
72
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(13)- Tháng 12. 2025- Số 285
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Tác động của hiệu quả logistics đến xuất khẩu hàng
hóa Việt Nam sang các quốc gia Châu Âu
Ngày nhận: 12/01/2025 Ngày nhận bản sửa: 18/08/2025 Ngày duyệt đăng: 08/09/2025
Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
sâu rộng, logistics đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy thương mại quốc
tế, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển. Nghiên cứu này nhằm phân
tích tác động của logistics đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang các
quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (EU). Áp dụng mô hình trọng lực mở rộng
với dữ liệu bảng gồm Việt Nam và 27 quốc gia EU trong giai đoạn 2007- 2022,
kết quả cho thấy chỉ số hiệu quả logistics (LPI) tác động tích cực đến giá trị xuất
khẩu của Việt Nam sang các quốc gia đối tác, đặc biệt sau khi EVFTA có hiệu
lực. Trong các thành phần của LPI, giao hàng, khả năng truy xuất và thời gian
là những yếu tố có ảnh hưởng đáng kể nhất. Ngoài ra, LPI tác động rõ rệt hơn
đến xuất khẩu sang các quốc gia phát triển so với các quốc gia đang phát triển.
Kết quả nghiên cứu gợi ý hàm ý chính sách bao gồm tăng cường hợp tác với
Impact of logistics efficiency on Vietnamese goods export to European countries
Abstract: In the context of deepening globalization and international economic integration, logistics
plays a pivotal role in promoting international trade, especially for developing countries. This study aims
to analyze the impact of logistics on Vietnam’s exports to member countries of the European Union (EU).
Using an extended gravity model with panel data covering Vietnam and 27 EU countries from 2007 to
2022, the results show that the Logistics Performance Index (LPI) positively influences Vietnam’s export
value to its EU partners, particularly after the EVFTA took effect. Among the LPI components, delivery
timeliness, traceability, and lead time have the most significant impact. Additionally, the LPI has a stronger
effect on exports to developed countries than to developing ones. The findings suggest policy implications
including strengthening cooperation with the EU to develop logistics infrastructure, promoting technology
adoption to enhance supply chain transparency, and improving the quality of export products, thereby
leveraging market expansion opportunities and enhancing national competitiveness.
Keywords: Logistics performance index (LPI), Export, EVFTA, Gravity model, Viet Nam
Link Doi: http://doi.org/10.59276/JELB.2025.12.2868
Mai Huong Giang1, Nong Khanh Ngan2, Dinh Thi Anh3, Le Ngoc Han4, Vu Thi Nhung5
Email: giangmh@hvnh.edu.vn1, nongkhanhngan1610@gmail.com2, dinhthianhgvb@gmail.com3,
hanlengoc1409@gmail.com4, vunhung2532002n@gmail.com5
Organization of all: Banking Academy of Vietnam
Mai Hương Giang, Nông Khánh Ngân, Đinh Thị Anh, Lê Ngọc Hân, Vũ Thị Nhung
Học viện Ngân hàng, Việt Nam
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG

MAI HƯƠNG GIANG - NÔNG KHÁNH NGÂN - ĐINH THỊ ANH - LÊ NGỌC HÂN - VŨ THỊ NHUNG
73
Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
EU để phát triển hạ tầng logistics, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ nhằm minh
bạch hóa chuỗi cung ứng, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu,
từ đó tận dụng cơ hội mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Từ khóa: Chỉ số hiệu quả Logistics, Xuất khẩu, EVFTA, Mô hình trọng lực, Việt
Nam
1. Giới thiệu
Từ khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế, xuất
khẩu hàng hóa đã trở thành động lực quan
trọng cho sự phát triển kinh tế của quốc
gia. Bắt đầu từ một quốc gia kém phát
triển, chịu nhiều hậu quả từ chiến tranh,
Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong
20 quốc gia xuất khẩu lớn nhất trên thế giới
(WTO, 2024). Đặc biệt, từ khi gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm
2007 và triển khai nhiều hiệp định thương
mại tự do thế hệ mới, Việt Nam đã tạo dựng
được nền tảng pháp lý vững chắc và điều
kiện thuận lợi để mở rộng thị trường.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, một trong
những yếu tố hàng đầu để thúc đẩy xuất
khẩu hàng hóa phải kể đến đó là việc nâng
cao hiệu quả logistics. Hệ thống logistics
càng phát triển, xuất khẩu càng được đẩy
mạnh. Hiệu quả Logistics giúp tối ưu hóa
quy trình xuất khẩu, từ đó tăng cường sức
cạnh tranh của các sản phẩm Việt Nam trên
thị trường quốc tế. Mặc dù logistics ngày
càng được coi là yếu tố then chốt trong
việc nâng cao năng lực xuất khẩu, hiệu quả
logistics tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn
chế cả về hạ tầng vật chất lẫn chất lượng
dịch vụ. Theo báo cáo của World Bank
(2023), Việt Nam đứng vị trí thứ 43, giảm 4
bậc so với hạng 39 tại lần công bố LPI gần
nhất vào năm 2018, thuộc top 5 nước đứng
đầu ASEAN, sau Singapore, Malaysia,
Thái Lan và cùng vị trí với Philippines. Sự
sụt giảm vị trí này liên quan đến 3 chỉ số
thành phần giảm gồm thời gian giao hàng,
năng lực và chất lượng doanh nghiệp dịch
vụ logistics, khả năng theo dõi và truy xuất
hàng hóa. Theo tính toán của Hiệp hội
doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam
(2023), chi phí Logistics của nước ta chiếm
16,8- 17% GDP, cao hơn mức 10,6% của
thế giới. Trong khi đó, hạ tầng logistics vẫn
thiếu đồng bộ; quy hoạch chưa hiệu quả,
ứng dụng công nghệ số còn hạn chế.
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối
quan hệ tích cực giữa hiệu quả logistics và
xuất khẩu, điển hình như nghiên cứu của
Martí và cộng sự (2014), Felipe và Kumar
(2012). Những nghiên cứu gần đây tiếp
tục khẳng định mối liên hệ này trong bối
cảnh toàn cầu hóa. Ví dụ, Arvis và cộng
sự (2018) cho thấy rằng hiệu quả logistics
cao giúp các quốc gia hội nhập sâu hơn vào
chuỗi cung ứng toàn cầu. Bugarčić và cộng
sự (2020) trong nghiên cứu về chỉ số hiệu
quả Logistics và thương mại quốc tế tại
các nước Trung và Đông Âu cùng khu vực
Tây Balkan đã chỉ ra rằng logistics có ảnh
hưởng đáng kể đến kim ngạch xuất nhập
khẩu của các nước trong khu vực, đồng
thời nhấn mạnh sự khác biệt trong tác động
giữa các quốc gia phát triển và đang phát
triển. Bên cạnh đó, He và cộng sự (2021)
đã phân tích tác động qua lại giữa logistics
quốc tế và thương mại điện tử, chỉ ra rằng
hiệu quả logistics không chỉ nâng cao khả
năng tiếp cận thị trường mà còn là yếu tố
quyết định trong việc tối ưu hóa các kênh
thương mại điện tử, đặc biệt trong bối cảnh
thương mại điện tử toàn cầu bùng nổ. Tuy
nhiên, phần lớn các nghiên cứu này tập

Tác động của hiệu quả logistics đến xuất khẩu hàng hóa Việt Nam
sang các quốc gia Châu Âu
74
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng- Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285
trung ở cấp độ khu vực hoặc khối quốc gia
(ví dụ như ASEAN, EU, OECD), trong
khi các nghiên cứu cụ thể về tác động của
logistics đến thương mại song phương vẫn
còn hạn chế.
Nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực mở
rộng để phân tích tác động của hiệu quả
Logistics đến xuất khẩu hàng hóa từ Việt
Nam đến 27 quốc gia thuộc Liên minh
Châu Âu (EU) trong giai đoạn 2007- 2022.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử
dụng chỉ số LPI (Logistics Performance
Index) do Ngân hàng Thế giới công bố để
đo lường hiệu quả logistics. Chỉ số LPI
không chỉ phản ánh năng lực logistics tổng
thể của một quốc gia mà còn được thể hiện
thông qua sáu yếu tố thành phần quan trọng
bao gồm chất lượng cơ sở hạ tầng, hiệu quả
thông quan, năng lực và chất lượng dịch vụ
logistics, khả năng truy xuất hàng hóa, mức
độ dễ dàng trong tổ chức vận tải quốc tế và
độ tin cậy trong thời gian giao hàng. Dù
không phải là thước đo duy nhất, chỉ số LPI
được lựa chọn trong nghiên cứu này do tính
toàn diện, tính so sánh giữa các quốc gia
và mức độ cập nhật định kỳ, phù hợp với
mục tiêu phân tích hiệu quả logistics trong
mối quan hệ với hoạt động xuất khẩu hàng
hóa của Việt Nam sang thị trường châu Âu.
Đồng thời, để đo lường sự khác biệt về chỉ
số LPI giữa các quốc gia EU và Việt Nam
trong mô hình, nghiên cứu sử dụng công
thức của Grubel và Lloyd (1975) giúp đo
lường khoảng cách hiệu quả logistics giữa
các quốc gia một cách chính xác hơn. Bên
cạnh đó, các yếu tố khác như tăng trưởng
kinh tế, dân số, khoảng cách địa lý, đặc
điểm tiếp giáp biển, mức độ phát triển
hạ tầng công nghệ thông tin và hiệp định
thương mại tự do EVFTA cũng được đưa
vào như biến kiểm soát để phản ánh bối
cảnh toàn diện hơn. Nghiên cứu nhằm mục
đích đóng góp vào lý thuyết và thực tiễn
trong lĩnh vực logistics và thương mại quốc
tế, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm
nâng cao khả năng xuất khẩu hàng hóa của
Việt Nam sang thị trường các quốc gia EU.
2. Tổng quan nghiên cứu
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối
quan hệ tích cực giữa hiệu quả Logistics
và xuất khẩu, điển hình là nghiên cứu của
Martí và cộng sự (2014), Felipe và Kumar
(2012), và Jayathilaka và cộng sự (2022).
Các nghiên cứu này nhấn mạnh rằng
logistics đóng vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy xuất khẩu trên toàn cầu, đặc biệt
là ở các khu vực như Châu Á, Châu Âu và
Châu Đại Dương. Siddiqui và Vita (2021)
cũng đã điều tra tác động của logistics
đến thương mại trong ngành may mặc ở
Campuchia, Bangladesh và Ấn Độ, và kết
luận rằng logistics có tác động đáng kể đến
thương mại quốc tế.
Bên cạnh việc phân tích mối liên hệ giữa
hiệu quả logistics và xuất khẩu nói chung,
nhiều nghiên cứu đã đi sâu vào đánh giá tác
động của từng yếu tố thành phần trong chỉ
số LPI đến thương mại quốc tế. Các yếu tố
này phản ánh các khía cạnh cụ thể trong
hiệu quả vận hành logistics, như chất lượng
hạ tầng vận tải, hiệu quả thông quan, năng
lực cung cấp dịch vụ logistics, khả năng
truy xuất hàng hóa, thời gian giao hàng và
mức độ thuận lợi trong tổ chức vận chuyển
quốc tế. Martí và cộng sự (2014) chỉ ra
rằng bất kỳ sự cải thiện nào của các yếu tố
thành phần này đều làm tăng khối lượng
thương mại của các quốc gia mới nổi. Gani
(2017) đã sử dụng phân tích hồi quy với 60
quốc gia cũng cho thấy hoạt động logistics
tổng thể có tương quan tích cực và có ý
nghĩa thống kê với cả xuất khẩu và nhập
khẩu. Tuy nhiên, không phải tất cả các yếu
tố thành phần đều có tác động giống nhau.
Mendes dos Reis và cộng sự (2020) cho
thấy cơ sở hạ tầng và thông quan có tác

MAI HƯƠNG GIANG - NÔNG KHÁNH NGÂN - ĐINH THỊ ANH - LÊ NGỌC HÂN - VŨ THỊ NHUNG
75
Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
động tích cực rõ rệt đến xuất khẩu đậu nành
của Argentina, Brazil và Mỹ, trong khi các
yếu tố khác có ít tác động. Nghiên cứu của
Barakat và cộng sự (2023) thậm chí còn chỉ
ra rằng thông quan và giao hàng không có
ảnh hưởng đáng kể đến xuất khẩu. Cùng với
đó, nghiên cứu của Nordås và Piermartini
(2004) cho thấy thuế quan song phương, cơ
sở hạ tầng, hiệu quả của cảng và khả năng
tiếp cận viễn thông có tác động đáng kể
đến tổng thương mại nói chung và thương
mại trong lĩnh vực ô tô, dệt may nói riêng.
Khi xem xét tác động đến xuất khẩu, nhiều
nghiên cứu đã chỉ ra các hiệp định thương
mại tự do cũng đóng vai trò quan trọng.
Nguyễn Tiến Hoàng và Trịnh Thuý Ngân
(2021) đã sử dụng mô hình SMART để
cho thấy rằng EVFTA (Hiệp định Thương
mại Tự do Việt Nam- EU) có ảnh hưởng
tích cực đến xuất khẩu các mặt hàng nông
sản của Việt Nam sang EU. Nguyen (2016)
và Vũ Thanh Hương và Nguyễn Thị Minh
Phương (2016) có chung nhận định rằng
việc giảm thuế nhập khẩu sau khi ký kết
EVFTA đã thúc đẩy xuất khẩu từ Việt Nam
sang các quốc gia EU.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu phân
tích mối quan hệ giữa chỉ số LPI và xuất
khẩu cũng như tác động của các hiệp định
thương mại tự do đối với thương mại quốc
tế, song các nghiên cứu tập trung trực tiếp
vào bối cảnh thương mại song phương giữa
Việt Nam và các quốc gia EU vẫn còn hạn
chế. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện
nhằm làm rõ tác động của chỉ số LPI đến
xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị
trường EU, đồng thời xem xét các yếu tố
kiểm soát có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu
gồm GDP, dân số, khoảng cách địa lý, mức
độ phát triển hạ tầng công nghệ thông tin
và hiệp định thương mại tự do.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực mở
rộng để phân tích tác động của LPI đến
xuất khẩu hàng hóa Việt Nam. Lý thuyết
nền tảng của mô hình trọng lực sử dụng
trong các nghiên cứu về thương mại đã
được thiết lập và củng cố qua các nghiên
cứu của các nhà kinh tế, trong đó nổi bật
là công trình của Anderson và Wincoop
(2003). Khi nghiên cứu về ảnh hưởng đến
khối lượng thương mại (xuất khẩu), ngoài
các yếu tố nền tảng của mô hình trọng lực
tổng quát (GDP, khoảng cách), bài viết đã
bổ sung thêm các biến bao gồm: khác biệt
về chỉ số hiệu quả Logistics (LPI) cùng các
yếu tố thành phần ảnh hưởng tới LPI, biến
giả đại diện cho tình hình ký kết hiệp định
EVFTA, dân số (POP), số người sử dụng
Internet (INTER), khác biệt về lạm phát
(DIFFINFLA), và biến giả đại diện cho
quốc gia có giáp biển hay không (BE). Vì
vậy, mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả
như sau:
Mô hình: LnEXQvnt = β0 + β1LPIvnit +
β2LnGDPvnt + β3LnGDPit + β4LnDISTvnit
+ β5EVFTAvnit + β6POPvnt + β7POPit +
β8INTERvnt + β9INTERit + β10DIFFINLAvnit
+ β11BEvnit + Ɛvni (*)
Trong đó:
vn, i, t lần lượt đại diện cho Việt Nam, đối
tác thương mại (27 quốc gia Liên minh
Châu Âu) và năm quan sát;
Biến phụ thuộc:
LnEXQvnt: Biến phụ thuộc, dùng để đo
lường giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang
các đối tác thương mại thuộc EU trong năm t;
Biến giải thích chính:
LPIvnit : Biến độc lập chính trong mô hình,
là tương quan giá trị của chỉ số hiệu quả
Logistics tổng thể của Việt Nam và đối tác
thương mại;
Chỉ số hiệu quả Logistics [LPI]: Chỉ số
này đại diện cho năng lực logistics của

Tác động của hiệu quả logistics đến xuất khẩu hàng hóa Việt Nam
sang các quốc gia Châu Âu
76
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng- Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285
một quốc gia, với giá trị càng cao phản ánh
các dịch vụ logistics càng phát triển. Chỉ
số Hiệu quả Logistics (LPI) được đo trên
thang điểm từ 1 đến 5 theo cách đo lường
của Ngân hàng Thế giới, dựa trên 6 thành
phần chính: (1) Cơ sở hạ tầng: Bao gồm
các hệ thống phục vụ cho lưu thông hàng
hóa như cảng biển, đường sắt, đường hàng
không, phương tiện vận tải, kho bãi, và
công nghệ thông tin. (2) Giao hàng: Đánh
giá sự thuận lợi trong quá trình vận chuyển
hàng hóa với mức giá cạnh tranh. (3) Năng
lực và chất lượng dịch vụ logistics: Phản
ánh mức độ hài lòng của khách hàng đối
với các dịch vụ logistics. (4) Khả năng theo
dõi và truy xuất nguồn gốc: Đánh giá khả
năng quản lý và theo dõi hàng hóa trong
chuỗi cung ứng. (5) Thời gian: Đo lường
mức độ kịp thời trong việc vận chuyển
hàng hóa đến tay người tiêu dùng. (6) Hải
quan: Đánh giá mức độ thuận lợi, nhanh
chóng trong việc xử lý và thông quan hàng
hóa của các quốc gia. Các thành phần này
giúp đánh giá toàn diện khả năng và hiệu
quả logistics của một quốc gia, từ đó xác
định được lợi thế cạnh tranh trong chuỗi
cung ứng toàn cầu.
Mô hình đo lường sự khác biệt chỉ số LPI
và sự khác biệt các thành phần LPI giữa
Việt Nam và các quốc gia EU, sử dụng
công thức của Grubel và Lloyd (1975)
được tính toán như sau:
LPIvnit = 100*(1-(|LPIvnt - LPIit|)/(LPIvnt +
LPIit)
Trong đó:
LPIvnit: chỉ số hiệu quả Logistics của Việt
Nam năm t;
LPIit: chỉ số hiệu quả Logistics của quốc
gia i năm t.
Bên cạnh đó, theo cách tính tương tự, nhóm
nghiên cứu cũng xây dựng chỉ số tương
đồng cho 6 thành phần của chỉ số LPI bao
gồm: Infravnit (đại diện cho yếu tố cơ sở hạ
tầng); ComQuavnit (đại diện cho yếu tố năng
lực dịch vụ); TrackTracevnit (đại diện cho
yếu tố truy xuất); PricedShipmentvnit (đại
diện cho yếu tố giao hàng); Timelessvnit
(đại diện cho yếu tố thời gian); Customsvnit
(đại diện cho yếu tố khả năng thông quan).
Biến kiểm soát:
EVFTAvnit: Biến giả nhận giá trị bằng 1
nếu Việt Nam và quốc gia i có ký kết hiệp
định EVFTA ở năm t, và bằng 0 nếu Việt
Nam và quốc gia i chưa ký kết hiệp định
EVFTA ở năm t;
LnGDPvnt và LnGDPit: Tổng giá trị sản
phẩm quốc nội của Việt Nam và đối tác
thương mại trong năm t;
LnDISTvnit: Khoảng cách địa lý giữa thủ đô
của Việt Nam và thủ đô của quốc gia i;
POPvnt và POPit: Dân số của Việt Nam và
quốc gia i trong năm t;
INTERvnt và INTERit: Số người sử dụng
Internet của Việt Nam và quốc gia i trong
năm t;
DIFFINLAvnit: Khác biệt về lạm phát giữa
Việt Nam và quốc gia i trong năm t;
BEvnit: Biến giả nhận giá trị bằng 1 nếu
quốc gia i không có đường biên giới biển
và bằng 0 nếu ngược lại.
3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Nghiên cứu hồi quy phương trình thông
qua phương pháp ước lượng tối đa hóa khả
năng Poisson pseudo maximum likelihood
(PPML). Phương pháp này có nhiều ưu
điểm so với một số phương pháp như mô
hình bình phương nhỏ nhất OLS (Ordinary
Least Squares), mô hình hiệu ứng cố
định FEM (Fixed Effects Model), và mô
hình hiệu ứng ngẫu nhiên REM (Random
Effects Model) với các lý do như sau: Thứ
nhất, phương pháp PPML, dựa vào phân
phối Poisson, có thể giải quyết triệt để các
vấn đề xử lý các giá trị 0 trong phương
trình logarit tự nhiên (Silva & Tenreyro,
2006). Điều này rất quan trọng vì loại bỏ

