CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐIỂM ĐẾN
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Điểm đến
- Có thể là quốc gia hoặc tập hợp các quốc gia, một vùng nông thôn, một tỉnh, một
thành phố, thị trấn hay khu nghỉ mát địa phương, công viên quốc gia, khu vực có
vẻ đẹp tự nhiên nổi bật/đường bờ biển.
- Có thể được quản lý theo: ranh giới của đơn vị hành chính, đặc điểm địa lý như
ranh giới tự nhiên của một hòn đảo, có hình ảnh hoặc nhận thức của khách hàng.
- Là cốt lõii của hệ thống du lịch, là một tổ hợp các SPDL mang lại trải nghiệm điểm
đến cho du khách.
➔ Trong bối cảnh cung và cầu, các điểm đến: là sự kết hơp của các sản phẩm và
dịch vụ với nhau để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, là những nơi mà khách
du lịch đến để trải nghiệm.
1.1.2. Điểm đến du lịch
1.1.2.1. Du lịch
1.1.2.2. Điểm đến du lịch
- Là một khu vực dễ nhận biết với ranh giới địa lý/ hành chính có khách du lịch đến
thăm và lưu trú trong chuyến đi có doanh thu du lịch/ có tiềm năng đáng kể đối với
nền kinh tế được phục vụ bởi cả khu vực tư nhân và nhà nước.
- Theo cách tiếp cận truyền thống, điểm đến du lịch là nơi được xác định trên
phương diện địa lý/ phạm vi lãnh thổ. Có thể là toàn bộ quốc gia (VD: Úc), một
vùng (Ví dụ: Nam Trung Bộ), hòn đảo (VD: Bali), một ngôi làng, thị trấn hoặc
thành phố, một trung tâm khép kín/ các điểm tham quan (VD: Disneyland).
- Theo Cooper và cộng sự vào năm 2004, Là một vị trí địa lý khi mà khách du lịch
thực hiện hành trình đến đó, nhằm thoải mãn nhu cầu theo động cơ, mục đích của
chuyến đi. Là một vùng địa lý được xác định bởi du khách, nơi có các cơ sở vật
chất kỹ thuật và các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của họ.
- Theo Giuseppe Marzano vào năm 2007, là một thành phố, thị xã, khu vực khác của
nền kinh tế có phụ thuộc đến mức độ tích luỹ đánh kể từ các khoản thu từ Du lịch,
có thể chứ một/nhiều điểm tham quan du lịch hấp dẫn.
- Theo Balglu và Brinberg, 1997; Fyall và cộng sự, 2006 là một khái niệm tổng thể
bao gồm các nhà cung cấp và kinh doanh dịch vụ tại điểm đến.
TÀI LIỆU HỌC TẬP HỌC PHẦN: QUẢN TRỊ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
- Theo quan điểm của nhà cung cấp Dịch vụ du lịch, điểm đến du lịch được hình
thành bởi nhiều sản phẩm thành phần, được cung ứng từ các nhà cung cấp (Wang,
2008)
- Theo quan điểm của các bên liên quan (cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa
phương, cộng đồng dân cư, hướng dẫn viên, các nhà cung cấp du lịch, các dịch vụ
bổ sung liên quan), điểm đến du lịch là một hệ thống xã hội mở của nhiều bên liên
quan phụ thuộc lẫn nhau (D’Angella và Go, 2009).
- trên phương diện kinh doanh du lịch, điểm đến du lịch được nhìn nhận như một sản
phẩm/ một thương hiệu cần được quản lý và phát triển, theo beerli và martin, 2004.
- Trên thực tế, điểm đến là sự pha trộn của các sản phẩm du lịch -> trải nghiệm tích
hợp cho du khách, có thể so sánh điểm đến này với những điểm đến khác.
- Theo UNWTO, là một nơi cụ thể, ở đó khách du lịch lưu lại ít nhất một đêm; bao
gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ và tài nguyên du lịch thu hút khách du lịch;
có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định
cạnh tranh của điểm đến du lịch trên thị trường.
➔ Khái niệm điểm đến du lịch của UNWTO, tiếp cận và giải quyết các vấn đề: về
quản lý điểm đến du lịch, gắn liền đến du lịch: với những hoạt động phối hợp
phát triển các tài nguyên du lịch, tiện nghi du lịch có tính địa phương, đủ sức
hấp dẫn và đáp ứng nhu cầu của các du khách;với triển khai các hoạt động xúc
tiến ở thị trường nội địa và quốc tế.
- Theo luật DLVN, 2017. “Là nơi có TNDL được đầu tư, khai thác phục vụ khách du
lịch”. Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị phân vùng du lịch, có
quy mô nhỏ, diện tích, không gian riêng biệt. Khái niệm chỉ nói đến phạm vị hẹp
của nơi có tài nguyên du lịch, du khách chưa chỉ rõ được quy mô, mức độ, việc lưu
lại của khách du lịch, điều kiện tiếp cận, sản phẩm du lịch, ranh giới hành chính để
quản lý, sự nhận diện về hình ảnh của điểm đến du lịch.
Phân biệt:
• Điểm đến du lịch
• Địa điểm
• Điểm du lịch
• Khu du lịch
• Điểm tham quan
1.1.3. Điểm du lịch
Về cơ bản, điểm du lịch có những điểm giống với điểm đến du lịch.
Điểm du lịch có nghĩa là du khách có thể chỉ đến tham quan và sử dụng các dịch
vụ nhưng không ngủ lại một đêm, nằm trong điểm đến du lịch có đa dạng, phong phú:
phụ thuộc vào sự sáng tạo của người làm du lịch.
Một điểm đến du lịch nào cũng có ít nhất từ 3 điểm tham quan du lịch trở lên.
Nhà kinh doanh du lịch muốn điểm tham quan du lịch đa dạng thì phải lưu giữ
được khách ở lâu ngày hoặc ít là 3 – 5 giờ tại điểm đến du lịch và giúp cho khách tham
quan và trải nghiệm hơn tại điểm đến du lịch. Họ xem, nhìn, chiêm ngưỡng, nghe và
cảm xúc. Nhằm phát huy các giá trị tài nguyên du lịch và các ý tưởng sáng tạo của
người làm du lịch và phát huy hiệu quả kinh tế- xã hội của hoạt động du lịch tại điểm
đến du lịch.
Xây dựng các CTTQ tại điểm đến du lịch theo nguyên tắc:
- Nhanh – chậm: Đi phải nhanh – chơi phải chậm.
- Dài – ngắn: thơi fgian ngắm cảnh, tham quan phải dài – thời gian đi đường phải
ngắn.
- Nhiều – ít: ngắm nhiều phong cảnh, di tích, hiện vật, hiện tượng – đường đi tham
quan ít trùng lặp.
- Cao – thấp: đi tham quan những nơi có sức hấp dẫn cao – chi phí cho chuyến tham
quan thấp.
1.1.4. Quản lý điểm đến
Quản trị là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các
hoạt động của những người khác để đạt được những kết quả mà một người hành động
riêng rẽ không làm được, theo Jame H. Donnelly, R. James L. Gibson & John
Ivancevich.
Quản trị là một hệ thống bao gồm hai phân hệ:
- (1) Chủ thể quản trị hay phân hệ quản trị
- (2) Đối tượng quản trị hay phân hệ bị quản trị.
Mà theo đó, chủ thể quản trị có thể là một người hoặc bộ máy quản trị gồm nhiều
người. Đối tượng bị quản trị ở đây có thể là con người và các thành tố không phải là
con người như cơ sở hạ tầng, điều kiện vật chất…
Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng hạt nhân của hoạt động quản trị, là con
người và thông qua con người. “có thể nói rằng, lý do tồnh tại của hoạt động quản trị
chính là vì muốn có hiệu quả và chỉ khi nào người ta quan tâm đến hiệu quả thì người
ta mới quan tâm đến hoạt động quản trị”.
Quản lý điểm đến là quản lý lợi ích của các bên liên quan khác nhau trong điểm
đến du lịch và giữ cho chúng cân bằng.
1.2. Phân loại điểm đến
- Căn cứ vào tiêu thức địa lý
+ ĐĐ đô thị: các thành phố lớn với giá trị văn hoá – lịch sử (Hà Nội, Huế)
+ ĐĐ nông thôn: vùng nôn nông thôn, vườn quốc gia, khu vực có cản quan núi hồ
+ ĐĐ duyên hải gồm các khu nghỉ dưỡng ven biển, tắm biển..
+ ĐĐ trung du, miền núi
- Căn cứ vào giá trị tài nguyên du lịch
+ Điểm đến DLST
+ ĐĐDL Văn Hoá
+ ĐĐDL Nông thôn
+ ĐĐDL biển đảo
+ ĐĐDL miền núi
+ ĐĐDL CĐ
- Xét theo cấp độ
+ Điểm đến có quy mô lớn: địa điểm của một vùng lãnh thổ hay ở cấp độ châu lục.
Ví dụ: khu vực ĐNA, Châu Mỹ
+ Điểm đến vĩ mô: địa điểm ở cấp độ quốc gia như Việt Nam, Hoa Kỳ, Úc…
+ Điểm đến vi mô gồm các vùng, tỉnh, thành phố, quận, huyện, thậm chí một thị xã,
thị trấn trong lãnh thổ quốc gia như vùng Bắc Trung Bộ, Hà Nội, An Giang, Hà
Tiên…
- Căn cứ vào hình thức sở hữu
- Căn cứ vào thời gian
1.3. Các yếu tố cấu thành điểm đến
Điểm đến như 1 SPDL/ một thương hiệu DL:
- (1) ĐIểm tham quan hấp dẫn;
+ Tính hấp dẫn du lịch là lực hút giữa điểm đến du lịch và điểm cung cấp khách du
lịch.
+TNDL tại điểm đến
+ SPDL
- (2) DV, tiện nghi: cơ sở hạ tầng – vật chất kỹ thuật du lịch.
Là tập hợp các dịch vụ và tiện ích sẵn có của điểm đến phục vụ du khách trong
thời gian lưu lại điểm đến du lịch.
+ Có cơ sở hạ tầng cơ bản (cảng tàu du lịch, giao thông kết nối DL…_-> đón tiếp
khách
+ Hệ thống vận chuyên khách đến và tại các điểm đến
+ Cơ sở lưu trú
+ Nhà hàng, quán bar, cà phê
+ Cơ sở thể thao/ giải trí
- (3) Khả năng tiếp cận
+ Khả năng thuận tiện, dễ dàng về giao thông: di chuyển tới điểm đến và di chuyển
tại điểm đến
+ Thủ tục xuất nhập cảnh về các yêu cầu về thị thực, hải quan,các điều kiện xuất
nhập cảnh khác;
+ Quy định vào các điểm tham quan.
- (4) Nguồn nhân lực
+ Người lao động trong nguồn ngành DL:
• Lao động các cơ quan quản lý
• Lao đọng các doanh nghiệp quản lý, trực tiếp
• Lao động các cở đào tạo
+ Người dân địa phương tại điểm đến
- (5) Hình ảnh và nét đặc trưng của điểm đến du lịch
*Hình ảnh
+ Hình ảnh điểm đến -> ảnh hưởng hành vi du khách
+ Hình ảnh là một hệ thống các niềm tin, ý tưởng và ấn tượng -> về một nơi hay
điểm đến nào đó.
+ Bao gồm tổng thể các yếu tố: chất lượng môi trường sinh thái tự nhiên và nhân
văn; sự an toàn du lịch; mức độ DVDL; đặc trưng của định phương.