1.2.4. Giáo dục HS thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo Giáo dục HS thông qua hoạt động TNST được thể hiện trên 2 phương diện: a. Về năng lực Giúp HS củng cố và hiểu sâu hơn những kiến thức đã học, kiến thức liên quan đến đời sống KTXH của địa phương - nơi các em sinh sống. Thông qua hoạt động TNST, HS được quan sát, tìm hiểu, trải nghiệm dưới sự hướng dẫn, tổ chức của GV. Qua đó, không chỉ làm phong phú kiến thức thực tiễn cho HS mà còn là cơ sở để đạt được các mục tiêu giáo dục khác. Ưu điểm của HĐTN chính là phát triển cho HS các năng lực học tập. Thông qua các hoạt động được tổ chức có mục tiêu, kế hoạch, H S được tham gia trực tiếp vào hoạt động thực tiễn; từng bước hình thành năng lực tham gia và tổ chức hoạt động, quan sát, làm việc độc lập, nhóm, trình bày vấn đề,... năng khiếu của HS cũng được phát triển mạnh mẽ. 13
  14. b. Về phẩm chất: Bồi dưỡng cho các HS tình yêu quê hương đất nước, sống tình nghĩa, nhân ái, yêu thương, có trách nhiệm trong công việc, biết trân trọng, tự hào về các giá trị di sản văn hóa của địa phương. Từ đó, có ý thức trách nhiệm đóng góp cho việc bảo tồn và phát huy BSVH của dân tộc. Thực tiễn dạy học cho thấy, nhiều GV chưa chú trọng đúng mức đến ý nghĩa giáo dục của hoạt động TNST. Do vậy, yếu tố này bị xem nhẹ từ khâu xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, hình thức đến phương pháp tổ chức hoạt động TNST. Điều này sẽ làm giảm đi hiệu quả của hoạt động TNST, nhất là trong việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT, hình thành phẩm chất cho người học. 2.1.2.5. Một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo - Cần phải lựa chọn hình thức phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng đối tượng HS, đặc trưng nội dung môn học, nhà trường và địa phương. - Khi tổ chức hoạt động TNST cần lưu ý thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GV chủ nhiệm, GV bộ môn, cán bộ Đoàn, BGH nhà trường, cha mẹ HS, chính quyền địa phương, những nghệ nhân, những người lao động tiêu biểu ở địa phương,… - Phạm vi các chủ đề/ nội dung hoạt động và kết quả đầu ra của TNST là năng lực thực tiễn, phẩm chất và năng lực sáng tạo đa dạng, khác nhau của các em HS. Vì vậy, GV không làm thay, không tổ chức, không phân công HS một cách trực tiếp mà chỉ hướng dẫn, hỗ trợ, giám sát cho tập thể hoặc cá nhân HS tham gia trực tiếp; hoặc GV đứng ở vai trò tổ chức hoạt động, giúp HS chủ động, tích cực trong càng nhiều hoạt động càng tốt. - Phải có các biện pháp đảm bảo sức khỏe, an toàn cho HS trong quá trình tổ chức các hoạt động. - Tổ chức hoạt động phải gắn liền với các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp, đảm bảo đánh giá được sự tiến bộ của HS (bài thu hoạch, sản phẩm cụ thể…). 2.1.3. Lí luận về giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc 2.1.3.1. Giáo dục văn hóa dân tộc Giáo dục văn hóa dân tộc là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho HS phẩm chất, năng lực, tri thức cần thiết về giá trị vật chất và tinh thần, các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, kinh nghiệm ứng xử, lối sống, ngôn ngữ, phong tục, tập quán… của các dân tộc được lưu truyền, tồn tích, vận hành nối liền các thế hệ. Giáo dục giúp cho HS 14
  15. hiểu biết về truyền thống, BSVHDT, tôn trọng, giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc mình, tôn trọng văn hóa của các dân tộc anh em. Chính vì vậy, quan tâm đến việc giáo dục văn hóa dân tộc là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong thời gian qua. 2.1.3.2. Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc Giáo dục BSVHDT là hoạt động có định hướng, có tổ chức nhằm hình thành năng lực nhận thức, ý thức ứng xử đúng đắn với các giá trị VHDT và hoàn thiện phẩm chất, đức tính tốt đẹp cho HS trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Để HS biết bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống một cách tự giác, trước hết cần làm cho các em thấy được mối liên hệ cụ thể giữa yếu tố văn hóa truyền thống với sự phát triển hiện nay, tức là hiểu được sự cần thiết và lợi ích của BSVHDT xuất phát từ nhu cầu phát triển của HS. Từ đó, hình thành thái độ tôn trọng và định hướng các hành vi cá nhân trong đời sống hàng ngày. Giáo dục BSVHDT không chỉ đơn thuần là phổ biến tri thức về những giá trị BSVH mà cần xem xét BSVHDT trong mối quan hệ với đối tượng bảo tồn và phát huy nó - đó chính là HS. Như vậy, giáo dục BSVHDT chính là giáo dục ý thức công dân, giáo dục con người một cách toàn diện. Trong nhà trường, hoạt động này có thể đánh giá tổng thể trên một số lĩnh vực cơ bản như: đạo đức, lối sống, học vấn, trí tuệ... thông qua quá trình tác động có định hướng, có mục đích và GV là người tổ chức, hướng dẫn. 2.1.3.3. Tầm quan trọng của việc giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường phổ thông Nhiệm vụ vận dụng các giá trị văn hóa để giáo dục HS là mục tiêu lớn của ngành giáo dục. Nhiệm vụ này đã được khẳng định trong luật giáo dục: “thừa kế và phát huy truyền thống tốt đẹp BSVHDT, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”. Trường THPT có chức năng giáo dục văn hóa dân tộc cho HS, đặc biệt là HS dân tộc thiểu số nhằm đảm bảo quyền của HS trong giáo dục. Nhờ có giáo dục BSVHDT, HS của trường THPT được phát triển toàn diện, giữ gìn được BSVHDT, từ đó trở thành những công dân có tri thức, có văn hóa. Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT trong trường THPT còn góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát triển BSVHDT. Thông qua việc giáo dục về BSVHDT để truyền đạt, giáo dục cho HS có nhận thức cụ thể và sâu sắc về khái niệm BSVHDT; giúp các em nhận diện được những biểu hiện tích cực của BSVHDT trong đời sống 15
  16. sinh hoạt văn hóa xã hội của con người cùng các mối quan hệ tương tác lẫn nhau trên con đường vận động, phát triển của lịch sử dân tộc. Từ đó, cho HS thấy được bản chất tồn tại của đời sống xã hội, giáo dục ý thức cũng như lòng tự hào về truyền thống văn hóa của dân tộc mình. Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT còn có tầm quan trọng đặc biệt ở chỗ: giúp cho HS nhận thức được BSVHDT không phải là một khái niệm của hằng số bất biến, mà trong quá trình vận động của lịch sử xã hội, có những giá trị truyền thống không phù hợp với quy luật của sự phát triển sẽ bị gạt bỏ, tự tiêu vong. Tiếp đó, sẽ có những giá trị mới được hình thành trong quá trình hội nhập, tiếp nối giữa các nền văn hóa. HS dựa vào đó mà có nhận thức chủ động trong việc loại bỏ những yếu tố văn hóa không phù hợp, còn lạc hậu, để tiếp nhận những tri thức và hành động văn hóa mới phù hợp, tránh tư tưởng bảo thủ, máy móc trong lối sống, cách sống và trong sinh hoạt của hình thức văn hóa cổ hủ, lạc hậu từ quá khứ. Đồng thời, HS cần mở mang nhận thức để tiếp nhận tri thức mới một cách có chọn lọc, sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh sống, tâm lý và nhu cầu đánh giá chung của cộng đồng… 2.1.3.4. Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc qua môn Ngữ văn a. Khả năng tích hợp giáo dục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong môn Ngữ văn Những đặc trưng của môn học và yêu cầu đổi mới môn học tạo điều kiện để môn Ngữ văn có thể tham gia vào việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy BSVHDT cho HS trên các phương diện sau: - Những hoạt động thực tiễn của con người trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và thế giới vật chất xung quanh - một bộ phận cấu thành của văn hóa. Nội dung môn Ngữ văn lại mang tính tổng hợp, bao gồm cả tri thức văn hoá, đạo đức, triết học,... liên quan tới nhiều môn học, cũng liên quan mật thiết với cuộc sống, do đó, giúp HS biết quan tâm, gắn bó hơn với đời sống thường nhật, khám phá bản thân và thế giới xung quanh, biết liên hệ và có kĩ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. - Những hoạt động thực tiễn của con người trong mối quan hệ tương tác với môi trường xã hội, xây dựng nên một hệ thống các thể chế tổ chức cuộc sống cộng đồng, hệ thống các thiết chế xã hội như các chuẩn mực sinh hoạt của gia đình, dòng họ, tôn giáo, tính thẩm mỹ của con người... đáp ứng nhu cầu ổn định và tạo thế cân bằng cho đời sống cộng đồng, xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Bộ phận cấu thành này là cơ sở chủ yếu để xây đắp cho BSVH riêng của từng cộng đồng tộc người và dân tộc hay một quốc gia nhất 16
  17. định. Môn Ngữ văn góp phần bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và phát triển cá tính; thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, ý thức góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế. - Hoạt động thực tiễn của con người trong mối quan hệ với chính bản thân với tư cách là một thành viên trong cộng đồng xã hội. Mỗi cá nhân, là thành viên trong cộng đồng, bằng nhận thức và năng lực hoạt động của mình tạo ra các giá trị văn hóa cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, thể hiện qua phong tục tập quán, ngôn ngữ, trang phục, nghi lễ đặc trưng, kiến trúc, kho tàng văn học nghệ thuật... góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại niềm tự hào cho cộng đồng, xã hội, làm cho cộng đồng trở thành có “văn hiến” tồn tại bền vững trong mối quan hệ qua lại với tự nhiên và xã hội. Văn học giúp ta biết về nguồn cuội, gốc rễ. Ngay từ khi mới sinh ra mỗi chúng ta đều được bà, được mẹ hát những câu hát ru trong khi đi ngủ, những câu ca dao mượt mà đằm thắm. Khi ngồi trên ghế nhà trường chúng ta lại được học môn văn, tiếng Việt để biết về nguồn cội, gốc rễ ngày xưa ông cha ta nói và làm những gì? Vậy nên văn chương đi suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Mỗi bài thơ, mỗi tác phẩm đều mang trong mình những bài học sâu sắc. Bài dạy ta về đạo đức, hiếu nghĩa, về những tấm gương chiến đấu chói ngời của ông. Nó cho chúng ta thấy rằng sự bình yên chúng ta đang thừa hưởng không phải dễ dàng có được. Nó là sự hi sinh máu và mạng sống của những người đi trước để giành lại được độc lập như ngày nay. Văn học một lần nữa giúp chúng ta có thái độ biết ơn những người đi trước, những người hi sinh mạng sống để chúng ta có ngày hôm nay, chúng ta hãy sống cho thật xứng đáng. So sánh các định nghĩa và thành tố cấu thành BSVHDT với mục tiêu, nội dung môn Ngữ văn trong trường THPT, ta có thể thấy rằng môn ngữ văn có rất nhiều ưu thế trong việc tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT. Nội dung môn học có thể khai thác để tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT ở rất nhiều bài học xuyên suốt từ văn học dân gian đến văn học hiện đại. b. Mục tiêu giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc qua môn Ngữ văn Tác phẩm văn học mang đến cho con người vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về thế giới. Nó có khả năng phá vỡ mọi giới hạn thời gian, không gian, cho ta được sống cùng với quá khứ, tương lai, được tiếp xúc với cuộc sống của nhiều dân tộc, nhiều vùng đất khác nhau. Văn học dân gian đã phản ánh những vấn đề nằm trong nội dung của văn hóa truyền thống, thể hiện những chức năng của văn hóa truyền thống. Những tác phẩm của một thời đã xa như Truyện Kiều, Hoàng Lê nhất thống chí, Chiến tranh và hoà bình... có thể đưa con người trở về với quá khứ 17
  18. của dân tộc và nhân loại, khi đó “văn học là tiếng nói của các thời đại, là cuộc đối thoại chứa chan tình nghĩa giữa người xưa và người nay” (Nguyễn Khánh Toàn). Những tác phẩm của thời hiện đại như Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Những đứa con trong gia đình,... mở ra trước mắt người đọc bao hiểu biết phong phú về cuộc sống trên đất nước mình với nhiều lĩnh vực khác nhau, từ chiến đấu, sản xuất đến phong tục, tập quán, hoàn cảnh địa lí,...; lại có tác phẩm dẫn người đọc tới những miền đất xa lạ nào đó trên thế giới (Tam Quốc diễn nghĩa, Chiếc lá cuối cùng, Số phận con người,...). Thông qua cuộc sống và hình ảnh của nhiều người khác nhau được trình bày trong các tác phẩm cụ thể, văn học còn giúp cho mỗi người đọc hiểu được bản chất của con người nói. Đồng thời chính từ cuộc đời của người khác, mỗi người đọc có thể liên hệ, so sánh, đối chiếu để hiểu chính bản thân mình hơn với tư cách là một con người cá nhân. Qua đó, HS biết đến những biểu hiện cụ thể của các giá trị BSVHDT, biết được nguyên nhân, ý nghĩa của sự tồn tại các nét bản sắc vốn phù hợp với môi trường sinh thái, môi trường nhân văn để giúp cho xã hội được vận hành và phát triển trong ổn định. Mặt khác HS cũng có điều kiện mở mang nhận thức khi tiếp cận với những thông tin về các nền văn hóa khác, tiếp thu được những cái hay, nét đẹp từ những nền văn hóa đó. Thực hiện giáo dục bảo tồn BSVHDT trong môn Ngữ văn trường THPT nhằm đạt mục tiêu sau: * Về kiến thức - Nhận thức nhiều mặt của cuộc sống với những thời gian, không gian khác nhau (quá khứ, hiện tại, tương lai của vùng đất, các dân tộc, phong tục, tập quán...), phản ánh một số khía cạnh của BSVHDT. - Hiểu được bản chất của con người (mục đích tồn tại, tư tưởng, khát vọng, sức mạnh...), từ đó hiểu chính bản thân. - Biết một số nét của văn hóa các dân tộc ở các khu vực, lãnh thổ khác nhau trên phạm vi toàn cầu. * Về thái độ – tình cảm: - Có tình cảm yêu quý, tôn trọng, tự hào BSVH dân tộc mình. - Có ý thức bảo tồn, giữ gìn, phát huy BSVH dân tộc mình. - Có thái độ thân thiện, tôn trọng BSVH các dân tộc khác, tiếp thu, học tập những phần tốt đẹp của các nền văn hóa đó. * Về kĩ năng – hành vi - Có kĩ năng phát hiện vấn đề BSVH độc đáo của dân tộc mình. - Có hành động cụ thể bảo tồn, giữ gìn, phát huy BSVHDT. 18
  19. - Tuyên truyền, vận động cộng đồng dân tộc bảo vệ BSVH của dân tộc mình, tôn trọng các nền văn hóa khác. 2.1.3.5. Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với môn Ngữ văn Ngày nay, học qua trải nghiệm đang được tiếp tục triển khai trên phạm vi toàn thế giới và được nhìn nhận như là một triển vọng tương lai tươi sáng cho giáo dục toàn cầu trong những thập kỉ tiếp theo. Ở nước ta, một trong những quan điểm đổi mới giáo dục và đào tạo được nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của BCHTW là: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, TNST, nghiên cứu khoa học…”. Một trong những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học theo Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới áp dụng từ năm học 2018-2019 là tổ chức hoạt động TNST trong dạy học môn Ngữ văn. Tổ chức các hoạt động TNST ở môn Ngữ văn theo quan niệm đổi mới phương pháp dạy học là một hình thức tích cực, bổ ích và có hiệu quả, nối liền bục giảng với thực tiễn đời sống, mở rộng, kéo dài trường suy tưởng - thẩm định về bài học cho HS; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học, kiểm tra lại chất lượng dạy học trong giờ chính khoá. Hoạt động TNST môn Ngữ văn càng cần thiết và bổ ích khi được áp dụng vào quá trình dạy học tích hợp lồng ghép giữa kiến thức môn học với kiến thức thực tiễn ở trường THPT. Hoạt động TNST Ngữ văn góp phần làm sáng tỏ hơn, cho phép chúng ta khai thác thêm kiến thức sâu rộng - điều mà GV và HS rất khó thực hiện trong giờ chính khoá do hạn chế về điều kiện và thời gian giảng dạy. Hoạt động TNST môn Ngữ văn còn tăng cường tính thời sự, tính xã hội cho nội dung bài học. Hoạt động TNST Ngữ văn không chỉ góp phần nâng cao khả năng tư duy độc lập, tăng cường khả năng sáng tạo trong học tập, khơi gợi niềm yêu thích với văn học và cái đẹp, tăng tư duy phản biện, kích thích lòng ham muốn tìm tòi, khám phá những kiến thức mới của người học mà còn góp phần hoàn thiện khả năng chuyên môn và kỹ năng sư phạm của người thầy trong quá trình chuẩn bị và "đồng hành" với người học khám phá kiến thức mới. Đó là những hành trình hữu ích và ý nghĩa với 19
  20. cả người dạy và người học. Kết quả của hoạt động TNST môn Ngữ văn phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức và lập kế hoạch hoạ t động mà GV ngữ văn là người quyết định. Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của các nhà giáo dục thế giới và trong nước; đồng thời căn cứ vào đặc trưng của việc dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông, yêu cầu đổi mới phương pháp theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất hiện nay, chúng tôi đề xuất quy trình tổ chức hoạt động TNST gắn với môn Ngữ văn ở trường phổ thông như sau: Lựa chọn Tiến Lập kế hình thức, Kết quả 1 hoạch 2 hành 3 4 chủ đề TNST TNST TNST TNST Hình 3: Quy trình tổ chức hoạt động TNST cho học sinh gắn với môn Ngữ văn ở trường phổ thông Quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm cho HS ở trường phổ thông trên đây vừa kế thừa mô hình học tập trải nghiệm của Ko lb, vừa phát triển tinh thần của đổi mới giáo dục theo phát triển phẩm chất, năng lực, được tổ chức qua 4 bước: Bước 1. Lựa chọn hình thức, chủ đề TNST Căn cứ vào nội dung chương trình, mục tiêu dạy học và tình hình thực tế của dạy học nội khoá môn Ngữ văn , đặc điểm của HS và điều kiện của GV cũng như của nhà trường để lựa chọn hình thức, chủ đề của hoạt động TNST cần tổ chức. Việc lựa chọn này phải rõ ràng để có tác dụng định hướng tâm lí và kích thích sự tích cực, tự lực của HS ngay từ đầu. Bước 2. Lập kế hoạch TNST Khi lập kế hoạch hoạt động TNST thì GV cần phải xây dựng các nội dung sau: - Xác định mục tiêu giáo dục của hoạt động, gồm có: mục tiêu về năng lực; mục tiêu về phẩm chất. - Xây dựng nội dung cho hoạt động TNST dưới dạng những nhiệm vụ học tập cụ thể. - Dự kiến phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động. Từ đó, lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng. - Dự kiến các tình huống có thể xảy ra và cách giải quyết. - Dự kiến những công việc có thể nhờ đến sự giúp đ ỡ của các lực lượng 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2