
1
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lí do chọn đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu hướng đã, đang và sẽ diễn ra
ngày càng mạnh mẽ trong thế giới ngày nay của chúng ta. Toàn cầu hoá
thâm nhập tới hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống, từ kinh tế, chính trị,
giáo dục cho tới xã hội, đời sống của mỗi người. Toàn cầu hoá thúc đẩy sự
hội nhập và mang tới nhiều cơ hội phát triển KTXH, nhưng cũng tạo ra
những thách thức vô cùng to lớn, có thể có những ảnh hưởng tiêu cực khó
lường đối với vấn đề bảo tồn, phát huy và phát triển các giá trị văn hóa
riêng biệt, độc đáo, có tính truyền thống của mỗi dân tộc, quốc gia trong
bối cảnh và đặc điểm mới của thế giới hiện đại.
Đáng chú ý, sự phát triển chóng mặt của toàn cầu hoá, đặc biệt là
công nghệ 4.0, đã tạo cơ hội thuận lợi trong việc tương tác xã hội, giao
thoa văn hoá đối với lớp trẻ ngày nay. Trong khi đó nhận thức và tâm lý
của thế hệ này thường thích mới mẻ, hiện đại, thích sự thể hiện bóng bẩy
bên ngoài mà không chú trọng tới giá trị cốt lõi bên trong. Đây chính là
một thách thức to lớn cho việc bảo tồn bản sắc văn hoá (BSVH) của từng
dân tộc trước xu thế hội nhập. Từ đó, đặt ra một yêu cầu bức thiết cho
mỗi quốc gia, mỗi dân tộc cần phải đưa ra các chính sách phù hợp, hiệu
qủa trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc (BSVHDT)
trong quá trình phát triển.
Việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT cho học sinh
(HS) có ý nghĩa và chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nhà trường.
Con Cuông là huyện miền núi vùng cao biên giới thuộc miền Tây của
tỉnh Nghệ An, là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng các dân tộc thiểu
số. Trong quá trình sinh sống, các tộc người đã làm nên đặc trưng văn
hóa mang đậm bản sắc tộc người, góp phần làm phong phú thêm VHDT
xứ Nghệ. Từ đó đến nay, Con Cuông vẫn còn lưu giữ trong lòng những
di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng
cho trí tuệ và tâm hồn của cộng đồng cư dân Thái, Kinh, tộc người Đan
Lai chung sống bao đời nay trên đất Con Cuông.
Trường THPT Con Cuông là trường học có số lượng HS với nhiều
dân tộc khác nhau, nhiều nét đặc thù riêng. Ngày nay, HS có điều kiện
tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, trong đó có những nền văn hóa mới có
sức hút mạnh mẽ, nhất là đối với HS dân tộc thiểu số. Điều này làm cho
các em dễ xa rời nền văn hóa truyền thống, nhất là văn hóa của dân tộc
thiểu số các em, làm cho một bộ phận không nhỏ các em không còn yêu
thích, quý trọng truyền thống văn hóa của dân tộc mình, thậm chí muốn
rũ bỏ để tiếp cận văn hóa hiện đại, BSVH tộc người đứng trước nguy cơ

2
bị lãng quên. Vì vây, vấn đề đặt ra là cần phải tìm những cách thức để
nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT cho HS. Vấn đề này chưa
có tác giả nào nghiên cứu chi tiết và đưa ra những giải pháp cụ thể.
Việc giáo dục ý thức bảo tồn, phát huy BSVHDT trong nhà trường
THPT nói chung, trường THPT Con Cuông nói riêng đã được thực hiện,
nhưng nhìn chung chưa toàn diện và hiệu quả. Chúng tôi nhận thấy một
số giáo viên (GV) còn chưa chú trọng nhiều về giáo dục ý thức bảo tồn
và phát huy BSVHDT cho HS, ngay cả đối với GV bộ môn Ngữ văn, bộ
môn vốn có rất nhiều lợi thế trong việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát
huy BSVHDT cho các em, do đó nhận thức của các em về vấn đề này
còn nhiều hạn chế. Thậm chí còn có tình trạng HS cho rằng đó là trách
nhiệm của chính quyền hoặc của người lớn. Thực trạng đó đã làm cho
BSVHDT dần mai một.
Nhằm giúp cho HS nhìn nhận sâu sắc và có thái độ, hành vi đúng
đắn trước vấn đề bảo tồn và phát huy BSVHDT của địa phương nơi các
em đang sinh sống, cũng như việc tìm hiểu tích lũy kiến thức và nâng
cao chất lượng dạy học ngữ văn trong bối cảnh đổi mới nền giáo dục
nước nhà, chúng tôi đã suy nghĩ, tìm tòi và mạnh dạn chọn đề tài “Giáo
dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT cho HS trường THPT Con
Cuông thông qua hoạt động TNST gắn với môn Ngữ văn” để viết sáng
kiến kinh nghiệm.
1.2. Lịch sử nghiên cứu
Trên thực tế, đã có không ít các tài liệu liên quan, như các bài viết
mang tính nghiên cứu riêng, các tham luận hội thảo, các đề tài luận văn, các
SKKN...Riêng về vấn đề trải nghiệm sáng tạo (TNST), nghiên cứu về
BSVHDT và giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT bản thân tôi
đã sưu tầm được một số tài liệu sau: Huỳnh Công Bá, (2008), Cội nguồn và
văn hóa dân tộc Việt Nam, nhà xuất bản Thuận Hóa; Phan Ngọc (2010),
Văn hóa dân tộc Việt Nam, nhà xuất bản văn học; Trần Quang Phúc
(2010), Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nhà xuất bản lao động xã hội.;
Đinh Thị Kim Thoa (2015), Tài liệu tập huấn kỹ năng xây dựng và tổ
chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường Trung học,
Chương trình phát triển GV Trung học của Bộ GD& ĐT; Di sản văn hóa
Con Cuông (2020), nhà xuất bản Nghệ An; SKKN Giáo dục ý thức bảo
tồn và phát huy di sản văn hóa qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở
trường THPT (trên địa chỉ https://sangkienkinhnghiem.org); SKKN Một số giải
pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ
văn ở trường THPT (trên địa chỉ https://thpt-tranhungdao.namdinh.edu.vn) ...
Kết quả nghiên cứu của các tác giả được đề cập ở phạm vi rộng lớn

3
và mang tính bao quát. Riêng vấn đề giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy
BSVHDT cho HS trường THPT đã được đề cập đến trong một số bài viết
trên một số trang web, SKKN nhưng chưa cụ thể; và việc giáo dục ý thức
bảo tồn và phát huy BSVHDT thông qua hoạt động TNST gắn với môn
Ngữ văn đang là vấn đề còn mới mẻ.
Con Cuông là vùng đất có bề dày lịch sử và văn hóa, đậm đà
BSDT, hiện là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng các dân tộc thiểu số
như Thái (chiếm hơn 70% dân số huyện), tộc người Đan Lai, Kinh, Hoa,
Nùng... Những di tích lịch sử - văn hóa, các hoạt động lễ hội, phong tục
tập quán, kho tàng ngữ văn dân gian nơi đây... phản ánh sâu sắc đời sống
kinh tế, văn hóa, xã hội, các cuộc đấu tranh, cải tạo thiên nhiên dựng bản,
lập mường, tổ chức xã hội của các dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An.
Tuy nhiên, những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc
thiểu số huyện Con Cuông, đặc biệt là kho tàng ngữ văn dân gian vô
cùng phong phú nhưng chưa được nhiều người biết đến nhất là thế hệ
trẻ. Vì vậy, những giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ
mai một bởi công tác giáo dục cho thế hệ trẻ chưa được chú trọng đúng
mức.
Kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học, đồng thời
thực hiện mục tiêu giáo dục tích cực hóa hoạt động nhận thức cho HS,
giúp các em phát triển các năng lực và có hành vi đúng đắn trước vấn đề
bảo tồn và phát huy BSVHDT, chúng tôi đã chọn đề tài “Giáo dục ý
thức bảo tồn và phát huy BSVHDT cho HS trường THPT Con Cuông
thông qua hoạt động TNST gắn với môn Ngữ văn”.
1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1.3.1. Mục đích
- Giáo dục HS nhận thức được ý nghĩa của BSVHDT cho HS THPT.
- Góp phần giáo dục HS nâng cao nhận thức, phát triển năng lực, hình thành thái
độ và hành vi đúng đắn trong việc bảo tồn và phát huy BSVHDT
- Góp phần rèn luyện kĩ năng thu thập, xử lí và tổng hợp thông tin; kĩ năng làm
việc nhóm cho HS.
1.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của nội dung giáo dục BSVHDT
thông qua hoạt động TNST để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
trong học tập môn Ngữ văn gắn với địa phương.
- Sử dụng các phương pháp, hình thức dạy học phù hợp để tích cực hóa
hoạt động nhận thức của HS trong vấn đề bảo tồn và phát huy BSVHDT.

4
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của đề tài.
- Đưa ra được các kết luận và kiến nghị.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng
- GV tham gia giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT
- HS THPT trong việc bồi dưỡng ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT
thông qua việc tham gia các hoạt động TNST.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Kiến thức: Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung giáo dục ý thức bảo
tồn và phát huy BSVHDT thông qua việc tổ chức hoạt động TNST cho
HS ở trường THPT.
- Không gian: Tổ chức cho HS thực nghiệm tại một số địa điểm trên địa
bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
- Thời gian thực hiện: Năm học 2021 - 2022.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
1.5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp lí thuyết là phương pháp thu thập thông tin thông qua
đọc sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và tư
tưởng cơ bản là cơ sở lí luận của đề tài, hình thành giả thuyết khoa học,
dự đoán những thuộc tính của đối tượng nghiên cứu xây dựng những mô
hình lí thuyết hay thực nghiệm ban đầu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đọc các tài liệu liên quan đến đề tài để
chọn lọc những kiến thức cơ bản phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp hệ thống hóa: Nghiên cứu các tài liệu, phân chia thành
những mục theo mục đích mà mình nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tiến hành so sánh, đối chiếu các tài
liệu và các nội dung, hoạt động có liên quan để phục vụ cho quá trình
nghiên cứu.
1.5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát thực trạng tổ chức các hoạt động
TNST ở trường THPT. Từ thực tế đó rút ra được những mặt đã làm được,
những mặt chưa làm được của việc tổ chức hoạt động TNST trong dạy
học trên lớp môn Ngữ văn.
- Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp khảo sát một nhóm đối
tượng trên diện rộng nhằm phát hiện các quy luật phân bố, trình độ phát

5
triển, đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Kết quả của phương pháp điều
tra là những thông tin quan trọng về đối tượng nghiên cứu làm cơ sở
thực tiễn để đề xuất các giải pháp. Phương pháp này được thực hiện
nhằm thu thập thông tin về thực trạng tổ chức hoạt động TNST trong nhà
trường THPT.
- Phương pháp chuyên gia: Tổ chức thảo luận chuyên đề để lấy ý kiến
các chuyên gia về một số kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Tìm
hiểu những nội dung chuyên sâu, có độ chính xác cao để phục vụ cho đề tài.
Phương pháp cũng được sử dụng để đánh giá tính khả thi của việc tổ
chức hoạt động TNST khi tổ chức thực nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
+ Xây dựng các mẫu hoạt động TNST trong dạy học trên lớp
môn ngữ văn ở THPT, tiến hành thực nghiệm ở một số lớp trong khối 10.
+ Lựa chọn các lớp thực nghiệm.
+ Xử lí kết quả thực nghiệm: Phân tích kết quả khảo sát, điều tra theo
dõi của lớp thực nghiệm.
- Phương pháp thống kê và phân tích số liệu: là phương pháp sử dụng một
số công thức toán học, phần mềm Excel để xử lí thống kê và đánh giá kết
quả điều tra, kết quả thực nghiệm.

