
1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT QÙY HỢP 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT NHẰM PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC NGÔN NGỮ KẾT HỢP GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
CHO HỌC SINH THPT Ở HUYỆN MIỀN NÚI QUỲ HỢP
Lĩnh vực: Ngữ văn
GIÁO VIÊN: LÊ THỊ MAI HỒNG
Đơn vị công tác: THPT Quỳ Hợp 2
Nghệ An- 2022

2
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
I. Lý do chọn đề tài
2
II. Mục đích nghiên cứu
3
III. Đối tượng nghiên cứu
3
IV. Phương pháp nghiên cứu
3
V. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu.
3
VI. Dự kiến đóng góp của đề tài
3
B. NỘI DUNG
4
I. Cơ sở lý luận
4
1. Yêu cầu của chương trình GDPT 2018 về năng lực ngôn ngữ và
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
4
2. Năng lực ngôn ngữ và phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh
trong dạy học tiếng Việt ở bậc THPT
4
2.1. Năng lực ngôn ngữ
4
2.2. Yêu cầu cần đạt về phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh
trong dạy học tiếng Việt ở bậc THPT
5
3. Sơ lược về bản sắc văn hóa dân tộc
6
4. Tầm quan trọng của ngôn ngữ trong gìn giữ bản sắc văn hóa dân
tộc
6
II. Cơ sở thực tế
7
1. Một số nét cơ bản về bản sắc văn hóa dân tộc ở địa phương Quỳ
Hợp - Nghệ An
7
2. Thực tiễn sử dụng ngôn ngữ và bảo tồn bản sắc văn hóa trong học
sinh THPT ở miền núi Quỳ Hợp
8
3. Thực trạng sử dụng các PPDH trong phân môn tiếng Việt ở các
trường THPT ở miền núi Quỳ Hợp - Nghệ An
10
III. Các PPDH, KTDH tiếng Việt nhằm phát triển năng lực ngôn
ngữ kết hợp gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh THPT
miền núi.
11

3
1. Các phương pháp dạy học (PPDH)
11
1.1. phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
11
1.2. Phương pháp dạy học theo nhóm
13
1.3. Phương pháp dạy học đóng vai
14
2. Các kỹ thuật dạy học (KTDH)
15
2.1. Kỹ thuật “bể cá”
16
2.2. Kỹ thuật khăn trải bàn
16
IV. Sử dụng kết hợp một số PPDH, KTDH trong phân môn tiếng
Việt nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ kết hợp giữ gìn bản sắc
dân tộc cho học sinh THPT miền núi Quỳ Hợp
17
1. Lí do cần sử dụng kết hợp các PPDH, KTDH trong phân môn
tiếng Việt nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ kết hợp giữ gìn bản sắc
dân tộc cho học sinh THPT miền núi Quỳ Hợp.
17
2. Nguyên tắc kết hợp các PPDH và các KTDH trong phân môn tiếng
Việt nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ kết hợp giữ gìn bản sắc dân
tộc cho học sinh THPT miền núi Quỳ Hợp
19
2.1. Dựa trên những nguyên tắc đặc thù trong sử dụng PPDH tiếng
Việt
19
2.2. Chọn những PPDH, KTDH phù hợp nhất đối với việc thực hiện
mục tiêu dạy học – phát triển NLNN gắn với giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc
19
2. 3. Lựa chọn PPDH, KTDH tiếng Việt cần chú ý đến hứng thú, thói
quen của học sinh
19
2.4. Lựa chọn PPDH, KTDH phù hợp với điều kiện dạy học
20
2.5. Sử dụng kết hợp rubic đánh giá hoặc các bảng kiểm để đánh giá
năng lực của học sinh sau khi các em hoạt động
20
3. Các cách kết hợp
20
3. 1. Kết hợp phương pháp dạy học nhóm, nêu và giải quyết vấn đề
bằng kỹ thuật “khăn trải bàn” trong dạy học tiếng Việt
20
3. 2. Kết hợp phương pháp dạy học nhóm với kỹ thuật “Bể cá” và kỹ
thuật “Khăn trải bàn” trong dạy học tiếng Việt
23

4
3. 3. Sử dụng phương pháp đóng vai trong hoạt động “Khởi động”
của các tiết tiếng Việt
28
4. Giáo án thực nghiệm
31
5. Một số lưu ý nhằm khắc phục hạn chế của việc kết hợp các PPDH
và KTDH trong phân môn tiếng Việt để phát triển năng lực ngôn ngữ
kết hợp giữ gìn bản sắc văn hóa cho học sinh THPT ở miền núi Quỳ
Hợp
45
6. Kinh nghiệm lựa chọn bài, mục áp dụng các phương pháp - kỹ
thuật dạy học trong phân môn tiếng Việt để phát triển năng lực ngôn
ngữ kết hợp giữ gìn bản sắc văn hóa cho học sinh THPT ở miền núi
Quỳ Hợp
45
7. Kết quả đạt được khi vận dụng đề tài.
46
7.1. Về định tính
46
7.2. Kết quả định lượng
46
C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
49
I. Kết luận
49
II. Kiến nghị đề xuất.
50
TÀI LIỆU THAM KHO
52
IV. PHẦN PHỤ LỤC
53
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
CHÚ THÍCH
THPT
Trung học phổ thông
PPDH
Phương pháp dạy học
KTDH
Kỹ thuật dạy học
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
SGK
Sách giáo khoa
NLNN
Năng lực ngôn ngữ

5
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài.
Sinh thời, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng khẳng định: “Tiếng Việt
của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp… Đẹp bởi tâm hồn của
người Việt Nam ta rất đẹp”. Trong tác phẩm “Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các
dân tộc bị áp bức” của nhà văn, nhà báo Nguyễn An Ninh cũng viết: “Tiếng nói là
người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất
giải phóng các dân tộc bị thống trị...”. Có thể nói, tiếng Việt đã trở thành một trong
những vũ khí giúp dân tộc ta thoát khỏi mọi vòng xiềng xích nô lệ để trở thành một
quốc gia độc lập. Không những thế, nó còn góp phần làm nên bản sắc văn hóa Việt
Nam.
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, giáo dục là lĩnh vực hoạt động có
hiệu quả nhất trong việc rút ngắn khoảng cách văn hoá, kinh tế giữa các vùng miền
và dân tộc. Tiếng Việt có nhiệm vụ quan trọng trong việc hỗ trợ các dân tộc cùng
hoà nhập.Với xu thế hội nhập toàn cầu về mọi mặt, ngôn ngữ còn là một trong
những công cụ mạnh mẽ nhất giúp tăng cường hợp tác, hữu nghị…Nó giúp xây
dựng xã hội tri thức toàn diện, bảo tồn các di sản văn hóa, sự phát triển lành mạnh.
Một nền văn hóa hòa bình chỉ có thể được xây dựng trong một không gian, nơi tất
cả mọi người có quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ của dân tộc họ một cách tự do và đầy
đủ trong tất cả các hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống. Do đó, vấn đề phát triển
năng lực ngôn ngữ là một vấn đề hết sức quan trọng, cần thiết của mọi người và
quốc gia.
Ở Việt Nam, các nhà giáo dục học đã rất chú trọng việc phát triển năng lực
ngôn ngữ trong chương trình giáo dục trung học phổ thông (THPT) theo định
hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất, năng lực. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đề
cập trong Đề án “Đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015
“Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực người
học”; Mỗi môn học, ngoài chức năng cung cấp kiến thức tạo ra những con người
có khả năng hội nhập, phù hợp xu thế chung của thời đại. Đồng thời còn có nhiệm
vụ tương tác, giúp học sinh phát triển một cách toàn diện về tri thức, nhân cách,
biết cảm thụ cái hay, cái đẹp và luôn vươn tới sự khát khao chinh phục tri thức,
mong muốn thể hiện mình và cống hiến cho quê hương đất nước.
Trong bậc giáo dục THPT hiện nay, nhiệm vụ các môn học gần như đã đáp
ứng bước đầu cho tiêu chí ấy. Trong đó, dạy học môn Ngữ văn nói chung, phân
môn tiếng Việt nói riêng có nhiệm vụ khá cụ thể: “Ngữ văn là môn học mang tính
công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn; giúp học sinh có phương tiện giao tiếp, làm cơ
sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường;
Đồng thời cũng là công cụ quan trọng để giáo dục học sinh những giá trị cao đẹp
về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; phát triển ở học sinh những cảm xúc

