ườ
ạ ọ
Tr
ng Đ i H c Đông Đô
ổ
ế
ậ
Đ ÁN Ồ Bi n Đ i Khí H u
ề
ấ ươ
ng th c t
ự ớ i
ộ Chuyên Đ : Tác đ ng c a s n xu t l ế
ủ ả ổ
ự
ệ
ậ bi n đ i khí h u ườ i Th c Hi n:
Ng
ễ
ấ
Cao Hoàng Anh
Nguy n Tu n Minh
1
MỤC LỤC Phần I. Biến đổi khí hậu và vấn nạn lương thực toàn cầu
1.Dấu hiệu cơ bản của BĐKH
2. Liên Hiệp Quốc và sự biến đổi khí hậu.
3. Con người vừa là nguyên nhân, vừa là nạn nhân của
BĐKH
4. Khủng hoảng lương thực toàn cầu, một tsunami
thầm lặng .
5. Nếu con người vừa là nguyên nhân, vừa là nạn nhân của BĐKH thì cũng chính con người phải là chủ nhân của sự khống chế BĐKH.
6. Kết luận.
Phần II. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp
cũng như sản xuất lương thực.
1. Những ảnh hưởng nói chung của biến đổi khí hậu
2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh
tế
3. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đời sống xã hội 4. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp
Việt Nam
Phần III. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng nguồn cung lương
thực
Phần IV. Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến nông
nghiệp và một số giải pháp khắc phục
2
Phần I. Biến đổi khí hậu và vấn nạn lương thực toàn cầu
1.
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng, đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng
Câu ca dao trên đã cho thấy khí hậu với Trời, Mây, Mưa, Gió tác động sâu xa đến nông nghiệp. Người nông dân muốn cho trời yên biển lặng .
Nhưng nhiều năm trở lại đây, trời không yên:
3
-Năm 2010, rất nhiều tỉnh Trung Quốc bị hạn hán,
-Nhiều hồ chứa nước ở VN bị khô nước, sông Hồng trơ đáy
-Mùa Đông năm nay, bão tuyết đã làm phi cảng Paris và London bị tê liệt nhiều ngày cũng như tuyết ngập tràn thành phố Moscova.
và biển không lặng với những cơn mưa bão:
-Miền Trung Viet Nam cũng bị bão nhưng các năm gần đây, bão liên tục. Có nhiều chỗ mùa mưa đến chậm hơn 20-25 ngày so với nhiều năm trước, có chỗ lượng mưa chỉ đạt 70% so với trung bình nhiều năm trước.
-Bão Katrina tàn phá miền Nam Hoa Kỳ, tổn thất sinh mạng và tài sản hàng trăm tỷ Mỹ kim
Ơ Úc Châu nổi tiếng là ít mưa nhưng các năm gần đây mưa bão lụt lội liên tiếp: tiểu bang Queensland lũ lụt, mưa lớn ; Victoria mưa lũ làm ngập chìm nhiều nơi ; New South Wales hết nóng thiêu đốt lại mưa như trút nước ; Bắc Úc bị dập vùi bởi trận bão Yasi v.v
Đó là những biến đổi khí hậu, tạo ra nhiều hậu qủa tiêu cực về tài
sản, tính mạng, lương thực. Môi trường sống bị ảnh hưởng trầm trọng nên để nâng cao nhận thức, trên truyền hình có chương trình J’ai vu changer la Terre, ngoài xã hội thì có Ngày Quốc Tế về Nước, ngày Trái Đất, Ngày Môi trường Thế giới (5-6) và Năm quốc tế về rừng (2011), trong chính trường thì có Parti Vert v.v.
Ngày nay, chúng ta thấy sự thay đổi khí hậu nhưng các nhà khoa học trên thế giới đã ‘thấy’ sự biến đổi khí hậu (BĐKH) từ mấy chục năm nay
2. Liên Hiệp Quốc và sự biến đổi khí hậu.
Vài dòng lịch sử:
-Hai cơ quan Tổ chức khí tượng thế giới (World Meteorogical Organization) và Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã cùng nhau thiết lập vào năm 1988 một tổ chức mang tên là IPCC, tứcInternational Panel Climatic change. Đây là cơ quan liên chính phủ với 194 quốc gia thành viên. IPCC là cơ quan khoa học chịu trách nhiệm biên tập và soạn thảo các báo cáo đặc biệt với những thông tin về khoa học, công nghệ và kinh tế xã hội trên toàn thế giới.
4
-Bản phúc trình đầu tiên của IPCC vào năm 1990 đã dẫn đến Công ước Khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu (UN Framework Convention on Climate change, tiếng Pháp là Convention-cadre des Nations Unies sur les changements climatiques) do nhiều nước cùng ký năm 1992 tại Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất ở Rio de Janeiro (Bresil)
-Bản phúc trình thứ hai của IPCC năm 1995 đã dẫn tới Nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol) năm 1997 với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
-Bản phúc trình thứ ba của IPCC năm 2001 cập nhật hoá nền tảng khoa học của sự biến đ ổi khí hậu (BĐKH) và đề nghị các phương thức thích nghi và giảm thiểu khí nhà kính
-Bản phúc trình thứ tư năm 2007 chi tiết hơn cho thấy rõ các hiểm họa do nước biển dâng Cũng cần nói thêm là tổ chức IPCC đã được giải thưởng Nobel về Hoà Bình cách đây vài năm.
Sau nhiều lần họp tại nhiều thành phố khác nhau trên thế giới và tham khảo nhiều tài liệu, nhiều thống kê, nhiều đo đạc thì IPCC đã đồng ý cho rằng chính các hoạt động của loài người với các khí nhà kính đã làm nhiệt độ trái đất nóng lên. Vậy thế nào là khí nhà kính ?
Bức xạ mặt trời một phần do mây trời hấp thụ, một phần đến được mặt đất, giúp cho đời sống thực vật và động vật. Bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất gồm tia sóng ngắn (tia cực tím[1]), tia sáng nhìn thấy[2] và thường bị lớp khí quyển độ cao 25-30km hấp thụ . Bức xạ mặt trời từ mặt đất phát xạ vào khí quyển gồm những tia sóng dài (tia ngoài đỏ, còn gọi là tia hồng ngoại[3] ) và bị lớp khí cacbon điôxít (CO2) cũng như hơi nước ngăn lại và bị hấp thụ trong không khí nên nhiệt độ Trái Đất ta ở nóng dần.
Gọi là khí nhà kính làm trái đất nóng lên vì cũng tương tự trong nhà kính trồng cây vào mùa đông, lớp kính (thủy tinh) giữ không cho sức nóng ra ngoài, giúp cho rau hoa sinh trưởng được.
Thật ra, không phải chỉ có khí CO2 tỏa ra do việc đốt các nhiên liệu hoá thạch, do phá rừng mà còn có các loại khí khác như :CH4 (methane), SO2(anhydric sunphurơ), N2O v.v.
Trung bình, Trái đất hấp thụ khoảng 60% năng lượng mặt trời, 40% còn lại sẽ phản xạ ngược trở lại vũ trụ. Nhưng do hiệu ứng nhà kính (effet de serre, tiếng Anh là greenhouse effect ), lượng nhiệt mà Trái đất hấp thụ sẽ ngày một tăng. Các phép đo gần đây đã chỉ ra
5
rằng, hàm lượng CO2 đã vượt quá 380 ppm và như vậy, nhiệt độ toàn cầu có thể tăng từ 1,4-5,8o C vào 2100.
3. Con người vừa là nguyên nhân, vừa là nạn nhân của BĐKH
3.1. Vừa là nguyên nnhân
-Overpopulation .Trước đây, nhà thơ Tú Xương có viết:
Lẳng lặng mà nghe nó chúc con: Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn. Phố phường chật hẹp, người đông đúc Bồng bế nhau lên nó ở non.
Xưa kia, đất rộng và người thưa . Chúng ta vẫn còn nhớ lúc học Tiểu học thời Pháp thuộc, cả Đông Dương (Viet Nam, Ai Lao và Campuchia) chỉ có 25 triệu người; ngày nay, chỉ riêng Viet Nam đã trên 80 triệu người. Thế giới ngày nay (2011) đã 7 tỷ người trong khi đầu thế kỷ 17, mới chỉ có 500 triệu người. Sự gia tăng dân số xảy ra chủ yếu ở các nước đang phát triển, trong đó có những quốc gia nghèo nhất thế giới.
Tính trong khoảng thời gian 40 năm nữa, đến 97% dân số gia tăng sẽ xảy ra ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh và vùng Caribê. Dân số đông đòi hỏi nhu cầu lương thực, nhu cầu chuyên chở, nhu cầu vật liệu tiêu dùng (áo quần, dày giép..). Nhu cầu sản xuất lương thực thì phải có nhà máy để biến chế lương thực, để tạo ra phân hoá học[4],nhu cầu chuyên chở thì phải có xe cộ, nhu cầu vật tiêu dùng cũng phải có cơ xưởng để sản xuất . Tất cả các nhà máy đều sử dụng nhiên liệu hoá thạch như than đá hay xăng dầu nên phát thải ra trong bầu trời nhiều khí CO2, có nguồn gốc cacbon tích tụ hàng trăm triệu năm dưới lòng đất.
Lượng khí nhà kính trong bầu trời tăng dần từ thế kỷ 19 đến nay vì trước thế kỷ 19, kỹ nghệ chưa phát triển nhiều. Thực vậy, nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng từ 280 đ ến 350 ppm và tăng nhanh những năm gần đây do hai nước Trung Quốc và Ấn Độ trên đà phát triển kỹ nghệ. Ngoài ra, phá rừng cũng làm khí CO2 tăng lên .Các loại khí này ảnh hưởng đến khí hậu của Trái đất.
6
-overcutting. Phá rừng để canh tác, chất mùn sẽ bị tiêu huỷ, thải hồi CO2 vào lại không khí. Đốt thực vật (đốt rừng, than củi), đốt than đá là nguồn thải hồi chánh ở Việt Nam. Ngập nước (như làm đập chứa nước) thảo mộc và chất hửu cơ sẽ thải hồi CO2 và methane vào lại không khí. Thảo mộc là thức ăn của sinh vật (vi sinh vật, động vật nhỏ, thú vật, con người), nên sinh vật chứa C trong thân xác, nhả lại CO2 qua hô hấp và qua huỷ hoại thân xác khi chết đi. Phá rừng trên thượng nguồn kia cũng tác động đến dòng chảy vì phá rừng sẽ làm dòng sông suối bị bồi lắng, làm lượng nước chảy ít đi và không dủ mạnh để đẩy mặn ở hạ lưu . Còn phá rừng ở hạ nguồn, nghĩa là phá rừng ngập mặn, phá rừng tràm làm nước mặn tiến sâu hơn vào nội địa.
-Overgrazing dẫn đến sa mạc hoá. Chăn thả quá mức (overgrazing) như ở Bắc Phi dẫn đến sa mạc hoá vì làm đất chai cứng, nước mưa trôi chảy, không thấm vào lòng đất và thực vật không thể mọc hay nẩy mầm. Những vùng đất láng cứng ( như sân chơi hockey ! ) đầy rẫy ở Burkina Fasso, ở Niger, ở Mali, Mauritanie v.v. Bộ lạc Peul là bộ lạc du mục, đưa từng đàn bò hàng ngàn con thả rong nên thường gây ẩu đả giữa nông dân định canh vì phá hủy muà màng. Những mùa bão bụi ở Sahara lại đem thêm bụi vào khí quyển mỗi năm, gây ra ho, đau mắt . Có hai tỷ người đang sống tại các vùng đất khô, có nguy cơ bị sa mạc hoá. Những vùng này trải dài từ Bắc Phi tới những dải đất ở Trung Á. Sa mạc hoá làm mất đi diện tích canh tác .
7
-Overpumping
Bơm nước quá mức (overpumping) làm nước ngầm dưới đất bị sụt qúa sâu nên nước mặn dễ lấn sâu hơn vào đất, làm đất mặn hơn, cản trở cho sản xuất. Nhiều nước dùng nước ngầm để tưới hoa màu nhưng với hạn hán, nhiều dự trữ nước ngầm cũng bị suy sụp, giếng khô cạn . Theo một nghiên cứu của World Bank thì ở Ấn Độ có 175 triệu người sống nhờ lương thực sản xuất ra nhờ nước ngầm bơm quá tải . Ở Trung Quốc, bơm nước ngầm giúp nuôi 130 triệu người . Nếu tài nguyên nước ngầm thiếu hụt (do hạn hán, do bơm quá tải) thì khó lòng tăng thêm lương thực.
3.2. Vừa là nạn nhân
Như một phản ứng dây chuyền, khi nhiệt độ tăng, tốc độ bốc hơi từ đại dương và các mặt sông, hồ sẽ tăng. Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành và phân bố các đám mây, thay đổi lượng mưa trên diện rộng.
- nông nghiệp bị ảnh hưởng do thời tiết. Vài ví dụ: hạn hán làm thất thu lúa mì ở Nga; hạn hán ở Trung Quốc năm vừa qua làm họ phải nhập cảng lúa mì nhiều hơn để đề phòng đói. Mưa nhiều làm các nơi sản xuất dầu cọ ở Mã lai bị ngập, khiến giá dầu thực vật tăng.
Thời tiết bất lợi như nhiệt độ nóng lên ban đêm thì sản xuất tinh bột giảm do sự hô hấp thực vật tăng. Còn nhiệt độ thấp, số giờ nắng trong ngày thấp sẽ hạn chế quá trình hấp thu dinh dưỡng, quang hợp và đẻ nhánh của cây lúa.
-Sa mạc lấn rộng do hạn hán. UNDP tiên liệu cuộc xâm lăng hành tinh xanh của sa mạc sẽ khiến vùng cận Sahara có thể mở rộng thêm 60-90 triệu hecta vào 2060, gây thiệt hại khoảng 26 tỷ USD. Một số nhà khoa học ước tính, sa mạc hóa “đẩy” 1 tỷ tấn bụi có từ vùng Sahara vào bầu khí quyển mỗi năm. Ở sa mạc Gobi, mỗi năm diện tích bụi cát tăng 10.000km2, xâm lấn các đồng bằng, khu dân cư. Sự gia tăng các cơn bão bụi liên quan tới sa mạc hóa được coi là nguyên nhân gây bệnh: sốt, ho, đau mắt trong mùa khô. Nigeria (một trong những quốc gia có tốc độ chặt phá rừng cao nhất châu Phi) mất khoảng 350.000ha diện tích đất trồng trọt mỗi năm do cát từ sa mạc Sahara xâm lấn. Khoảng 35 triệu người ở miền Bắc Nigeria bị ảnh hưởng do tình trạng sa mạc hóa. Phần lớn họ kéo về thủ đô Lagos để kiếm sống, gây tình trạng quá tải ở thành phố này.
8
Ít ai biết Trung Quốc là một quốc gia sa mạc! Thực vậy, gần 30% tức 2.5 triệu km2 c ủa Trung Quốc là đất sa mạc cằn cỗi . Ngay cả thủ đô Bắc Kinh cũng đang sợ bụi cát bay từ sa mạc Gobi. Con đường tơ lụa chạy từ Trung Đông đến Trung Quốc ngày xưa hầu nh ư trên toàn sa mạc trong đó sa mạc Tân Cương là lớn nhất. Cụ Nguyễn Du khi đi sứ ở Trung Quốc về cũng đã tả sa mạc trong truyện Kiều:
Mịt mù dặm cát đồi cây !
-Nhiều vùng đất thấp bị ngập vì băng hà tan do nhiệt độ nóng lên. Các châu thổ đất thấp (Bangladesh, Viet Nam ..) bị ngập, khiến một diện tích lớn đất nông nghiệp biến mất kéo theo nhiều hậu quả : đồng bằng sông Cửu Long với nhiều cửa sông rất rộng thuộc sông Tiền và sông Hậu, sông Vàm Cỏ, sông Hàm Luông, v.v. là nơi tiếp nhận tất cả những biến động của nước biển dâng và chuyển tải những biến động đó vào nội đồng. Trung bình có trên 1,5 tỉ m3 nước mặn đổ vào các cửa sông Tiền, sông Hậu vào mỗi ngày mùa nước kiệt, khi nước biển dâng lượng nước mặn khổng lồ này tăng thêm 25% làm gia tăng xâm nhập mặn và ngập triều.
Nước biển dâng sẽ làm giảm đáng kể khả năng thoát nước của cửa sông trong mùa lũ, gây ngập lụt kéo dài.
Nước biển dâng sẽ làm cho các nguồn nước ngọt sẽ bị nhiễm mặn, gây khó khăn cho cấp nước sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp. Khi thiếu hụt nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt dẫn đến việc khai thác quá mức và không thể kiểm soát việc khai thác nước ngầm. Hiện tượng nhiễm mặn và ô nhiễm nước ngầm đã và đang xảy ra sẽ ngày càng tăng. Theo IPCC, khi nước biển dâng cao hơn 1 mét so với hiện nay thì khoảng 40.000 km2, chiếm 21,1% diện tích của Việt Nam sẽ bị ngập nước biển (Schaefer, 2003)
4. Khủng hoảng lương thực toàn cầu, một tsunami thầm lặng .
-Sư biến đổi khí hậu với sa mạc hoá, với nước biển tiến sâu vào đất làm thiếu đât trồng trọt. Hạn hán, bão lụt xẩy ra nhiều hơn (thiên tai) thêm vào sự phá rừng (nhân tai) làm sự bồi lắng sông suối nhiều hơn nên chế độ thuỷ văn bị đảo lộn, nên mưa không thuận, gió không hoà do đó mùa màng bị thất bát, làm giá lương thực tăng cao
-Lực đẩy và lực kéo (push/pull system). Nhu cầu xăng nhiều đã đẩy giá xăng tăng (từ 80$ một thùng dầu lên 130$ ngày nay ) nên mọi chi phí sản xuất lương thực đều lên cao, từ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, gieo, gặt, chuyển vận đến các xứ ít có điều kiện sản xuất
9
như các xứ Trung Đông, Bắc Phi nên làm giá tiêu dùng cũng lên cao .. Và nhà nước các xứ đó phải trợ cấp giá cả cho nhiều mặt hàng từ dầu ăn đến lúa gạo để làm nhẹ gánh nặng cho dân nên phải lại kéo giá bán xăng dầu cho các nước Tây phương. Và cứ thế lực đẩy về Giá (Cost Push) và lực kéo về Cầu (Demand Pull) tiếp tục mãi .,
-Cây 3F .Vì xăng dầu đắt nên các chính phủ khuyến khích sản xuất nhiên liệu sinh học như ethanol để chế thêm vào xăng. Canada buộc trong xăng phải có 5% ethanol. Mỹ, Canada sử dụng bắp còn Bresil sử dụng mía để sản xuất ra ethanol. Trung Quốc mua thêm khoa mì từ Thái Lan để chế biến ra ethanol. Nhưng vì các cây này vừa là F (food: lương thực), vừa là F (fuel: nhiên liệu), vừa là F (feed: thực phẩm chăn nuôi), - tạm gọi là cây 3F-, nên một phần đất đai, thay vì sản xuất lương thực cho người thì lại sản xuất nguyên liệu để chế nhiên liệu. Chẳng hạn như Mỹ thì 1/3 sản lượng bắp là dùng để chế ra ethanol, cho thêm vào xăng xe hơi mà 1/3 sản lượng này có thể nuôi 350 triệu người ăn trong 1 năm.
Tóm tắt:
-Về phần Cầu thì dân số tăng,- mỗi năm, trái đất có thêm 80 triệu người mới sinh
- Về phần Cung thì đất đai mất đi cả lượng (đô thị hoá, ngập vì băng hà tan) lẫn phẩm (xói mòn, nước ngầm cạn kiệt do khô hạn, nước mặn xâm nhập..) nên gây ra khủng hoảng lương thực với giá gạo, giá lúa mì, giá dầu ăn đều tăng theo. Thiếu lương thực toàn cầu và giá lương thực tăng theo là một tsunami thầm lặng. Thực vậy, trong khi trên các xứ Tây phương, trung bình chỉ chi tiêu 10% lợi tức vào lương thực thì tại các xứ chậm tiến, hầu như lợi tức thu nhập phần lớn là để mua thức ăn do đó khi giá lương thực tăng cao thì bạo loạn xã hội xẩy ra (Phi Châu cách đây 2 năm, Trung Đông hiện nay). Còn ở Việt Nam hiện nay thì:
‘ Hơn một tuần sau khi giá xăng tăng lên hơn 21 nghìn đồng/lít, giá thực phẩm ở miền Bắc đã tăng chóng mặt.Báo trên dẫn lời bà Chi, một cán bộ nghỉ hưu ở ngõ 351 Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai (Hà Nội), cho hay : “Đi chợ dịp này, cứ mỗi ngày một giá, chẳng biết đằng nào mà lần”.
Mới cuối tuần trước, bà Chi còn mua thịt bò với giá 120.000 đồng/kg, nay đã lên 180.000 đồng/kg, thịt lợn mông sấn từ 85.000 đồng/kg,
10
lên 110.000/kg. Rau củ quả cũng tăng chóng mặt. Chỉ riêng rau xanh cho mỗi bữa cơm 4 người cũng hết 15.000 đồng.
Còn theo tìm hiểu của báo Nông nghiệp Việt Nam, cá trôi loại vừa, mới thời gian ngoài Tết bán 40.000 đồng/kg, nay lên 80.000 đồng/kg; những loại cá to đều trên 100.000đồng/kg… Các loại thủy sản như tôm, cua, cá giá đều cao hơn từ 10-15%. Sau Tết, rau xanh không tăng giá, thậm chí còn giảm thì nay bắt đầu tăng tốc.
Chị Thanh, bán hàng rau ở ngõ 351 Lĩnh Nam cho biết: đi lấy hàng mỗi hôm một giá. Người trồng rau nói phân đạm tăng giá nên giá nhiều loại rau cũng phải tăng theo vì chi phí đã lên rồi. Rau mồng tơi 8.000 đồng/mớ; su hào giá 8.000 đồng/củ; cải thảo hiện ở mức 20.000 đồng/kg; khoai tây 20.000 – 22.000 đồng/kg; cải xoong 9.000 đồng/mớ…’ (trích Thanh Niên, 14 tháng 4 2011)
Riêng Canada, tuy là một người lùn quân sự nhưng lại là người khổng lồ về nông nghiệp Để dễ so sánh, diện tích đồng bằng Châu thổ sông Cửu Long là 4 triệu hecta . Riêng diện tích lúa mì Canada là 12 triệu hecta. Hàng năm, Canada xuất cảng lúa mì trên dưới 20 triệu tấn sang nhiều xứ, đem về gần 5,4 tỷ Mỹ kim mỗi năm. Á Châu thì Nhật và Đại Hàn, Phi Châu thì Ai Cập, Algerie là những khách hàng lớn . Canada xuất cảng cả 2 loại lúa mì vì có loại lúa mì chỉ làm được bánh mì (Triticum estivum), có loại khác (Triticum turgidum), giàu gluten mới làm được couscous, spaghetti, macaroni. Hàng năm, Canada c ng xuất cảng 2 triệu tấn lúa mạch làm bia qua nhiều thị trường Âu châu và Á châu. Còn dầu ăn thì Canada cũng có sản xuất và xuất cảng dầu Canola, chế biến từ một loại cải bông Brassica hoa vàng. Canola thật ra chỉ là vắn tắt từ 2 chữ Can (Canada) và ola (oil: dầu) .
Để tránh cuộc khủng hoảng lương thực do nhiều nước không đủ đất trồng trọt nên họ phải đi mua hay thuê đất . Điển hình là :
Sudan rao thuê 1 triệu ha với nước mua: Kuwait, Đại Hàn, Qatar để sản xuất: lúa mì, khoai tây, bắp. Ethiopia cũng cho Trung Quốc, Ấn Độ, Saudi Arabia thuê đất trồng hoa màu. Uganda và Tanzania cho Bangladeshthuê 40.000 héc-ta đất sản xuất lương thực, cho Ai Cập thuê 840 000ha để sản xuất bắp. Gần hơn với Viet Nam là Lào với người mua là Trung Quốc và các nước vùng Vịnh để sản xuất cao su, gạo, khoai mì. Campuchia với 2 nước vùng Vịnh là Qatar, Kuwait mua đất để sản xuất gạo, cao su, dầu cọ. Các nhà đầu tư Mỹ và
11
châu Âu cũng đang ồ ạt mua hoặc thuê gần 60 triệu hecta đất nông nghiệp,- tương đương với diện tích toàn nước Pháp-ở các xứ châu Phi như Ethiopia, Mali, Mozambique, Sierra Leone, Sudan, Tanzania và Zambia nhằm kiểm soát nguồn cung cấp lương thực trong tương lai .
5. Nếu con người vừa là nguyên nhân, vừa là nạn nhân của BĐKH thì cũng chính con người phải là chủ nhân của sự khống chế BĐKH.
-tránh overpopulation, tức điều hoà dân số. Điều hoà dân số nghĩa là bớt đẻ nhất là các xứ chậm tiến. Sự bùng nổ dân số, từ 1,6 tỷ người năm 1900 đến khoảng 7 tỷ hiện nay và dự trù sẽ lên đến 9 tỷ năm 2042, vẫn là một yếu tố đe dọa .
Tại Việt Nam, hàng năm, dân số tăng thêm gần một triệu người và dự báo gần đây nhất của UN-HABITAT, đến năm 2020, dân số Việt Nam sẽ lên tới hơn 101,6 triệu người, trong đó 34,7% (tương đương với 35,2 triệu người) sẽ sống trong các thành phố. Như vậy, đất thành phố sẽ lan rộng ra và chiếm vào qũy đất nông nghiệp trong khi đó thì nhu cầu lương thực, nhu cầu rau cải đều tăng cao. Chính sách ‘một con’ của Trung Quốc từ mấy chục năm nay cũng đã giúp cho xứ này bớt được 500 triệu người còn nếu không còn gây sức ép lên giá lương thực
-Tránh overconsumption vì tiêu thụ qúa nhu cầu sẽ gây suy thoái tài nguyên và làm khí thải tăng lên. Biết đủ là đủ, không xài quá mức
-Tránh overpumping: bớt tiêu thụ nước ngầm vì tiêu thụ quá mức sẽ làm nước mặn xâm nhập vào đất . Trái lại, nên tận dụng nước mưa ở những vùng mưa nhiều
-Ăn chay, giúp giảm áp lực trên đất nông nghiệp. Giảm thịt có nghĩa bớt đi diện tích đất trồng cỏ nuôi bò, dùng đất đó để sản xuất lương thực, bớt đi nhu cầu nước tưới.. Giảm thịt có nghĩa là bớt đinhiều giai đoạn sản xuất khác như lò sát sinh, kho đông lạnh, bao bì, chuyên chở v.v. như vậy giảm được phế thải kỹ nghệ, giảm được nhu cầu năng lượng, giảm được ô nhiễm đất và nước.
-Sử dụng năng lượng tái tạo. Vì các năng lượng như than đá và dầu hoả gây thêm ô nhiễm nên càng ngày người ta càng chú trọng đến các năng lượng xanh như năng lượng thủy điện, năng lượng gió,
12
năng lượng mặt trời vì các năng lượng này dựa vào các tài nguyên tái tạo được và không bao giờ cạn kiệt. Từ những bãi chứa chất thải, từ các trại nuôi heo, từ vỏ trấu, từ bả xác mía khí métan được sản sinh tự nhiên có thể dùng để sản xuất ra điện, lại giúp cải thiện điều kiện vệ sinh đô thị (bớt ruồi muỗi). Quebec có may mắn là các công trình thủy điện rất nhiều, không toả ra khói và sản xuất từ vùng xa như Baie James, Baie Comeau. Ngoàì ra chính phủ Quebec cũng dự trù xây thêm nhiều quạt gió gần bờ biển phía Gaspésie để sản xuất thêm điện từ gió.
-Trồng rừng. Một giải pháp khác là trồng thêm rừng vì cây cối qua hiện tượng quang hợp có khả nănghút bớt khí CO2 trong khí quyển, và chuyển vào không khí nhiều oxy hơn, giúp làm giảm hiệu ứng nhà kiếng.Rừng ngập mặn ngoài khả năng hút khí nhà kính lại có chức năng cản sóng, giữ phù sa trầm tích.
Việt Nam thì đồi trọc không cây cối càng ngày càng nhiều do nạn phá rừng, lấy củi với hậu qủa là lụt lội càng ngày càng nhiều. Rừng ngập mặn thì phá nuôi tôm.
Thảo mộc là nguồn tích trử C. Cây xanh hấp thụ CO2 của không khí tạo thành chất hửu cơ và thải Oxy vào lại không khí qua hiện tượng lục hoá (photosynthesis) khi có ánh nắng.. Trung bình 20% trọng lượng cây là C. Khi cây chết và mục thì một phần C được trả lại không khí (qua hiện tượng phân huỷ hửu cơ, hô hấp vi sinh), một phần được tồn trử dước dạng hửu cơ như thân rể gổ (chưa mục), hay huỷ hoại như chất mùn, than bùn (peat). Than đá là một dạng tồn trử C từ thực vật tạo thành từ thời cổ đại.
6. Kết luận.
Biến đổi khí hậu đang trở thành một thách thức lớn nhất mang tính toàn cầu mà chúng ta và các thế hệ mai sau phải đối mặt. Trên trái đất này, mọi việc đều tương quan với nhau: sự suy thoái của cái này kéo theo cái kia . Thực vậy, trái đất là một toàn thể (holism). Biến đổi khí hậu không phải đơn giản là băng tan, nước biển dâng mà bài toán có tính cách nhiều chiều vì vấn nạn BĐKH kéo theo nhiều lãnh vực: dân số, cải thiện sử dụng nước, bảo vệ các hệ sinh thái biển, trồng rừng .. Loài người phải nhận thức rằng hành tinh Trái Đất ta đang ở đang có xu hướng gặp thảm hoạ do dân số tăng, do sự kiệt
13
quệ các tài nguyên tự nhiên như đất, nước, dầu mỏ, sự xuống dốc môi trường sống và tình trạng thiếu lương thực. Dân cư đông nhưng tài nguyên đất đai bị hư do xói mòn, do mất phì nhiêu, do sa mạc hoá sẽ tác động tiêu cực đến sự sống của loài người. Phải biết dung hoà giữa phát triển kinh tế và nhu cầu bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học.
14
Phần II. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp cũng như sản xuất lương thực.
1.Những ảnh hưởng nói chung của biến đổi khí hậu
ấ ủ
ế ệ ứ ấ ự ố Theo nghiên c u c a các chuyên gia, cho đ n nay thì Trái Đ t là ờ
ữ ữ ệ ọ ệ ặ ườ
ữ ự ộ ệ ộ ậ và nh ng cánh r ng bát ngát, m t h đ ng th c v t
ộ ạ ế
ộ ế ư ự
ữ ấ ả ạ ứ
ọ ể ệ ườ ặ ữ i, m t lo t nh ng hi n
ả ủ ư ư ng thiên tai x y ra nh m a acid, bão lũ, n n h ng th y, cháy
ọ ạ ộ ạ ưở ạ ồ ủ
ườ ủ ế ng c a bi n đ i khí ,
ậ ế ộ ả
ọ ậ
ộ ề ệ ặ ữ
ạ
ử ụ ườ ữ
ễ ề ế ả ượ ướ ề ấ ộ ị
ụ ế ầ
ự ạ ậ ấ ỉ
ệ ề ủ ườ ấ ả ạ ắ ữ ng cũng có
ấ ầ ấ
ế ệ ễ ể ữ ả ả ệ ộ
ệ ệ ủ ờ ạ ự ể
ậ ổ
ầ ả ố ườ ề ng
ạ ự ế ế ệ ứ ấ ổ ạ ầ ồ
ậ ồ ạ ọ
ấ ọ c ng t, suy thoái t ng Ôzôn, suy thoái đ t và hoang m c
ầ ơ ộ ướ ễ ấ ữ ạ
ố ươ ề ả ề hành tinh duy nh t trong h M t Tr i có hi n di n s s ng. Thiên ặ i nh ng ng n núi hùng vĩ, nh ng nhiên đã ban t ng cho con ng ừ ả dòng sông êm ả ả vô cùng phong phú và đa d ng ph i tr i qua m t quá trình ti n hóa t c t o nên m t hành tinh xanh. Th nh ng do s khai thác lâu dài t ớ ử ụ s d ng quá m c nh ng món quà mà thiên nhiên ban t ng, cùng v i ự s phát tri n và tham v ng c a loài ng ượ t ổ ừ ả r ng, h n hán, mà chúng ta g i đó là “ nh h ừ ừ ự ộ ậ t i tác đ ng tiêu c c vào thiên nhiên m t cách t h u”. Con ng thiên nhiên ghi nh n và đã đ n lúc thiên nhiên đáp tr . Ngôi nhà ọ ồ ụ ị ủ chung c a m i loài sinh v t đang b đe d a mà trách nhi m ph c h i ỗ ự ườ i chúng ta. Nh ng n l c ngăn ch n các khí nó thu c v con ng ạ ồ ế th i nhà kính, h n ch khai thác các ngu n tài nguyên không tái t o ệ ng, các c, s d ng nh ng nhiên li u không gây ô nhi m môi tr đ ậ ổ ạ c tham gia H i ngh , cùng bàn b c v v n đ bi n đ i khí h u đã n ủ cho th y ph n nào s quy t tâm c a chúng ta trong vi c kh c ph c h u qu . Song bên c nh đó, đây không ch là v n đ c a nh ng nhà ộ lãnh đ o c p cao mà ngay đ n m t công dân bình th ằ ả ệ th góp ph n vào vi c b o v Trái Đ t, b o v ngôi nhà chung b ng ư ế ồ ơ t ki m đi n, tham gia tr ng nh ng hành đ ng đ n gi n d làm nh ti ứ ậ tìm hi u và nâng cao nh n th c c a mình trong th i đ i cây xanh, t “Bi n đ i khí h u toàn c u”. ặ ớ Hi n nay chúng ta ph i đ i m t v i hàng lo t các v n đ môi tr b c xúc trên ph m vi toàn c u, bao g m: s bi n đ i khí h u (BĐKH), suy thoái đa d ng sinh h c (ĐDSH), suy thoái ngu n tài nguyên n hóa, ô nhi m các ch t h u c đ c h i khó phân h y… ẫ đ này có m i t ạ ủ Nh ng v n ự ưở ng tr c ti p t ng tác l n nhau và đ u nh h ữ ấ ế ớ ờ i đ i
15
ộ ể ườ ư ự ở ứ m c i cũng nh s phát tri n c a xã h i trong đó dù
ầ
ơ ỏ ế ữ ề ộ ấ
ộ ệ ữ
ậ
ằ ấ ự ữ ế ậ ỷ ầ
ệ ể ữ ộ ớ
ộ ệ ư ự
ạ ệ
ấ ệ ứ
ớ ầ ứ ấ ườ i môi tr ể ưở ng t
ố
ấ ố ơ
ặ
ể ả ử ộ ấ
ặ
ự ệ ượ ướ ậ ộ ễ ế ấ
ở ạ ầ ờ ướ
ỷ ệ ệ ả ấ ớ ặ c ng t. Trong th i gian 20 – 25 năm tr l ệ b nh nhân, t l
ề ề ễ
ự
ệ ấ ị cướ đ i m i công ngh , phát n
ổ ệ
ạ ệ ạ ể ạ ộ ể ấ ừ
ủ ệ ệ ụ
ộ ấ
ấ ớ ớ ả ườ ậ
ườ
ấ t, khi nhi t và khí h u tăng nh h ề ả ờ ế ự ấ ệ ấ ị
ưở ng r t l n t ậ ng v chu k khí h u không ch d n t ạ ọ
ề ế ậ ố
ủ ế ậ ổ ị
ườ ẫ ự ế ế ế ộ
ự ạ ộ ượ ầ ầ ổ
ủ ố s ng con ng ấ ộ ố ượ c xem là v n đ môi đ qu c gia hay toàn c u thì BĐKH luôn đ ề ượ ấ ườ ng nóng b ng nh t và h n th n a còn đ c coi là m t v n đ tr ọ ể ề ớ ế i ti n trình phát tri n b n v ng hi n nay trên quan tr ng tác đ ng t ộ ế ớ i. Sau cu c tranh lu n kéo dài 30 năm, cho đ n nay, các toàn th gi ọ Nhà khoa h c đã có s nh t trí cao và cho r ng nh ng th p k g n ị ế ạ ộ xã h i v i nh p đi u ngày đây, nh ng ho t đ ng phát tri n kinh t ượ ề ng, công nghi p, giao m t cao trong nhi u lĩnh v c nh năng l ộ ồ thông, nông – lâm nghi p và sinh ho t đã làm tăng n ng đ các khí 2) trong khí 2O, CH4, H2S và nh t là CO gây Hi u ng nhà kính (N ả ậ ổ ệ ố ế quy n làm Trái đ t nóng lên, bi n đ i h th ng khí h u và nh ự ầ ng toàn c u. B c tranh toàn c u: Theo d h ườ ệ ố i vào đoán, trong s 33 thành ph có quy mô dân s 8 tri u ng ố ể ị ướ c bi n năm 2015, ít nh t có 21 thành ph có nguy c cao b n ầ ườ ố ệ ộ ấ i s ng nh n chìm toàn b ho c m t ph n và kho ng 332 tri u ng ể ẽ ị ấ ở ướ ậ ụ t. N c bi n vùng ven bi n, đ t trũng s b m t nhà c a vì ng p l ộ ị ng xâm nh p m n vào sâu trong n i đ a dâng còn kèm theo hi n t ủ ệ c ng m tác đ ng x u đ n nông nghi p và và s nhi m m n c a n ọ i đây có tài nguyên n ỷ ệ ử ệ vong l thêm kho ng 30 b nh m i xu t hi n, t t ệ ữ ở ủ nh ng c a nhi u b nh truy n nhi m gia tăng. Tuy nhiên BĐKH ấ ị ữ ữ ộ ứ m c đ nh t đ nh và nh ng khu v c nh t đ nh cũng có nh ng tác ự đó là t o c h i đ các ộ ơ ộ ể ớ đ ng tích c c, ườ ớ ệ ể ng và tri n các công ngh s ch, công ngh thân thi n v i môi tr ả ả ồ 2 gi m phát th i các ho t đ ng phát tri n tr ng r ng đ h p thu CO ệ ả t Nam còn ph khí nhà kính. Hi n nay, s n xu t nông nghi p c a Vi ị ộ ế ệ ộ ờ ế ề t đ tăng, tính bi n đ ng và d thu c r t nhi u vào th i ti ả ấ ủ i s n xu t ng c a th i ti th ệ ỉ ẫ ớ ự ỳ i s nông nghi p. S b t th ị gia tăng d ch b nh, d ch h i, gi m sút năng su t mùa màng, mà còn ủ gây ra các r i ro nghiêm tr ng khác. ổ ợ ướ c khung c a Liên h p qu c v bi n đ i khí h u Công ậ ổ ủ (UNFCCC) xác đ nh: “Bi n đ i khí h u là s thay đ i c a khí h u do ủ ặ i d n đ n tác đ ng tr c ti p ho c gián ti p c a ho t đ ng con ng ộ ể c quan sát trên m t chu thay đ i thành ph n khí quy n toàn c u, đ ỳ ờ k th i gian dài”.
16
ự ậ ầ ổ Nguyên nhân chính làm bi n đ i khí h u toàn c u là do s gia
ứ ủ
ả ể ấ ứ ứ ể
ạ ộ ể ư ố ừ ệ ể ờ
ấ ề ế ườ tăng các ho t đ ng c a con ng i làm phát th i quá m c khí nhà kính vào khí quy n, khai thác quá m c các b h p thu và b ch a khí nhà kính, nh sinh kh i, r ng, các h sinh thái bi n, ven b và đ t li n khác.
ặ ở ạ ệ ừ t t ế ỷ T gi a th k XX, đ c bi
ữ ồ
ế ạ ộ ể ừ ữ ủ ẫ
ớ ầ ữ
ự ủ ệ ự ả ườ ệ ộ ấ ạ ươ t đ không khí và đ i d
ể
ố ậ ả
ầ
ế ỷ ấ ố ự ệ ể ệ ộ ng, s tan băng di n r ng, h qu là ủ ả ế ệ ữ c nêu trong Báo cáo g n đây t đ Trái đ t vào cu i th k XXI có
ấ ủ ể ẽ ừ
i đây, nh ng năm 1980 tr l ộ i làm gia tăng n ng đ khí nhà kính trong ho t đ ng c a con ng ầ ấ khí quy n d n đ n nhi t đ Trái đ t tăng lên (s nóng lên toàn c u). ự S nóng lên toàn c u là r t rõ ràng v i nh ng bi u hi n c a s tăng ệ ộ nhi ướ ự m c n c bi n trung bình toàn c u dâng cao. K t qu tính toán c a các mô hình khí h u toàn c u d a trên m i liên h gi a phát th i khí ự nhà kính và s gia tăng nhi ả nh t c a IPCC) c nh báo nhi 0C đ n 6,4 ế 1,1 th s tăng t ủ ự Do s nóng lên c a khí h u toàn c u nên các l p băng tuy t
ầ ự ầ ệ ộ ượ t đ (đ ệ ộ 0C. ậ ậ ữ
ể ạ ự ậ ớ ầ ế ế ỷ ớ i. Trong th k XX, m c i châu á dâng lên trung bình 2,4 mm/năm, riêng th p
ẽ ế ụ ự ơ
ướ ể ả
ườ ệ ấ ớ
ự
Vi ồ ướ ế c ng t
ẹ ế ậ ở dãy
ẽ ị s b tan nhanh trong nh ng th p niên t ướ n c bi n t ừ niên v a qua là 3,1 mm/năm, d báo s ti p t c dâng cao h n trong ự ế ỷ c bi n dâng lên th k XXI kho ng 2,8mm 4,3 mm/năm. M c n ộ ơ ở ủ ề ể i có th nh n chìm nhi u vùng r ng l n, n i c a hàng tri u ng ộ ấ ấ ở ệ ở ố s ng t Nam, Bangladesh, n Đ và Trung các khu v c th p ọ ở ộ ố ướ ố Qu c,… làm khan hi m ngu n n c châu á do m t s n ổ bi n đ i khí h u đã làm thu h p các dòng sông băng Hymalayas.
ị ổ ậ ẳ ế ủ ướ c và an
ự ẽ ớ Báo cáo c a FAO kh ng đ nh bi n đ i khí h u, n ươ
ệ ặ ứ
ả ồ ướ ng th c ngày càng liên quan ch t ch v i nhau. Đây là ạ ứ ng đ i liên ố ớ ươ ậ ủ ế ổ ọ c c a bi n đ i khí h u đ i v i
ướ ầ ồ
các sông và ngu n n ả c ng m đang gi m ự
ề ổ
ề ộ ướ ồ c tan t
ư ằ ninh l ề nghiên c u toàn di n v các ngu n tri th c khoa h c đ ể ấ ế ậ quan đ n h u qu có th th y tr ệ ướ ồ c cho nông nghi p. ngu n n ả ướ ở ồ c Ngu n n ạ ở ị ự ở khu v c Đ a Trung H i và các khu v c bán khô h n nhanh châu ế ậ ạ ươ ỹ M , châu Đ i d ng và mi n Nam châu Phi. Bi n đ i khí h u cũng ệ ộ ế ộ ớ ở ấ ự châu á đã tác đ ng đ n nhi u khu v c đ t nông nghi p r ng l n ế ừ ụ ẫ băng và tuy t trên núi; lâu nay v n ph thu c vào ngu n n ự ư ở ồ trong khi đó các vùng đ ng b ng đông dân c các l u v c sông
17
ơ ả ồ ướ ặ c, quá trình m n hóa
ể ứ cũng đ ng tr gia tăng và n c nguy c gi m các ngu n n c bi n dâng cao.
ướ ướ ấ ệ
i 40% l ế ố ế ớ ệ ẽ ả
ệ ở ấ ấ ự ặ ấ ượ ấ ớ ng Vi c m t các dòng sông băng, v n cung c p t ồ ộ i, s tác đ ng đ n ngu n ả các khu v c s n
ướ ướ ấ ệ c cho s n xu t nông nghi p th gi n ả c m t cung c p cho s n xu t nông nghi p n ố xu t nông nghi p ch ch t.
ủ ủ ấ ế ổ
ế
ụ ự
ố
ụ ẽ ng l
ướ ồ ớ ổ ng n
ờ ố ự ươ ủ ư ư ị ị
ệ ộ t đ Trái Đ t tăng do bi n đ i khí Theo báo cáo c a FAO, nhi ớ ị ồ ậ ở ư ụ ẽ các vùng ôn đ i b kéo dài, nh ng h u s khi n các v gieo tr ng ữ ở ạ ồ ắ ị i làm cho các v gieo tr ng l nh ng khu v c khác b rút ng n. ự ị ẩ ơ ướ ệ ộ t đ tăng, s c b đ y nhanh do nhi Cùng v i quá trình b c h i n ự ư ươ ả ượ ả ế ng th c cũng nh bi n đ i mùa v này s làm gi m s n l ộ ủ ồ ấ ượ c cung c p cho cây tr ng. Đ i s ng c a c ng đ ng dân l ư ở c ng th c c a dân c đô th b đe nông thôn cũng nh an ninh l d a.ọ
ị ộ ủ ư
ị ồ ướ ể ự
ị ớ Báo cáo c a FAO cũng đ a ra ki n ngh các hành đ ng đ các ạ c khu v c và ố ươ
ướ ệ ậ ủ
ả ệ ướ ự ấ ệ ướ ướ Tr ả c th c hi n c,
ự ả ồ c đ thông tin các
ị ả ề ướ ồ ế ả ể ự ng cũng nh nông dân có th th c hi n nh m đ i phó v i ổ bi n đ i khí h u. ng năng l c c a các n c," bi n pháp qu n lý ngu n cung c p n ể ướ ượ ng và các giao d ch v n ề
ồ ượ ả ơ ộ ứ c; nông dân nghiên c u ng
ướ nhà ho ch đ nh chính sách, các nhà qu n lý ngu n n ư ằ đ a ph ắ ứ ữ nh ng thách th c b t ngu n t ầ ế c h t là c n tăng c hi u qu "tài kho n n ể chuy n nh quy tế đ nh v qu n lý và s d ng ngu n n thay đ i mô hình nông nghi p đ gieo tr ng mu n h n, gi m l n
ữ
ổ ử ụ c s d ng và t ố ớ Đ i v i Vi ị ả ồ ừ ế ườ ệ ị ử ụ ể ệ ủ ợ i. i u hóa th y l ượ ệ t Nam đ ấ ủ ề Vi ặ ậ ổ
ằ ộ c đánh giá là m t trong nh ng ể ng n ng n nh t c a bi n đ i khí h u, trong đó ế ớ i
ồ ế ướ ổ ố ư t Nam: ưở ử ấ ng nh t do n
ậ ơ ớ ộ c ta và nguy c tác đ ng ngày càng l n h n. Trong ươ ữ ở ướ n
ướ ế ầ ộ ổ i tác đ ng c a bi n đ i khí h u, t n su t và
ậ ạ ặ ổ
ấ ủ ề ề ng đ thiên tai ngày càng gia tăng, gây t n h i n ng n v ộ ạ ầ ườ ế ả ộ , văn hóa, xã h i, tác đ ng
ườ ạ ỉ i đây, các lo i thiên
ặ ệ ố ở ạ ng. Ch tính trong 15 năm tr l ạ ậ đ t, úng ng p, h n hán, xâm nh p ả ướ ệ ạ ề t h i v tài s n ậ gây thi c ta đã c
ằ ả ệ ố qu c gia b nh h ộ ằ ồ Đ ng b ng sông C u Long là m t trong ba đ ng b ng trên th gi ễ ị ổ ể c bi n dâng. Bi n đ i khí h u đang d b t n th ơ ệ hi n h u ữ nh ng năm qua, d ộ ườ c ng i, tài s n, h th ng h t ng kinh t ế ấ x u đ n môi tr ạ ở ấ ư tai, nh bão, lũ, lũ quét, s t l ở ướ n m n và các thiên tai khác tính b ng kho ng 1,5% GDP/năm.
18
ọ ọ ổ ậ ế ế ươ Bi n đ i khí h u đe d a nghiêm tr ng đ n an ninh l
ị ấ ể ệ
ộ ằ ệ
ị ồ ể
ộ ớ ấ ế ặ ồ
ồ
ả ế ệ ả ồ ệ ơ ưở ng đ n sinh s n, sinh tr
ầ ưở ị
ộ
ộ ứ ộ ạ ậ ự ệ ng
ậ
ủ ạ ộ ể c. Các nguy
ả ả ượ ế
ế ượ ầ ệ
ạ ị tệ
ạ ể xã h i, phát tri n ngành và đ a ph ướ ổ ậ
ế ả ổ
ự ế ể ấ ị ả vùng Greenland tan h t thì m c n
ự ng th c ặ ẹ ệ ệ và phát tri n nông nghi p: di n tích đ t nông nghi p b thu h p, đ c ể ở ồ ằ ồ ử ầ Đ ng b ng sông C u Long, Đ ng b ng t là m t ph n đáng k bi ể ậ ấ ấ ướ c bi n sông H ng và các vùng đ t th p ven bi n b ng p m n do n ờ ụ ưở ng, năng su t cây tr ng, th i v dâng, tác đ ng l n đ n sinh tr ả ạ gieo tr ng, làm tăng nguy c lây lan sâu b nh h i cây tr ng; nh ề h ng, tăng kh năng sinh b nh, truy n ủ d ch c a gia súc, gia c m. ớ ổ ữ ế Bi n đ i khí h u, v i nh ng tác đ ng ngày m t gia tăng và khó ị ề ườ ẽ ươ ở l nhi u lĩnh v c, đ a ph ng s làm tăng m c đ c n ki t tài ườ ng; làm ch m quá trình phát tri n kinh nguyên và suy thoái môi tr ạ ượ ề ặ ế t xã h i ho c h y ho i nhi u thành qu đã đ t đ ậ ơ ủ ế ổ c , r i ro do bi n đ i khí h u c n ph i đ c tính đ n trong quá trình ự ệ ự ế xây d ng, hoàn thi n và th c hi n các chi n l c, quy ho ch, k ể ộ ế ươ Vi ho ch phát tri n kinh t ng ế ấ ừ ề ưở ị ả ể c bi n thay đ i khí h u. N u n ng nhi u nh t t Nam b nh h tệ Nam có th m t 16% di n tích, v i h n 35% s ố ớ ơ ệ tăng lên 5 mét, Vi ưở ng. Trong khi đó, n u băng dân và kho ng 35% t ng GDP b nh h ở ế ớ ẽ ể ướ i s cao lên c bi n toàn th gi ớ 7 m so v i hi n nay.
ớ ứ ế ớ ủ ệ ộ Theo m t nghiên c u m i đây c a Ngân hàng Th gi
ế ồ
ấ ế ằ ề ồ ặ ướ ưở ị ả ự ử ồ c
ằ ể i, “”, do Susmita Dasgupta, Benoit Laplante, Craig Meisner, David Wheeler, ự và Jianping Yan ti n hành, khu v c Đ ng b ng sông H ng và Đ ng ng n ng n nh t n u m c n b ng sông C u Long b nh h bi n tăng.
ứ ồ ệ ả ớ ố
ả ể
ố ớ ườ ướ ủ ể ử ụ ể c bi n tăng lên đ i v i con ng ướ ng c a vi c n ứ i, kinh t
ệ ở ệ ị ự ủ Nghiên c u s d ng b n đ v tinh v i thông s so sánh c a ộ ả c đang phát tri n vùng duyên h i đ tính toán m c đ nh ế , các ế ớ i. 84 n ưở h khu v c đô th và nông nghi p năm vùng khác nhau trên th gi
2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế
ế ế , trong đó ngành
ể ề ấ ầ BĐKH tác đ ng đ n h u h t các ngành kinh t ng nhi u nh t. Có th nêu ra hai khía
ệ
ộ ệ ả ớ ấ ư ề ơ ư ế ưở nông lâm nghi p nh h ấ ộ ạ ị c nh b tác đ ng l n nh t. ấ ầ T n su t xu t hi n ngày càng nhi u các hi n t ạ ụ t, m a lũ tăng t o nguy c ng p l ệ ượ ng thiên tai ậ ụ ố ớ t đ i v i các vùng nh bão, lũ l
19
ạ ằ ấ ể ư ồ
ả ơ ớ ử ệ ạ ế ượ
ễ ệ ộ ườ ng x y ra vào mùa khô, n ng nóng, l ư
ồ ả ế ứ ề ầ ế
ề ấ ở
ủ ỉ ằ ộ ẩ ớ ộ ẩ nh ng n i có r ng che
ể
ể ủ ệ ộ ữ
ấ ưỡ
ị ng và hàm l ặ
ấ ừ ễ ị
ế ụ ắ ồ ọ ở ở ử , r a ng k t vón và đá ong
ề ướ ệ H ệ ướ c
ừ ậ ộ
ừ ị ả ả ồ ấ ỉ ấ các t nh Nam B . Ranh
ể ị ể
ủ ậ
ộ ư ầ ự
ơ ệ ậ ụ ậ ộ ố ỗ ỏ ạ ứ
ệ ộ ể ể ị ơ ệ ệ ị
ệ
ấ ẹ ể
ằ ấ ươ ố
ấ ơ ớ ồ ự ọ ồ
ủ ế ệ
ẫ ằ ự ử
ề
ườ ể
ồ ự ớ ữ ượ i tr l ướ ộ ắ ố ờ c l
ệ
ế ố
ạ ị tăng, ng
ổ ớ ồ ế ị ả ộ ượ ạ c l ấ ẳ ế ặ ị ấ ễ đ t th p, đi n hình nh đ ng b ng sông C u Long, tình tr ng nhi m ặ ạ m n, nhi m phèn trên di n r ng làm thi t h i đ n mùa màng; h n ơ ố ắ hán th ng b c h i l n h n ượ ể ồ l ng m a nhi u l n đã làm cây tr ng khô héo nhanh chóng, có th ạ ẫ ớ i làm ch t cây tr ng hàng lo t. Nhi u k t qu nghiên c u đã d n t ủ ấ các vùng không có cây cho th y, trong mùa khô, đ m c a đ t ơ ữ ừ ấ ở ủ che ph ch b ng 1/3 so v i đ m c a đ t oC vào bu i ổ ớ ề ặ ấ ủ t đ trên b m t đ t có th tăng cao t i 5060 ph , nhi ế ộ ư ộ ơ ố ơ ư ặ i x p, đ liên k t, tr a hè. Nh ng đ c đi m c lý c a đ t nh đ t ượ ộ ấ ị ượ ấ ng các ch t dinh d đ th m, hàm l ng vi sinh b ợ ể ấ ở ứ ả gi m đi đáng k , đ t tr nên khô, c ng, b nén ch t, không thích h p ọ ấ ố ệ ớ ồ v i tr ng tr t. Hàng tri u héc ta đ t tr ng, đ i tr c m t r ng lâu năm, ặ ổ ấ ạ ị ế ấ đ t m n b bi n đ i c u t o và lý hoá tính, tr nên d b xói l ệ ượ ạ trôi m nh, tích t s t nhôm gây nên hi n t ấ ả ấ ứ ạ ấ hoá, đ t lo i này hoàn toàn m t s c s n xu t nông, lâm nghi p. ưở ừ ng khác nhau, n ng theo các chi u h sinh thái r ng b nh h ế ặ ệ ể bi n dâng làm gi m di n tích r ng ng p m n, tác đ ng x u đ n ễ ộ ở ừ r ng tràm, r ng tr ng trên đ t nhi m phèn ứ ư ừ ớ ừ i r ng nguyên sinh cũng nh r ng th sinh có th d ch chuy n, gi ậ ự ủ t ch ng c a đ ng v t và th c v t gia tăng, m t s loài nguy c di ơ ươ ọ ng, hoàng đà, p mu, g đ , lát th c v t quan tr ng nh tr m h ộ ệ hoa, g m t… có th b suy ki t đ và m c đ khô h n gia t. Nhi ừ tăng làm tăng nguy c cháy r ng, phát tri n sâu b nh, d ch b nh… ị ấ ồ Qũy đ t canh tác nông nghi p nói chung, đ t tr ng lúa nói riêng b ấ ạ ấ ằ ở ấ ồ ầ ớ vùng đ t th p t thu h p đáng k vì ph n l n đ t tr ng lúa n m i ồ ề ế ặ ưở ả ử ng n ng n đ n đ ng b ng sông H ng và sông C u Long, nh h ộ ố ủ ợ ả ng th c; m t n i sinh s ng thích h p c a m t s loài s n xu t l ướ ơ ướ ả ị ỷ c sông b suy gi m c ng t, cùng v i nguy c ngu n n thu sinh n ướ ả ồ ả ề ư ượ ng, d n đ n vi c gi m năng l c nuôi tr ng th y s n n c v l u l ọ ở ồ đ ng b ng sông H ng và sông C u Long. BĐKH cũng gây ng t ắ ộ ề ng các bãi cá và ngh đánh b t nhi u tác đ ng tiêu c c t ộ ộ ư ớ ồ c ta. C ng đ m a l n làm cho n ng đ trên các vùng bi n n ẫ ậ ướ ợ ế ả và mu i gi m đi trong m t th i gian ng n d n đ n sinh v t n ị ỏ ể ễ ờ ặ t là loài nhuy n th hai v (nghêu, ngao, sò…) b ven b , đ c bi ổ ị ố ạ ch t hàng lo t do không ch ng ch u n i v i n ng đ mu i thay đ i. ạ i các lo i cá Các lo i cá nhi t đ i kém giá tr kinh t ổ ệ ớ ậ cao b gi m ho c m t h n. Thay đ i c n nhi ệ ớ t đ i có giá tr kinh t
20
ạ ề
ệ ị ườ ả ấ ệ ướ ng n ậ ồ t đ còn là d ch b nh x y ra cho nhi u lo i cây tr ng, v t nuôi, ự ậ ợ i cho s phát ề c x u đi, là đi u ki n thu n l
ậ ể
ữ ị ả c đánh giá là m t trong nh ng qu c gia b nh
ổ ằ ậ ệ t Nam đ ặ ố ồ ấ ủ ệ ộ nhi ớ cùng v i môi tr ủ ạ tri n c a các loài vi sinh v t gây h i. ộ ượ Vi ng n ng n nh t c a bi n đ i khí h u, trong đó đ ng b ng sông
ằ ế ớ ễ ị ổ ể ồ i d b t n th
ồ ạ ằ ươ ậ ưở ử ấ ề ộ ể ướ ng c bi n dâng, bên c nh đ ng b ng sông Nile (Ai C p) và
ồ
ng:
h C u Long là m t trong ba đ ng b ng trên th gi nh t do n ằ đ ng b ng sông Ganges (Bănglađét). ộ ố ồ
ằ ể ả M t s vùng nh h ằ 1). Đ ng b ng sông C u Long ồ Là vùng đ ng b ng đ c bi
ươ ọ ậ ệ ổ t quan tr ng. Trong phát tri n nông ầ
ữ ạ ị
ưở ử ặ ng th c các th p niên g n đây đã và ộ ẽ ộ ữ ế ớ ớ
ữ ọ ừ ề ạ ơ
ạ ệ ố ố b sông, t
ả ề ự ả ướ ề ự ế ớ ứ ứ ơ ộ ặ c, đ m n ướ c ị ng ng v i các k ch b n v m c n
ưở ệ ả ặ ng m n max mùa ki ề ệ đi u ki n c ướ ệ n t
ả ể
ị ệ ự ị nghi p, n đ nh an ninh l đang gánh ch u nh ng tác đ ng khá m nh m do BĐKH gây nên, trong đó lũ có nh ng bi n đ ng ngày càng l n gi a năm lũ l n và lũ ơ ỏ nh , bão nhi u và m nh h n, h n hán nghiêm tr ng h n, cháy r ng, ấ ế ể ạ ở ờ s t l l c... xu t hi n ngày càng nguy hi m h n. Qua k t ả ỷ ự qu tính toán mô hình thu l c cho k t qu v m c n ươ ớ ươ ng ng v i các mùa t t ư ể bi n dâng nh sau: ậ ặ Xâm nh p m n Di n tích nh h B ng 1. bi n dâng (NBD), (Đv : 1000ha)
ị ả K ch b n BĐKH ệ ạ Hi n tr ng
ấ ặ ộ C p đ m n (g/l) ệ ệ ệ
Di n tích 1.303 NBD 0,69 m Di n Tích 1.493 So v i HTớ 190 NBD 1,00 m Di n tích 1.637 So v i HTớ 334 S > 4
ậ ộ ở ệ ề t trong mùa lũ ệ ậ Đ ng p và di n tích ng p lũ ị ĐBSCLđi u ki n NBD (Đv :
ậ ụ Ng p l ả B ng 2. 1.000ha)
ậ ộ ệ ạ ị Đ ng p Hi n tr ng ả K ch b n BĐKH
21
ệ ệ ệ (m) Di n tích NBD 0,69 m Di n tích So v i HTớ NBD 1,00 m Di n tích
So v i ớ HT 1.002 567 302 H < 0,5 1.049 0,5< H <1,0 1.063 1,0< H <1,5 724 848 459 284 202 604 1.007 47 496 421
1,5< H <2,0 459 811 1.270 1.880 1.421
66 414 281 84
ậ ổ 304 111 36 126 69 18
2.813 3.660 (Tăng 30%) 2,0< H <2,5 288 2,5< H <3,0 212 H > 3,0 T ng ng p > 0,5 m (cả lũ và tri u)ề 592 323 102 3.815 (Tăng 36%)
ị ầ ớ ộ ướ ế i 1,5 m. N u ư ậ ĐBSCL ph n l n có đ a hình cao đ d
ộ ự ư ệ
ẽ ự ớ ỉ ế c trung bình t
ỉ ả ề ươ
ị ẽ ấ ơ
ế ướ ả 0,2 m đ n 0,7m v i k ch b n 0,69 m và (0,5
ớ ị ả ể
ậ ẽ ơ ộ ư
ướ ứ ng ng t ớ ị ề ừ ỉ c đ nh tri u t ớ ị ả ở ữ ỉ ị ế ế
ệ ớ ặ ớ
ự ọ
ữ t nh ng năm lũ l n và đ c bi ỷ ề ẽ ể ậ ướ ộ ơ ự ậ
ơ ớ ứ ứ ừ ế
ề ế ả ộ ỉ ự Do tác đ ng c a NBD đ n ng p c do đ nh tri u và do lũ
Nh v y, ề m c NBD lên 0,69 m và 1,00 m, c ng v i đ nh tri u nh hi n nay ừ ơ 1,0 m đ n 1,5 m, nghĩa là s có cao h n m c n ế ớ ị ế ừ 1,7 m đ n 2,2 m v i k ch b n 0,69 m; đ n đ nh tri u t ự ả (2,0 2,5) m v i k ch b n 1,00 m, đ a hình ĐBSCL s th p h n m c n ơ ị ư ậ 1,0)m v i k ch b n 1,00 m. Nh v y, d i ven bi n s có nguy c b ớ ng p b i NBD. Tuy nhiên, đây m i ch là tính toán s b , ch a xét ủ ổ ươ ng thích c a đ a hình. đ n nh ng bi n đ i t ệ ặ t l n, do tác Vào mùa lũ, đ c bi ủ đ ng c a m c NBD và thu tri u, tình hình ng p lũ s nghiêm tr ng ề c lũ trong vùng ng p h n nhi u do lũ khó thoát ra bi n h n. M c n lũ tăng (t 0,2 m đ n 0,5 m) ng v i NBD 0,69m và (0,3 0,7) m ng ớ v i m c NBD 1,00 m. ủ ứ ậ ả ấ ớ ề ậ ớ ị
ể ậ ớ
ượ ệ ế ề ậ ậ i ng p ả c tính chung cho c
ở ề ĐBSCL r t l n, nên ng v i 2 k ch b n, nhi u vùng ng p tri u và ế ớ ng p lũ liên k t v i nhau, khó có th tách riêng đâu là ranh gi ậ do tri u và ng p do lũ. Vì th , di n tích ng p đ 2 nguyên nhân.
22
ẽ ệ
ự ớ ị
ứ ự
ồ ớ ị ồ
ồ ộ ổ ằ ắ ự
ả ệ ả ượ ị ặ ệ Di n tích b m n trên 4g/l hi n nay là 1.303 nghìn ha, s tăng ả ứ lên 1.493 nghìn ha ng v i k ch b n m c NBD 0,69m và 1.637 nghìn ả ha ng v i k ch b n m c NBD 1,00 m. ằ 2). Đ ng b ng sông H ng ệ T ng di n tích t ệ nhiên vùng đ ng b ng B c B kho ng 1,3 ả c b o
ệ ố
ủ Đ i v i tr
ậ ế ả ề ố ớ ườ ử ụ ấ
ư ộ ị ặ ổ ạ ướ c cho h ớ i m n 4‰
ưở ướ ể ả ặ ả ủ ng c a n
ư ớ ng m a l n nh t ắ ằ ộ
ầ
ể ẽ ấ ha đ i v i tr
c Bi n) và 650.000 ự ướ ệ ấ
ơ ớ ẽ
ế ượ ự ấ ộ t quá báo đ ng 3 m c n
ế
ơ ộ ừ ị ủ ưở ướ ự ể ả ằ ồ đ a hình toàn vùng đ ng b ng ư c bi n dâng nh ng c a m c n
ệ tri u ha, trong đó di n tích trong đê kho ng 1,15 tri u ha đ ể ệ ở ệ ố v b i h th ng đê sông và h th ng đê bi n. ế ưở ợ ng c a bi n đ i khí ng h p có tính đ n nh h ế ể ứ ồ t đ cung c p n h u, tuy đã s d ng các h ch a đi u ti ẫ ấ ậ du nh ng xâm nh p m n v n l n sâu vào n i đ a (ranh gi ử vào cách c a sông kho ng 2540km). ế ợ ượ ấ c bi n dâng k t h p l nh h ồ ủ ệ tăng thêm 25% do BĐKH, di n tích úng c a đ ng b ng B c B có ớ ườ ệ ợ ng h p tăng 0,69m (g n 1/4 di n tích th s là 550.000ha v i tr ợ ố ớ ườ ể ự ơ ng h p tăng th p h n m c n ướ ướ ự ể ầ c trong c Bi n); M c n 1,0m (g n 1/3 di n tích th p h n m c n ườ ả m và ng kho ng 0,5 1,0 các con sông s tăng cao so v i bình th ỉ ỉ ướ ầ c dâng x p x cao trình đ nh h u h t v đê. ả Trên k t qu tính toán s b t sông H ngồ Thái Bình, thì nh h sau:
ậ ế Tác đ ng c a BĐKH đ n tình hình ng p vùng ĐBSH B ng 3.
ị ắ ả ả K ch b n
ộ Cao độ (m) ệ ộ Di n tích trong đê (ha)
ủ ằ ồ Đ ng b ng B c B ệ Di n tích ngoài đê (ha)
1.432 24.136
ướ ể c bi n dâng lên thêm 0,69 m 2.013 157.781
18.576 37.030
ướ ể c bi n dâng lên thêm 1,0 m
ệ ạ Hi n t i Vùng ng p ậ < 1,5 hoàn toàn Vùng bán ng pậ < 1,5 ự M c n Vùng ng p ậ hoàn toàn < 0,8 Vùng bán ng pậ < 2,2 ự M c n Vùng ng p ậ < 1,5 24.136 114.645 263.319 157.781
23
hoàn toàn Vùng bán ng pậ < 2,5 43.433 321.998
ộ ả
ắ
ộ ậ c và xâm nh p m n:
ặ ấ ẽ
ử ể ế
ệ ề ể
ướ ẽ ậ ả
ợ ặ ư ậ ẽ ị ế ố ể ấ i do các c ng không th l y
ướ ặ ằ ồ 3). Đ ng b ng duyên h i Trung B ộ B c Trung b ướ ặ N c bi n ể ướ ố ớ ấ Tác đ ng đ i v i c p n ộ ị ạ ậ i các dâng cao s kéo theo xâm ng p m n l n sâu vào n i đ a t ặ vùng c a sông ven bi n n u không có các công trình ngăn m n thích c bi n dâng cao thêm 0,69 m và 1,0 m, v mùa ki h p. Khi n t biên ử m n 4‰ s xâm nh p sâu vào các c a sông kho ng 30 – 40 km. ướ ướ c t Nh v y nhi u vùng s b thi u n n
ậ ụ ướ ể
t do n ậ ể ứ ệ ớ ị c bi n dâng Di n tích ng p các vùng ven bi n ng v i hai k ch
ề c vì m n. ộ Tác đ ng ng p l ả B ng 4. ể ướ ồ ả b n n c bi n dâng TT Vùng đ ng b ng
ằ Di n tích ệ (ha) Ng pậ Tăng 1,0 m Bán ng pậ Ng pậ
Tăng 0,69 m Bán ng pậ 28.051 6.611 30.347 11.570 52.797
28.334 68.278 92.661
ị
114.816 37.295 24.963 ế 45.700 7.489 13.925
ộ 16.542 16.542 58.250 7.489 12.482 3.744 15.495 27.850 6.280 330.937 115.094 33.178 197.206 51.096
ố ớ ấ ướ ậ 1 Thanh Hoá ệ 2 Ngh An – Hà Tĩnh ả 3 Qu ng Bình ả 4 Qu ng Tr ừ 5 Th a Thiên Hu ổ T ng c ng Trung Trung bộ ộ Tác đ ng đ i v i c p n
ể ặ Khi n c bi n t biên m n 4‰ s xâm
ướ ẽ ề ễ ế ệ ặ ạ
ệ c và xâm nh p m n: ặ ệ ề dâng cao thêm 0,69 m và 1,0 m, v mùa ki ả ư ậ ử ậ nh p sâu vào các c a sông kho ng 30 – 40 km. Nh v y nhi u vùng ẽ ị ặ ấ ị ặ ướ ướ s b thi u n t vùng h du đ t b nhi m m n c t i do m n, đ c bi ả ế chi m kho ng 2428% di n tích.
ố
ệ ố ự ố ớ ướ ướ ự ể ở trình th y l Tác đ ng đ i v i phòng ch ng lũ và an toàn h th ng công c lũ c bi n dâng cao làm dâng cao m c n ộ ủ ợ M c n i:
24
ầ ử ự
c a sông). Các ế ừ ử ặ ế ầ
ư ậ ệ ầ
ướ ể
ể ứ ệ ớ ị
khu v c g n c a sông (trung bình 35 40 km tính t ề ệ ố sông mi n Trung h th ng đê bao h u h t ch a có, ho c n u có ỉ ươ ỉ ươ ng cao trình đ nh lũ. Do v y c n có bi n pháp cũng ch t ng đ ố ủ nâng cao trình và c ng c đê. ộ ậ ụ t do n Tác đ ng ng p l c bi n dâng ậ ả . Di n tích ng p các vùng ven bi n ng v i hai k ch B ng 5 ể ướ c bi n dâng
ả b n n T T Vùng đ ng ồ b ngằ ệ Di n tích (ha) Ng pậ Tăng 1,0 m Bán ng pậ Ng pậ
Tăng 0,69 m Bán ng pậ
50.000 14.000 6.000 18.000 10.000
25000 18.000 10.000 7.000 15.000 11.000 10.000 7.000
ộ ẵ 1 Đà N ng ả Qu ng Nam ả 2 Qu ng Ngãi 3 Bình Đ nhị 4 Phú Yên 5 Khánh Hoà T ng c ng 55.000 35.000 20.000 12.000 172.000 74.000 10.000 7.000 6.000 4.000 33.000 35.000 24.000 16.000 10.000 103.000 53.000
ổ
ể
ố ớ ố ồ ề ậ ơ
ố ớ ặ ả ị ầ i thành ph H Chí Minh, C n Th đang b ng p tri u ư H i Phòng, Trà Vinh, các thành ph l n nh : ng xuyên,
ề ở ạ
ủ ứ ộ
ị các ế ướ c bi n dâng (n u ề ể ậ ể ẽ ị ộ ố ầ ộ ố 4). M t s thành ph l n ven bi n ệ ạ Hi n t ườ n ng và th Vĩnh Long, Cà Mau cũng đang trong tình tr ng b ng p tri u ư m c đ khác nhau. Nh ng do tác đ ng c a n dâng 1m) thì h u hêt các thành ph khác ven bi n s b ngâp tri u.
Trường hợp mực nước biển dâng lên 0,69m sẽ làm cho toàn
bộ hệ thống công trình tiêu vùng ven biển bị hạn chế khả năng tiêu
thoát, khi đó, khả năng gia tăng mức độ ngập lụt trong thanh phố là
rất lớn. Khi mực nước biển dâng cao cũng làm cho mặn xâm nhập
sâu ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất. Hệ thống công trình tiêu
và các công trình chống lũ cần phải được nâng cấp sửa chữa cho
phù hợp với điều kiện mới.
25
3. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đời sống xã hội
Ở nước ta trong những năm gần đây, số lượng người mất nhà cửa và kinh tế lâm vào khó khăn sau mỗi trận bão, lũ lụt… là rất lớn. Mới đây, báo cáo của Uỷ ban liên quốc gia về BĐKH đã khẳng
định, BĐKH gây tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai như sóng nhiệt/nóng, bão, lũ lụt, hạn hán… nhiều bệnh, dịch gia tăng dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh sống, nhất là các bệnh truyền qua vật trung gian, như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, các bệnh đường ruột và các bệnh khác… Những bệnh này, đặc biệt phát tán nhanh ở các vùng kém phát triển, đông dân cư và có tỉ lệ đói, nghèo cao thuộc các nước đang phát triển. Nước ta, trong thời gian qua cũng đã xuất hiện một số bệnh mới ở người và động vật (cúm gia cầm, bệnh lợn tai xanh…), nhiều bệnh có diễn biến phức tạp và bất thường hơn (sốt xuất huyết) và gây ra nhiều thiệt hại đáng kể. Về giao thông vận tải, thông tin liên lạc bị gián đoạn, các cơ sở hạ tầng, mạng thông tin bị hư hại nghiêm trọng sau những trận thiên tai. Việc củng cố, khắc phục sau các sự cố do BĐKH gây ra hết sức khó khăn, tốn kém nhiều thời gian và kinh phí. Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Trong đó Việt Nam đã và đang phải đương đầu với những biểu hiện ngày càng gia tăng của những hiện tượng thời tiết này. Theo Thông báo quốc gia lần thứ 2 của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Kể từ năm 1958 đến năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng 0,5-0,7 độ C. Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam. Cụ thể như năm 2007, nhiệt độ trung bình cả năm tại Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931-1940 là 0,8-1,3 độ C; cao hơn thập kỷ 1990-2000 là 0,4-0,5 độ C.
Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trên lãnh thổ nước ta không rõ rệt theo các thời kỳ và các vùng khác nhau. Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và
26
tăng ở các vùng khí hậu phía Nam . Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa trong 50 năm qua đã giảm khoảng 2%. Tuy vậy, biến đổi lượng mưa có xu hướng cực đoan, đó là tăng trong mùa mưa và giảm mạnh trong mùa khô. Bên cạnh đó, số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam cũng giảm rõ rệt trong 2 thập kỷ qua. Các biểu hiện thời tiết dị thường xuất hiện ngày càng nhiều.
Đặc biệt, do tác động của biến đổi khí hậu, trong khoảng 5-6
thập kỷ gần đây, tần số xoáy thuận nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông tăng lên với tốc độ 0,4 cơn mỗi thập kỷ; tần số xoáy thuận nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam tăng với tốc độ 0,2 cơn mỗi thập kỷ và có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn. Quỹ đạo của bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía Nam và mùa mưa bão kết thúc muộn hơn. Nhiều cơn bão có đường đi bất thường và không theo quy luật..
Một biểu hiện đáng lo ngại nữa của biến đổi khí hậu là mực
nước biển dâng đã và đang gây ngập lụt trên diện rộng, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai. Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam cho thấy, tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình hiện nay là 3mm/năm, tương đương với tốc độ tăng trung bình trên thế giới. Trong 50 năm qua, mực nước biển tại Trạm Hải văn Hòn Dáu tăng lên khoảng 20cm.
Hiện tại, biến đổi khí hậu chưa thể nhìn thấy ngay, nhưng có thể chúng ta thấy đươc rằng tác động của nó như thiên tai biến đổi, bão tố, lũ quét đang xảy ra đang tạo ra nhiều mối đe doạ.
Trước mắt, chúng ta phải trồng rừng, bảo vệ rừng, làm tốt việc bảo vệ môi trường, hành động cụ thể góp phần có những đóng góp cho biến đổi khí hậu Việt Nam. Để thích ứng với biến đổi khí hậu, Việt Nam cần rất nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học. Việc thành lập hệ thống các tổ chức dân sự đối phó với sự biến đổi khí hậu với đời sống nhân Nam là rất cần thiết, bổ sung góp sức cùng Chính phủ trong vấn đề biến đổi khí hậu
4. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp Việt Nam
Sự gia tăng nhiệt độ khí quyển làm cho khí hậu các vùng ở nước ta nóng lên, kết hợp với sự suy giảm lượng mưa làm cho nhiều
27
khu vực khô hạn hơn. Hàng năm, nhiệt độ có khả năng tăng khoảng 0,3 - 0,5 0C và mực nước biển tăng thêm 9cm; dự báo sẽ tăng từ 1,1 - 1,8 0C và 45 cm vào năm 2100. Những khu vực có nhiệt độ tăng cao nhất là vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1 - 0,3 0C /thập niên. So với hiện nay, vào năm 2070, dòng chảy sông/năm biến đổi trong khoảng từ +5,8 đến -19% đối với sông Hồng và từ +4,2 đến -14,5% đối với sông Mê Kông; dòng chảy kiệt biến đổi trong khoảng từ -10,3 đến -14,5% đối với sông Hồng và từ -2,0 đến -24,0% đối với sông Mê Kông; dòng chảy lũ biến đổi trong khoảng từ +12,0 đến 0,5% đối với sông Hồng và từ +15,0 đến 7,0% đối với sông Mê Kông. Xâm nhập mặn nước sông có thể lấn sâu nội địa tới 50 - 70km, tiêu diệt và phá huỷ nhiều loài sinh vật nước ngọt, 36 khu bảo tồn; trong đó, có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong diện tích bị ngập. Hệ thống sinh thái cũng bị tác động tiêu cực; tại 2 vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, các hệ sinh thái rừng và đất ven biển sẽ chịu nhiều thiệt hại.
1. Đối với nông nghiệp Nông nghiệp Việt Nam là một trong 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng. Theo tính toán của các chuyên gia nghiên cứu BĐKH, đến năm 2100, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 300C và mực nước biển có thể dâng 1m. Theo đó, khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập. Theo dự đoán của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), các tác động trên sẽ gây thiệt hại rất lớn về kinh tế và khiến khoảng 17 triệu người không có nhà. Theo nghiên cứu của ngân hàng thế giới (WB), Nước ta với bờ biến dài và hai vùng đồng bằng lớn, khi mực nước biển dâng cao từ 0,2 - 0,6m sẽ có từ 100.000 đến 200.000ha đất bị ngập và làm thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Nước biển dâng lên 1m sẽ làm ngập khoảng 0,3 - 0,5 triệu ha tại Đồng bắng sông Hồng (ĐBSH) và những năm lũ lớn khoảng 90% diện tích của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bị ngập từ 4 - 5 tháng, vào mùa khô khoảng trên 70% diện tích bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l. Ước tính Việt Nam sẽ mất đi khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng số 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực Quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân. Biến đổi khí hậu làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài sinh vật, dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài và ngược lại làm xuất hiện nguy cơ gia tăng các loài
28
“thiên địch”. Trong thời gian 2 năm trở lại đây, dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá ở ĐBSCL diễn ra ngày càng phức tạp ảnh hưởng đến khả năng thâm canh tăng vụ và làm giảm sản lượng lúa. ở miền Bắc trong vụ Đông Xuân vừa qua sâu quấn lá nhỏ cũng đã phát sinh thành dịch, thời cao điểm diện tích lúa bị hại đã lên đến 400.000ha, gây thiệt hại đáng kể đến năng suất và làm tăng chi phí sản xuất. Biến đổi khí hậu có thể tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc mùa, quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái tài nguyên đất, đa dạng sinh học bị đe dọa, suy giảm về số lượng và chất lượng do ngập nước và do khô hạn, tăng thêm nguy cơ diệt củng của động vật, làm biến mất các nguồn gen quý hiếm. Một số loài nuôi có thể bị tác động làm giảm sức đề kháng do biên độ dao động của nhiệt độ, độ ẩm và các yếu tố ngoại cảnh khác tăng lên. Sự thay đổi các yếu tố khí hậu và thời tiết có thể làm nảy sinh một số bệnh mới đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy cầm và phát triển thành dịch hay đại dịch.
Biến đổi khí hậu là vấn đề rất lớn đối với Việt Nam, nhiều tổ
chức quốc tế và các tổ chức nghiên cứu trong nước đều nhận định, nước ta là một trong số ít các nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu. Trong đó, ngành nông nghiệp và PTNT và bà con nông dân là những đối tượng bị ảnh hưởng sớm nhất và nặng nề nhất. Vì vậy, việc nghiên cứu và thực hiện các biện pháp để thích ứng và đối phó có hiệu quả hơn với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ quan trọng của cơ quan chuyên môn. Thời gian qua, ngành nông nghiệp đã triển khai nhiều biện pháp để đối phó với tình trạng này. Sau khi đi dự Hội nghị Biến đổi khí hậu thế giới ở Mêhicô cuối năm 2010, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát cho biết, vấn đề biến đổi khí hậu được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Họ đang nỗ lực để tìm ra tiếng nói chung và những giải pháp mạnh mẽ nhằm ngăn chặn và giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu cũng như giúp các nước thích ứng với biến đổi khí hậu. Riêng Việt Nam đã tham gia vào các cuộc đàm phán song phương, đa phương, đồng thời tham gia vào những cam kết chung của cộng đồng quốc tế. Trong đó, Việt Nam đã cam kết với Liên hợp quốc về bảo vệ và phát triển rừng, giảm thiểu 30% lượng phát thải, qua đó giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
2. Đối với Lâm nghiệp Lâm nghiệp Việt Nam có đa dạng sinh học (ĐDSH) cao, các hệ
sinh thái (HST) phong phú. Tuy nhiên trong thời gian qua, do những
29
nguyên nhân khác nhau mà ĐDSH và các HST, đặc biệt là các HST rừng có ĐDSH cao bị suy thoái trầm trọng. Nước biển dâng lên làm giảm diện tích rừng ngập mặn ven biển tác động xấu đến hệ sinh thái rừng tràm và rừng trồng trên đất nhiễm phèn ở ĐBSCL. Trong những năm gần đây, tuy rừng có tăng lên về diện tích nhưng tỷ lệ rừng nguyên sinh vẫn chỉ khoảng 8%. Nhiệt độ và lượng bốc hơi tăng cùng với hạn hán kéo dài sẽ làm thay đổi sự phân bố và khả năng sinh trưởng của các loài thực vật và động vật rừng. Nhiều loài cây nhiệt đới ưa sáng sẽ di cư lên các vĩ độ cao hơn và các loài cây á nhiệt đới sẽ mất dần. Số lượng quần thể các loài động thực vật quý hiếm sẽ ngày càng suy kiệt và nguy cơ tiệt chủng tăng. Nhiệt độ tăng và hạn hán kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ cháy rừng, nhất là các rừng trên đất than bùn, vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa tăng lượng phát thải khí nhà kính, làm gia tăng BĐKH và tạo điều kiện cho một số loài sâu bệnh hại rừng phát triển. BĐKH làm thay đổi số lượng và chất lượng hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học. Chức năng và dịch vụ môi trường (điều tiết nguồn nước, điều hòa khí hậu, chống xói mòn …) và kinh tế của rừng bị suy giảm. Nước biển dâng và hạn hán làm giảm năng suất và diện tích cây trồng dẫn tới nhu cầu chuyển đổi rừng sang đất sản xuất nông nghiệp và khai thác thủy sản tăng cũng như nhu cầu di cư lên vùng cao, làm gia tăng nạn phá rừng.
3. Đối với Thủy sản Thủy sản Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất do biến đổi khí hậu.
Biến đổi khí hậu ước tính đã làm thiệt hại 5% GDP của Việt Nam, tương đương với 15 tỉ USD mỗi năm. Trong đó, ngành thủy sản Việt Nam có tổng thiệt hại do biến đổi khí hậu lớn nhất so với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Thủy sản nước mặn lấn sâu vào nội địa, làm mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thủy sản nước ngọt; Rừng ngập mặn hiện có bị thu hẹp ảnh hưởng đến nơi cư trú của một số loài thủy sản; khả năng cố định chất hữu cơ của HST rong biển giảm dẫn đến giảm nguồn cung cấp sản phẩm quang hợp và chất dinh dưỡng cho sinh vật đáy. Do đó chất lượng môi trường sống của nhiều loài thủy sản xấu đị. Nhiệt độ tăng gây ra hiện tượng phân tầng nhiệt độ rõ rệt trong thủy vực, ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của sinh vật. Quá trình quang hóa và phân hủy chất hữu cơ nhanh hơn ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của sinh vật. Các sinh vật tiêu tốn nhiều năng lượng hơn cho quá trình hô hấp cũng như các hoạt động sống khác làm giảm năng suất và chất lượng thủy sản. Suy thoái và phá hủy các rạn
30
san hô, thay đổi các quá trình sinh lý, sinh hóa diễn ra trong mối quan hệ cộng sinh giữa san hô và tảo. Cường độ và lượng mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong một thời gian dài dẫn đến sinh vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (ngêu, sò ..) bị chết hàng loạt do không chịu nỗi lượng muối thay đổi. Đối với nguồn lợi hải sản và nghề cá, nước biển dâng làm cho chế độ thủy lý, thủy hóa và thủy sinh xấu đi. Kết quả là các quần xã hiện hữu thay đổi cấu trúc và thành phần, trữ lượng giảm sút. Nhiệt độ tăng làm cho nguồn hải sản, thủy sản phân tán. Các loài cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao bị giảm đi hoặc mất hẳn. Cá ở các rạn san hô đa phần bị tiêu diệt. Các loài thực vật nổi, mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn cho động vật nổi, bị hủy diệt làm giảm mạnh động vật nổi. Do đó làm giảm nguồn thức ăn cho động vật tầng giữa và tầng trên.
4. Đối với Diêm nghiệp Mực nước biển gia tăng làm cho diện tích và cơ sở hạ tầng sản
xuất muối bị ảnh hưởng. Đồng thời với những trận mưa lớn hơn có cường độ cao hơn cũng ảnh hưởng đến sản xuất muối. 5. Thuỷ lợi, cấp thoát nước thành thị và nông thôn An toàn của các hồ chứa bị đe doạ do có sự phân bố lại lượng
nước mưa theo không gian và thời gian đã có nhiều thay đổi so với thiết kế ban đầu, đó là xuất hiện vùng mưa rất lớn, vùng ít mưa; thời gian mưa tập trung trong thời gian ngắn, hạn hán kéo dài; tần suất xuất hiện nhiều hơn, phức tạp hơn, cường độ manh hơn.
Mực nước biển dâng làm hệ thống đê biển hiện tại có nguy cơ
tràn và vỡ đê ngay cả khi không có các trận bão lớn. Ngoài ra, do mực nước biển dâng cao làm chế độ dòng chảy ven bờ thay đổi gây xói lở bờ. Đối với hệ thống đê sông, đê bao và bờ bao, mực nước biển dâng cao làm cho khả năng tiêu thoát nước ra biển giảm, kéo theo mực nước các con sông dâng lên, kết hợp với sự gia tăng dòng chảy lũ từ thượng nguồn sẽ làm cho đỉnh lũ tăng thêm, uy hiếp sự an toàn của các tuyến đê sông ở các tỉnh phía Bắc, đê bao và bờ bao ở các tỉnh phía Nam.
Các công trình tiêu nước vùng ven biển hiện nay hầu hết đều là
các hệ thống tiêu tự chảy; khi mực nước biển dâng lên, việc tiêu tự chảy sẽ hết sức khó khăn, diện tích và thời gian ngập úng tăng lên tại nhiều khu vực. Nước biển dâng làm mặn xâm nhập sâu vào nội địa, các cống hạ lưu ven sông sẽ không có khả năng lấy nước ngọt vào đồng ruộng. Các thành phố ven biển bị ngập úng do triều như: TP. Hồ Chí
31
Minh, Cần Thơ, Cà Mau, Hải Phòng, Trà Vinh. Khu vực thấp ven biển bị ngập triều gây mặn nặng như: Bến tre, Cà Mau. Chế độ dòng chảy sông suối thay đổi theo hướng bất lợi, các công trình thuỷ lợi sẽ hoạt động trong điều kiện khác với thiết kế, làm cho năng lực phục vụ của công trình giảm.
Cùng với sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, dòng chảy lũ đến các công trình sẽ tăng lên đột biến, nhiều khi vượt quá thông số thiết kế làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới an toàn của các hồ đập, sẽ ảnh hưởng lớn đến tài nguyên nước, dòng chảy năm biến động từ +4% đến -19%; lưu lượng đỉnh lũ, độ bốc thoát hơi đều tăng, lũ lụt và hạn hán sẽ tăng lên và mức độ ngày càng trầm trọng hơn. Lũ quét và sạt lở đất sẽ xảy ra nhiều hơn và bất thường hơn. Do chế độ mưa thay đổi cùng với qúa trình đô thị hoá và công nghiệp hoá dẫn đến nhu cầu tiêu nước gia tăng đột biến, nhiều hệ thống thuỷ lợi không đáp ứng được yêu cầu tiêu, yêu cầu cấp nước
Phần III. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng nguồn cung lương
thực
ấ ề ứ ứ ổ ế ả
ầ ấ ươ ồ ả ắ ậ R t nhi u nghiên c u đã ch ng minh kh năng bi n đ i khí h u ự Tuy nhiên
ứ ữ
ầ ớ ệ ộ ế ễ ặ toàn c u làm c t gi m các ngu n cung c p l ph n l n nh ng nghiên c u này đã b qua các t nhi ỏ ệ t đ và ô nhi m không khí – đ c bi ng th c. ữ ng tác gi a gia tăng ượ t là , đ c bi t là ươ ễ ô nhi m ozone
ệ ạ gây thi t h i cho mùa màng.
ộ ớ ứ ứ ế ừ
ệ
ố ươ ể ấ ọ
ư ả ườ
ế ấ ể
ệ ồ MIT (Vi n công M t nghiên c u m i bao g m các nhà nghiên c u đ n t ứ ngh Massachusetts Massachusetts Institute of Technology) đã ch ng ữ ữ minh nh ng m i t ng tác nói trên có th khá quan tr ng, cho th y nh ng ễ ầ ế ố ấ ầ : m lên toàn c u và ô nhi m i làm chính sách c n đ a c hai y u t ng ươ ề ả không khí vào đ tính toán khi tìm cách gi ng i quy t v n đ an ninh l th c.ự
ạ ế ả ượ t s n l
ứ ự ầ ồ
ầ ậ ươ ng th c hàng đ u g m: lúa g o, lúa mì, ngô và đ u t ầ ụ ủ ườ ứ Nghiên c u này đã xem xét chi ti ạ ươ l ộ ử ượ m t n a l ủ ng toàn c u c a 4 lo i cây ơ ế ng – chi m h n ự i trên toàn c u. Nghiên c u d ng calo tiêu th c a con ng
32
ẽ ưở
ự ạ ớ
ổ ấ ị ạ ộ ơ ụ ặ ộ ở
ạ ị ạ ả
ề ể ữ ả ng s thay đ i r t đáng k gi a các vùng khác nhau, và đoán các nh h ươ ơ ộ ố ạ ạ ươ m t s lo i cây l ng th c b tác đ ng m nh h n so v i lo i cây l ng ế ố ị ự khác: Ví d , lúa mì th c khác ho c b tác đ ng m nh h n b i các y u t ớ ế ấ ợ ộ ấ r t nh y c m v i ti p xúc ozone, trong khi đó ngô l i b tác đ ng b t l i ệ ộ ơ nhi u h n do nhi t đ .
ở ệ ứ ượ ư ề ỹ ộ
ự ụ ng và dân d ng (civil and environmental engineering (CEE)) t
ế
ạ ườ i tr ạ ượ ả ậ c th c hi n b i Colette Heald, m t giáo s v K thu t ạ i ạ ng đ i trên t p chí Nature c mô t
Nghiên c u đ ườ môi tr ủ ự MIT, c u ti n sĩ Amos Tai c a CEE và Maria van Martin t ứ ủ ọ ọ h c bang Colorado. Nghiên c u c a h đã đ Climate Change.
ằ ề ệ ộ Heald gi i thích r ng, trong khi chúng ta đ u đã bi ế ả nhi
ể ả ễ ọ ớ
này cùng lúc”
ậ ượ ủ ộ ộ t đ tăng đ
t c ồ ụ, “không ai đã xem xét c hai y u t ế ố ả ệ ộ ượ ớ ơ t đ cao h n ả ả i các cây tr ng và làm gi m s n ả . Và ấ c th o lu n r ng rãi thì tác đ ng c a ch t ơ
ng không khí t ứ ậ c công nh n h n. ộ i mùa màng ít đ ằ ự
ề ấ ượ ạ ỹ ị ng không khí ch t ch h n d đoán s
ặ ả ễ
ộ ự ả ớ ư ạ ể ẽ ơ ự ộ ẹ ả “s phẽ ậ i các khu v c khác, h u qu ụ i mùa v . Nh ng t
ễ
ệ ả ượ ể ả và ô nhi m ozone có th gây đe d a t ượ l ng mùa v trong khi nhi ượ l Nghiên c u nói trên d đoán r ng các tác đ ng có th khác nhau theo ẽ vùng. T i M , quy đ nh v ch t l ủ ẫ ớ i m t s gi m rõ nét trong ô nhi m ozone, gi m nh tác đ ng c a ô d n t ụ ễ ự nhi m ozone t ộ ộ , Heald nói. “S làmự ộ thu c vào các chính sách ô nhi m không khí n i b ” ạ s ch không khí có th c i thi n s n l ng mùa màng”.
33
ớ ệ ứ ữ
ả ấ ể t ụ ấ ầ Nghiên c u đã phát hi n th y, nhìn chung, cùng v i nh ng nhân t ươ đ
ng khác, ầ ưở ả . Tuy nhiên các nh h
ứ ạ ươ ự
ở ươ ữ ạ
ễ ạ ề ố ươ ng ấ m lên toàn c u có th làm gi m năng su t mùa v trên ủ ả ng c a ô ộ ị ng th c b tác đ ng ự ng th c khác – ộ ễ ềki m soát ô nhi m đóng m t vai trò
ệ
ộ ố ạ ớ ể ậ ể ị ể ấ ễ ữ ị ệ t
cũng có th r t khó đ xác đ nh, Heald nói, vì nh ng thi ẫ ệ ậ ớ ị t khác trên
ầ ạ ữ ồ toàn c u kho ng 10% vào năm 2050 ơ nhi m ozone là ph c t p h n – m t s lo i cây l ễ ơ m nh b i ô nhi m ozone h n so v i nh ng lo i cây l ấ đi u này cho th y các đánh giá v quan tr ngọ trong vi c xác đ nh các h u qu . ả Ô nhi m ozone ể ễ ạ h i do nó gây ra có th d dàng b nh m l n v i các b nh t ố cây tr ng, gây ra nh ng đ m trên lá và b c màu lá.
ạ ề ụ ấ ủ
ầ ượ ự c d đoán s tăng g p đôi vào năm 2050, các tác gi
ả ự ủ ế
ấ ấ ướ ấ ứ ự ổ ả ậ
t, đó là do gia tăng dân s và xu h ế ớ ố i đang phát tri n. Vì v y b t c s suy gi m s n l ủ ị ế ộ ả ượ ấ ể ầ ườ ớ
ươ ệ ố ầ ươ ng ả ố ng thay đ i ch đ ăn u ng ng nào i là tăng năng su t thông ư ở ng pháp canh tác cũng nh m
ả ệ ọ ấ Gi m ti m năng năng su t c a mùa v là r t đáng lo ng i. Nhu c u l ẽ th c c a toàn c u đ ố cho bi trong th gi cũng là đ i ng ch v i nhu c u chung c a con ng ồ qua ch n gi ng cây tr ng, c i thi n ph ộ r ng đ t canh tác nông nghi p.
34
ỗ ố ề ọ ớ ệ ộ
t đ và ozone, m i nhân t ươ ố ụ này cũng t
ả ộ ậ ơ
ơ
ơ ướ i ánh sáng m t tr i. Vì nh ng t d ệ ứ
đ u đe d a t ớ ng tác v i nhau. Ví d , nhi ủ ả ứ ờ ặ ệ ạ ớ t h i t ệ ộ i năng su t đ u t ấ ạ ướ ủ c đây là do đóng góp c a nhi ự t đ , th c ch t l
ộ ồ i cây tr ng m t Trong khi nhi ệ ộ cách đ c l p thì hai nhân t t đ ợ ấ ữ ơ cao h n gây tăng s n sinh ozone do các ph n ng c a các h p ch t h u c ữ ươ ễ ng tác d bay h i và các oxit nit ấ ậ ươ ng này, nhóm nghiên c u đã phát hi n 46% thi ả đã x y ra tr i là do gia tăng ozone.
ứ ệ ậ ấ
ớ
ả ể ạ ậ ộ ố ị ễ ế ộ ế ụ ả ươ ả ượ ổ
ộ ị ả
ự ế ỷ ệ ng l ả ố ứ ả ấ ả ể Theo m t s k ch b n, các nhà nghiên c u nh n th y các bi n pháp ki m ấ ự soát ô nhi m có th t o ra m t v t lõm l n trong suy gi m năng xu t d ầ ự ng th c toàn c u báo do bi n đ i khí h u. Ví d , trong khi s n l ộ ị ả ố ượ c d đoán gi m xu ng 15% trong m t k ch b n, trong m t k ch b n đ ơ này là 9% khi gi m m c phát th i xu ng th p h n. thay th , t l
ơ ọ ậ ễ ể ệ
ưỡ ế ớ ứ ể ng trong th gi
ấ ấ ượ ả ơ ị ng không khí x u h n, t
ỷ ệ l ộ ị ể
ứ ộ ẫ ẽ
ỉ ệ ớ ị ưỡ ướ ả ạ Ô nhi m không khí th m chí còn quan tr ng h n khi th hi n tình tr ng i đang phát tri n, các nhà nghiên c u phát suy dinh d ấ ệ suy dinh hi n th y: Theo k ch b n ch t l ả ưỡ ng có th tăng 18 27% vào năm 2050; trong khi đó theo m t k ch b n d ỉ ư ơ ạ ng v n s tăng, nh ng m c đ tăng ch suy dinh d l c quan h n thì t l ộ ử ằ b ng m t n a so v i k ch b n tr c đó.
ả ấ ệ ấ ễ ạ ả
ọ ủ ấ ầ ớ S n xu t nông nghi p là “r t nh y c m v i ô nhi m ozone” ệ
ẩ ệ ề ủ ữ ộ , Heald cho ệ ẩ
ớ ng không khí. Chúng ta đã hi u
ướ ế ự ệ t thêm, nh ng phát hi n này cho th y t m quan tr ng c a vi c suy nghĩ ấ i nông nghi p c a các tiêu chu n, quy chu n v ch t ể ozone là m t nguyên nhân gây gi m ộ ả ể ả ả ầ c ti p theo c n ph i th c hi n đ c i
ườ ề ậ ấ ng và các v n đ qu c t
ứ ạ ọ i Đ i h c Princeton, ng
ự ể ệ ộ ế bi ề v các tác đ ng t ượ l ươ ả ượ ự ng l s n l ng th c, và b ấ ượ ệ ng không khí. thi n ch t l Denise L. Mauzerall, giáo s k thu t môi tr ạ t nói: "M t phát hi n quan tr ng, đó là
ươ ự ả
ộ
ư ỹ ườ ọ s ệ ả ượ ng l ầ ộ ắ ườ ể ự ậ ổ ế ố ế i không tham gia vào nghiên c u này, ễ ứ ộ ki m soát m c đ ô nhi m ệ ả ng th c và c i thi n các ệ ạ ề ả ượ t h i v s n l ng do ồ ử ụ ng s d ng các ngu n năng , do đó, tăng c không khí có th giúp c i thi n s n l tác đ ng tiêu c c giúp bù đ p m t ph n thi bi n đ i khí h u gây ra
35
ặ ạ ượ ấ
ễ ả ổ ế ả ư ử ụ ụ
ượ ự ợ ấ ươ ẽ ặ ờ ng m t tr i, s có l
ầ ổ ng s ch không phát th i ho c ít phát th i ra khí nhà kính, các ch t gây ng gió và năng ầ ng th c toàn c u, khi ộ ồ ặ
ề ặ l ô nhi m không khí ph bi n, ví d nh s d ng năng l ượ i g p đôi cho an ninh l l ậ ế chúng không góp ph n làm tăng bi n đ i khí h u ho c làm tăng n ng đ ozone b m t".
Phần IV. Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến nông nghiệp và một số giải pháp khắc phục Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc( FAO) hiện nay nhiệt độ trái đất tăng bình quân hàng năm là 0,5OC, mà theo các nhà khoa học cho biết nếu nhiệt độ tăng 1OC thì sản lượng lương thực sẽ giảm đi tương đương 10%. FAO cũng cho rằng Việt Nam nói chung và Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long - vựa lúa của cả nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu gây ra; trong đó Bạc Liêu là 1 trong 3 tỉnh bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất. Trong thời gian không xa một diện tích đất nông nghiệp khá lớn sẽ bị nhấn chìm bởi nước biển dâng. Biến đổi khí hậu hàng ngày, hàng giờ đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Nó đã thể hiện ngay trước mắt chúng ta, như hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh một số Quận ngoại thành nước triều dâng đã gây ngập úng cục bộ nhiều vùng dân cư gây nhiều khó khăn cho người dân, chẳng khác nào sống trong vùng lũ lụt. Hiện tượng El Nino đã làm cho các tỉnh Miền Bắc bị hạn hán kéo dài, miền Nam và Tây nguyên mùa khô đến sớm và không có mưa nghịch mùa như những năm trước, mùa mưa đến chậm hơn 1 tháng và lượng mưa phân phối không đều giữa các vùng làm cho cây trồng, vật nuôi phát triển kém, dịch bệnh nhiều hơn. Nhiều loại hoa chỉ nở về mùa hè nay do nhiệt độ cao lại nở rực rỡ ngay đầu xuân như Bằng Lăng, Phượng Hồng, Hoàng Hậu, Diệp vàng vv... Có lẽ biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất đến an ninh lương thực, do dân số tăng nhanh, trong khi một diện tích đất nông nghiệp sẽ bị giảm đi do: đô thị hóa, nhà ở nông thôn tăng, công nghiệp phát triển chiếm khá lớn đất và lớn nhất là một diện tích đất trồng lúa sẽ bị nhấn chìm do nước biển dâng cao. Như vậy ngay từ bây giờ chúng ta cần phải thực hiện đồng bộ nhiều
36
giải pháp:
1- Trước hết là giải pháp về thủy lợi: Chính phủ đã và đang đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để xây dựng và nâng cấp hệ thống đê biển và hệ thống cống ngăn mặn ven theo bờ biển các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Hà Tiên, hệ thống cống đập ngăn mặn nội đồng thuộc các tỉnh bị ảnh hưởng bởi nước mặn. Thành lập và củng cố Ban điều tiết nước của Khu vực và của các tỉnh để điều tiết việc đóng mở các cống liên huyện, liên tỉnh để vừa đảm bảo có đủ nước mặn cho nuôi trồng thủy sản, lại không ảnh hưởng đến vùng ngọt đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp được an toàn. Xây dựng các đê bao khép kín để bảo vệ các khu dân cư, các vùng trồng cây ăn trái, trồng rau màu không những chống xâm nhập mặn mà còn phòng tránh lũ, lụt vv...
2- Giải pháp qui hoạch giữ đất trồng lúa: Hiện nay dự thảo Nghị định quản lý đất trồng lúa đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Thủ Tướng Chính phủ sắp được ban hành.Tuy nhiên những năm gần đây Chính phủ cũng như các địa phương đã có một số chính sách giữ đất trồng lúa bởi vì: an ninh lương thực do chủ yếu 2 yếu tố quyết định là Dân số + Đất trồng lúa. Nếu diện tích đất trồng lúa và năng suất, sản lượng lương thực như hiện nay mà tốc độ tăng dân số không giảm thì tương lai không xa nước ta không còn gạo dư thừa để xuất khẩu. Giữ đất trồng lúa trước hết là kiên quyết không sử dụng đất trồng lúa để làm khu công nghiệp hay sân Golf mà nên sử dụng vùng đất cát bạc màu, hay dùng đất nuôi trồng thủy sản kém hiệu quả cho mục đích này. Đồng thời có chính sách để người trồng lúa có lợi nhuận trên 30% như chỉ đạo của Chính phủ và làm giàu bằng nghề sản xuất lúa thì người trồng lúa sẽ giữ được đất lúa.
3- Giải pháp chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi: Tiếp tục nghiên
cứu, chọn tạo các giống cây trồng có khả năng chịu mặn, chịu hạn, chịu ngập úng, có sức đề kháng sâu bệnh cao; kể cả cây trồng biến đổi gen làm thức ăn chăn nuôi hay cây công nghiệp ngắn ngày như: Đậu tương, ngô, bông vải. Lai tạo, gây giống vật nuôi có khả năng chịu nóng, có sức đề kháng cao với dịch bệnh, những giống thủy sản chịu mặn, những giống vật nuôi sử dụng thức ăn là phế phụ phẩm thủy hải sản hay phế phụ phẩm từ lương thực để không cạnh tranh lương thực với con người như: động vật ăn cỏ, ăn rơm như trâu, bò, ngựa, dê, cừu, đà điểu; những loài thủy cầm và những loài động vật hoang dã như: rùa, ba ba, cá sấu, trăn, rắn, kỳ đà, nhím. Xây dựng và chuyển giao những cây lương thực có củ như khoai môn, khoai mỡ, khoai chuối , khoai mì vv...
4- Giải pháp về mùa vụ: Đối với lúa giảm diện tích vụ Xuân Hè
37
(hay còn gọi là Hè Thu sớm) vì đây là vụ lúa dễ lưu truyền mầm mống sâu bệnh cho vụ Hè Thu. Chuyển đổi những cây sử dụng nhiều nước qua trồng các cây trồng cạn, sử dụng ít nước và có khả năng chịu hạn hay chịu ngập úng.
5- Giải pháp kỹ thuật: Ngoài việc nghiên cứu chọn tạo các giống cây trồng vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu như trên, các quy trình kỹ thuật cũng cần phải được thay đổi hay cải tiến, hoàn thiện nâng cao hiệu quả và tính bền vững của mô hình sản xuất. Chẳng hạn qui trình tưới nước tiết kiệm đối với cây trồng, qui trình chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, qui trình tiết kiệm điện năng trong sưởi ấm gia súc, gia cầm non; tiết kiệm nước trong vệ sinh chuồng trại chăn nuôi; tận dụng phần gia súc, gia cầm để tạo khí sinh học làm chất đốt hay chạy máy phát điện công suất nhỏ phục vụ lại chăn nuôi. Chuyển nuôi thủy sản trong ao, vuông sang dạng nuôi lồng bè hay đăng quần để thích ứng với nước biển dâng cao vv..Nghiên cứu trồng các cây rau, màu trên bờ líp vuông tôm (trong mùa mưa) để làm thức ăn chăn nuôi. Mở rộng, hoàn thiện mô hình Lúa – Tôm sú, Lúa – Tôm càng xanh; đa dạng hóa các loài thủy sản. Nghiên cứu trồng các cây chịu mặn, cây thủy sinh trong vuông tôm như cây Lăn Tượng (Hến biển) để vừa cải tạo môi trường vuông nuôi tôm, vừa có thêm nguyên liệu chế biến hàng thủ công mỹ nghệ. Nghiên cứu chế biến rơm, rạ, Lăn Tượng, thân cây bắp, thân lá các cây họ đậu bằng cách nghiền nhỏ, đóng bánh dự trữ làm thức ăn cho gia súc nhai lại trong mùa khô thiếu cỏ vv.... Như vậy có thể nói biến đổi khí hậu đã và sẽ gây ra vô vàn hiểm họa, tuy nhiên nếu chúng ta với khoa học kỹ thuật hiện đại và sự chỉ đạo kiên quyết của các cấp, các ngành và sự hưởng ứng tích cực của mọi tầng lớp nhân dân thì các hậu quả xấu do biến đổi khí hậu gây ra sẽ được khống chế và giảm thiểu rủi ro một cách có ý nghĩa và cuộc sống của chúng ta vẫn được bình yên.
38