14
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(7)- Tháng 7. 2025- Số 279
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Tác động của chuyển đổi số đến hoạt động
thương mại Việt Nam
Ngày nhận: 13/01/2025 Ngày nhận bản sửa: 11/04/2025 Ngày duyệt đăng: 21/04/2025
Tóm tắt: Nghiên cứu này đánh giá tác động của chuyển đổi số đến hoạt động
thương mại của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới. Sử dụng hình
trọng lực mở rộng dựa trên dữ liệu bảng của 48 quốc gia đối tác thương mại
Việt Nam trong giai đoạn 2007- 2022, nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa
các biến phản ánh mức độ chuyển đổi số và các biến phản ánh hiệu quả hoạt
động thương mại. Kết quả nghiên cứu cho thấy chuyển đổi số có tác động tích
cực đến hoạt động thương mại, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của các thành
phần chuyển đổi số bao gồm Chính phủ điện tử, Kinh tế số hội số đến
thương mại sự khác biệt. Những phát hiện này ý nghĩa trong việc đưa
ra các khuyến nghị chính sách đối với việc ứng dụng chuyển đổi số vào hoạt
động thương mại, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên thị
trường quốc tế.
Từ khóa: Chuyển đổi số, Chính phủ điện tử, Kinh tế số, Xã hội số, Thương mại
The impact of digital transformation on trade performance in Vietnam
Abstract: This paper examines the impact of digital transformation on trade performance of Vietnam in a
global context. Using a gravity model based on panel data from 48 trading partner countries of Vietnam
during the period 2007- 2022, the research examines the relationship between variables reflecting the
level of digital transformation and indicators of trade performance. The findings indicate that digital
transformation has a positive effect on trade activities. However, the extent of the influence of digital
transformation components, including the digital Government, the digital economy, and the digital society,
on trade varies. These results provide important theoretical and practical implications for the formulation
of policies to promote the application of digital transformation in trade activities, thereby enhancing
Vietnam's competitiveness in the international market.
Keywords: Digital transformation, Digital government, Digital economy, Digital society, Trade performance
Doi: 10.59276/JELB.2025.07.2870
Mai, Huong Giang1, Pham, Phuong Anh2, Hoang, Thi Thu Nguyen3, Tran, Thi Thu Ha4, Dao, Mai Huong5,
Bui, Thi Van Anh6
Email: giangmh@hvnh.edu.vn1, phamphuonganh.work@gmail.com2, hoangthucnguyen260905@gmail.
com3, thuuha156@gmail.com4, daomaihuong127303@gmail.com5, vananhbuithi4@gmail.com6
Organization of all: Banking Academy of Vietnam
Mai Hương Giang, Phạm Phương Anh, Hoàng Thị Thục Nguyên,
Trần Thị Thu Hà, Đào Mai Hương, Bùi Thị Vân Anh
Học viện Ngân hàng, Việt Nam
MAI HƯƠNG GIANG - PHẠM PHƯƠNG ANH - HOÀNG THỊ THỤC NGUYÊN -
TRẦN THỊ THU HÀ - ĐÀO MAI HƯƠNG - BÙI THỊ VÂN ANH
15
Năm thứ 27(7)- Tháng 7. 2025- Số 279- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
1. Giới thiệu
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công
nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, chuyển
đổi số (CĐS) ngày càng trở thành yếu tố
cốt lõi giúp thúc đẩy sự phát triển của các
ngành kinh tế, bao gồm cả lĩnh vực thương
mại (World Bank, 2021). Việc áp dụng các
công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo,
dữ liệu lớn, công nghệ chuỗi khối,... đã
giúp các quốc gia tối ưu hóa chuỗi cung
ứng, tăng cường hiệu quả giao thương
thúc đẩy tăng trưởng xuất nhập khẩu
(UNCTAD, 2022). Nhiều kết quả nghiên
cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng việc áp
dụng CĐS đã đem lại tác động tích cực đến
hoạt động xuất nhập khẩu cả các quốc
gia đang phát triển quốc gia phát triển
(Clarke & Wallsten, 2006; Rodriguez-
Crespo cộng sự, 2019). Bên cạnh đó,
sự bùng phát của đại dịch COVID-19 giai
đoạn 2020- 2021 đã tạo ra áp lực đồng
thời động lực mạnh mẽ để các doanh
nghiệp quốc gia CĐS nhanh chóng nhằm
thích ứng với những gián đoạn trong hoạt
động kinh doanh truyền thống (McKinsey
& Company, 2020).
Tại Việt Nam, nhờ lợi thế của một quốc gia
mới nổi với môi trường kinh tế ổn
định cùng với việc chú trọng đẩy mạnh các
chính sách hội nhập quốc tế, thương mại đã
trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế. Theo số liệu
từ Tổng cục Thống kê (2023), quy mô xuất
nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2022
đạt trên 700 tỷ USD, tăng gấp 3 lần so với
năm 2010. Trong bối cảnh đó, ứng dụng
CĐS trong thương mại đã đang được
chú trọng, góp phần nâng cao hiệu quả giao
dịch, giảm chi phí thương mại mở rộng
kết nối với các thị trường quốc tế (Vietnam
Briefing, 2023). Tuy nhiên, quá trình CĐS
trong lĩnh vực thương mại của Việt Nam
vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn. Một số
nghiên cứu đã chỉ ra rằng khung pháp
về thương mại số, thương mại điện tử tại
Việt Nam hiện còn thiếu tính đồng bộ
chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc
tế (Lê Văn Thiệp, 2016; Phú Khánh,
2023). Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt
lao động chất lượng cao, đặc biệt nhân
lực có trình độ kỹ thuật và kỹ năng số, vẫn
một thách thức lớn đối với các doanh
nghiệp Việt Nam (Deloitte, 2022). Với xu
thế hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu
rộng, cùng với sự phát triển nhanh chóng
của công nghệ, CĐS trong nền kinh tế nói
chung trong hoạt động thương mại nói
riêng yêu cầu bắt buộc trong giai đoạn
tới. Tuy nhiên, cách thức triển khai, lộ trình
thực hiện như thế nào để phù hợp với điều
kiện của đất nước vẫn còn đặt ra nhiều câu
hỏi cho các nhà hoạch định chính sách.
Nghiên cứu này tập trung phân tích tác
động của CĐS đến thương mại Việt Nam
thông qua hình trọng lực mở rộng dựa
trên dữ liệu bảng của 48 quốc gia đối tác
thương mại của Việt Nam trên thế giới
trong giai đoạn 2007- 2022. Nghiên cứu
này đề xuất một cách tiếp cận mới trong đo
lường CĐS và đánh giá tác động của CĐS
đến hoạt động thương mại của Việt Nam.
Trước đây, mức độ CĐS thường được đo
lường thông qua một vài khía cạnh như
Internet hoặc ICT (Katz & Koutroumpis,
2013), hoặc số thuê bao di động (OECD,
2019), song cách tiếp cận này chưa phản
ánh toàn diện sự thay đổi của nền kinh tế
số. Hơn nữa, các nghiên cứu trước mới chỉ
tập trung nghiên cứu tác động của CĐS từ
góc độ vi mô mà chưa đánh giá ảnh hưởng
cấp độ quốc gia. Để giải quyết bài toán
lượng hóa biến CĐS, nhóm tác giả sử dụng
phương pháp thống tần suất từ kết hợp
ứng dụng chỉ số Grubel- Lloyd nhằm đo
lường khoảng cách CĐS giữa hai quốc gia.
Nghiên cứu cũng đánh giá toàn diện các
thành phần chính của CĐS bao gồm Chính
Tác động của chuyển đổi số đến hoạt động thương mại Việt Nam
16 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(7)- Tháng 7. 2025- Số 279
phủ điện tử (CPĐT), Kinh tế số (KTS)
Xã hội số (XHS) đến dòng thương mại của
Việt Nam. Theo cách tiếp cận của OECD
(2019), CĐS quốc gia thường được phân
thành ba trụ cột lớn: Chính phủ số, KTS
XHS. Cách tiếp cận này cũng tương
đồng với phân loại theo báo cáo UN
E-Government Survey (2022) đã chỉ ba
khía cạnh bao gồm CPĐT, kinh tế đổi mới
XHS toàn diện cấu phần then chốt
trong chuyển đổi số quốc gia. Cùng với đó,
kết quả được kiểm định lại bằng cách đo
lường CĐS thông qua số người sử dụng
Internet, số thuê bao điện thoại di động
lượng băng thông rộng. Kết quả nghiên
cứu cho thấy CĐS có tác động tích cực đến
hiệu quả hoạt động thương mại của Việt
Nam, đồng thời chỉ mức độ đóng góp
khác nhau của từng thành phần. Cụ thể,
CPĐT vai trò quan trọng trong việc thúc
đẩy cả xuất khẩu nhập khẩu. Trong khi
đó, KTS chỉ tác động đáng kể đến hiệu
quả nhập khẩu, còn XHS lại thể hiện ảnh
hưởng mạnh hơn đến hoạt động xuất khẩu.
Nghiên cứu mở rộng phạm vi so sánh, phân
tích sự khác biệt về tác động của CĐS giữa
các quốc gia phát triển đang phát triển.
Kết quả chỉ ra rằng CĐS mang lại lợi ích
lớn hơn cho các quốc gia đang phát triển
trong việc thúc đẩy thương mại, điều này
trái ngược với một số kết luận trước đó,
chẳng hạn như nghiên cứu của Rodriguez-
Crespo cộng sự (2019). Kết quả này
ý nghĩa cùng quan trọng trong việc đưa
ra những khuyến nghị đối với việc ứng
dụng CĐS vào hoạt động thương mại của
Việt Nam.
2. Tổng quan nghiên cứu về tác động
của chuyển đổi số đến thương mại
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát
triển không ngừng của thương mại, CĐS
đã và đang phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ
hết, đặc biệt kể từ khi đại dịch Covid-19
bùng phát. Một số nghiên cứu về tác động
của CĐS các khía cạnh khác nhau đến
hoạt động thương mại. Kết quả nghiên cứu
của Zhang (2024) đã đưa ra kết luận rằng
CĐS có tác động mạnh mẽ tới thương mại
toàn cầu, đặc biệt dịch vụ viễn thông,
máy tính thông tin. Zhang (2022) chỉ
ra rằng tỷ trọng thương mại dịch vụ trong
nền kinh tế toàn cầu tăng lên phần lớn
do sự tiến bộ của công nghệ Internet, song
song với đó là sự ra đời của các ngành dịch
vụ thương mại mới. Với sự trợ giúp của
Internet thông qua các mô hình thương mại
toàn cầu mới làm cho việc trao đổi thông
tin quốc tế dễ dàng hơn, từ đó tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp vừa nhỏ tiếp tham
gia vào thị trường quốc tế.
Tại Việt Nam, CĐS đã đang diễn ra
trên nhiều lĩnh vực như giáo dục, tài chính,
logistics thương mại, đóng vai trò quan
trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia. Báo cáo của World Bank
(2022) ghi nhận rằng Việt Nam đã đạt được
những tiến bộ đáng kể trong việc số hóa
các hoạt động thương mại, từ việc áp dụng
các nền tảng thương mại điện tử đến cải
thiện các dịch vụ hải quan điện tử.
Bên cạnh đó, vai trò của Chính phủ trong
thúc đẩy CĐS tại Việt Nam cũng được
làm rõ qua các nghiên cứu gần đây. World
Bank (2022) đã nhấn mạnh rằng việc triển
khai các dịch vụ CPĐT, như cổng thông tin
quốc gia và hải quan điện tử, đã giúp giảm
đáng kể thời gian chi phí cho các giao
dịch thương mại, đồng thời tăng cường tính
minh bạch trong các hoạt động xuất nhập
khẩu. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ
ra rằng vẫn còn tồn tại những hạn chế liên
quan đến khung pháp sự phối hợp
giữa các quan quản nhà nước, điều
này làm giảm hiệu quả của các sáng kiến
CĐS trong lĩnh vực thương mại (Lê Văn
Thiệp, 2016; Lê Phú Khánh, 2023).
MAI HƯƠNG GIANG - PHẠM PHƯƠNG ANH - HOÀNG THỊ THỤC NGUYÊN -
TRẦN THỊ THU HÀ - ĐÀO MAI HƯƠNG - BÙI THỊ VÂN ANH
17
Năm thứ 27(7)- Tháng 7. 2025- Số 279- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Mặc đã một số nghiên cứu về tác
động của CĐS đến thương mại, vẫn tồn tại
những khoảng trống cần được nghiên cứu
sâu hơn. Thứ nhất, phần lớn các nghiên cứu
hiện tại tập trung nghiên cứu tác động của
CĐS đến thương mại tại các quốc gia phát
triển, trong khi các bằng chứng tại các quốc
gia mới nổi, các quốc gia đang phát triển
còn hạn chế. Thứ hai, các nghiên cứu trước
đây chủ yếu phân tích tác động của CĐS từ
góc độ vi chưa đi sâu vào ảnh hưởng
cấp độ quốc gia. Thứ ba, các nghiên cứu
trước đây thường chỉ xem xét một hoặc một
vài khía cạnh của CĐS, như Internet hoặc
ICT, chưa đánh giá toàn diện các thành
phần khác như CPĐT, KTS XHS. Thứ
tư, tại Việt Nam, chưa nghiên cứu nào
ứng dụng hình kinh tế lượng để phân
tích một cách toàn diện tác động của CĐS
đến hiệu quả thương mại ở cấp độ quốc gia,
đặc biệt trong mối quan hệ thương mại
giữa Việt Nam và các đối tác quốc tế.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Xây dựng thang đo mức độ chuyển
đổi số của các quốc gia
Nhằm xây dựng biến số đo lường mức
độ CĐS tại các quốc gia, nhóm nghiên
cứu xây dựng chỉ số CĐS bằng phương
pháp thống tần suất. sở luận cho
phương pháp tiếp cận này được giải thích
một hiện tượng kinh tế hội ngẫu nhiên
mối tương quan khá cao tới số lượng bài
viết, bài đăng về hiện tượng đó xuất hiện
trên một nền tảng trực tuyến bất kì. Nhiều
nghiên cứu học thuật trước đây đã sử dụng
dữ liệu từ Google Trends như một chỉ báo
thay thế hợp lệ để phản ánh nhận thức, hành
vi kỹ thuật số, hoặc mức độ sẵn sàng số hóa
cấp độ quốc gia (Choi & Varian, 2012;
Gaspar cộng sự, 2018; Lorenz cộng
sự, 2022) Chỉ số ứng dụng CĐS được xây
dựng thông qua ba bước. Đầu tiên, nhóm
xác định cụm từ dùng để tìm kiếm được tạo
nên bởi hai phần. Phần thứ nhất tên của
các từ khóa liên quan đến CĐS, phần thứ
hai tên của 48 quốc gia giao thương
với Việt Nam. Về từ khóa, nhóm nghiên
cứu đã phân loại cấu phần CĐS thành 3
phần chính bao gồm kinh tế số, chính phủ
điện tử và XHS. Thứ hai, nhóm nghiên cứu
tính toán tần suất xuất hiện cụm từ thông
qua nền tảng Google đồng thời lọc thời
gian theo năm. Kết quả của tần suất này để
đo lường mức độ ứng dụng CĐS của các
quốc gia quan hệ thương mại với Việt
Nam. Thứ ba, nhóm nghiên cứu áp dụng
cách đo lường theo nguyên tắc của chỉ số
Grubel- Lloyd, được phát triển bởi các nhà
kinh tế H.G. Grubel P.J. Lloyd (1971)
được sử dụng để đo lường khoảng cách
hoặc sự tương đồng trong cấu trúc thương
mại giữa hai quốc gia. Khi phân tích tác
động của CĐS, chỉ số GLI thể được sử
dụng để kiểm tra xem việc số hóa thúc
đẩy thương mại nội ngành không. Chính
vậy, Chỉ số Grubel-Lloyd được coi
công cụ phù hợp để kiểm định sự phù hợp
của các hình trọng lực trong bối cảnh
chuyển đổi số. được tính toán theo công
thức sau:
GL_Xivnt = 100 x (1- (|Xit - Xvnt| / (Xit + Xvnt
)))
Trong đó, GL_Xivnt chỉ số chênh lệch
giữa các biến số CĐS của của nước i với
Việt Nam trong năm t; Xitchỉ số các biến
số CĐS của nước i trong năm t; Xvnt chỉ
số các biến số CĐS của Việt Nam trong
năm t.
3.2. Mô hình nghiên cứu thực chứng
Nghiên cứu sử dụng hình trọng lực
(Gravity Model) được phát triển lần đầu
tiên bởi Jan Tinbergen vào năm 1962, đồng
thời đưa vào các yếu tố đại diện cho chuyển
Tác động của chuyển đổi số đến hoạt động thương mại Việt Nam
18 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(7)- Tháng 7. 2025- Số 279
đổi số kết hợp với các yếu tố truyền thống
nhằm xem xét khác biệt về mức độ CĐS
giữa Việt Nam các đối tác thương mại
tác động đến dòng thương mại của Việt
Nam. Dựa trên mô hình trọng lực kinh điển
(Tinbergen, 1962) kế thừa từ nghiên cứu
của Nath Liu (2017), nhóm nghiên cứu
xây dựng mô hình thực chứng để phân tích
tác động của CĐS đến thương mại Việt
Nam như sau:
LnTRADEivnt = αGL_DTivnt + β1LnGDPvnt
+ β2LnGDPit + β3LnDISTivnt + β4Contigivnt
+ γjWivnt + εivnt (1)
Trong đó: i biểu thị quốc gia, vn biểu thị
Việt Nam và t là năm.
- LnTRADEivnt biến phụ thuộc, được đo
lường bằng tổng kim ngạch xuất khẩu giữa
Việt Nam với nước i trong năm t.
- GL_DTivnt chỉ số phản ánh tương
quan CĐS giữa Việt Nam nước i
trong năm t. Chỉ số này được đo lường
thông qua 4 nhân tố chính bao gồm CĐS
(Digital Transformation-DT), Kinh tế số
(Digital Economy-DE), Chính phủ điện tử
(Electronic Government-EG) hội số
(Digital Social-DS). Chi tiết cách đo lường
các biến số này được trình bày trong Phụ
lục 1.
- LnGDPit/LnGDPvnt là logarit tự nhiên của
tổng sản phẩm quốc nội của nước i/Việt
Nam trong năm t
- LnDISTivnt là logarit tự nhiên của khoảng
cách giữa nước i và Việt Nam.
- Contigivnt biến giả nhận giá trị bằng 1
nếu nước i chung đường biên giới với
Việt Nam nhận giá trị 0 nếu không
chung đường biên giới.
- Wivnt tập hợp biến kiểm soát, bao gồm
các biến dưới đây:
Crisisivnt biến giả nhận giá trị bằng 1
nếu trong năm t nước i/Việt Nam chịu ảnh
hưởng của các cuộc khủng hoảng ngân
hàng nhận giá trị 0 nếu không chịu ảnh
hưởng.
Covidivnt biến giả nhận giá trị bằng
1 nếu trong năm t nước i/Việt Nam chịu
ảnh hưởng của Covid và nhận giá trị 0 nếu
không chịu ảnh hưởng.
Inflationit/Inflationvnt tỷ lệ lạm phát của
nước i/Việt Nam trong năm t.
Lnexchangerateit/Lnexchangeratevnt
logarit tự nhiên của tỷ giá hối đoái thực tế
giữa đồng tiền của nước i/Việt Nam so với
đồng Đô la Mỹ trong năm t.
Prsgeit/Prsgevntgiá trị chỉ số về hiệu quả
chính phủ của nước i/Việt Nam trong năm
t.
- εivnt : đại diện cho những nhân tố không
quan sát được.
3.3. Phương pháp phân tích dữ liệu
Phương trình (1) được ước lượng bằng
phương pháp PPML để tiến hành hồi quy
phương trình (1), sử dụng 3 biến giải thích
khác nhau để phản ánh mức độ ảnh hưởng
của CĐS tới thương mại Việt Nam đồng thời
nhằm xử hiện tượng heteroskedasticity
quan sát bằng 0 trong dữ liệu thương
mại- những vấn đề thường gặp trong
hình trọng lực.
Ngoài ra, bên cạnh biến phụ thuộc chính
Trade, nhóm nghiên cứu tiến hành hồi
quy phương trình (1) với 2 biến phụ thuộc
khác là xuất khẩu (LnEXivnt) và nhập khẩu
(LnIMivnt). Đồng thời, nhóm cũng tiến
hành hồi quy các mô hình chỉ sử dụng biến
phụ thuộc Trade với lần lượt từng biến độc
lập CĐS các biến kiểm soát khác so
sánh dấu của các kết quả thu được với dấu
của các hệ số trong mô hình gốc.
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu hồi quy
phương trình (1) sử dụng các cách đo
lường thay thế của biến GL_DTivnt , bao
gồm GL_Internetivnt, GL_MOBIivnt
GL_BBAivnt lần lượt số người sử dụng
Internet, thuê bao điện thoại di động
băng thông rộng trên 100 người. c biến