24
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Tài chính xanh và quá trình chuyển đổi bền vững
của doanh nghiệp vừa và nhỏ: Kinh nghiệm quốc tế
và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Ngày nhận: 16/07/2025 Ngày nhận bản sửa: 03/09/2025 Ngày duyệt đăng: 26/10/2025
Tóm tắt: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu cạn kiệt tài nguyên đang gây ra
những tác động tiêu cực đến môi trường hội, nhiều quốc gia đã triển
khai các chế tài chính xanh như một giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vừa
nhỏ chuyển đổi sang hình kinh doanh bền vững, giảm phát thải sử
dụng hiệu quả tài nguyên. Bài viết này hệ thống hóa các quan điểm lý luận về
tài chính xanh và quá trình chuyển đổi bền vững của doanh nghiệp, đồng thời
phân tích hình hóa chế tác động đa chiều của tài chính xanh bao
gồm cả tác động trực tiếp gián tiếp. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích
tài liệu thứ cấp với các nghiên cứu thực chứng các báo cáo từ các nguồn
đáng tin cậy như Liên minh châu Âu, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ Nhật Bản.
Từ kết quả phân tích, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách cho Việt Nam: (i)
Green finance and the sustainable transition of small and medium-sized enterprises:
International experiences and policy implications for Viet Nam
Abstract: As climate change and resource depletion continue to cause serious environmental and social
impacts, many countries have introduced green finance as a solution to help small and medium-sized
enterprises (SMEs) shift toward sustainable business models, reduce emissions, and use resources more
efficiently. This paper reviews key theories related to green finance and the sustainable transition of
businesses. It also analyzes and builds a framework to explain how green finance influences SMEs, both
directly and indirectly. The study uses a literature-based approach and develops a multi-dimensional
analytical model using case studies from the European Union, the United Kingdom, the United States, and
Japan. Based on this analysis, the paper proposes several policy recommendations for Vietnam, including
improving legal frameworks and green finance standards for SMEs, creating more diverse and flexible
financial tools, building technical support systems and digital platforms to help businesses meet ESG
standards, and strengthening the role of financial intermediaries in connecting green capital with SMEs.
Keywords: Green finance, Sustainable transition, Small and medium-sized enterprises, Policy
Doi: 10.59276/JELB.2025.11.3029
Trinh Minh Ngoc
Email: minhngocc1709@gmail.com
Organization: Missouri State University, United States
Trịnh Minh Ngọc
Missouri State University, Hoa K
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
TRỊNH MINH NGỌC
25
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
1. Giới thiệu
Trong thập niên qua, thế giới đối mặt nhiều
thách thức môi trường từ biến đổi khí hậu,
ô nhiễm không khí, nước đất, đến suy
giảm đa dạng sinh học. Theo dữ liệu của Tổ
chức Khí tượng thế giới (2024), nền nhiệt
toàn cầu đã tăng lên hơn 1,5°C so với năm
trước, với tốc độ phát thải khí nhà kính vẫn
chưa dấu hiệu giảm mạnh. Tình hình
này buộc các quốc gia, đặc biệt những
nền kinh tế đang phát triển, phải đẩy nhanh
quá trình chuyển đổi sang hình phát
trin bn vng hơn. Trong bối cảnh đó, tài
chính xanh được hiểu là các dòng vốn hướng
tới các hoạt động thân thiện với môi trường
hội đang ngày càng trở thành công cụ
thiết yếu để hiện thực hóa các mục tiêu phát
triển bền vững (UNEP, 2017; OECD, 2020).
Đặc biệt, các doanh nghiệp vừa nhỏ
(DNVVN) chiếm hơn 90% tổng số doanh
nghiệp toàn cầu, đóng góp tới 60- 70%
tổng việc làm khoảng 50% GDP toàn
cầu đang đối mặt với những thách thức
lớn trong quá trình chuyển đổi sang
hình kinh doanh bền vững (European
Commission, 2020a). Trong khi các tập
đoàn lớn điều kiện tiếp cận công nghệ
tài chính xanh, thì phần lớn DNVVN
gặp rào cản về vốn, thông tin, năng lực
quản trị, khả năng đánh giá rủi ro môi
trường- hội (Ahmed cộng sự, 2024).
Điều này đã đặt ra một loạt các câu hỏi cấp
thiết cho nhiều nhà khoa học: Liệu khung
chính sách tài chính xanh hiện hành
bao trùm phù hợp với DNVVN? (Kasri
& Badruddin, 2025; Khababa & Jalingo,
2023; Chien cộng sự, 2021; Durst &
Gerstlberger, 2020); Các quốc gia đã triển
khai chính sách hỗ trợ như thế nào? (Kato
cộng sự, 2024; Khababa & Jalingo,
2023; Barua, 2020); Những chương trình
nào cho thấy hiệu quả rõ rệt trong thúc đẩy
chuyển đổi bền vững của DNVVN? (Durst
& Gerstlberger, 2020).
Ghi nhận được tính chất thiết yếu của
vấn đề này, các tổ chức quốc tế như Liên
Hợp Quốc (UN), Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế (OECD), Ngân hàng Đầu
Châu Âu (EIB) Ủy ban Châu Âu đã
ban hành nhiều chương trình, hướng dẫn
khuyến nghị về tài chính xanh dành
cho DNVVN với một cách tiếp cận “tổng
thể”, kết hợp cả ba khía cạnh: kinh tế,
hội môi trường (UNEP, 2019; European
Commission, 2020b). Từ đó, nhiều chính
phủ đã hưởng ứng bằng việc triển khai các
chương trình hỗ trợ tài chính định hướng
bền vững như tín dụng ưu đãi xanh, quỹ đổi
mới xanh, chương trình bảo lãnh tín dụng
xanh khuyến khích hợp tác công-
(EIB, 2020). Tuy nhiên, theo nghiên cứu
của Durst Gerstlberger (2020), mặc
nhiều chính sách chương trình hỗ trợ
đã được khởi xướng trong những năm gần
đây, nhưng các cách tiếp cận cụ thể của
từng quốc gia vẫn chưa thực sự có tính bao
quát và toàn diện. Một số chương trình chỉ
hoàn thiện khung pháp lý và tiêu chuẩn tài chính xanh chuyên biệt cho doanh
nghiệp vừa nhỏ; (ii) xây dựng các chế tài chính đa dạng với điều kiện tiếp
cận linh hoạt; (iii) thiết lập hệ thống hỗ trợ kỹ thuật và nền tảng số giúp doanh
nghiệp đáp ứng yêu cầu ESG; (iv) đẩy mạnh vai trò của các tổ chức trung
gian tài chính trong kết nối vốn xanh đến doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Từ khóa: Tài chính xanh, Quá trình chuyển đổi bền vững, Doanh nghiệp vừa và
nhỏ, Chính sách
Tài chính xanh và quá trình chuyển đổi bền vững của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
26
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
tập trung vào khía cạnh môi trường, trong
khi khía cạnh hội vẫn chưa được lồng
ghép một cách cân đối. Việc thiếu tiếp cận
đa chiều điểm yếu phổ biến trong nhiều
chương trình hỗ trợ tài chính hiện nay.
Tại Việt Nam, trong khi Chính phủ đã đưa
ra những cam kết quan trọng tại COP26
nhằm đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm
2050, thì khối DNVVN vốn động lực
tăng trưởng chính của nền kinh tế lại chưa
có sự chuẩn bị đồng bộ để thích ứng với xu
hướng này (Đặng Thị Huyền Trang &
Thị Thu, 2023). Một số nghiên cứu trong
nước đã đề cập đến hệ thống tài chính xanh
như Trần Thị Thanh Đỗ Hồng Nhung
(2018), Trần Thị Thanh Nguyễn
Hồng Minh (2020) hay Đỗ Hồng Nhung
cộng sự (2021), song chủ yếu tập trung
góc độ chính sách thị trường tài
chính nói chung. Gần đây, nghiên cứu của
Võ Thị Thanh Thảo và cộng sự (2024) cho
thấy tài chính xanh tác động tích cực
đến hiệu quả sử dụng năng lượng, nhưng
cũng mới dừng ở phân tích định lượng khu
vực châu Á- Thái Bình Dương chưa đi
sâu vào thực tiễn tiếp cận tài chính xanh của
DNVVN Việt Nam. Như vậy, mặc dù đã có
một số đóng góp ban đầu, song vẫn thiếu
các bằng chứng thực nghiệm phân tích
hệ thống về cách DNVVN trong nước tiếp
cận và hưởng lợi từ tài chính xanh.
Vì vậy, tác giả sử dụng phương pháp phân
tích tài liệu thứ cấp phân tích case study,
tập trung vào các nghiên cứu học thuật, báo
cáo chính sách, cùng với trường hợp điển
hình từ EU, UK, Hoa Kỳ Nhật Bản. Từ
đó, dựa trên các khoảng trống luận
thực tiễn nói trên, bài viết này được triển
khai nhằm hiện thực hóa ba mục tiêu chính.
Thứ nhất, hệ thống hóa sở luận
khung phân tích tài chính xanh, đặc biệt
cách thức tài chính xanh tác động trực
tiếp gián tiếp đến tiến trình chuyển đổi
bền vững trong doanh nghiệp. Thứ hai,
tổng hợp kinh nghiệm quốc tế nổi bật trong
việc áp dụng tài chính xanh DNVVN tại
một số khu vực điển hình như EU, Hoa Kỳ,
Vương quốc Anh Nhật Bản- những nơi
sự khác biệt đáng kể về khung thể chế,
hình tài chính mức độ phát triển.
Thứ ba, trên sở phân tích so sánh, bài
viết đưa ra các hàm ý chính sách phù hợp
cho Việt Nam.
2. Tài chính xanh tác động đến
chuyển đổi bền vững tại doanh nghiệp
vừa và nhỏ
2.1. Tài chính xanh trong bối cảnh doanh
nghiệp vừa và nhỏ
Tài chính xanh được hiểu chế huy
động và phân bổ vốn cho các hoạt động tạo
lợi ích môi trường trong khuôn khổ phát
triển bền vững (UNEP, 2017; Lindenberg,
2014). Không chỉ một kênh cung cấp
vốn, tài chính xanh còn công cụ định
hướng hành vi, gắn trách nhiệm xã hội vào
quyết định tài chính thúc đẩy đổi mới
công nghệ (Durst & Gerstlberger, 2020;
Soundarrajan & Vivek, 2016). Các thành
phần của hệ sinh thái tài chính xanh gồm
đầu xanh, chính sách công xanh
các định chế tài chính xanh, trong đó sự
tương tác giữa các thành phần này quyết
định dòng vốn sẽ dẫn tới các hoạt động bền
vững (Lindenberg, 2014).
Trong bối cảnh DNVVN, vai trò của tài
chính xanh càng trở nên quan trọng
nhóm doanh nghiệp này thường gặp hạn
chế về nguồn vốn dài hạn, năng lực quản
trị khả năng tiếp cận thị trường vốn
truyền thống (Ahmed cộng sự, 2024).
So với các tập đoàn lớn, DNVVN ít
điều kiện tận dụng các công cụ phức tạp
như trái phiếu xanh quốc tế, phụ thuộc
nhiều hơn vào tín dụng xanh, quỹ hỗ trợ
đổi mới các chương trình bảo lãnh (Trần
TRỊNH MINH NGỌC
27
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
Thị Xuân Anh và cộng sự, 2019). Điều này
cho thấy tính “SME-fit” của các công cụ tài
chính xanh một điều kiện then chốt, đòi
hỏi các cơ chế linh hoạt và chi phí tuân thủ
thấp hơn.
Nghiên cứu của Thị Thanh Thảo
cộng sự (2024) sử dụng dữ liệu 40 quốc
gia châu Á- Thái Bình Dương cho thấy tài
chính xanh có tác động tích cực và đáng kể
đến hiệu quả sử dụng năng lượng, một yếu
tố trực tiếp liên quan đến khả năng nâng cao
năng suất giảm phát thải của DNVVN.
Tương tự, Zhang cộng sự (2023) chứng
minh rằng các chương trình thí điểm cải
cách tài chính xanh Trung Quốc đã thúc
đẩy đổi mới công nghệ nâng cao hiệu quả
năng lượng trong các doanh nghiệp vừa
nhỏ. Những kết quả này khẳng định tài chính
xanh khả năng tạo ra tác động kép: vừa
cải thiện hiệu quả hoạt động, vừa nâng cao
năng lực cạnh tranh bền vững cho DNVVN.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã đặt nền
móng cho việc hình thành hệ thống tài
chính xanh nhưng cũng chỉ ra nhiều hạn
chế. Trần Thị Thanh Đỗ Hồng Nhung
(2018), Trần Thị Thanh Nguyễn
Hồng Minh (2020) Đỗ Hồng Nhung
cộng sự (2021) cho rằng các sản phẩm tài
chính xanh đã xuất hiện nhưng vẫn phân
tán, thiếu khung pháp chế khuyến
khích đồng bộ. Điều này khiến tài chính
xanh chưa trở thành xu hướng phát triển
chủ đạo, đặc biệt đối với DNVVN. Thêm
vào đó, rào cản thể chế thông tin dẫn
đến việc nhiều DNVVN chưa tiếp cận
được nguồn vốn xanh, hoặc chỉ dừng lại
các khoản vay ưu đãi quy nhỏ (Trần
Thị Thanh Tú & Đỗ Hồng Nhung, 2018).
Như vậy, tài chính xanh trong bối cảnh
DNVVN vừa mang ý nghĩa nguồn vốn
thay thế, vừa công cụ thúc đẩy chuyển
đổi hình kinh doanh theo hướng bền
vững. Tuy nhiên, bằng chứng tại Việt Nam
cho thấy còn thiếu chế vận hành hiệu
quả giúp DNVVN tiếp cận tài chính xanh.
Đây chính khoảng trống quan trọng cần
được nghiên cứu kỹ hơn để đề xuất chính
sách phù hợp, sẽ được làm trong khung
phân tích ở mục 2.3.
2.2. Quá trình chuyển đổi bền vững của
doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo Evans và cộng sự (2017), chuyển đổi
bền vững không chỉ áp dụng công nghệ
xanh hay giảm thiểu tác động môi trường,
còn một quá trình tái cấu trúc toàn
diện hình kinh doanh, trong đó các mục
tiêu kinh tế, xã hội môi trường được tích
hợp đồng thời vào chiến lược và hoạt động.
Các nghiên cứu nền tảng chỉ ra rằng điều
chỉnh cục bộ trong quy trình không đủ, mà
cần hình thành các hình kinh doanh
mới, đặt phát triển bền vững làm trọng tâm
(Stubbs & Cocklin, 2008). Điều này phù
hợp với quan điểm của Elkington (1997)
về “triple bottom line”, nhấn mạnh sự cân
bằng giữa hiệu quả kinh tế, trách nhiệm xã
hội và bảo vệ môi trường.
Đối với DNVVN, chuyển đổi bền vững
còn khó khăn hơn do hạn chế về nguồn
vốn, nhân lực năng lực quản trị. Các
doanh nghiệp này thường tập trung vào
giải pháp ngắn hạn như tiết kiệm chi phí
thay đầu dài hạn để tái cấu trúc toàn
diện (Trần Thị Xuân Anh cộng sự,
2019). Thực tế, phần lớn DNVVN vẫn duy
trì hình tăng trưởng truyền thống, coi
trọng lợi nhuận ngắn hạn hơn các mục tiêu
dài hạn (Waddock, 2016; Monbiot, 2016).
Điều này cho thấy DNVVN có nguy cơ tụt
lại phía sau trong xu hướng phát triển bền
vững toàn cầu.
Một số công cụ khung luận đã
được phát triển nhằm định hướng quá
trình chuyển đổi. hình Sustainability
Innovation/Maturity Cube của Hansen
cộng sự (2009) cho phép doanh nghiệp tự
Tài chính xanh và quá trình chuyển đổi bền vững của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
28
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
đánh giá mức độ trưởng thành bền vững
theo ba chiều: hoạt động kinh doanh, ba trụ
cột phát triển bền vững mức độ đổi mới.
Đồng thời, việc áp dụng các tiêu chuẩn báo
cáo như GRI Standards (GRI, 2016) bộ
tiêu chí ESG giúp doanh nghiệp minh bạch
hóa lộ trình chuyển đổi đáp ứng kỳ vọng
của nhà đầu tư. Bài viết sẽ sử dụng hình
Khối Phát triển bền vững này như một nền
tảng khái niệm để kết nối quá trình chuyển
đổi bền vững với khung tác động của tài
chính xanh tại mục 2.3.
Chuyển đổi bền vững còn mang tính hệ
thống doanh nghiệp không tồn tại độc
lập, mà phụ thuộc vào chuỗi giá trị, đối tác,
khách hàng, cộng đồng môi trường tự
nhiên (Jackman & Moore, 2021). Do đó,
tiến trình này đòi hỏi sự đồng bộ giữa nỗ
lực nội tại của doanh nghiệp và môi trường
thể chế- chính sách bên ngoài. Các mục
tiêu phát triển bền vững toàn cầu (SDGs)
do Liên Hợp Quốc đề ra năm 2015 đã trở
thành khung tham chiếu quan trọng, giúp
DNVVN xác định vai trò của mình trong
tiến trình chuyển đổi chung của hội
(United Nations, 2015).
Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi bền
vững của DNVVN đang trong giai đoạn
khởi đầu. Dù Chính phủ đã đưa ra cam kết
đạt mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào
năm 2050, phần lớn DNVVN vẫn đang đối
mặt với thách thức lớn về năng lực đổi mới
hình tiếp cận tài chính xanh. Theo
các nghiên cứu của Trần Thị Xuân Anh và
cộng sự (2019); Chien cộng sự (2021),
các doanh nghiệp hiện tại vẫn chủ yếu tập
trung vào các biện pháp tiết kiệm chi phí
ngắn hạn mà chưa thực sự tái cấu trúc theo
hướng bền vững. Điều này làm nổi bật nhu
cầu nghiên cứu sâu hơn về chế công
cụ thúc đẩy DNVVN tại Việt Nam tham
gia quá trình chuyển đổi bền vững một
cách thực chất.
2.3. Khung phân tích tác động của tài
chính xanh đến quá trình chuyển đổi bền
vững của doanh nghiệp
Trong quá trình chuyển đổi bền vững của
DNVVN, tài chính xanh đóng vai trò như
một động lực cốt lõi, tạo ra áp lực cũng
như hội để các doanh nghiệp cải thiện
hình kinh doanh, đổi mới công nghệ
nâng cao năng lực quản trị bền vững.
Để phân tích đầy đủ tác động của tài chính
xanh đến quá trình chuyển đổi bền vững
Nguồn: Hansen và cộng sự (2009)
Hình 1. Mô hình Khối Phát triển bền vng- Sustainability Maturity Cube