SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG BÌNH

TÀI LIỆU

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

CHUYÊN ĐỀ

KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC

Quảng Bình, 2017

1

MỤC LỤC

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC....... 3

1. Kỹ thuật dạy học là gì? ....................................................................... 3

2. Một số kỹ thuật dạy học tích cực ........................................................ 4

II. MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC VẬN DỤNG TRONG

DẠY HỌC GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN ................................................... 5

1. Kỹ thuật động não (Brainstorming) .................................................... 5

2. Kỹ thuật chia nhóm ............................................................................. 8

3. Kỹ thuật giao nhiệm vụ ..................................................................... 12

4. Kỹ thuật đặt câu hỏi .......................................................................... 14

5. Kỹ thuật “đọc tích cực” .................................................................... 17

6. Kỹ thuật phân tích phim Video ......................................................... 18

7. Sơ đồ tư duy ...................................................................................... 18

8. Kỹ thuật đặt vấn đề tranh luận .......................................................... 25

9. Kỹ thuật đóng vai .............................................................................. 28

10. Kỹ thuật XYZ ................................................................................. 33

2

11. Kỹ thuật “bể cá” .............................................................................. 33

NỘI DUNG

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC

1. Kỹ thuật dạy học là gì?

Để hiểu rõ thế nào là kỹ thuật dạy học chúng ta cần làm rõ các khái

niệm quan điểm dạy học, phương pháp dạy học (PPDH) và kỹ thuật dạy học

(KTDH). Quan điểm dạy học (QĐDH) là những định hướng tổng thể cho các

hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học,

những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức

cũng như những định hướng về vai trò của GV và HV trong quá trình dạy

học. QĐDH là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô

hình lí thuyết của PPDH.

Các khái niệm:

PPDH: là những hình thức, cách thức hành động của GV (GV) và HV

(HV) nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những

nội dung và điều kiện dạy học cụ thể. PPDH cụ thể quy định những mô hình

hành động của GV và HV.

KTDH: là những biện pháp, cách thức hành động của GV và HV trong

các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy

học. Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy

học. Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng

phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Các KTDH

chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH. Ví dụ,

trong phương pháp thảo luận nhóm có các kỹ thuật dạy học như: kỹ thuật chia

nhóm, kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật phòng tranh, kỹ thuật các mảnh

ghép, ...

Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học

phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”,

“bể cá”, XYZ, Bản đồ tư duy... Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ

3

thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của

HV vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm

việc của HV.

Tóm lại, QĐDH là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn các

PPDH cụ thể. Các PPDH là khái niệm hẹp hơn, đưa ra mô hình hành động.

KTDH là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động.

2. Một số kỹ thuật dạy học tích cực

1. Kỹ thuật "động não" (Brainstorming)

2. Kỹ thuật XYZ

3. Kỹ thuật "bể cá"

4. Kỹ thuật "ổ bi"

5. Tranh luận ủng hộ – phản đối

6. Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học

7. Kỹ thuật tia chớp

8. Kỹ thuật "3 lần 3"

9. Lược đồ tư duy

10. Kỹ thuật "Khăn trải bàn"

11. Kỹ thuật "Các mảnh ghép"

12. Kỹ thuật KWL - KWLH

13. Kỹ thuật chia sẻ nhóm đôi (Think-Pair-Share)

14. Kỹ thuật Kipling (5W1H)

15. Kỹ thuật chia nhóm

16. Kỹ thuật giao nhiệm vụ

17. Kỹ thuật đặt câu hỏi

18. Kỹ thuật phòng tranh

4

19. Kỹ thuật công đoạn

20. Kỹ thuật “Trình bày một phút”

21. Kỹ thuật “Chúng em biết 3”

22. Kỹ thuật “Hỏi và trả lời”

23. Kỹ thuật “Hỏi Chuyên gia”

24. Kỹ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”

25. Kỹ thuật “Viết tích cực”

26. Kỹ thuật “Đọc tích cực” (Đọc hợp tác)

27. Kỹ thuật “Nói cách khác”

28. Kỹ thuật phân tích phim Video

29. Kỹ thuật tóm tắt nội dung tài liệu theo nhóm

II. MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC VẬN DỤNG TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

1. Kỹ thuật động não (Brainstorming)

Đây là kỹ thuật kích thích người học suy nghĩ bằng cách thu thập ý kiến

khác nhau về một vấn đề nào đó mà không tiến hành đánh giá, trao đổi hay

bình luận ý kiến đó. Kỹ thuật này cho phép làm xuất hiện một cách nhanh

chóng một số ý kiến về một đề tài chung, là một phương pháp đặc sắc dùng

để phát triển nhiều giải pháp sáng tạo cho một vấn đề. Phương pháp này hoạt

động bằng cách nêu các ý tưởng tập trung trên vấn đề, từ đó rút ra rất nhiều

giải pháp căn bản cho nó.

Các ý niệm/hình ảnh về vấn đề trước hết được nêu ra một cách rất

phóng khoáng và ngẫu nhiên theo dòng suy nghĩ càng nhiều, càng đủ càng tốt.

Các ý kiến có thể rất rộng và sâu cũng như không giới hạn bởi các khía cạnh

nhỏ nhặt nhất của vấn đề mà những người tham gia nghĩ tới.

Tuy tự do phát biểu, nhưng có nhiều ý kiến cùng hướng về một phía

5

nhất định, tạo khả năng hình thành nên một ý kiến chung. Sau cùng các ý kiến

sẽ được phân nhóm và đánh giá. Kỹ thuật động não có thể thực hiện vào đầu

tiết học, hoặc bắt đầu một vấn đề, một nội dung giữa bài học.

Kỹ thuật này được được tiến hành theo các bước:

- Nêu tên đề tài/chủ đề/vấn đề (có thể gắn với phương tiện trực quan)

và đưa câu hỏi kích thích suy nghĩ của người học.

- Yêu cầu cả lớp động não. Ghi ý kiến của mình bằng thẻ vào giấy nhỏ

ghim lên bảng, hoặc từng người một trình bày ngắn gọn trước lớp ý kiến của

mình. Không nhận xét, đánh giá các ý kiến đó.

- Sau khi không còn ý kiến nữa, có thể nhóm các ý kiến lại và đánh giá

khái quát về công dụng và tính khả thi.

- Trong quá trình thu thập ý kiến, không được phê bình hay nhận xét,

cần xác định rõ: Không có câu trả lời nào là sai.

Một số ví dụ minh họa trong môn Văn:

Ví dụ 1: Hướng dẫn học viên (HV) đọc hiểu văn bản Tỏ lòng (Thuật

Hoài) Phạm Ngũ Lão (Ngữ văn lớp 10, tập 1)

- Trong phần hướng dẫn HV tìm hiểu chung về tác giả và văn bản

(trong phần tiểu dẫn)

GV yêu cầu HV làm việc theo cặp, trả lời các câu hỏi sau:

Dựa vào những hiểu biết về tác giả, hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của

bài thơ Tỏ lòng?

Hoàn cảnh đó ảnh hưởng như thế nào đến giọng điệu bài thơ?

- Gọi một số cặp trình bày, GV ghi ý kiến lên bảng, nhận xét, chốt lại

và thuyết giảng: Đất nước đứng nạn ngoại xâm, trước tình hình đó, vua Trần

mở hội nghị Bình Than để bàn kế hoạch đánh giặc. Phạm Ngũ Lão cùng một

số tướng được cử lên biên ải phía Bắc để trấn giữ đất nước. Phạm Ngũ Lão đã

6

sáng tác bài thơ trong hoàn cảnh đó. Hoàn cảnh đó đã để lại dấu ấn trong

giọng điệu hào hùng, cảm hứng yêu nước và hào khí đời Trần qua bài thơ "Tỏ

lòng".

Ví dụ 2: Hướng dẫn HV đọc hiểu văn bản Mùa thu câu cá (Thu điếu)

của Nguyễn Khuyến (Ngữ văn lớp 11, tập 1) GV có thể đặt câu hỏi để kích

thích khởi động HV học bài mới như sau:

- Kể tên các bài thơ hoặc đọc vài câu thơ viết về mùa thu mà các em

biết?

HV có thể kể tên các bài thơ về mùa thu như: Sang thu của Hữu Thỉnh,

Tiếng thu của Lưu Trọng Lư hoặc đọc một vài câu thơ trong truyện Kiều có

hình ảnh mùa thu...

- GV hỏi tiếp: Các em có nhận xét gì về hình ảnh mùa thu trong các bài

thơ trên?

GV gọi một số HV trả lời, GV tập hợp các ý kiến, đưa ra lời nhận xét

chung và giới thiệu cho HV học bài mới về chủ đề mùa thu mà hình ảnh mùa

thu được tác giả sáng tạo với vẻ đẹp riêng của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ.

- Khi dạy xong bài thơ GV đặt câu hỏi cho cả lớp, HV ghi câu trả lời

vào giấy (câu hỏi này kích thích sự sáng tạo, suy nghĩ của HV)

Em hãy cho biết cách gieo vần trong bài thơ có gì đặc biệt? cách gieo

vần ấy cho ta cảm nhận về cảnh thu, tình thu như thế nào?

GV cho HV nộp câu trả lời và khuyến khích HV trình bày suy nghĩ của

mình tại lớp, cả lớp có thể thảo luận và GV chốt lại vấn đề: Cách sử dụng vần

“eo” rất khéo léo, tài tình tạo được nhưng hình ảnh đẹp và đặc trưng của mùa

thu vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời diễn tả được những nét u uẩn, khó giãi

bày trong tâm trạng nhà thơ.

Ví dụ 3: Hướng dẫn HV tìm hiểu truyện Chiếc thuyền ngoài xa của

Nguyễn Minh Châu (Ngữ văn 12, tập 2)

Trong phần đọc hiểu văn bản, GV hướng dẫn HV đọc, tóm tắt tác

7

phẩm, bố cục văn bản xong,

- GV đưa ra yêu cầu: Qua việc tóm tắt tác phẩm, các em cho biết truyện

có mấy tình huống? đó là những tình huống nào?

HV trả lời nhiều ý kiến khác nhau có thể là 2, 3, 4. Dựa trên sự trả lời

của HV, GV chốt lại ý kiến hợp lý nhất trong câu chuyện này là 3 tình huống.

GV gợi ý giúp HV suy nghĩ và nêu 3 tình huống, GV chốt các tình

huống:

+ Người nghệ sĩ choáng ngợp trước vẻ đẹp tuyệt đỉnh của khung cảnh

thiên nhiên của vùng trời nước mênh mông.

+ Người nghệ sĩ kinh ngạc khi chứng kiến người đàn ông đánh vợ dã

man trên bờ biển.

+ Ngạc nhiên trước cảnh người đàn bà nhất quyết không chịu bỏ chồng,

nghệ sĩ nhiếp ảnh đã thay đổi quan điểm về đối tượng nghệ thuật.

2. Kỹ thuật chia nhóm

Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không

nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học. Bảng sau đây trình bày 10

cách theo các tiêu chí khác nhau:

: ưu điểm : nhược điểm

Tiêu chí Cách thực hiện - Ưu, nhược điểm

1. Các nhóm  Đối với HV thì đây là cách dễ chịu nhất để thành lập

gồm những nhóm, đảm bảo công việc thành công nhanh nhất.

người tự

 Dễ tạo ra sự tách biệt giữa các nhóm trong lớp, vì vậy nguyện,

cách tạo lập nhóm như thế này không nên là khả năng chung mối

8

duy nhất. quan tâm

2. Các nhóm Bằng cách đếm số, phát thẻ, gắp thăm, sắp xếp theo màu

ngẫu nhiên sắc,....

 Các nhóm luôn luôn mới sẽ đảm bảo là tất cả các HV đều

có thể học tập chung nhóm với tất cả các HV khác.

 Nguy cơ có trục trặc sẽ tăng cao. HV phải sớm làm quen

với việc đó để thấy rằng cách lập nhóm như vậy là bình

thường.

3. Nhóm ghép Xé nhỏ một bức tranh hoặc các tờ tài liệu cần xử lý. HV

hình được phát các mẩu xé nhỏ, những HV ghép thành bức tranh

hoặc tờ tài liệu đó sẽ tạo thành nhóm.

 Cách tạo lập nhóm kiểu vui chơi, không gây ra sự đối

địch.

 Cần một ít chi phí để chuẩn bị và cần nhiều thời gian hơn

để tạo lập nhóm.

4. Các nhóm Ví dụ tất cả những HV cùng sinh ra trong mùa đông, mùa

với những đặc xuân, mùa hè hoặc mùa thu sẽ tạo thành nhóm

điểm chung

 Tạo lập nhóm một cách độc đáo, tạo ra niềm vui và HV có

thể biết nhau rõ hơn.

 Cách làm này mất đi tính độc đáo nếu được sử dụng

9

thường xuyên.

5. Các nhóm Các nhóm được duy trì trong một số tuần hoặc một số

cố định trong tháng. Các nhóm này thậm chí có thể được đặt tên riêng.

một thời gian

 Cách làm này đã được chứng tỏ tốt trong những nhóm dài

học tập có nhiều vấn đề.

 Sau khi đã quen nhau một thời gian dài thì việc lập các

nhóm mới sẽ khó khăn.

Những HV khá giỏi trong lớp cùng luyện tập với các HV yếu hơn và đảm nhận trách nhiệm của người hướng dẫn.

 Tất cả đều được lợi. Những HV giỏi đảm nhận trách 6. Nhóm có HV khá, giỏi để hỗ trợ HV yếu

nhiệm, những HV yếu được giúp đỡ.

 Ngoài việc mất nhiều thời gian thì chỉ có ít nhược điểm,

trừ phi những HV giỏi hướng dẫn sai.

Những HV yếu hơn sẽ xử lý các bài tập cơ bản, những HV đặc biệt giỏi sẽ nhận được thêm những bài tập bổ sung.

7. Phân chia theo năng lực học tập khác nhau

 HV có thể tự xác định mục đích của mình. Ví dụ ai bị điểm kém trong môn toán thì có thể tập trung vào một số ít bài tập.

 Cách làm này dẫn đến kết quả là nhóm học tập cảm thấy

bị chia thành những HV thông minh và những HV kém.

10

8. Phân chia theo các dạng học tập Được áp dụng thường xuyên khi học tập theo tình huống. Những HV thích học tập với hình ảnh, âm thanh hoặc biểu tượng sẽ nhận được những bài tập tương ứng.

 HV sẽ biết các em thuộc dạng học tập như thế nào?

 HV chỉ học những gì mình thích và bỏ qua những nội

dung khác

9. Nhóm với các bài tập khác nhau Ví dụ, trong khuôn khổ một dự án, một số HV sẽ khảo sát một xí nghiệp, một số khác khảo sát một cơ sở chăm sóc xã hội…

 Tạo điều kiện học tập theo kinh nghiệm đối với những gì

đặc biệt quan tâm.

 Thường chỉ có thể được áp dụng trong khuôn khổ một dự

án lớn.

10. Phân chia HV nam và nữ  Có thể thích hợp nếu học về những chủ đề đặc trưng cho con trai và con gái, ví dụ trong giảng dạy về tình dục, chủ đề lựa chọn nghề nghiệp,...

 Nếu bị lạm dụng sẽ dẫn đến mất bình đẳng nam nữ.

Việc chia nhóm nên tiến hành từ đầu năm học, chia lớp thành một số

nhóm (từ 4-6 thành viên), nên đặt tên ổn định cho các nhóm và thành viên

trong nhóm suốt năm, nhưng để HV có trình độ khác nhau đều có thể tham

gia học tập tích cực (đặc biệt HV có lực học yếu) các thành viên nhóm có thể

linh hoạt hình thành nhóm mới dựa trên yêu cầu của các mức độ chuẩn kiến

11

thức kỹ năng khác nhau.

Ví dụ cụ thể về cách lập nhóm:

Bảng 1: Chia nhóm cố định từ đầu năm

Tên nhóm Sông Sông Sông Sông Sông Ròn Kiến Gianh Nhật Lệ Long Đại Giang Lực học

Hoa Lan Hoa Lan Hoa Lan Hoa Lan Hoa Lan Giỏi

Hoa Cúc Hoa Cúc Hoa Cúc Hoa Cúc Hoa Cúc Khá

Trung Bình Hoa Đào Hoa Đào Hoa Đào Hoa Đào Hoa Đào

Hoa Mai Hoa Mai Hoa Mai Hoa Mai Hoa Mai Yếu

Bảng 2. Nhóm có thể thành lập linh hoạt

Hoa Lan Hoa Cúc Hoa Đào Hoa Mai

(gồm HV có gồm HV có gồm HV có gồm HV có Tên nhóm

tên hoa Lan tên hoa Cúc tên hoa Đào tên hoa Mai

trong các trong các trong các trong các

nhóm) nhóm) nhóm) nhóm)

Lực học Giỏi Khá Trung Bình Yếu

3. Kỹ thuật giao nhiệm vụ

- Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng

- Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?

- Nội dung nhiệm vụ là gì?

- Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?

12

- Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?

- Nguồn tư liệu để thực hiện nhiệm vụ là gì?

- Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?

- Cách thức trình bày/đánh giá sản phẩm như thế nào?

Lưu ý: Nhiệm vụ phải phù hợp với mục tiêu hoạt động, trình độ HV, thời

gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị.

Chúng ta có thể so sánh sự khác biệt về kỹ thuật giao nhiệm vụ của các

phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học tích cực qua các

ví dụ sau:

Ví dụ 1: Dạy Lịch Sử lớp 11, chương trình cơ bản, bài: NHẬT BẢN.

Theo phương pháp dạy học truyền thống, khi dạy mục 2: Cuộc Duy

Tân Minh Trị: GV giao nhiệm vụ: Em hãy trình bày nội dung cơ bản của cuộc

Duy Tân Minh Trị?

Sau đó gọi HV trả lời.

Theo phương pháp dạy học tích cực: GV cho HV quan sát bức tranh về

nhân vật Thiên Hoàng Minh Trị (1852-1912) và hỏi: Nhân vật này có liên

quan đến sự kiện nào ở Nhật Bản cuối thế kỷ XIX?

HV suy nghĩ, thảo luận và trả lời.

Sau đó GV dẫn dắt vào vấn đề, yêu cầu HV đọc đoạn tư liệu trong sách

giáo khoa (SGK) trang 5-6, điền các thông tin vào phiếu học tập về nội dung

chính của cuộc Duy Tân Minh Trị năm 1868.

Từ đó rút ra được ý nghĩa nổi bật của cuộc Duy Tân Minh Trị.

Ví dụ 2: Dạy Lịch sử lớp 12, chương trình cơ bản, bài: CÁC NƯỚC

ĐÔNG NAM Á VÀ ẤN ĐỘ.

Theo phương pháp dạy học truyền thống, khi dạy mục 3: Sự ra đời và

phát triển của tổ chức ASEAN: GV giao nhiệm vụ: Em hãy trình bày hoàn

cảnh ra đời của tổ chức ASEAN?

13

Sau đó gọi HV trả lời.

Theo phương pháp dạy học tích cực: GV cho HV quan sát bức tranh về

biểu tượng của tổ chức ASEAN, hỏi: Đây là biểu tượng của tổ chức nào? Hãy

trình bày những hiểu biết của em về tổ chức này?

GV yêu cầu HV đọc tài liệu trang 31-32 sách giáo khoa, lập bảng thống

kê các mốc thời gian về sự ra đời và phát triển của tổ chức ASEAN.

HV suy nghĩ, thảo luận và trả lời.

Từ đó rút ra cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập tổ chức

ASEAN.

4. Kỹ thuật đặt câu hỏi

Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HV -

GV và HV - HV. Kỹ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HV

càng nhiều; HV sẽ học tập tích cực hơn.

a. Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học

- Kích thích, dẫn dắt HV suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiện

cho HV tham gia vào quá trình dạy học

- Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng (KT, KN) của HV và sự quan

tâm, hứng thú của các em đối với nội dung học tập

- Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức

Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học

- Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu

- Đúng lúc, đúng chỗ

- Phù hợp với trình độ HV

- Kích thích suy nghĩ của HV

- Phù hợp với thời gian thực tế

14

- Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc

b. Kỹ năng hình thành năng lực đặt câu hỏi nhận thức

Câu hỏi biết: Câu hỏi yêu cầu HV nhắc lại một kiến thức đã biết (tái

hiện). Ví dụ: “Nêu cấu tạo của nguyên tử về phương diện điện”, “Nêu định

nghĩa điện trường”...

Câu hỏi hiểu: Câu hỏi yêu cầu HV diễn đạt lại bằng ngôn từ của mình

những kiến thức đã học, chứng tỏ đã hiểu. Ví dụ: “Hãy trình bày thuyết

electron và giải thích sự nhiễm điện của các vật”, hay: “Giải thích sự nhiễm

điện do hưởng ứng?”…

Câu hỏi vận dụng thấp: Câu hỏi yêu cầu HV áp dụng kiến thức đã học

vào một tình huống mới, khác bài học. Ví dụ: “Áp dụng công thức của định

luật Cu Lông để tính lực tương tác giữa 2 điện tích đặt cách nhau một khoảng

r?”, “Tại sao ở cùng một vị trí các vật khác nhau về khối lượng lại chịu lực

hút của Trái đất khác nhau”...

Câu hỏi vận dụng cao: Câu hỏi yêu cầu HV phân tích nguyên nhân hay

kết quả của một hiện tượng (những điều này chưa được cung cấp cho HV

trước đó), yêu cầu HV nhận định, phán đoán về một vấn đề. Ví dụ: “Giải

thích hiện tượng Sấm, Sét trong tự nhiên?”, “Áp dụng các công thức đã học

giải các bài toán nâng cao”...

Các ví dụ

Ví dụ 1

Dạy Vật lí lớp 11, bài 8: ĐIỆN NĂNG CÔNG SUẤT ĐIỆN

Tiết 1.

I. Điện năng tiêu thụ và công suất điện

II. Công suất tỏa nhiệt của dây dẫn khi có dòng điện chạy qua

- Khi dạy mục I. Điện năng tiêu thụ và công suất điện, GV yêu cầu HV:

15

1. Dựa vào SGK và các kiến thức đã học ở THCS trả lời câu hỏi sau:

- Trình bày kết luận và viết biểu thức điện năng tiêu thụ của một đoạn

mạch điện? (Câu hỏi hiểu)

- Hãy cho biết đơn vị của các đại lượng có mặt trong công thức (8.1)?

(Câu hỏi biết)

- Dụng cụ gì được dùng để đo điện năng tiêu thụ? (Câu hỏi hiểu)

- Mỗi số đo của dụng cụ trên có giá trị là bao nhiêu jun? (Câu hỏi vận

dụng cao)

2. Dựa vào kênh chữ trong SGK hãy:

- Nêu định nghĩa và biểu thức tính công suất điện? (Câu hỏi biết)

- Cho biết đơn vị của các đại lượng trong công thức ? (Câu hỏi biết)

- Giải thích ý nghĩa của các số ghi trên 1 bóng đèn 220V- 20W ? (Câu

hỏi hiểu)

- Tính công suất tiêu thụ điện của gia đình trong 1 tháng? (Câu hỏi vận

dụng cao)

Ví dụ 2

Dạy vật lí lớp 11, bài26: Khúc xạ ánh sáng.

Khi dạy mục I. Sự khúc xạ ánh sáng.

GV lần lượt đặt các câu hỏi: Dựa vào thông tin trong bài học và hiểu

biết của bản thân, em hãy cho biết:

- Hiện tượng khúc xạ ánh sáng? (Câu hỏi biết)

- Lấy các ví dụ về hiện tượng khúc xạ ánh sáng trong thực tế ? (Câu hỏi

hiểu)

- Phát biểu định luật khúc xạ ánh sáng và viết biểu thức định luật? (Câu

hỏi biết)

- Làm các thí nghiệm với các góc tới khác nhau để kiểm chứng định

16

luật? (Câu hỏi vận dụng thấp)

Khi dạy mục II. Chiết suất của môi trường.

1. Chiết suất tỉ đối

2. GV lần lượt đặt các câu hỏi: Dựa vào thông tin trong bài học và hiểu

biết của bản thân, em hãy:

- Nêu khái niệm và viết biểu thức chiết suất tỉ đối? (Câu hỏi biết)

- So sánh góc i và r khi n21> 1 và n21< 1? (Câu hỏi hiểu)

- Vẽ hình với 2 trường hợp trên? (Câu hỏi hiểu)

- Vận dụng giải thích các hiện tượng trong thực tế? (Câu hỏi vận dụng

cao)

- Sử dụng công thức 26.4 để làm các bài tập cơ bản ? (Câu hỏi vận

dung thấp)

- Sử dụng công thức 26.4 để làm các bài tập năng cao ? (Câu hỏi vận

dung cao)

5. Kỹ thuật “đọc tích cực”

Kỹ thuật này nhằm giúp HV tăng cường khả năng tự học và giúp GV

tiết kiệm thời gian đối với những bài học/phần đọc có nhiều nội dung nhưng

không quá khó đối với HV.

Cách tiến hành như sau:

- GV nêu câu hỏi/yêu cầu định hướng HV đọc bài/phần đọc.

- HV làm việc cá nhân:

- Đoán trước khi đọc: Để làm việc này, HV cần đọc lướt qua bài

đọc/phần đọc để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh, tựa đề, từ/cụm từ quan trọng.

- Đọc và đoán nội dung : HV đọc bài/phần đọc và biết liên tưởng tới

những gì mình đã biết và đoán nội dung khi đọc những từ hay khái niệm mà

17

các em phải tìm ra.

- Tìm ý chính: HV tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua việc tập trung

vào các ý quan trọng theo cách hiểu của mình.

- Tóm tắt ý chính.

- HV chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và giải thích

cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/phần đọc.

- HV nêu câu hỏi để GV giải đáp (nếu có).

Lưu ý: Một số câu hỏi GV thường dùng để giúp HV tóm tắt ý chính:

- Em có chú ý gì khi đọc ............ ?

- Em nghĩ gì về ................... ?

- Em so sánh A và B như thế nào?

- A và B giống và khác nhau như thế nào?

6. Kỹ thuật phân tích phim Video

Phim video có thể là một trong các phương tiện để truyền đạt nội dung

bài học. Thời lượng phim nên ngắn gọn (5-10 phút). GV cần xem trước để

đảm bảo là phim phù hợp để chiếu cho các em xem.

- Trước khi cho HV xem phim, hãy nêu một số câu hỏi thảo luận, định

hướng nội dung hoặc liệt kê các ý mà các em cần tập trung. Làm như vậy sẽ

giúp các em chú ý tốt hơn.

- HV xem phim

- Sau khi xem phim video, yêu cầu HV làm việc một mình hoặc theo

cặp và trả lời các câu hỏi hoặc viết tóm tắt những ý cơ bản về nội dung phim

đã xem.

- Tránh trường hợp cho HV xem xong đoạn phim GV mới đặt câu hỏi

sẽ làm cho HV mất phương hướng, khó phát hiện ra vấn đề mình cần tìm

hiểu.

18

7. Sơ đồ tư duy

a. Khái niệm

Sơ đồ tư duy là sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng

mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ

đề. Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bản trong, trên bảng hay

thực hiện trên máy tính.

b. Các bước tiến hành

Bước 1:

Vẽ chủ đề ở trung tâm

Bước đầu tiên trong việc tạo ra một sơ đồ tư duy là vẽ chủ đề ở trung

tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang).

Quy tắc vẽ chủ đề:

- HV cần phải vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác.

- HV có thể sử dụng tất cả màu sắc mà các em thích.

- Khi vẽ không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì

chủ đề cần được làm nổi bật dễ nhớ.

- HV có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ

ràng.

- Một bí quyết vẽ chủ đề là nên vẽ chủ đề to cỡ đường kính khoảng 1,5-

2cm

Bước 2:

Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm.

Quy tắc vẽ tiêu đề phụ:

- GV hướng dẫn HV nên viết Tiêu đề phụ bằng chữ in hoa nằm trên các

nhánh khổ nét lớn, đậm để làm nổi bật.

19

- Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm.

- Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc (chứ không nằm

ngang) mục đích tạo không gian rộng để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ

tỏa ra một cách dễ dàng.

Bước 3:

Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.

Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ.

- Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.

- Thường xuyên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm

không gian vẽ và thời gian. Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho

những từ thông dụng. GV khuyến khích HV phát huy và sáng tạo thêm nhiều

cách viết tắt cho riêng mình. Dưới đây là một số cách viết tắt phổ biến thường

xuyên sử dụng.

- Mỗi từ khóa/hình ảnh được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên

nhánh. Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa.Việc này giúp cho nhiều

từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách

dễ dàng (bằng cách vẽ nối ra từ một khúc khác).

- Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm.

- Tất cả các nhánh tỏa ra từ một điểm (thuộc cùng một ý) nên có cùng

một màu.

- Thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.

Điều quan trọng cần nhớ là sơ đồ tư duy không phải dùng để tóm tắt

một chương sách. Sơ đồ tư duy không chỉ bao hàm những ý chính mà còn

chứa đựng tất cả những chi tiết hỗ trợ quan trọng khác.

Đọc sơ đồ tư duy: Sơ đồ tư duy được phát triển theo hướng đọc từ

trong ra ngoài. Nói cách khác, các ý tưởng được phân tán từ trung tâm. Theo

cách này, có ý tưởng và từ khóa nằm bên trái của sơ đồ tư duy được viết và

20

đọc từ phải sang trái.

Bước 4:

Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng của HV bay bổng. HV có

thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như

giúp chúng vào trí nhớ của HV tốt hơn.

c. Cấu trúc sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy có cấu trúc như sau:

Viết, vẽ sơ đồ tư duy không giống như cách viết thông thường. Sơ đồ

tư duy không xuất phát từ trái sang phải từ trên xuống dưới theo kiểu truyền

thống.

Thay vào đó, sơ đồ tư duy được vẽ, viết và học theo hướng bắt nguồn

từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ. Do

đó, HV sẽ thấy các từ ngữ nằm bên trái sơ đồ tư duy được đọc từ phải sang

trái (bắt đầu từ phía trong di chuyển ra ngoài). Các mũi tên xung quanh sơ đồ

tư duy bên dưới chỉ ra cách đọc thông tin trong sơ đồ, các số thứ tự cũng là

một cách hướng dẫn khác.

Bốn kết cấu chính I, II, III, IV trong sơ đồ tư duy ở hình vẽ trên được

gọi là phân nhánh chính. Sơ đồ tư duy này có 4 nhánh chính vì nó có 4 tiêu đề

phụ. Số tiêu đề phụ là số nhánh chính. Đồng thời, các nhánh chính của sơ đồ

21

tư duy được đọc theo chiều kim đồng hồ, bắt nguồn từ nhánh I tới nhánh II,

rồi nhánh II và cuối cùng là nhánh IV. GV hướng dẫn HV tham khảo các mũi

tên màu đen trong hình vẽ.

Tuy nhiên, các từ khóa được viết và đọc theo hướng từ trên xuống dưới trong cùng một nhánh chính. Hướng dẫn HV tham khảo các mũi tên màu xanh trong hình vẽ.

d. Ứng dụng

Sơ đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:

- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;

- Trình bày tổng quan một chủ đề;

- Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng;

- Thu thập, sắp xếp các ý tưởng;

- Ghi chép khi nghe bài giảng.

Như vậy, sử dụng các sơ đồ, bảng biểu trong kết hợp hướng dẫn HV

22

vận dụng sơ đồ tư duy nhằm giúp HV hiểu được vấn đề nội dung bài học, bài

tập đề ra một cách trực quan sinh động hơn, HV nhận thức dễ dàng những

điều tương đối trừu tượng, không được tận mắt chứng kiến.

Các ví dụ

Ví dụ 1

Sơ đồ tư duy để trình bày tổng quan chủ đề của bài 33, Địa lí 12,

chương trình cơ bản: VẤN ĐỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

THEO NGÀNH CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG.

Cách vẽ 1: (chỉ vẽ sơ lược)

Thế mạnh chính

Thực trạng

Định hướng

Hạn chế chính

Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở ĐBSH

Cách vẽ 2: (Cách này được vẽ cụ thể hơn)

Khái quát vùng

Thực trạng

Thế mạnh chính

Thực trạng và định hướng chuyển dịch

Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở ĐBSH

Định hướng

Hạn chế chính

23

Ví dụ 2:

Sử dụng bản đồ tư duy trong việc kiểm tra kiến thức cũ:

Bài 31. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI, DU LỊCH, Địa lí 12,

Chương trinh cơ bản.

GV yêu cầu HV lên bảng hoàn thiện Bản đồ tư duy và trình bày về tài

nguyên du lịch nước ta theo mẫu sau:

24

Sơ đồ các loại tài nguyên du lịch

Thông tin phản hồi: Sơ đồ các loại tài nguyên du lịch

Ví dụ 3: sử dụng bản đồ tư duy vào hình thành kiến thức mới trong

một phần nội dung của bài học.

Bài 21: ĐẶC ĐIỂM NỀN NÔNG NGHIỆP NƯỚC TA. Địa lí 12,

Chương trình cơ bản.

Hình thành bản đồ tư duy trong mục 1.a. Điều kiện tự nhiên và tài

nguyên cho phép nước ta phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới.

- GV cho HV quan sát nội dung mục 1.a.SGK, cùng kiến thức đã học,

yêu cầu HV cho biết điều kiện tự nhiên và tài nguyên ảnh hưởng đến nông

nghiệp bao gồm những nhân tố nào? Các nhân tố đó ảnh hưởng như thế nào

tới nền nông nghiệp nước ta?

HV trả lời và thể hiện bằng bản đồ tư duy.

8. Kỹ thuật đặt vấn đề tranh luận

a. Khái niệm

- Kỹ thuật đặt vấn đề là một kỹ thuật dạy học gây hứng thú, phát huy

25

tính tích cực của HV trong đó các vấn đề được đặt ra thường nảy sinh từ một

đến hai chiều hướng tư duy đối lập nhau của cùng một vấn đề, một sự vật hiện

tượng đang tồn tại, đòi hỏi phải có những dẫn chứng, những kiến thức đúng

đắn nhằm lí luận và đi đến giải quyết vấn đề đó.

b. Đặc điểm

- Kỹ thuật tranh luận thường được sử dụng nhằm mục đích giải quyết

một vấn đề thông qua sự tranh luận của các nhóm, các nhóm từ đó nhằm làm

kích động mạnh đến tư duy của HV, buộc HV phải dùng tư duy và trí tuệ của

mình để tìm cơ sở bảo vệ cho quan điểm của mình.

- Kỹ thuật tranh luận thường được thiết kế theo dạng câu hỏi giả định

(có hay không) kích thích tư duy với nhiều trạng thái nhận thức khác nhau,

nhưng chủ yếu nhằm nảy sinh mâu thuẫn đối lập giữa hai trường phái “có” và

“không” từ đó đòi hỏi phải đi giải quyết mâu thuẫn đó để thoả mãn sự nhận

thức vấn đề.

- Kỹ thuật tranh luận cũng có thể diễn ra ở ngoài lớp học, ở những buổi

học nhóm, những buổi hội thảo….

- Kết quả của sự tranh luận có thể không đi đến cái đích cần tìm nhưng

dựa trên cơ sở đó GV giải thích để đi đến nhận định chung nhất một quan

điểm đúng đắn của vấn để cần tìm hiểu. Quá trình tư duy của HV của các

nhóm lúc này sẽ dễ dàng hình thành nhận thức đúng đắn về vấn đề đã được

tranh luận thông qua nhiều ý kiến, nhiều luận cứ sát thực.

Các hình thức và kỹ thuật thực hiện:

Điểm hay nhất của kỹ thuật này là nó diễn ra một cách tự nhiên, có thể

trong lúc GV vào bài, vào đề mục, cũng có thể diễn ra trong lúc một HV nào

đó đang giải quyết một vấn đề nào đó liên quan đến nội dung chính của phần

cần tìm hiểu.

Trong bài học có một số vấn đề có thể làm xuất hiện hai (hoặc nhiều)

cách giải quyết khác nhau. GV có thể nêu ra các khả năng giải quyết, sau đó

26

đặt câu hỏi chung cho toàn lớp và lấy ý kiến (bằng cách đưa tay) để phân loại

số em theo cách này, số em theo cách khác. Sau đó, GV đặt câu hỏi “Tại sao

em chọn cách này mà không chọn cách khác?” để HV theo cách khác nhau

tranh luận với nhau. Trong quá trình tranh luận, GV nên có sự gợi ý hướng

các em vào chủ đề chính, không đi quá xa, hoặc uốn nắn, sửa chữa kịp thời

các ý kiến thiếu chính xác. Kết quả cuối cùng cần có sự khẳng định của GV

trên cơ sở giải thích rõ ràng và lí lẽ thuyết phục, kết hợp với tổng kết ý kiến

của HV. (Lưu ý: có thể có cách giải quyết vấn đề được nhiều em ủng hộ hơn,

nhưng chưa phải là cách đúng nhất).

- Đặt vấn đề cho toàn lớp.

* Các bước tiến hành:

Bước 1: Chọn chủ đề đặt vấn đề

- Việc lựa chọn chủ đề trong loại phương pháp đặt vấn đề là hết sức

quan trọng, bởi vì:

+ Chủ đề được lựa chọn để đặt vấn đề phải bao hàm hai mặt của một

vấn đề, làm cho người giải quyết nó phải đứng trước một trong hai sự lựa

chọn (có cần hoặc không cần).

+ Chủ đề được lựa chọn thường phải là những phần trọng tâm của bài

học mang tính chất nhận thức cao về bản chất của vấn đề cần nhận định.

Bước 2: Đặt câu hỏi có vấn đề

Câu hỏi trong kỹ thuật tranh luận đưa ra phải hàm chứa các nhận định

mang chiều hướng trái ngược nhau, từ đó hình thành nên hai trường phái có

quan điểm và nhận định khác nhau về cùng một vấn đề được đặt ra trước đó.

Bước 3: Kích thích và điều khiển HV giải quyết vấn đề

- Khi câu hỏi được đặt ra, GV phải là người đóng vai trò khởi xướng để

kích thích tư duy của HV và khuyến khích HV nhận định vấn đề và bảo vệ

27

quan điểm của vấn đề mà mình vừa nhận định.

- Lúc này lớp học sẽ tự động chia ra thành hai nhóm đối lập nhau về

quan điểm nhìn nhận vấn đề, GV phải đóng vai trò là trọng tài ở giữa để điều

khiển sự tranh luận của các bên thông qua những ý kiến lập luận nhằm chứng

minh và bảo vệ cho quan điểm của nhóm mình.

- Khi điểu hành tranh luận GV cần lưu ý tránh tình trạng tranh luận dẫn

đến cãi nhau…

Bước 4: Kết thúc tranh luận, tổng kết vấn đề

- Nếu cuộc tranh luận ngã ngũ và tự kết thúc được theo chiều hướng

đúng về mặt kiến thức thì tốt, còn nều cuộc tranh luận không ngã ngũ hoặc

không kết thúc được thì tuỳ thuộc vào thời gian, tuỳ thuộc vào tính chất và

tình hình thực tế của cuộc tranh luận mà GV tự quyết định kết thúc tranh luận

sau đó phân tích vấn đề và kết luận xem bên nào nhận định đúng và đưa ra

được nhiều những bằng chứng, những kiến thức để bảo vệ cho quan điểm của

mình. Thông qua đó GV kết luận lại bản chất của vấn đề một lần nữa để HV

nắm bản chất của vấn đề.

9. Kỹ thuật đóng vai

a. Khái niệm

Đóng vai là phương pháp, trong đó HV đóng các vai khác nhau thể hiện

các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ của chúng, từ đó nắm kiến thức bài

học.

b. Đặc điểm

Phương pháp đóng vai được đặc trưng bởi một hoạt động với các nhân

vật giả định, mà trong đó, các tình thế trong thực tiễn cuộc sống được thể hiện

tức thời thành những hành động có tính kịch. Các hành động có tính kịch

được xuất phát từ chính sự hiểu biết, óc tưởng tượng và trí sáng tạo của các

em, không cần phải qua tập dượt hay dàn dựng công phu.

(Chú ý: Nếu thời gian còn nhiều, có thể cho một số HV khác thay một số vai

28

trình diễn, hoặc lặp lại nội dung đóng vai với một "kíp" HV khác).

c. Ưu điểm

- HV được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ

trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.

- Gây hứng thú và chú ý cho HV.

- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của HV.

- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HV theo chuẩn mực hành vi

đạo đức và chính trị – xã hội.

- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của

các vai diễn.

d. Cách tiến hành

- GV chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định

rõ thời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai (Nêu bối cảnh, mục tiêu, yêu cầu,

tạo không khí đóng vai).

- Lựa chọn vai.

- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai.

- GV phỏng vấn HV đóng vai:

+ Vì sao em lại ứng xử như vậy?

+ Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử? Khi nhận được

cách ứng xử (đúng hoặc sai?)

- Lớp thảo luận, nhận xét: Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay

chưa phù hợp? Chưa phù hợp ở điểm nào? Vì sao?

- GV kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống.

* Những điều cần lưu ý khi sử dụng

- Tình huống nên để mở, không cho trước “kịch bản”, lời thoại

29

- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai

- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để

không lạc đề

- Nên khích lệ cả những HV nhút nhát tham gia

- Nên hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi

đóng vai

Một số ví dụ trong dạy Địa Lý:

Ví dụ 1:

Bài 16: Đặc điểm dân số và phân bố dân cư ở nước ta.

Mục 2: Dân số tăng nhanh, cơ cấu dân số trẻ.

b. Tác động của dân số đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội

Xây dựng cốt truyện nhằm phản ánh hậu quả của việc dân số tăng

nhanh được thể hiện trong một số hoàn cảnh của các cặp vợ chồng trẻ, các

gia đình đông con đang phải gánh chịu những khó khăn về các vấn đề: Chất

lượng cuộc sống, việc làm, nhà ở, giáo dục, y tế…

Yêu cầu

Cần xây dựng được một số vai nhằm phản ánh đầy đủ và sinh động các

vấn đề kinh tế-xã hội đang diễn ra trong cuộc sống những gia đình sinh nhiều

con bằng nhiều các khía cạnh và góc độ khác nhau để làm nổi bật được hậu

quả của dân số đông, tăng nhanh đang là gánh nặng đè lên vai những gia

đình trong cuộc sống.

Gia đình A Gia đình B Tụ điểm trẻ lang thang

Cảnh cuộc sống Vì cố gắng để có một cậu con Câu chuyện của những

vất vả với miếng trai nối dõi nên vợ chồng đã 4 đứa trẻ phải bỏ học sớm

cơm, manh áo lần sinh nở mà vẫn chưa được để đi kiếm tiền giúp bố

toại nguyện. mẹ nuôi gia đình. Con cái nheo

30

nhóc, ốm đau Con cái không có điều kiện Các em ngồi tâm sự với

liên miên. chăm sóc, đứa thứ nhất và đứa nhau về hoàn cảnh của

thứ hai mới học cấp 2 đã phải mình và mong muốn Cuộc sống gia

nghỉ học ở nhà giữ em và làm được tiếp tục đến trường. đình luôn có

việc như những lao động thực Mỗi sáng đi tìm việc làm những cuộc sung

thụ. qua cổng trường nhìn đột vì miếng

cơm, manh áo. Hai đứa trẻ tâm sự với bạn về thấy các bạn cùng trang

mơ ước được đến trường đi lúa đi học mà rơi nước Người chồng

mắt.. học chán nản rượu

chè về nhà đổ Hàng xóm đến khuyên không

lỗi của sự nghèo nên sinh thêm nữa, để chăm

đói lên đầu vợ sóc con cái cho tốt, nhưng anh

con. chồng không nghe…

Trụ sở dân số KHHGĐ Huyện.

Trong một buổi họp:

Các thành viên trong ban báo cáo tình hình dân số của huyện và tác động

của nó đến đời sống xã hội...

Cuộc họp kết luận và đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết các hậu quả của

dân số tăng nhanh như: Đẩy mạnh hoạt động giáo dục dân số, Giúp đỡ, động

viên để đưa các em có hoàn cảnh khó khăn được đến trường.

Giúp đỡ các gia đình học nghề và tìm việc làm để có cuộc sống ổn định…

Ví dụ 2: Đóng vai với Chủ đề Phát triển bền vững

Mục đích

HV sẽ nhận thức được, việc bảo vệ rừng ngập mặn hiện nay,

không chỉ vì cuộc sống hiện tại, mà vì lợi ích của nhiều thế hệ mai sau.

31

- Bối cảnh

Rừng rậm nhiệt đới ở khu vực Amazon (Braxin), nơi có giá trị cao về

đa dạng sinh học, kinh tế và môi trường, là tài sản quí giá không chỉ của

Braxin mà của toàn thế giới và cần được bảo vệ. Tuy nhiên, rừng đã bị tàn

phá một cách nặng nề trên một diện rộng, gây lo ngại cho toàn thế giới. Rừng

Amazon đang đứng trước một thách thức lớn: tồn tại hay diệt vong? Sự tàn phá

rừng ở Amazon không những đã gây nên bao thảm họa nặng nề cho môi trường

và nền kinh tế của Braxin và khu vực mà còn đe dọa sự thụ hưởng tự nhiên của

nhiều thế hệ trong tương lai.

Đóng vai là hoạt động để HV thấy được mâu thuẫn giữa phát triển kinh

tế với bảo vệ tài nguyên hết sức gay cấn, cần có những con đường giải quyết

hợp lý.

- Hoạt động

+ Nhận vai (tự chọn hay đề nghị): Ông, cha, con, con út. Một số người

đóng vai Chính phủ, số còn lại của lớp đóng vai Cộng đồng.

+ Diễn xuất: Không khí gia đình sau bữa cơm chiều. Logic mạch tranh

luận có thể gợi ý như sau: (các con số chỉ sự tiếp nối ý kiến).

Người Ông Người Cha Người Con Người con út

1. Hồi ức lại tuổi 2. Lý giải: vì người 3. Bình luận: Nói 5. Mơ ước:

thơ sống trong một đông, của khó, phải thi về lợi ích của hỏi Ông ngoại:

thiên nhiên hoang nhau phá rừng lấy gỗ, rừng ngập mặn và bao giờ mới

dã, giàu có. củi, làm vuông tôm, khi phá đi thì gặp được như Ông

bắt chim, cua... nhiều nguy hại ngày xưa? Than phiền: hiện

đến đa dạng sinh nay chim, cá ngày 4. Phân trần: không

học, kinh tế, môi càng hiếm, rừng làm vậy thì lấy tiền

trường. mất dần,... đây nuôi sống cả nhà

và nuôi con ăn học? 7. Tán thành với 6. Đề xuất: cần

Ông. Thêm: cần phải khai phá, 8. Tại sao đã nói khai

32

phải để dành rừng

nhưng có mức độ để thác mà còn phải bảo cây, chim, cá cho

các loài còn sinh vệ, phải để dành, phải con cháu sau này.

sôi, nảy nở. có mức độ?

9. Giải pháp: Chính phủ, Cộng đồng cùng với các thành viên gia đình trao đổi,

bàn bạc về các giải pháp vừa khai thác được rừng ngập mặn phục vụ cuộc sống,

vừa bảo vệ phát triển rừng (Kết hợp trình diễn một số tranh, ảnh, mô hình...)

10. Kỹ thuật XYZ

Kỹ thuật XYZ là một kỹ thuật nhằm phát huy tính tích cực trong thảo

luận nhóm. X là số người trong nhóm, Y là số ý kiến mỗi người cần đưa ra, Z

là phút dành cho mỗi người.

Ví dụ kỹ thuật 635 thực hiện như sau:

- Mỗi nhóm 6 người, mỗi người viết 3 ý kiến trên một tờ giấy trong

vòng 5 phút về cách giải quyết 1 vấn đề và tiếp tục chuyển cho người bên

cạnh.

- Tiếp tục như vậy cho đến khi tất cả mọi người đều viết ý kiến của

mình, có thể lặp lại vòng khác.

- Con số X-Y-Z có thể thay đổi.

- Sau khi thu thập ý kiến thì tiến hành thảo luận, đánh giá các ý kiến.

11. Kỹ thuật “bể cá”

Kỹ thuật bể cá là một kỹ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một

nhóm HV ngồi giữa lớp và thảo luận với nhau, còn những HV khác trong lớp

ngồi xung quanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc

cuộc thảo luận thì đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những HV thảo

luận.

Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người ngồi. HV

33

tham gia nhóm quan sát có thể ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào cuộc

thảo luận, ví dụ đưa ra một câu hỏi đối với nhóm thảo luận hoặc phát biểu ý

kiến khi cuộc thảo luận bị chững lại trong nhóm. Cách luyện tập này được gọi

là phương pháp thảo luận “bể cá”, vì những người ngồi vòng ngoài có thể

quan sát những người thảo luận tương tự như xem những con cá bơi trong

một bể cá cảnh. Trong quá trình thảo luận, những người quan sát và những

người thảo luận sẽ thay đổi vai trò với nhau.

Bảng câu hỏi cho những người quan sát:

- Người nói có nhìn vào những người đang nói với mình không?

- Họ có nói một cách dễ hiểu không?

- Họ có để những người khác nói hay không?

- Họ có đưa ra được những luận điểm đáng thuyết phục hay không?

- Họ có đề cập đến luận điểm của người nói trước mình không? Họ có

lệch hướng khỏi đề tài hay không?

34

- Họ có tôn trọng những quan điểm khác hay không?