
3
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới giáo dục cơ bản, toàn diện theo định hướng phát triển năng lực đã
và đang đặt ra nhiều cơ hội và thách thức, đặc biệt trong dạy học Ngữ Văn, vốn là
một địa hạt nhạy bén, đòi hỏi sự tinh tế, cẩn trọng trước những thay đổi. Chính vì
vậy phương pháp dạy học hiện đại để nâng cao phát triển năng lực cho học sinh là
xu thế đang được áp dụng hiện nay trong giáo dục. Giáo viên THPT trong nhiều
năm qua đã áp dụng tương đối rộng rãi và đã mang lại được nhiều hiệu quả đáng
kể trong dạy học nói chung và đọc hiểu văn bản nói riêng. Tuy nhiên đang còn có
một số hạn chế và lúng túng trong quá trình áp dụng phương pháp dạy học hiện đại
đối với giáo viên cũng như học sinh.
Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông là một trong tám năng lực
cốt lõi mà học sinh phổ thông Việt Nam cần đạt và cũng là một định hướng đổi
mới phương pháp tiếp tục được nhấn mạnh theo phương châm chú trọng hỗ trợ cho
quá trình tự học của học sinh nhằm nâng cao năng lực cho người học. Webquest có
thể được xem là một phương pháp dạy học hiện đại, tích cực dựa trên thành tựu
của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, có giá trị thúc đẩy mô hình
dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh. Bản thân tôi trong dạy học đã có
ý thức tìm tòi, học hỏi và vận dụng phương pháp Webquest kết hợp một số phương
pháp dạy học hiện đại nhằm phát triển năng lực học sinh, thúc đẩy hoạt động của
học sinh trong giờ học, lấy học sinh là chủ thể, là trung tâm, khơi gợi được sự hứng
thú, khám phá…song không phải ở tác phẩm nào, bài học nào cũng đạt được thành
công. Đặc biệt đối với thể loại ký trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn 12,
tập 1, Nhà xuất bản (NXB) Giáo Dục là một thể loại đặc thù, được xem là khó tiếp
nhận hơn so với thơ trữ tình, truyện hay kịch. Việc giảng dạy ký gặp không ít bế
tắc do chưa kích hoạt được hứng thú và năng lực người học trong điều kiện tổ chức
dạy học chưa đáp ứng được nguyên tắc lấy người học làm trung tâm. Hơn nữa, ký
đòi hỏi người đọc phải có sự suy ngẫm, phải nhập tâm vào dòng tâm tư của nhà
văn, lưu tâm đến loại thể nhưng nhiều giáo viên hiện nay dạy tùy bút giống như
dạy truyện ngắn nghĩa là vẫn có tính chất truyện, nên hiệu quả giảng dạy không
cao. Việc giảng dạy như vậy đã làm mất đi sức hấp dẫn riêng của thể văn này.
Xuất phát từ thực tế giảng dạy, căn cứ theo mục tiêu và quan điểm xây dựng
chương trình thuộc Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình giáo
dục phổ thông môn Ngữ Văn (2018), bản thân tôi trong dạy học đã có ý thức tìm
tòi, học hỏi và vận dụng phương pháp Webquest kết hợp một số phương pháp dạy
học hiện đại nhằm phát triển năng lực học sinh. Chính vì thế, tôi mạnh dạn trình
bày đề tài: “Vận dụng phương pháp WebQuest và kết hợp một số phương pháp dạy
học hiện đại khác vào dạy đọc hiểu văn bản “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của
Hoàng Phủ Ngọc Tường theo định hướng phát triển năng lực học sinh”.

4
Đề tài này được bản thân tôi thực hiện và thể nghiệm từ năm 2015 đến 2019
và đã mang lại một số kết quả trong dạy học ở trường Phổ Thông và đã được Hội
Đồng Khoa Học xét sáng kiến kinh nghiệm trong trường THPT Quỳ Hợp 2 đánh
giá và đề xuất gửi xét sáng kiến kinh nghiệm cấp tỉnh năm học 2020-2021.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu nhằm vận dụng phương pháp WebQuest và có sự kết
hợp với một số phương pháp dạy học khác vào giảng dạy thể loại ký qua văn bản
“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường theo định hướng phát
triển năng lực học sinh.
- Đề xuất cách thức dạy văn bản này có hiệu quả.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Cơ sở lí luận về phương pháp dạy học WebQuest và một số phương pháp
dạy học hiện đại khác.
- Nghiên cứu, phân tích giáo án và giờ dạy của đồng nghiệp về văn bản“Ai
đã đặt tên cho dòng sông?” (Ngữ Văn lớp 12 – Tập 1)
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng các phương pháp:
- Tổng hợp, khái quát, lựa chọn những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài.
- Khảo sát thực tiễn dạy học văn bản“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” ở lớp
12 theo sách giáo khoa (Ban cơ bản).
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm, thống kê, so sánh.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm ba phần chính:
Phần I. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn.
Phần II. Vận dụng phương pháp WebQuest và một số phương pháp hiện đại
khác vào dạy đọc hiểu văn bản “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ
Ngọc Tường theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Phần III. Giáo án thể nghiệm

5
B. PHẦN NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Định hướng phát triển năng lực
GD theo tiếp cận năng lực còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra
được nói đến từ những năm 90 của thế kỷ XX và ngày nay nó trở thành xu hướng
GD mà nhiều quốc gia trên thế giới hướng đến. GD định hướng năng lực nhằm
mục tiêu phát triển năng lực người học.
Giáo dục định hướng năng lực là hướng tiếp cận tập trung vào đầu ra của
quá trình dạy và học, trong đó nhấn mạnh người học cần đạt được các mức năng
lực như thế nào sau khi kết thúc một chương trình GD. Điều này có nghĩa là
chương trình GD định hướng năng lực hướng đến mục tiêu phát triển toàn diện các
phẩm chất, nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng các tri thức trong những tình
huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho HS năng lực giải quyết các tình huống của
cuộc sống và nghề nghiệp.
Khác với chương trình định hướng nội dung hiện tại, chương trình dạy học
định hướng năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra là sản phẩm cuối
cùng của quá trình dạy học. Việc QL chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển
đầu vào sang điều khiển đầu ra tức là coi trọng kết quả học tập của người học.
Để chương trình GD tiếp cận năng lực có hiệu quả cần phải bắt đầu bằng
việc xác định hệ thống các năng lực quan trọng mà người học cần phải đạt được,
tiếp đến là xây dựng và phát triển chương trình GD, sau đó đưa ra những hướng
dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả
dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học, tức là đạt được kết quả
đầu ra mong muốn. Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan
sát, đánh giá được. HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong
chương trình. Có thể thấy, yếu tố quan trọng của GD tiếp cận năng lực là xây dựng
được các tiêu chuẩn đầu ra rõ ràng thể hiện rõ mục tiêu của GD&ĐT, thiết lập
được các điều kiện và cơ hội để khuyến khích người học có thể đạt được mục tiêu
ấy.
Tuy nhiên, nếu vận dụng một cách thiên lệch, không nắm rõ bản chất của
nội dung dạy học thì có thể dẫn đến truyền thụ thiếu kiến thức cơ bản và thiếu tính
hệ thống của tri thức. Ngoài ra, chất lượng GD không chỉ thể hiện ở kết quả đầu ra
mà còn phụ thuộc vào quá trình thực hiện.
1.1.1. Năng lực
Hiện nay, định nghĩa về năng lực đã được các nhà nghiên cứu trong các lĩnh
vực xã hội học, GD học, triết học, kinh tế học đưa ra. Theo quan điểm của các nhà
tâm lí học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù
hợp với các yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo cho
hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất

6
tự nhiên, năng lực con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có phần lớn do
lao động, học tập, rèn luyện mà thành.
Năm 2001 tại Hội nghị chuyên đề về những năng lực cơ bản của con người
tại Hội đồng Châu Âu (OECD) trong bản tổng hợp, phân tích nhiều định nghĩa của
các thành viên về năng lực, F.E. Weinert kết luận: Xuyên suốt quá trình dạy học
năng lực được thể hiện như một hệ thống, khả năng, sự thành thạo, hoặc những kỷ
năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể.
Cũng tại diễn đàn này, Denyse Tremblay cho rằng, năng lực là khả năng hành
động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp
các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.
Trong cuốn chương trình giáo dục trung học (nguyên bản tiếng Pháp đã
được dịch sang tiếng Việt), Bộ Giáo dục Quebec Canada định nghĩa năng lực là:
“khả năng thực hiện một nhiệm vụ trọn vẹn, đạt chuẩn kỹ năng tương ứng với
ngưỡng quy định khi bước vào thực tế lao động”.
Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng, về mặt thực hiện, kỹ năng phản ánh
năng lực làm cho tri thức phản ánh năng lực nghĩ và thái độ phản ánh năng lực cảm
nhận. Năng lực là: “tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với
dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý và
giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực
tế của hoạt động”.
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng
lực được sử dụng cụ thể như sau:
Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học, mục tiêu dạy học
được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành. Trong các môn học, những nội
dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành cho người học
các năng lực.
Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức
độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động dạy học về mặt phương
pháp. Các năng lực chung cùng với các năng lực CM tạo thành nền tảng chung cho
công việc GD và dạy học.
Như vậy, có thể thấy dù cách phát biểu có khác nhau, nhưng các cách hiểu
trên đều khẳng định: Năng lực là khả năng vận dụng/sử dụng những hệ thống kiến
thức, kỹ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện
thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống.
1.1.2. Tiếp cận năng lực
Theo Đặng Thành Hưng “GD theo tiếp cận năng lực” là kiểu GD có 2 mặt:
1/ Xem năng lực là mục tiêu đào tạo, là kết quả GD.

7
2/ Xem năng lực là nền tảng, là chỗ dựa của GD, tức là GD phải dựa vào
năng lực người học, đặc biệt là kinh nghiệm nền tảng và kinh nghiệm thường trực
được huy động thuộc vùng cận phát triển (L.X. Vygotsky).
Thứ nhất, dựa trên quan điểm này có thể hiểu rằng muốn GD theo tiếp cận
năng lực trước hết cần xác định mục tiêu GD/kết quả GD dưới dạng năng lực.
Năng lực thể hiện rõ ràng dựa trên kết quả mà người học giải quyết các vấn đề
thực tiễn, lúc này tri thức không còn ở dạng lý thuyết mà chính là điều kiện cần
thiết để người ta thực hiện được dạng hoạt động nào đó trên thực tế. GD theo tiếp
cận năng lực tránh được lối giáo dục rao giảng, giáo điều, nói được nhưng không
làm được. GD có nhiệm vụ cơ bản là giúp cho người học có được các năng lực. Vì
thế GD không chỉ cung cấp tri thức mà chủ yếu là rèn luyện kỹ năng, nuôi dưỡng
tâm hồn, tình cảm đúng đắn.
Thứ hai, GD theo tiếp cận năng lực cho rằng muốn giúp người học học tập,
rèn luyện để đạt được các năng lực thì phải coi trọng và dựa vào năng lực đã có
của họ. Điều này phù hợp với lý thuyết vùng cận phát triển của L.X. Vygotsky, dạy
học phải dựa vào kinh nghiệm nền tảng của cá nhân người học mới mang lại kết
quả tốt.
Bản chất của QL BDCM GV theo tiếp cận năng lực chính là điều khiển, gây
ảnh hưởng đến các lực lượng tham gia công tác BD giúp cho họ hiểu và thực hiện
quá trình BD theo tiếp cận năng lực để đạt được hiệu quả BD cao hơn. Muốn vậy
các nội dung BD cần phải lựa chọn sao cho có thể giúp cho GV đạt được các năng
lực cần thiết. Bên cạnh đó, trong quá trình BDCM cho GV thì cần thực hiện triệt
để tư tưởng dựa vào năng lực của người học, kinh nghiệm đã có của họ để thực
hiện BD hiệu quả hơn. Cụ thể, mục tiêu BD cần phải được xử lý thành các năng
lực cần thiết của GV trên cơ sở đó lựa chọn nội dung cần thiết để BD và sử dụng
phương pháp BD thích hợp gắn với kinh nghiệm và hiểu biết của họ.
Tiếp cận năng lực thực chất là những định hướng, quan điểm tiếp cận đầu ra,
lấy năng lực như là một yếu tố của quá trình đánh giá, nghiên cứu, đào tạo nào đó.
Tiếp cận dựa trên năng lực có các đặc điểm là: Chú trọng vào kết quả đầu ra,
tạo ra những linh hoạt trong việc đạt tới những kết quả đầu ra, theo những cách
thức riêng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh cá nhân. Việc GD theo tiếp cận
năng lực cho phép cá nhân hóa việc học, hơn nữa, tiếp cận năng lực còn tạo khả
năng cho việc xác định một cách rõ ràng những yêu cầu cần đạt được và những
tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả. Việc chú trọng vào kết quả đầu ra và
những tiêu chuẩn đo lường của những năng lực cần thiết để tạo ra kết quả này đã
được các nhà hoạch định chính sách GD&ĐT và phát triển nguồn nhân lực đặc biệt
quan tâm nhấn mạnh.
1.2. Khái niệm Phương pháp WebQuest
Có rất nhiều định nghĩa cũng như cách mô tả khác nhau về WebQuest. Theo
nghĩa hẹp, WebQuest được hiểu như một PPDH. Theo nghĩa rộng, WebQuest được

