CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CU CÔNG NHẬN SÁNG KIN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến ngành giáo dục Trường tiểu học
Nguyễn Bá Ngọc.
Tôi ghi tên dưới đây:
Số
T
T
Họ và tên Ngày
tháng năm
sinh
Nơi
công
tác
Chc
danh
Trình độ
chuyên
môn
Tỷ lệ (%)
đóng góp vào
việc to ra
sáng kiến
01
THỊ
NINH
30/11/1994
Trường
TH
Nguyễn
Ngc
Giáo
viên
Đại học
Sư phạm
tiếng
Anh
100%
1. tác giả đnghị xét công nhận sáng kiến “Phương pháp nâng cao kỹ
năng nói tiếng Anh cho học sinh Tiểu học”.
2. Chủ đầu tạo ra sáng kiến: Thị Ninh, giáo viên trường tiểu học
Nguyễn Bá Ngc.
3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
4. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ ngày 5
tháng 9 năm 2020.
5. t bản chất của sáng kiến:
5.1 Tính mới của sáng kiến.
Như chúng ta đã biết ngày nay tiếng Anh ngôn ngữ được nhiều quốc gia s
dụng nhất, và đã trở thành một trong những phương tin giao tiếp quan trng
nhất trên toàn thế giới. Chính s cần thiết, hữu dụng của ngôn ngữ này mà
vấn đề ng cao chất ợng dạy học môn tiếng Anh ngày ng trở nên quan
trọng hơn. Bằng ch nào đhọc sinh thể học tiếng Anh một cách chủ động,
s dụng một cách thành thạo đang là vấn đề nền giáo dc Việt Nam
quan tâm.
Đầu tiên phải ng nhận rằng, đa phần c thế hệ học sinh nước ta tiếp thu
n ngoại ngữ y rất tốt những kỹ năng: nghe, đọc, viết, bằng chứng các
2
em thể làm tốt các dạng bài tập trong n tiếng Anh như bài tập v kỹ
năng đọc, kỹ năng nghe, kỹ năng viết nhưng khi muốn các em nói hay còn gi
“giao tiếp” thì đa phần các em n ca làm được, không phải các em chưa
giỏi, hay chưa hc đkiến thức mà đơn giản c em chưa quan tâm đúng
mức kỹ năng i trong môn học này cộng thêm tâm rụt rè, sợ sai, chưa tự tin.
muốn sử dụng thành thạo một ngôn ngữ thì người học phải rèn luyện cả bốn
kỹ năng bản là: nghe, nói, đọc, viết.
Vì vậy tôi đã lập kế hoạch áp dụng sáng kiến Phương pháp nâng cao kỹ
năng i tiếng Anh cho học sinh Tiểu học” giúp các em luyn nói và tích lũy
vốn từ vựng trợ giúp cho qtrình hc tiếng Anh của mình trở nên dễ dàng hơn.
Một điều quan trọng hơn để tôi quyết định nghiên cứu đề i này , việc luyện
kỹ ng nói ng nh hưởng tích cực đến qtrình hình thành phát triển
tính cách của học sinh, giúp học sinh tự tin hơn điều đầu tiên nhất
ta có thể thấy.
5.2 Nội dung sáng kiến.
5.2.1 Nguyên nn
Qua 5 m giảng dạy n tiếng Anh trường Tiểu học Nguyễn Ngọc -
Thanh Lương - thị BìnhLong - tỉnh Bình Phước, cũng như quá trình tìm
tòi học hỏi kinh nghiệm trên các phương tiện báo đài, cũng như các đồng nghiệp
của mình tôi nhận thấy mt s điểm khó khăn khi luyện kỹ năng nói trong n
tiếng Anh như sau:
Đa phần các thế hệ giáo viên về trước thường giảng dạy theo phương thức:
đọc, dịch chép, đặc biệt rất chú trọng vào ngữ pháp, dẫn đến tình trạng học
sinh làm bài kiểm tra rất “đỉnh”, nhưng yêu cầu học sinh nói thì chỉ số ít “dám
i chứ chưa nói đến “nói hay, nói chuẩn”.
Đa số học sinh chưa nhận thức được tm quan trọng của việc học tiếng Anh
trong thời kì hội nhập. Các em còn suy nghĩ đây chỉ là môn học tự chọn nên còn
chưa học tập nghiêm túc đúng mực so với tầm quan trọng của môn học này.
Nhiều hc sinh chưa quan tâm đúng mức đến kỹ năng nói do suy nghĩ học
tiếng Anh chỉ cần viết được, làm được bài tập đủ.
Khi lượng từ vựng tích y của học sinh còn ít, kiến thức nền tảng shiểu
biết còn nhiều hạn chế, nh hưởng nhiều đến khả năng phán đoán phản ứng
của học sinh khi đối thoại với thầy/cô hay bạn bè.
Học sinh thường rụt s các giờ luyện nói do không tự tin, do sợ đọc sai
và ít các hoạt động giao tiếp như các môn khác.
Do đây không phải tiếng mẹ đẻ, nên học sinh thường phát âm tiếng Anh theo
xu hướng Việt hóa, mt số em còn chưa sửa được ging địa phương khi phát âm,
thêm nữa là các em học sinh ở những lớp nhỏ giọng còn ngọng nên việc phát âm
đúng là điều khó khăn.
3
Không phải em học sinh nào cũng đủ điều kiện vật chất tinh thần để phục
vụ nhu cầu học tiếng Anh. Nhất các em sinh sống miền núi, miền qđiều
kiện kinh tế khó khăn.
5.2.2. Thực trạng tại trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngc
Vphía học sinh
Trường Tiểu học Nguyễn Ngọc trường ng nông thôn, nên các em
học sinh ít có hội được tiếp c với tiếng Anh, môn học y ng môn
học mới triển khai vừa tròn 5 năm.
Hầu hết các em chưa thể t chuẩn btrước bài nhà đặc thù của môn học
ngôn ngữ mới không phải tiếng Việt, không phải phụ huynh nào cũng
thể tự kèm cho con em ở nhà được.
Các em rt ngại nói, hay nói đúng hơn là sợ nói, ngại vì xấu hổ nên vì vậy
giờ luyện nói có rất ít học sinh tham gia năng nổ.
Vphía giáo viên
Bản thân tôi luôn được các cp nh đo, đồng nghiệp, phụ huynh quan m
hỗ trợ trong ng tác giảng dạy. Tuy nhiên do đa phần go viên dạy Tiểu học
hiện nay đều được đào tạo từ trình độ Cao đẳng hoặc Đại học, nên vẫn n một
s khó khăn khi tiếp cận đối tượng học sinh cấp tiểu học.
n tiếng Anh n ít thời ợng giảng dạy, đồ dùng thiết bị dạy học còn hạn
chế nên dẫn đến chất lượng môn học chưa cao.
5.2.3. Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Từ những khó khăn thực tế nêu trên trong quá trình giảng dạy, i đã tìm ra
những giải pháp khác nhau nhằm khắc phục tình trạng này, c biện pháp được
dùng để minh họa nội dung liên quan đến bài học sẽ giúp học sinh nhớ lại
phần kiến thức đã được học, các em sẽ tiếp thu kiến thức một cách chủ động,
nhẹ nhàng và sẽ nhớ rất lâu.
Những biện pháp này tôi triển khai trước với 2 lớp: 1.1 và 5.2trường Tiểu
học Nguyễn Ngọc. Đây 2 lớp đa số các em ngoan, năng động ý thức
học tập tốt. Dưới đây là bảng phân loại học sinh trước khi tiến nh áp dụng các
biện pháp:
Lớp
Tổng
số
HS
HS phát
âm chính
xác
Tỉ lệ
%
HS biết sử
dụngng
điệu
Tỉ lệ
%
HS phát
âm chưa
chính xác
Tỉ lệ
%
5.2 23 14 60,8 9 39 9 39
1.1 37 24 65 18 48,6 13 35
4
Biện pháp 1: Sử dụng nhng bài t tiếng Anh có nội dung ngắn gọn, d
nhớ dễ thuộc.
Đối ợng tôi áp dụng chính của biện pháp này hc sinh khối lớp 1,
chương trình tiếng Anh lớp 1 là chương trình mới nên các em còn bỡ ngỡ nên
i chn những bài hát cho các em dễ tiếp thu. i soạn ra những i hát
ngắn có giọng điệu vui tươi, rộn ng, giai điệu quen thuộc, dễ nghe hát
theo để dạy cho các em, đặc biệt là nội dung có liên quan đến bài học.
dụ 1: Khi dạy bài Unit 4: My body các từ vựng như: head, leg, arm
i sẽ cho các em nghe hát theo bài: Head, shouders, knees and toes. So
với việc nghe và nói theo đĩa CD kèm theo của sách, việc lồng ghép nhạc vào
sẽ làm các em hứng thú hơn nhiều từ đó nói tốt hơn, song song đó khả năng
nghe cũng cải thiện n. Tôi thường ng biện pháp này đầu tiết học vừa
khuấy động học sinh vừa dẫn dắt vào bài một cách nhẹ nhàng không khô
khan.
(Hình ảnh bài Unit 4: My body, trang 26, 27 SGK tiếng Anh 1- nguồn
Youtube)
(Hình ảnh bài hát Head, shouders, knees and toes - nguồn Youtube)
5
Thêm vào đó i cũng lng ghép đmrộng thêm vốn từ theo chđiểm
Body (cơ thể) cho học sinh: shoulders (vai), knees (đầu gối), toes (ngón
chân), eyes (mắt), ears (tai), nose (mũi)……………
dụ 2: Khi dạy bài bảng chữ cái (The alphabet) cho học sinh, tôi sẽ cho
các em nghe bài ABC song, một bài t rất quen thuộc nên các em rất dễ
ng nói được các chữ cái trong tiếng Anh một cách dễ dàng, so với việc dạy
“chay” cô i trước trò nói sau, các em phải tập đọc, tập nhớ rất máy c
thuần thục sau đó mới “nói” được các chữ i trên thì học qua bài hát rất
hiệu quả.
(Hình ảnh bài hát ABC song- ngun Youtube)
Một điểm mà tôi luôn lưu ý khi áp dụng các bài hát trong quá trình giảng dạy
kỹ ng nói tiếng Anh của mình đó là, i luôn sử dụng các bài hát quen thuộc
hay như bây giờ mọi người vẫn hay nói vui ‘những bài hát quốc dân’, gọi
vậy do những bài t y hết sức quen thuộc n hầu như học sinh nào cũng
từng nghe qua cả, ngay từ khi các em còn chưa biết nói, viết hay đc.
Biện pháp 2: Sử dụng truyện tranh song ngữ cho các em học sinh luyện nói.
Đối tượng được áp dụng thử nghiệm ban đầu học sinh khối lớp 5.
chương trình tiếng Anh lớp 5 rất nhiều từ vựng, nên các em cần biết ng
nhiều thì càng giúp các em học tốt hơn. Tôi lựa chọn một vài quyển truyện
tranh giao cho các nhóm, đó chủ yếu cũng truyện n gian Việt Nam nên các
em cũng thêm kiến thức về nền văn học dân gian của nước nhà. Trong khi
phân nhóm tôi ng đặt tên cho c nhóm tương ứng với tên của các loại động
vật đáng yêu, điều này giúp các em ghi nhớ được vốn từ về chủ đđộng vật.
Biện pháp này ơng đối phức tạp cần rất nhiều thời gian nên tôi chia ra từng
ớc nhỏ như sau:
Bước 1: Chia lớp làm 4 nhóm nh (Mỗi nhóm 5-6 em) đặt tên cho các nhóm
theo tên các loại động vật dễ thương: