
TÀI LIỆU GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG,
CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH (SỬA ĐỔI)

1
TÀI LIỆU GIỚI THIỆU
LUẬT PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH (SỬA ĐỔI)
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi năm 2022) được Quốc hội
khoá XV kỳ họp thứ 14 thông qua vào ngày 14/11/2022, Luật có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/7/2023. Theo đó, Luật được ban hành với những nội dung cơ
bản như sau:
1. Sự cần thiết sửa đổi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình được Quốc hội khóa XII thông qua
ngày 21 tháng 11 năm 2007, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2008.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình được ban hành đã đưa Việt Nam là một
trong số quốc gia tiên phong luật hóa những vấn đề cơ bản trong hiến chương
của Liên hợp quốc về quyền con người. Vấn đề này, thể hiện sự cam kết mạnh
mẽ của Nhà nước ta trong thực hiện các điều ước quốc tế, kiên quyết đấu tranh
chống lại những hành vi tiêu cực trái với giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của
gia đình, xóa bỏ những hủ tục, tư tưởng lạc hậu để xây dựng gia đình Việt Nam
no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Sau gần 15 năm thi hành Luật, nhận thức
của người dân, cộng đồng và chính quyền các cấp đã chuyển biến tích cực.
Trách nhiệm phòng, chống bạo lực gia đình (BLGĐ) không chỉ riêng của một
ngành, một cấp mà thuộc trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội.
Mọi hành vi BLGĐ đều bị lên án và xử lý. Tình trạng BLGĐ đã có xu hướng
giảm đáng kể theo từng năm cả về số vụ và mức độ bạo lực.
Mặc dù đạt được kết quả nêu trên, song tình trạng BLGĐ vẫn còn diễn
biến phức tạp, khó lường. Một số địa phương vẫn xảy ra các vụ BLGĐ nghiêm
trọng. Điều tra quốc gia bạo lực với phụ nữ được Bộ Lao động-Thương binh và
Xã hội, Tổng Cục thống kê, Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam thực hiện
năm 2019, công bố năm 2020 cho thấy có 31,6% phụ nữ phải chịu ít nhất một
hình thức bạo lực trong 12 tháng (kể từ lúc điều tra), cứ 3 phụ nữ thì có gần 1
người (32%) bị chồng bạo lực thể xác/hoặc bạo lực tình dục. Đáng chú ý có
90,4% phụ nữ bị chồng bạo lực thể xác hoặc tình dục không tìm kiếm sự giúp
đỡ, chỉ có 4,8% tìm kiếm sự giúp đỡ của công an, kết quả điều tra cho thấy năm
2019, bạo lực gia đình với phụ nữ gây thiệt hại 1,8% GDP (tăng 0,2% so với
năm 2012).
Từ thực trạng tình hình bạo lực gia đình cho thấy, BLGĐ vẫn còn khá phổ
biến không chỉ ở nhóm đối tượng là phụ nữ mà con ở người già, trẻ em và các
đối tượng khác. Vì vậy, việc sửa đổi Luật Phòng, chống BLGĐ hiện hành là
thực sự cần thiết nhằm:

2
- Thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước;
- Khắc phục những bất cập của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình hiện
hành;
- Bảo đảm phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
tham gia.
2. Quan điểm, mục tiêu chính sách Luật Phòng, chống bạo lực gia
đình (sửa đổi)
2.1. Quan điểm của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi)
Một là, tiếp tục thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về gia đình,
trực tiếp là Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Ban Bí thư về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng gia đình trong tình
hình mới; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XII về xây dựng và phát triển văn hóa, con người
Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước cũng như Văn kiện
Đại hội Đảng toàn quốc khóa XIII cũng đề ra các quan điểm, chủ trương, giải
pháp cụ thể cho việc thực hiện các biện pháp phát triển gia đình hạnh phúc,
bền vững và thực hiện phòng, chống BLGĐ toàn diện, khả thi, có hiệu quả.
Hai là, bảo đảm phù hợp với chủ trương, quan điểm của Đảng về hoàn thiện
hệ thống pháp luật, xây dựng gia đình Việt Nam và phòng, chống BLGĐ trong
tình hình mới; cụ thể hóa đầy đủ quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con
người, quyền công dân, xây dựng và phát triển gia đình, bảo vệ các đối tượng yếu
thế trong mỗi gia đình; bảo đảm thiết lập các nguyên tắc và biện pháp phù hợp
với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam.
Ba là, tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia,
bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, khả thi, phù hợp giữa các cam kết quốc tế và
tình hình thực tiễn của Việt Nam.
Bốn là, kế thừa đầy đủ các chế định cơ bản của Luật hiện hành còn phù
hợp, có điều chỉnh, sửa đổi để khắc phục những vướng mắc, bất cập và bổ sung
những vấn đề mới phát sinh.
2.2. Mục tiêu của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi)
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi) hướng tới hoàn thiện thể chế
về công tác phòng, chống bạo lực gia đình theo hướng tăng cường các biện pháp
bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013; nâng cao hiệu lực, hiệu quả
của các thiết chế nhà nước, xã hội cũng như vai trò của gia đình về lĩnh vực này,
góp phần gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của gia đình, dân tộc,
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tình hình mới.

3
3. Bố cục, nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa
đổi)
3.1. Bố cục Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi)
Gồm 6 Chương, 56 Điều:
- Chương I: Những quy định chung gồm 12 Điều (Điều 1 - Điều 12);
- Chương II: Phòng ngừa bạo lực gia đình gồm 6 Điều (Điều 13 - Điều 18);
- Chương III: Bảo vệ, hỗ trợ, xử lý vi phạm trong phòng, chống bạo lực gia
đình gồm 22 Điều (Điều 19 - Điều 41);
- Chương IV: Điều kiện bảo đảm phòng, chống BLGĐ gồm 4 Điều (Điều
42 - Điều 45);
- Chương V: Quản lý Nhà nước và trách nhiệm của cơ quan tổ chức về
phòng, chống BLGĐ gồm 9 Điều (Điều 46 - Điều 54);
- Chương VI: Điều khoản thi hành gồm 2 Điều (Điều 55 - Điều 56).
3.2. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, bảo vệ, hỗ trợ, xử lý vi phạm
trong phòng, chống BLGĐ; điều kiện bảo đảm phòng, chống BLGĐ; quản lý
nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong phòng,
chống BLGĐ.
3.3. Nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi)
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đáp ứng yêu cầu phát sinh trong thực
tiễn và khắc phục những bất cập trong các quy định của Luật Phòng, chống bạo
lực gia đình năm 2007. Luật đã bám sát phương pháp tiếp cận quyền con người,
bảo đảm quyền con người, đặc biệt là đối tượng đặc thù như phụ nữ, trẻ em,
người cao tuổi, người khuyết tật, ưu tiên nguyện vọng chính đáng, sự an toàn là
trên hết của người bị BLGĐ, đồng thời tôn trọng các quyền của công dân khi xử
lý các hành vi vi phạm về BLGĐ. Các yếu tố về văn hóa, gia đình, đặc điểm tâm
lý của các nhóm đối tượng và đặc thù vùng miền, dân tộc cũng đã được quan
tâm, xem xét khi thiết kế các quy định để bảo đảm tính hiệu quả, nghiêm minh,
góp phần gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của gia đình, dân tộc,
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Chương I (Những quy định chung): Chương này quy định về phạm vi
điều chỉnh, giải thích từ ngữ, hành vi BLGĐ; nguyên tắc phòng, chống BLGĐ;
các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống BLGĐ; chính sách của Nhà
nước về phòng, chống BLGĐ; tháng hành động quốc gia phòng, chống BLGĐ;
hợp tác quốc tế về phòng, chống BLGĐ; quyền và trách nhiệm của người bị
BLGĐ; trách nhiệm của người có hành vi BLGĐ; trách nhiệm của thành viên

4
gia đình trong phòng, chống BLGĐ; quyền và trách nhiệm của cá nhân trong
phòng, chống BLGĐ.
Chương II (Phòng ngừa BLGĐ): Chương này quy định về mục đích, yêu
cầu trong thông tin, truyền thông, giáo dục; nội dung thông tin, truyền thông,
giáo dục; hình thức thông tin, truyền thông, giáo dục; tư vấn về phòng, chống
BLGĐ; hòa giải trong phòng, chống BLGĐ; chủ thể tiến hành hòa giải.
Chương III (Bảo vệ, hỗ trợ, xử lý vi phạm trong phòng, chống BLGĐ):
Chương này quy định về báo tin, tố giác về hành vi BLGĐ; xử lý tin báo, tố giác
về hành vi BLGĐ; sử dụng âm thanh, hình ảnh về hành vi BLGĐ; biện pháp
ngăn chặn hành vi BLGĐ và bảo vệ, hỗ trợ người bị BLGĐ; buộc chấm dứt
hành vi BLGĐ; yêu cầu người có hành vi BLGĐ đến trụ sở Công an xã nơi xảy
ra hành vi BLGĐ; cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã; cấm tiếp xúc theo quyết định của Tòa án; giám sát việc thực hiện quyết
định cấm tiếp xúc; bố trí nơi tạm lánh và hỗ trợ nhu cầu thiết yếu; chăm sóc,
điều trị người bị BLGĐ; trợ giúp pháp lý và tư vấn tâm lý, kỹ năng để ứng phó
với BLGĐ; giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành vi BLGĐ; góp ý, phê bình người
có hành vi BLGĐ trong cộng đồng dân cư; thực hiện công việc phục vụ cộng
đồng; bảo vệ người tham gia phòng, chống BLGĐ và người báo tin, tố giác về
BLGĐ; cơ sở trợ giúp phòng, chống BLGĐ; địa chỉ tin cậy; cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh; cơ sở trợ giúp xã hội, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, tổ chức
tham gia trợ giúp pháp lý; cơ sở khác tham gia trợ giúp phòng, chống BLGĐ; cơ
sở cung cấp dịch vụ trợ giúp phòng, chống BLGĐ; xử lý vi phạm pháp luật về
phòng, chống BLGĐ.
Chương IV (Điều kiện bảo đảm phòng, chống BLGĐ): Chương này quy
định về kinh phí phòng, chống BLGĐ; cơ sở dữ liệu về phòng, chống BLGĐ;
phối hợp liên ngành về phòng, chống BLGĐ; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng
tham gia phòng, chống BLGĐ.
Chương V (Quản lý Nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về
phòng, chống BLGĐ): Chương này quy định nội dung quản lý nhà nước về
phòng, chống BLGĐ; trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về phòng,
chống BLGĐ; trách nhiệm của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; trách nhiệm
của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; trách nhiệm của chính
quyền địa phương các cấp; trách nhiệm của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát
nhân dân các cấp; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên; trách nhiệm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; trách nhiệm của tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế.
Chương VI (Điều khoản thi hành): Chương này quy định về việc sửa
đổi, bổ sung Điều 135 của Bộ Luật Tố tụng dân sự và hiệu lực thi hành.

