Sử dụng thuốc BVTV như thế nào cho an toàn và
hiệu quả cao?
S dụng thuốc BVTV như thế nào đạt hiệu
qutrừ hại cao mà vn an toàn, đảm bảo trái
cây không vi phm các quy định về lượng
thuốc BVTV là vn đề rất đáng để nhà vườn
quan tâm trong điều kiện hội nhập kinh tế thế
giới. Tại cuộc hội thảo “Giữ vững thương hiệu
trái cây Bến Tre ngày 15/6/2010, trong khuôn
khNgày hội Cây trái ngon, an toàn sn
phẩm nông nghiệp tỉnh Bến Tre lần thứ X, Công ty cphần BVTV An Giang
đã o o tham lun khuyến o bà con nông dân cn quan m một s
vấn đề khi sử dụng thuốc BVTV.
Theo báo cáo tham luận của kỹ sư Nguyễn Quý Hùng, Công ty cphần BVTV An
Giang, vấn đề an toàn thực phẩm hin đang được thị trường quan tâm hàng đầu, là
đòi hỏi cấp bách đối với nhà vườn cây ăn trái Việt Nam nói chung và Bến Tre nói
riêng.
Trái cây sản phẩm đặc thù chyếu ăn tươi không qua chế biến, do đó rất dễ
gây ra ngđộc hóa chất trừ u và vi sinh nếu không quản tốt quy trình sản
xuất, chế biến, vận chuyển và đưa ra thị trường.
Kỹ sư Hùng đưa ra các số liệu thống kê của Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm, Bộ Y
tế, cho thấy trong những năm qua, mặc dù được quan chức năng các tỉnh đặc
biệt quan m nhưng tình hình VSATTP vẫn diễn biến khá phức tạp, tình trạng
ngộ độc thực phẩm vẫn ở mức đáng báo động.
Riêng việc sử dụng thuốc BVTV, theo điều tra của Cục BVTV Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, đã chuyn biến tích cực, việc sử dụng thuốc cấm, thuốc
ngoài danh mục, thuốc không rõ nguồn gốc đã gim nhưng về kỹ thuật sử dụng
thuốc cũng như nhận thức của người dân vẫn còn bất cập, lúng túng, chưa tuân th
tốt nguyên tắc 4 đúng”, chưa quan tâm đúng mức đến thời gian cách ly.
Việc người dân chưa quan m đúng mức vấn đề VSATTP và việc sử dụng thuốc
BVTV sảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, đời sống của cộng đồng và ảnh hưởng
đến giao lưu thương mại.
Thời gian qua, nhờ sự quan tâm của các cấp, các ngành ttrung ương đến địa
phương, nên ngành sản xuất trái cây đã những chuyển biến nhất định, nhiều
tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng vào việc lai tạo giống mới, trong quy trình
canh tác và sử dụng thuốc BVTV, góp phần phát triển ngành cây ăn trái ở nước ta.
Tuy nhiên, trái cây xuất khẩu của Việt Nam hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vẫn
thua kém nhiều nước và khó thâm nhập các thtrường khó tính như Mỹ, EU. Rào
cản chủ yếu vẫn là việc trái cây của Việt Nam bị nhiễm hóa chất BVTV vượt mức
quy định.
Việc trái cây bị nhiễm hóa chất BVTV đã được các kcơ quan chức năng
nhắc nhở và cảnh báo nhiều nhưng tình hình vẫn chưa được cải thiện. Nguyên
nhân chyếu vẫn là do bà con nông dân còn quá ít hiểu biết về thuốc BVTV.
Trong khi đó, theo một điều tra của Cục BVTV BNN&PTNT, bà con nông
dân, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long lạm dụng khá nhiều thuốc BVTV
trong sản xuất trái cây; mỗi vụ mỗi hộ sử dụng thuốc BVTV trung bình khoảng 10
lần, một số hộ sử dụng đến 30-40 lần.
Hầu như nông dân chưa thật shiểu thế nào là nguyên tắc “4 đúng” an toàn
hiệu quả trong sử dụng thuốc BVTV.
Theo kNguyễn Quý Hùng, sai lầm phổ biến nhất là nông dân chquan tâm
xem thuốc trđược sâu, bệnh hại mình cần hay không chít quan m đến độc
tính của thuốc và những khuyến cáo sử dụng. Không ít nông dân còn thích chọn
loại thuốc cực độc vì cho rằng hiệu quả trừ sâu cao hơn.
Một số sai lầm khác trong sử dụng thuốc như: nồng độ pha theo ước lượng chủ
quan là chính nên không chính xác, lúc thừa, lúc thiếu, ảnh hưởng đến hiệu quả trừ
dịch hại; phun thuốc không đều, chỗ quá nhiều, chỗ thì ít hoặc không có, phải
phun đi phun lại nhiều lần thành ra lm dụng thuốc BVTV; thời gian phun thuốc
trong ngày không đúng, lúc nắng gắt gây ngộ độc, lúc gió to, clúc mưa nên hiệu
qutrừ hại không cao; tùy tiện pha trộn nhiều loại thuốc; xử phun thuốc thường
tập trung giai đoạn cây đang ra trái hoặc trái sắp chín mà không tuân ththời
gian cách ly, nhất là với các thuốc có gốc lân và carbanate; và một điều nữa là việc
xbao bì sau khi sdụng thuốc một cách tùy tiện, không an toàn, gây ô nhim
môi trường.
KHùng đưa ra lời khuyên khi sdụng thuốc BVTV như sau: Áp dụng biện
pháp sdụng thuốc BVTV tương hợp với các biện pháp trong quy trình Quản
dịch hại tổng hợp (gọi tắt là IPM). Thuốc BVTV chỉ một phần trong IPM và
không ththay thế cho việc triển khai các biện pháp canh tác, chọn giống tốt, sinh
học,…
Cháp dụng biện pháp sử dụng thuốc BVTV khi thật cần thiết, khi các biện pháp
khác không ngăn nổi dịch hại.
Tuyệt đối không s dụng các loại thuốc cm, thuốc không có trong danh mục,
không dùng thuốc cực độc; không sử dụng nhiều lần một loại thuốc và không s
dụng nồng độ thuốc thấp hơn hoặc cao hơn khuyến cáo; không hoà trộn nhiều loại
thuốc vì dễ tạo ra quần thể sâu kháng thuốc.
Nên sdụng công cphun đúng tiêu chuẩn và phun kgiúp thuốc phân tán đều
khắp, hiệu quả trừ sâu bệnh hại cao.
Để đảm bảo trái cây an toàn, không sdụng thuốc độc tính cao, thời gian cách
ly dài. Trong giai đoạn phát triển trái, cần đặc biệt lưu ý thi gian cách ly của
thuốc.
Để sử dụng thuốc đúng lúc, cần thường xuyên theo dõi sự phát sinh, phát triển của
dịch hại để kịp thời xử lý.
Trong tình hình hội nhập kinh tế, để trái cây Việt Nam, Bến Tre nói riêng đạt tiêu
chuẩn xuất khẩu, không nhiễm hoá chất tru, nông dân cần thiết phải xây dựng
chương trình IPM trên cây ăn trái bao gồm 10 điều cần biết, cần quan m để trái
cây đạt hiệu quả năng suất cao, chất lượng sạch.