NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ CHIA SẺ TỚI THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
VÀ HÀM Ý GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM
ThS. Vũ Thị Thúy Hằng1
Tóm tắt: Bài viết giới thiệu nền kinh tế chia sẻ từ góc độ của nhiều chuyên gia như Botsman, Rogers, Bardhi &
Eckhardt, Belk, Gansky, Schor & Fitzmaurice, Dyal-Chand, Posen,... Có thể thấy rằng nhờ vào sự chia sẻ của nền
kinh tế, không còn nguồn lực bị lãng phí. Tài nguyên được tối đa hóa và tiêu dùng được giảm thiểu, thậm chí
loại bỏ được tư hữu. Tác giả cũng liệt kê được các tác động của nền kinh tế chia sẻ tới hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp và xã hội như: Tận dụng tối đa các nguồn lực; Phát triển một nền văn hóa tiêu dùng bằng niềm
tin, Đa dạng hóa vai trò cho các tổ chức và doanh nghiệp; Tạo áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp truyền
thống cung cấp sản phẩm dịch vụ cùng loại... Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính. Tác giả thu
thập dữ liệu thứ cấp từ các tạp chí, kỷ yếu hội thảo, sách tham khảo, chuyên khảo, báo cáo chuyên ngành đã
được công bố và kế thừa các nghiên cứu về kinh tế chia sẻ của chính tác giả. Tác giả xử lý dữ liệu bằng phương
pháp tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh, phân tích. Trên cơ sở các dữ liệu thứ cấp thu thập được và hướng
nghiên cứu thị trường lao động theo quy luật cung cầu, tác giả phân tích và tổng hợp được bốn nhóm tác động
chính của nền kinh tế chia sẻ tới thị trường lao động truyền thống là: i) Sự dịch chuyển về cơ cấu lao động; ii) Sự
thay đổi thu nhập và tần suất lao động; iii) Sự tác động vào động lực làm việc; iv) Sự tác động vào chính sách
lao động. Dựa trên phân tích những tác động, tác giả gợi ý ba nhóm giải pháp quản lý người lao động và các
nền tảng chia sẻ tại Việt Nam: i) Tập trung vào các khu vực đông dân cư hoặc sử dụng cách tính giá linh hoạt;
ii) Xếp hạng người lao động dựa trên sự tín nhiệm của người dùng và sự tuân thủ với các yêu cầu được đề nghị;
iii) Quản lý các nền tảng thông qua tài khoản tại ngân hàng.
Từ khóa: Kinh tế chia sẻ, Tác động của kinh tế chia sẻ tới thị trường lao động, Nền tảng trực tuyến, Người
lao động
Abstract: The article introduces the sharing economy from the perspective of many experts such as
Botsman, Rogers, Bardhi & Eckhardt, Belk, Gansky, Schor & Fitzmaurice, Dyal-Chand, Posen,... As can be
seen, the sharing economy save wasted resources. These resources are maximized and these consumptions
are minimized, even eliminating private ownership. The author also provides the impacts of the sharing
economy on business and social such as Maximizing the use of resources; Developing a consumer culture
by faith, Diversifying roles for organizations and businesses; Creating competitive pressure for traditional
businesses... The article uses qualitative research methods. The author collects secondary data from journals,
proceedings, books, and specialized reports that have been published. The author inherits my own research.
The author processes data by synthesizing, inductive, interpreting, comparing and analyzing methods.
Based on the secondary data collected, the author analyzes and synthesizes four main groups of impacts
1 E-mail: hangtmdt@tmu.edu.vn, Khoa Hệ thống thông tin kinh tế Thương mại điện tử, Trường Đại học Thương mại.
526 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
of the sharing economy on the traditional labor market: i) The impact on labor structure ; ii) The impact on
income and labor frequency; iii) The impact on work motivation; iv) The impact on labor policy. Based on the
analysis of impacts, the author suggests three groups management solution of worker sharing platforms in
Vietnam: i) Focus on densely populated areas or use flexible pricing methods; ii) Employee ratings based on
user trust and compliance with proposed requirements; iii) Managing platforms through bank accounts.
Keywords: Economic sharing; The impact of economy on labor market; Online platform; Employees.
1. ĐẶT VẤN Đ
Trên thế giới, kinh tế chia sẻ là một chủ đề được nhiều chuyên gia quan tâm và đề cập trong
các tài liệu, ấn phẩm khoa học. Kinh tế chia sẻ một phần tất yếu của nền kinh tế số, kết quả
của ứng dụng đổi mới sáng tạo cho tăng năng suất của các ngành. hình kinh tế chia sẻ tạo
tăng hiệu quả kinh tế nhờ quy mô. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
ngày nay, quá trình phân công sản xuất trong chuỗi giá trị toàn cầu sẽ kéo theo sự tái phân bổ lao
động sự phụ thuộc lẫn nhau của thị trường lao động các quốc gia. thể thấy, thị trường lao
động một trong những kênh chính giúp hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Thứ nhất,
những thay đổi về việc làm là kết quả của thay đổi cơ cấu kinh tế; Thứ hai, môi trường kinh doanh
(nơi tạo ra doanh nghiệp mới nuôi dưỡng sáng kiến) phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tạo việc
làm và tăng năng suất của thị trường lao động; và cuối cùng, lao động gần như là tài sản duy nhất
nước nghèo đang sở hữu. Đánh giá những tác động của nền kinh tế chia sẻ với thị trường lao
động truyền thống sẽ phần nào xác định rõ những thay đổi của nền kinh tế ở giai đoạn đầu tiên.
Bài viết tập trung giải quyết bốn vấn đề chính là: i) Giới thiệu về nền kinh tế chia sẻ và những
tác động tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và xã hội; ii) Thực trạng thị trường lao động
truyền thống trên Thế giới tại Việt Nam hiện nay; iii) Những tác động của nền kinh tế chia sẻ
đến thị trường lao động truyền thống; iv) Hàm ý những chính sách cho thị trường lao động Việt
Nam. Bài viết được bố cục thành ba phần và năm mục. Phần đầu tiên của bài viết sẽ giới thiệu về
nền kinh tế chia sẻ, mô tả các tác động nền kinh tế chia sẻ tạo ra với doanh nghiệp và xã hội. Phần
thứ hai, tác giả sẽ mô tả khái quát thị trường lao động trên thế giới tại Việt Nam, sự tác động của
nền kinh tế chia sẻ tới thị trường lao động nói chung, làm rõ những tương đồng và khác biệt giữa
thị trường lao động trong nền kinh tế chia sẻ và thị trường lao động truyền thống. Phần cuối cùng
rút ra những kết luận và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KINH TẾ CHIA SẺ
2.1. Một số cách hiểu về Kinh tế chia sẻ
Khi đề cập đến kinh tế chia sẻ, nhiều chuyên gia cho rằng kinh tế chia sẻ (sharing economy)
hay còn gọi tiêu dùng hợp tác (collaborative consumption) (Botsman, 2013; Botsman & Rogers,
2010a; Botsman & Rogers, 2010b), kinh tế truy cập (access-based consumption) (Bardhi & Eckhardt,
2012; Belk, 2014b), ‘the mesh (Gansky, 2010), tiêu dùng kết nối (connected consumption) (Dubois
et al., 2014; Schor, 2014, 2015; Schor & Fitzmaurice, 2015). Theo Dyal-Chand (2015), kinh tế chia
sẻ hình thức các nhân chia sẻ tài sản thuộc sở hữu nhân, chia sẻ thông tin theo nhu cầu thị
trường. Theo Miller (2016), kinh tế chia sẻ hình kinh tế con người tạo ra chia sẻ sản phẩm,
527
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
dịch vụ, địa điểm, tài chính với những người khác. Bostman (2013) thì cho rằng kinh tế chia sẻ
một hình kinh tế trung gian qua Internet (Internet mediated economic model), được xây dựng
trên sự chia sẻ, trao đổi, giao dịch hoặc cho thuê sản phẩm và dịch vụ yêu cầu quyền sở hữu. Kinh tế
chia sẻ tạo điều kiện cho quyền sở hữu cộng đồng, sản phẩm địa phương, sự cộng tác, doanh nghiệp
quy nhỏ được hiện thực sự tái sinh nền kinh tế, khuyến khích sự đổi mới, sự chia sẻ của
sở vật chất không sử dụng (Posen, 2015). Các sản phẩm theo hình thức chia sẻ trong nền kinh tế chủ
yếu tập trung khai thác những nguồn lực sẵn có trong xã hội. Những nguồn lực này có thể không sử
dụng hoặc đang sử dụng chưa hết công suất. Thông qua nền tảng thông tin, các nhà kinh doanh tiến
hành phân bổ lại nguồn lực cho những người nhu cầu. Chính vậy, sản phẩm này mang lại lợi
ích khá lớn cho nhà đầu cho cả người tiêu dùng. Cũng chính nhờ vào sự chia sẻ của nền kinh tế,
mà không còn năng lực nhàn rỗi hay nguồn lực bị lãng phí. Tài nguyên được tối đa hóa và lãng phí
không đáng kể, tiêu dùng được giảm thiểu, thậm chí loại bỏ được tư hữu (Vu Thi Thuy Hang, 2017).
Khi bàn về kinh tế chia sẻ, Vu Thi Thuy Hang (2018) cho rằng những tác động tới hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, xã hội nói chung như sau:
- Đẩy nhanh sự lưu thông tài nguyên: kinh tế chia sẻ khuyến khích tài nguyên tuần hoàn
được sử dụng tới hết chu kỳ sống.
- Tận dụng tối đa các nguồn lực: các sản phẩm theo hình thức chia sẻ trong nền kinh tế chủ
yếu tập trung khai thác những nguồn lực sẵn có trong hội. Những nguồn lực này không sử dụng
hoặc sử dụng chưa hết công suất. Tài nguyên được tối đa hóa lãng phí không đáng kể, tiêu dùng
được giảm thiểu, thậm chí loại bỏ được tư hữu.
- Phát triển một nền văn hóa tiêu dùng bằng niềm tin: nền kinh tế chia sẻ nâng tầm quan trọng
của việc xây dựng niềm tin, ngay cả giữa các đối thủ.
- Đa dạng hóa vai trò cho các tổ chức và doanh nghiệp: trước kia, một doanh nghiệp chỉ nhận
dạng là một nhà cung cấp dịch vụ hay nhà sản xuất. Với nền kinh tế này, vai trò của doanh nghiệp
được mở rộng hơn, thậm chí trở thành những nhà cố vấn đáng tin cậy. Điều này giúp cho các tổ
chức tiến gần với thị trường mục tiêu, hiểu hơn về khách hàng và thị trường của doanh nghiệp.
- Giảm chi phí cho xã hội, giảm ô nhiễm môi trường: do tận dụng được nguồn tài nguyên có
sẵn trong hội, các nhà kinh doanh không cần khai thác thêm nguồn tài nguyên mới, tiết kiệm
được chi phí sản xuất.
- Tăng lợi ích cho người tiêu dùng: dòng sản phẩm dịch vụ theo hình thức chia sẻ với chi phí
thấp và chất lượng không kém các sản phẩm truyền thống. Do đó, người tiêu dùng có cơ hội thỏa
mãn nhu cầu tiêu dùng nhiều hơn. Không chỉ thỏa mãn nhu cầu về số lượng mà còn mang lại trải
nghiệm độc đáo, thú vị.
- Tạo áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp truyền thống cung cấp sản phẩm dịch vụ cùng
loại: do tận dụng nguồn lực sẵn đang lãng phí nên các nhà kinh doanh sản phẩm dịch vụ chia
sẻ tiết kiệm khá nhiều chi phí, theo đó giá cung cấp dịch vụ cũng thấp đi. Điều này ít nhiều sẽ ảnh
hưởng đến doanh thu, lợi nhuận của các doanh nghiệp kinh doanh truyền thống.
- Vấn đề về chính quyền: các sản phẩm dịch vụ theo hình thức chia sẻ không phải lúc nào cũng
được các nhà quản chấp nhận, đôi khi thể vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của chính quyền
địa phương.
528 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
- Vấn đề bảo mật: rủi ro này liên quan đến yếu tố tin cậy. Nếu một bên không giao hàng hoặc
chấm dứt hợp đồng sẽ có những hậu quả nghiêm trọng cần được giải quyết. Thực tế việc sử dụng
chia sẻ thông tin trên Internet không chỉ thông tin thanh toán còn liên quan thông tin
nhân người dùng phải tiết lộ để được tham gia vào thị trường.
- Vấn đề tranh chấp: rủi ro này cao hơn với các doanh nghiệp hoạt động như bên thứ ba hoặc
trung gian trong các giao dịch của bên thứ hai. Các vấn đề liên quan đến hiệu lực bảo hiểm nếu cướp
bóc hoặc các vấn đề hình sự xảy ra, khi đó vai trò của doanh nghiệp trung gian cần phải được làm rõ.
2.2. Tiếp cận thị trường lao động theo góc nhìn của kinh tế chia sẻ
Thị trường lao động sự trao đổi hàng hóa, sức lao động giữa những người sở hữu sức lao
động và những người cần thuê sức lao động. Về cơ bản, thị trường lao động cũng chịu sự tác động
của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật độc quyền. Trong bài viết này, tác giả tiếp cận
thị trường lao động theo quy luật cung cầu. Theo hướng nghiên cứu này, thị trường lao động được
tạo thành từ ba bộ phận chính cung, cầu của thị trường lao động giá cả sức lao động (mức
tiền công, tiền lương). Cung lao động là tập hợp những người khả năng và nhu cầu làm việc.
Họ có thể đang việc làm hay tạm thời không có việc làm hoặc đang đi tìm việc. Cầu lao động
lượng lao động người sử dụng lao động thể được thuê mỗi mức giá thể chấp nhận được.
Cầu lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nguồn tài nguyên, quy mô, trình độ công nghệ,
cấu ngành nghề của nền kinh tế, mức tiền công, phong tục tập quán, tôn giáo,… Sự tác động qua
lại giữa cung và cầu về lao động hình thành giá cả sức lao động. Giá cả sức lao động được thể hiện
trực tiếp ở khoản thù lao mà người lao động được nhận.
Theo hướng tiếp cận về cung, cầu, giá cả lao động, bài viết tập trung nghiên cứu các tác động
của kinh tế chia sẻ tới thị trường lao động như sau:
- Có sự dịch chuyển về cơ cấu lao động: kinh tế chia sẻ giúp mở rộng đối tượng tham gia lao
động (sinh viên, người làm việc bán thời gian, nội trợ, người thất nghiệp), thay đổi cơ cấu về giới
tính, độ tuổi tham gia lao động (tăng lao động nữ tăng đối tượng lao động dưới 40 tuổi, lao động
có trình độ học vấn cao,…).
- Sự thay đổi thu nhập của người lao động: vì thời gian làm việc linh hoạt, khung giờ đa dạng,
thu nhập của người lao động trong nền kinh tế chia sẻ cũng đến từ nhiều nguồn, từ nhiều nền tảng
khác nhau. Lao động tại thị trường ảo nhiều kỹ năng hơn, khả năng kiếm được nhiều tiền hơn
so với thị trường truyền thống.
- Sự tác động tới tần suất lao động: mức độ chuyển đổi công việc khác khi nền kinh tế chia sẻ
xuất hiện các công việc mới đang được tạo ra rất đáng chú ý. Tuy nhiên, thời gian lao động
thực hiện công việc định kỳ theo tuần, theo tháng hoặc sáu tháng một lần có sự phân hóa rõ ràng.
- Sự tác động vào động lực làm việc: Các nền tảng chia sẻ linh hoạt thời gian, người lao động
được tự do quyết định thời gian làm việc.
- Sự tác động vào chính sách lao động: Các nền tảng hợp tác trực tuyến thường tự coi trung
gian giữa người dùng người lao động. Một số nền tảng không chịu trách nhiệm nộp thuế thu
nhập cá nhân cho người lao động và đóng góp an sinh xã hội. Do đó, chính sách lao động của các
nền tảng cũng khác biệt so với thị trường truyền thống.
529
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu sâu sắc về kinh tế chia sẻ
và sự tác động của kinh tế chia sẻ với thị trường lao động. Đây là phương pháp nghiên cứu hướng
đến ý nghĩa các khái niệm, định nghĩa, đặc điểm sự tả đối tượng nghiên cứu. Về bản,
nghiên cứu định tính tính chất diễn giải. Lý giải dữ liệu bao gồm việc mô tả bối cảnh, phân tích
tình huống thành các chủ đề diễn giải, rút ra kết luận, phát biểu thành bài học rút ra đặt ra
những câu hỏi sâu xa hơn (Wolcott, 1994). Bài viết sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu xử
lý dữ liệu như sau:
Phương pháp thu thập dữ liệu: tác giả sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ các bài
viết tạp chí, kỷ yếu hội thảo, sách tham khảo, chuyên khảo, báo cáo chuyên ngành đã được công
bố. Tác giả kế thừa các nghiên cứu về kinh tế chia sẻ của chính tác giả.
Phương pháp xử lý dữ liệu và lý giải: từ những dữ liệu đã thu thập được, bằng phương pháp
tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh, phân tích để xử lý dữ liệu phục vụ cho bài viết.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Toàn cảnh thị trường lao động thế giới và Việt Nam hiện nay
Theo International Labour Organization (2018), nền kinh tế thế giới duy trì tỷ lệ thất nghiệp
tiếp tục mức 5,5% trong năm 2018, giảm nhẹ so với 5,6% của năm 2017. Số liệu tích cực này
được do dự báo kinh tế thế giới tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khả quan từ năm ngoái. Tuy
nhiên, ILO cũng cho rằng khi cách mạng công nghệ 4.0 hay sự phát triển của trí tuệ nhân tạo cũng
là một thách thức không nhỏ đối với cơ hội việc làm.
Theo ông Guy Ryder – Giám đốc ILO, vấn đề cốt lõi nằm ở thực trạng dư thừa “việc làm thứ
cấp”, trong đó người lao động không được ký hợp đồng lao động chính thức hoặc người làm thuê
được hưởng rất ít hoặc thậm chí không được hưởng chế độ bảo trợ xã hội nào, không có thêm các
điều khoản đãi ngộ trong hợp đồng lao động.
Còn theo nhà kinh tế Stefan Kühn của ILO, tác giả phụ trách báo cáo trên, tại các quốc gia đang
phát triển, tiến triển trong nỗ lực giảm bớt tình trạng việc làm nhưng vẫn cực nghèo quá chậm,
mức 114 triệu người trong những năm tới, ảnh hưởng tới 40% tổng số người có việc làm trong năm
2018. Theo số liệu của Tổ chức phi chính phủ Oxfam, tới 82% số tài sản toàn cầu trong năm ngoái
thuộc về người giàu, vốn chỉ chiếm 1% dân số thế giới. Trước thực trạng trên, Tổng Giám đốc ILO
cho rằng việc nới rộng các lợi ích tăng trưởng kinh tế vẫn là ưu tiên hàng đầu. Do đó, cần thêm nhiều
những nỗ lực để đảm bảo lợi nhuận kinh tế được phân bổ một cách công bằng.
Tại Việt Nam, theo Thứ trưởng lao động, thương binh hội Doãn Mậu Diệp cho biết
những điểm sáng nổi bật của thị trường lao động thời gian qua bao gồm việc chuyển dịch theo
hướng tốt hơn, số người làm công ăn lương, quan hệ lao động tăng dần. Tỉ lệ người trong độ tuổi
lao động tham gia lực lượng lao động vẫn duy trì ở mức cao, khoảng 76%. Năm 2017, cả nước đã
tạo việc làm cho gần 1,6 triệu người. Tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam cũng ở mức thấp so với khu
vực, trong đó tỉ lệ thất nghiệp khu vực thành thị chỉ khoảng hơn 3%. Chất lượng việc làm, thu
nhập của người lao động đều đặn được tăng lên, mức độ phân biệt giữa việc trả công cho lao động
nam nữ cũng được thu hẹp. Theo dự báo, từ nay đến năm 2025, lực lượng lao động Việt Nam tăng