intTypePromotion=1

Sở hữu chéo vốn cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
33
lượt xem
3
download

Sở hữu chéo vốn cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việc tổ chức, cá nhân tham gia sở hữu chéo vốn cổ phần tại nhiều ngân hàng cũng có mặt tích cực là có thêm nhiều kinh nghiệm để điều hành kinh doanh, phân tán rủi ro vốn sở hữu. Mặt khác, sở hửu chéo vốn cổ phần cũng đang là nguyên nhân của một số rủi ro ngân hàng ảnh hưởng tiêu cực đến sự an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng và sở hữu chéo vốn cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay là vấn đề được đề cập trong bài viết này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sở hữu chéo vốn cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> SỞ HỮU CHÉO VỐN CỔ PHẦN CỦA NGÂN HÀNG<br /> THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY<br /> Hoàng Thị Thanh Hằng*<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> <br /> Việc tổ chức, cá nhân tham gia sở hữu chéo vốn cổ phần tại nhiều ngân hàng cũng có mặt<br /> tích cực là có thêm nhiều kinh nghiệm để điều hành kinh doanh, phân tán rủi ro vốn sở hữu. Mặt<br /> khác, sở hửu chéo vốn cổ phần cũng đang là nguyên nhân của một số rủi ro ngân hàng ảnh hưởng<br /> tiêu cực đến sự an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Đối với quá trình tái cơ cấu các<br /> ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam hiện nay, sở hửu chéo vốn cổ phần là một trong những<br /> vấn đề cần quan tâm xử lý hàng đầu, mà công tác giải quyết nợ xấu, cũng như tăng cường minh<br /> bạch hoạt động của hệ thống ngân hàng là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, mặt trái của nó là sự chồng<br /> chéo, thiếu minh bạch trong việc sở hữu vốn cổ phần trong các ngân hàng không đúng năng lực tài<br /> chính thực sự của tổ chức, cá nhân tham gia làm phát sinh nhiều hệ lụy như việc họ lợi dụng uy tín<br /> ông chủ để trục lợi cho tổ chức, cá nhân mình. Tư duy kinh doanh không phải vì thích sở hữu ngân<br /> hàng mà ẩn đằng sau nó là việc sử dung vốn huy động giá rẻ từ ngân hàng để cung cấp vốn cho các<br /> công ty sân sau nhằm tìm kiếm lợi ích kinh tế lớn hơn; Riêng bản thân các ngân hàng thương mại<br /> cổ phần (NHTMCP) này tiềm ẩn những rủi ro lớn hơn bắt đầu từ đây… điều này đặt ra bài toán cho<br /> các nhà nghiên cứu, nhà quản trị ngân hàng phải tìm lời giải đáp để hóa giải sự tồn tại bất cập này.<br /> Từ khóa: sở hữu chéo, vốn cổ phần<br /> <br /> CROSS-OWNERSHIP OF EQUITY CAPITAL OF VIETNAMESE<br /> COMMERCIAL BANKS IN RECENT YEARS<br /> ABSTRACT<br /> In Vietnamese banking system, the organizations and individuals involved in cross-ownership<br /> of equity capital, which have positive side effects of more experiences for business executives, as<br /> well as risk dispersion of equity capital. On the other hand, cross-ownership of equity capital is<br /> also the cause of a number of banking risks that can negatively affect the safety and soundness of<br /> banking system. Nowadays, for the restructuring commercial banking system in Vietnam, crossownership of equity capital is one of the issues, which need to pay first attention to treatment in,<br /> associated with settlement for bad debt as well as strengthening, transparency in banking system<br /> is essential. However, negative side effects of cross-ownership of equity capital are the overlap,<br /> lack of transparency, improperly financial capacity of organizations, and individuals involved<br /> that raises many consequences as they take advantage of owner’s reputation for their profits and<br /> for organization. Business thinking is not as interested in owning bank, behind using of cheap<br /> deposits from banks finance capital for “backyard” companies to get greater economic benefits;<br /> specially, these commercial banks have greater implicit risks beginning here ... that poses problems<br /> for researchers, bank administrators must find an answer to the existence of these shortcomings.<br /> <br /> Keywords: cross-ownership, equity<br /> * TS. GV. Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM<br /> <br /> 36<br /> <br /> Sở hữu chéo . . .<br /> <br /> 1. Đặt vấn đề<br /> Vốn cổ phần lớn, thể hiện năng lực tài<br /> chính mạnh của một NHTMCP. Năng lực<br /> tài chính của NHTMCP sẽ quyết định quy<br /> mô hoạt động, mạng lưới và chiến lược kinh<br /> doanh cũng như vai trò quản trị hệ thống ngân<br /> hàng. Sở hữu chéo vốn cổ phần trong hoạt<br /> động ngân hàng, được hiểu là một tổ chức,<br /> cá nhân đang có vốn sở hữu tại một số ngân<br /> hàng khác nhau, có thể đang cùng một lúc<br /> điều hành, quản trị hoặc cử người tham gia tại<br /> nhiều ngân hàng.<br /> Trong thực tiễn Việt Nam, trước khi có hệ<br /> thống ngân hàng cổ phần, Chính phủ đã chủ<br /> trương phải có đại diện của mình trong mỗi<br /> ngân hàng và các ngân hàng thương mại quốc<br /> doanh lớn đã được lựa chọn để góp vốn với<br /> tư cách cổ đông nhà nước. Sự hiện diện của<br /> những ngân hàng quốc doanh mà nay gọi là<br /> ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN)<br /> nhằm mục đích hạn chế những hoạt động vượt<br /> ra ngoài khuôn khổ pháp lý nếu có cũng như<br /> những yếu kém ban đầu từ phía các ngân hàng<br /> cổ phần mới được thành lập. Trong bối cảnh<br /> bấy giờ, sự thận trọng này là cần thiết. Ngoài<br /> ra, xét từ góc độ nghiệp vụ, các NHTMNN<br /> lớn đã chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh, quản<br /> trị thậm chí chia sẻ cả nguồn nhân lực với tất<br /> cả các NHTMCP mà họ tham gia góp vốn.<br /> Tuy nhiên, cùng với thời gian và sự phát triển<br /> của hệ thống ngân hàng Việt Nam, ảnh hưởng<br /> của các hình thức sở hữu chéo cũng có nhiều<br /> biến đổi. Nhìn chung, thực trạng sở hữu chéo<br /> trong hệ thống ngân hàng Việt Nam như tỷ lệ<br /> nắm giữ giữa các tổ chức, cá nhân, vai trò của<br /> các cổ đông và công tác giám sát vai trò này<br /> là những vấn đề hết sức phức tạp bởi quan<br /> hệ chồng chéo mang tính lịch sử, đồng thời<br /> cũng mang tính biến động cao, kết hợp với<br /> nguồn thông tin hạn chế. Trước hết, rất nhiều<br /> <br /> công ty lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế<br /> Nhà nước và các tập đoàn cổ phần, dù không<br /> thuộc lĩnh vực tài chính nhưng hiện đang đầu<br /> tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư<br /> chiến lược trong các NHTM. Bên cạnh đó, hệ<br /> thống ngân hàng còn tồn tại những quan hệ<br /> ràng buộc phức tạp về mặt sở hữu khi mà các<br /> ngân hàng có những công ty con, công ty liên<br /> kết và những công ty này cũng nắm giữ cổ<br /> phiếu ngân hàng đang tạo ra những hệ lụy tác<br /> động trực tiếp đến tính ổn định và lành mạnh<br /> của hệ thống.<br /> 2. Thực trạng các hình thức sở hữu<br /> chéo hiện nay<br /> Theo báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 do Ủy<br /> ban Kinh tế của Quốc Hội công bố, vấn đề sở<br /> hữu chéo giữa các TCTD ở Việt Nam ngày<br /> càng trở nên nghiêm trọng. Đây là một trong<br /> những nguyên nhân dẫn đến việc giải ngân<br /> vốn dựa trên quan hệ thay vì hiệu quả sử dụng.<br /> Theo báo cáo này, sở hữu chéo trong hệ thống<br /> ngân hàng Việt Nam có thể chia thành sáu<br /> nhóm: Thứ nhất, sở hữu của các NHTMNN<br /> và NHTM nước ngoài tại các NH liên doanh;<br /> Thứ hai, cổ đông chiến lược nước ngoài tại<br /> các NHTM - cả nhà nước lẫn cổ phần; Thứ ba,<br /> cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý<br /> quỹ; Thứ tư, sở hữu của các NHTMNN tại các<br /> NHTMCP; Thứ năm, sở hữu lẫn nhau giữa<br /> các NHTMCP; Thứ sáu, sở hữu NHTMCP<br /> bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và<br /> tư nhân. Nhận định và đánh giá trong các mối<br /> quan hệ trên, ba nhóm sở hữu chéo đầu tiên<br /> có tính tích cực vì các mối quan hệ này chủ<br /> yếu hướng đến việc tăng cường thúc đẩy hoạt<br /> động thương mại giữa Việt Nam và quốc tế,<br /> nâng cao năng lực quản trị và thúc đẩy việc sử<br /> dụng vốn một cách có hiệu quả.<br /> Mối bận tâm của các nhà quản lý, nhà<br /> nghiên cứu là mối quan hệ ở ba nhóm sau.<br /> 37<br /> <br /> Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> Khi các NHTMNN là cổ đông lớn của các<br /> NHTMCP, các NHTMNN có thể ảnh hưởng<br /> đến các ngân hàng thuộc nhóm sau trong việc<br /> cung cấp vốn cho các DNNN. Với trường<br /> hợp các NHTM có cổ đông lớn là các doanh<br /> nghiệp, rất có thể các NHTM này trở thành<br /> sân sau, chuyên huy động vốn từ dân để tài<br /> trợ cho các dự án của doanh nghiệp cổ đông.<br /> Mặc dù theo quy định, các ngân hàng không<br /> được cho các cổ đông của mình vay vốn<br /> nhưng các ngân hàng có thể lách quy định<br /> bằng cách cho các công ty con của các doanh<br /> nghiệp vay vốn. Tương tự, việc sở hữu chéo<br /> giữa các ngân hàng cũng tạo điều kiện để<br /> cho các doanh nghiệp sở hữu ngân hàng này<br /> có thể dễ dàng vay được vốn từ ngân hàng<br /> có quan hệ sở hữu chéo khác. Như vậy, ba<br /> trường hợp sở hữu này đều có nguy cơ dẫn<br /> đến việc các NHTM sẽ tiến hành thẩm định<br /> vốn vay thiếu cẩn trọng. Nếu điều này xảy<br /> ra, đây có thể coi là một trong những nguyên<br /> nhân quan trọng dẫn đến nợ xấu trong hệ<br /> thống ngân hàng tăng cao. Bởi vì, chúng ta<br /> cũng thấy rằng:<br /> - Sở hữu của các NHTMNN tại các<br /> NHTMCP: Do ảnh hưởng trong giai đoạn<br /> khủng hoảng 1997-1998, một số NHTMCP<br /> đã bộc lộ một số yếu kém về kinh doanh và<br /> năng lực tài chính, khả năng thanh khoản nên<br /> sự hiện diện của NHTMNN tại các NHTMCP<br /> theo chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà<br /> nước đã xuất hiện để góp phần ổn định hệ<br /> thống ngân hàng. Hiện có 8 NHTM cổ phần<br /> có quan hệ cổ phần với bốn NHTMNN. Ví dụ<br /> như là Vietcombank hiện đang sở hữu 11%<br /> tại Ngân hàng Quân đội, 8,2% tại Eximbank,<br /> 4,7% tại Ngân hàng Phương Đông, 5,3%<br /> tại Ngân hàng Sài Gòn. Trường hợp khác,<br /> Agribank hiện đang sở hữu 15% tại Maritime<br /> Bank (cổ phần gián tiếp thông qua Agriseco),<br /> <br /> 11% tại Saigonbank. Còn VietinBank cũng sở<br /> hữu 11% cổ phần tại Saigonbank.<br /> - Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTMCP:<br /> Đây là một hình thức sở hữu khá phổ biến<br /> hiện nay ở Việt Nam, đang có 6 NHTMCP có<br /> cổ đông là một NHTMCP khác. Chẳng hạn,<br /> như Eximbank hiện sở hữu 10,6% cổ phần<br /> tại Sacombank, 8,5% cổ phần tại Ngân hàng<br /> Việt Á; ACB đang sở hữu 20% cổ phần tại<br /> Eximbank, 10,8% ở ngân hàng Đại Á, 10%<br /> ở ngân hàng Việt Nam Thương Tín; 6,1% ở<br /> ngân hàng Kiên Long (thông qua Công ty<br /> Chứng khoán ACBS).<br /> - Sở hữu NHTMCP bởi các tập đoàn, tổng<br /> công ty nhà nước và tư nhân: Rất nhiều tập<br /> đoàn và tổng công ty nhà nước tham gia góp<br /> vốn hình thành các TCTD. Hầu hết các tập<br /> đoàn nhà nước đều có các công ty tài chính.<br /> Mối quan hệ giữa NHTMCP với các tập đoàn<br /> tư nhân ngày càng trở nên phức tạp. Vì có<br /> nhiều ngân hàng có thể được sở hữu bởi rất<br /> nhiều công ty gia đình hoặc các thành viên<br /> gia đình vốn đồng thời lãnh đạo ở các doing<br /> nghiệp khác.<br /> Trong đó, đặc biệt nổi bật là việc sở hữu<br /> NHTMCP bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà<br /> nước và tư nhân hiện nay như: Tập đoàn Bảo<br /> Việt sở hữu 52% cổ phần của NHTMCP Bảo<br /> Việt; Viettel sở hữu 10%, Tổng công ty Trực<br /> thăng Việt Nam sở hữu 7,2% , Tổng công ty<br /> Tân cảng Sài Gòn sở hữu 5,7% cổ phần của<br /> ngân hàng Quân Đội; EVN sở hữu 25,4% cổ<br /> phần của ABBank; Tập đoàn Than Khoáng<br /> sản Việt Nam, Tập đoàn cao su Việt Nam<br /> đều sở hữu 9,3% cổ phần của SHB; Tập đoàn<br /> Dầu khí Quốc gia Việt Nam sở hữu 20% cổ<br /> phần của Oceanbank; Agribank sở hữu 15%<br /> Maritime bank, 10,2% của ngân hàng Phát<br /> triển Mê Kông, 8,9% của ngân hàng Quân đội.<br /> VNPT sở hữu 12,5% Maritime bank, 6,1% cổ<br /> 38<br /> <br /> Sở hữu chéo . . .<br /> <br /> phần của Oceanbank, 6% cổ phần của ngân<br /> hàng Bưu điện Liên Việt và Vinalines sở hữu<br /> 5,3% cổ phần của Maritime bank. Mặc dù các<br /> Tập đoàn, Tổng công ty nắm giữ số lượng cổ<br /> phần tương đối lớn tại các NHTMCP nhưng<br /> lại trực tiếp không tham gia quản trị điều hành<br /> trong khi vai trò quản trị điều hành và thâu<br /> tóm lại thuộc về nhóm lợi ích hoặc một vài cá<br /> nhân đại diện thao túng.<br /> Như chúng ta biết, sự biến tướng sở hữu<br /> chéo vốn cổ phần trong các NHTMCP có liên<br /> quan đã đưa đến nhiều mối quan hệ mà cơ<br /> quan quản lý nhà nước về hoạt động ngân<br /> hàng cần phải quan tâm giải quyết, nhằm làm<br /> minh bạch năng lực tài chính của những tổ<br /> chức, cá nhân có nhiều sở hữu vốn cổ phần tại<br /> một số ngân hàng, tránh bị rơi vào tình trạng<br /> để họ lũng đoạn, gây nên những biến động<br /> ảnh hưởng xấu đến hệ thống ngân hàng hiện<br /> nay. Tình trạng sở hữu chéo cổ phần đang đưa<br /> tới việc tạo ra những liên minh ngân hàng,<br /> khiến cho việc quản lý trở nên phức tạp. Nếu<br /> không được kiểm soát đúng mức, rủi ro hệ<br /> thống không phải là không có. Một trong<br /> những ưu tiên của tiến trình tái cơ cấu nền<br /> kinh tế đó chính là tái cấu trúc lại hệ thống<br /> ngân hàng thương mại. Trong đó giải quyết<br /> nợ xấu và sâu xa hơn là giải quyết tình trạng<br /> sở hữu chéo là vấn đề được nhiều người quan<br /> tâm thời điểm này.<br /> Theo quy định, một cổ đông cá nhân<br /> không được sở hữu quá 5% vốn điều lệ của<br /> một tổ chức tín dụng, một cổ đông là tổ<br /> chức không được sở hữu quá 15% vốn điều<br /> lệ của một tổ chức tín dụng... nhằm hạn chế<br /> sự thâu tóm ngân hàng trái pháp luật. Song,<br /> khi sở hữu chéo thì quy định này sẽ bị vô<br /> hiệu hóa. Bởi lẽ, sở hữu chéo cho phép một<br /> doanh nghiệp, hay NHTM, có tỷ lệ cổ phần<br /> lớn trong các NHTM khác có thể gây áp lực<br /> <br /> để ngân hàng này cấp vốn đầu tư vào những<br /> dự án của doanh nghiệp hay ngân hàng “sân<br /> sau” của mình, điều này sẽ dẫn đến nguy cơ là<br /> quy định giới hạn tín dụng bị “vượt rào”, bộ<br /> máy đánh giá, sàng lọc tiêu chí theo hiệu quả<br /> đầu tư của NHTM bị vô hiệu. Các quy định<br /> về các đối tượng cấm cho vay, hạn chế cho<br /> vay cũng sẽ bị ảnh hưởng. Chẳng hạn, pháp<br /> luật không cho phép TCTD cho vay đối với<br /> Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc, người thân<br /> của họ và một số đối tượng khác. Tuy nhiên,<br /> những người này lại có thể vay ở TCTD khác<br /> mà tổ chức của mình là cổ đông lớn. Sở hữu<br /> chéo cũng giúp các ngân hàng có thể lách quy<br /> định về việc không được cho các cổ đông của<br /> mình vay vốn bằng cách cho các công ty con<br /> của các doanh nghiệp vay vốn. Và một thực<br /> tế, trong bối cảnh hiện nay, ngân hàng thương<br /> mại rất dễ biến thành kênh huy động vốn cho<br /> Tập đoàn, các công ty con là “mạng nhện”<br /> liên kết còn thể hiện ở những hoạt động kinh<br /> doanh thiếu kiểm soát, sự nhập nhằng trong<br /> việc cho vay, trong thẩm định và cấp phát vốn<br /> vay và làm gia tăng rủi ro tín dụng, phát sinh<br /> tiềm ẩn nợ xấu ngân hàng. Rủi ro thị trường<br /> tài chính ngân hàng mang tính hệ thống, dù<br /> rủi ro ấy ban đầu chỉ xuất phát từ một vài tổ<br /> chức riêng lẻ. Vì đó là quan hệ giữa dòng tiền<br /> với nền sản xuất kinh tế thực. Rủi ro này khi<br /> vỡ, từ quan hệ “lằng nhằng” do sở hữu chéo<br /> giữa các ngân hàng, thì không chỉ lan tỏa đối<br /> với hệ thống sản xuất kinh doanh ngoài ngân<br /> hàng mà ngay cả trong ngân hàng.<br /> Theo báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy<br /> ban kinh tế Quốc hội thì hiện nay, gần 40<br /> doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân sở hữu<br /> trên 5% tại các NHTMCP và các doanh nghiệp<br /> này lại sở hữu các công ty đầu tư tài chính.<br /> Vì vậy, mối quan hệ giữa NHTMCP với các<br /> tập đoàn cổ phần tư nhân ngày càng phức tạp.<br /> 39<br /> <br /> Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> Nhiều ngân hàng có thể được sở hữu bởi rất<br /> nhiều công ty gia đình hoặc các thành viên gia<br /> đình vốn đang là lãnh đạo ở các doanh nghiệp<br /> khác. Các ngân hàng có thể nắm cổ phần của<br /> nhau thông qua những công ty chứng khoán<br /> hoặc quỹ đầu tư hoặc công ty đầu tư tài chính.<br /> Có chuyên gia kinh tế cho rằng “Một thực<br /> tế là công ty đầu tư tài chính tại Việt Nam<br /> lại là một doanh nghiệp bình thường, không<br /> bị điều tiết bởi quy định đặc biệt nào, không<br /> phải công bố thông tin trong khi họ hoạt động<br /> không khác gì một quỹ đầu tư hay công ty<br /> chứng khoán. Ví dụ mới đây nhất của hình<br /> thức này là cách tạo tiền cấp số nhân của ông<br /> Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên) để sở hữu cổ<br /> phần tại nhiều ngân hàng vừa được cơ quan<br /> điều tra phanh phui. Theo đó, bầu Kiên thành<br /> lập các công ty đầu tư tài chính và sử dụng<br /> những pháp nhân này để vay tiền ngân hàng.<br /> Với phần lớn số tiền này, ông và người thân<br /> trong gia đình gom thêm cổ phần tại một ngân<br /> hàng thứ hai rồi dùng chính số cổ phần trên<br /> thế chấp cho khoản vay tại ngân hàng đầu<br /> tiên. Cuối cùng, tiền chạy lòng vòng và giá<br /> trị thực ít hơn rất nhiều con số vốn cổ phần ảo<br /> do mối quan hệ sở hữu phức tạp. Hình thức sở<br /> hữu chéo tiếp theo là việc một hoặc nhiều nhà<br /> đầu tư lớn nắm một lúc nhiều ngân hàng, công<br /> ty chứng khoán.<br /> Theo Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân<br /> hàng – NHNN, luật Các TCTD năm 2010<br /> không cho phép các TCTD sở hữu cổ phần<br /> lẫn nhau (Khoản 5 Điều 129); không cho<br /> phép các công ty con, công ty liên kết của một<br /> TCTD được góp vốn, mua cổ phần của chính<br /> TCTD đó (Khoản 2 Điều 135). Tuy nhiên do<br /> yếu tố lịch sử, trên thực tế, hiện vẫn còn một<br /> số TCTD góp vốn tại nhiều TCTD khác hoặc<br /> có sở hữu cổ phần lẫn nhau (xảy ra từ trước<br /> khi Luật Các TCTD năm 2010 có hiệu lực)<br /> <br /> hoặc có một số trường hợp TCTD thông qua<br /> các công ty con của mình sở hữu cổ phần của<br /> TCTD khác (gọi chung là các TCTD “có liên<br /> quan”).<br /> a. Những lợi ích của sở hữu chéo<br /> - Sở hữu được nhiều ngân hàng, nên dễ<br /> linh hoạt trong việc sử dụng nguồn vốn để<br /> phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân<br /> hàng mình, cũng như các công ty con của<br /> mình.<br /> - Quy mô vốn sở hữu, năng lực tài chính<br /> lớn sẽ giúp cho ngân hàng có nhiều cơ hội để<br /> cạnh tranh với các ngân hàng khác.<br /> - Nhìn nhận lại lịch sử của sở hữu chéo,<br /> ông Tomoyuki Kimura – Giám đốc Quốc gia<br /> ADB tại Việt Nam cho rằng: Bản chất sở hữu<br /> chéo không phải là xấu. Sở hữu chéo giữa<br /> ngân hàng lớn với ngân hàng nhỏ là khá phổ<br /> biến ở nhiều quốc gia. Khi có tình huống xấu<br /> xảy ra, ngân hàng lớn có thể giúp ngân hàng<br /> nhỏ bằng việc tăng cường nhân lực, tư vấn<br /> cách quản lý, điều hành… Sở hữu chéo trở<br /> thành vấn đề khi nó không được quản lý chặt<br /> chẽ, gây hậu quả xấu.<br /> - Sở hữu chéo, sẽ góp phần mở rộng mạng<br /> lưới ngân hàng đại lý lẫn nhau, tạo nên những<br /> liên minh thanh toán, tài trợ tín dụng trong và<br /> ngoài nước nhanh gọn hiệu quả, hạn chế rủi ro<br /> tập trung tín dụng.<br /> b. Những hệ lụy của sở hữu chéo vốn<br /> cổ phần<br /> - Các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt<br /> động ngân hàng khó kiểm soát được thực chất<br /> chủ sở hữu vốn cổ phần của những ngân hàng<br /> này, khó có thể loại trừ “vốn cổ phần ảo”.<br /> Số liệu hình thức có vốn, nhưng năng lực tài<br /> chính thực chất là bị giới hạn, không đủ mạnh.<br /> - Nhiều NHTMCP bị một số nhóm nhà<br /> đầu tư thao túng, dễ trục lợi, làm giá cổ phiếu<br /> ngân hàng trên thị trường.<br /> 40<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2