Tài liệu Tham vấn học đường
Tài liệu tham vấn học đường do GS. TS. Trần Thị Minh Đức biên soạn, gồm các nội dung: Hỗ trợ cán bộ tham vấn, giáo viên xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện, phòng chống bạo lực hiệu quả.
Tài liệu tham vấn học đường do GS. TS. Trần Thị Minh Đức biên soạn, gồm các nội dung: Hỗ trợ cán bộ tham vấn, giáo viên xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện, phòng chống bạo lực hiệu quả.
MỤC LỤC
Lời nói đầu 5
Chương 1: Một số vấn đề chung của tham vấn học đường 7
1. Vì sao cần tham vấn trong các trường trung học? 8
2. Mục tiêu, nhiệm vụ và nguyên tắc trong tham vấn 9
3. Yêu cầu của phòng tham vấn học đường 17
GS.TS. Trần Thị Minh Đức, Khoa Tâm lý học – Đại học KHXH&NV - Đại học Quốc gia Hà Nội
4. Thân chủ/học sinh và cán bộ tham vấn học đường 23
5. Giám sát và đánh giá hoạt động tham vấn 29
Tổ chức Plan International Việt Nam
6. Phân tích các vai trò của cán bộ tham vấn học đường 33
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội
Chương 2: Một số lý thuyết về sự phát triển tâm lí - xã hội của vị thành niên 35
Có thể sao chép, trích dẫn cuốn sách này nhằm phục vụ hoạt động giáo dục hoặc vì các mục đích phi thương mại khác, tuy nhiên, cần ghi rõ nguồn tài liệu khi sao chép hoặc trích dẫn.
1. Thuyết phát triển nhu cầu con người 36
2. Thuyết phát triển xã hội của con người 41
Công ty TNHH In ấn Thiết kế T.E.A.M
3. Thuyết phân tâm học 43
4. Thuyết hành vi 57
5. Thuyết nhận thức 68
6. Thuyết nhân văn 74
Lê Quỳnh Lan, Trịnh Thị Mai Anh, Phan Minh Châu, Trần Minh Quang
80 Chương 3: Các kỹ năng tham vấn cơ bản
1. Kỹ năng lắng nghe 81
2. Kỹ năng hỏi 84
3. Kỹ năng phản hồi 90
4. Kỹ năng thấu cảm (thấu hiểu) 93
Tổ chức Plan International Việt Nam Tầng 2, Tòa nhà Hòa Bình, 106 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội Điện thoại: 04 3 8220 661. Fax: 04 3 8223 004 Email: vietnam.co@plan-international.org Website: www.plan-international.org/vietnam
Tổ chức Plan International Việt Nam cam kết đảm bảo quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em.
5. Kỹ năng cung cấp thông tin 96
6. Kỹ năng hóa giải im lặng 99
LỜI NÓI ĐẦU
7. Kỹ năng đối đầu (kỹ năng thách thức) 102
105 Chương 4: Quy trình tham vấn học đường
106 1. Xây dựng mối quan hệ tin tưởng giữa cán bộ tham vấn và học sinh
108 2. Thu thập thông tin, xác định vấn đề của học sinh
109 3. Lựa chọn giải pháp và xây dựng kế hoạch thực hiện
112 4. Thực hiện giải quyết vấn đề
113 5. Lượng giá kết thúc và theo dõi sau kết thúc
115 Chương 5: Tham vấn nhóm
116 1. Những vấn đề chung của tham vấn nhóm Bạo lực trên cơ sở giới là mối quan tâm chung của nhiều nước và nhiều tổ chức trên toàn thế giới. Bạo lực là một quá trình tiếp diễn trong đó người gây bạo lực và nạn nhân có những mối liên hệ nhất định trong cuộc đời của họ, do vậy tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ em về bình đẳng giới và các hành vi phi bạo lực là vô cùng quan trọng. Đã có những bằng chứng chỉ ra rằng trẻ phải trải nghiệm các hành vi bạo lực giới sẽ có những hậu quả về mặt tâm lý, xã hội và sự phát triển của các em. Không chỉ nạn nhân trực tiếp của các hành vi bạo lực bị ảnh hưởng, mà cả những người chứng kiến sau này sẽ trở nên nóng giận, mất kiểm soát và có các hành vi bạo lực với cả bạn đời hoặc luôn bị lo lắng, hoảng hốt hoặc có hành vi tội phạm khi trưởng thành (Feigelson, 2012). 120 2. Các kỹ năng cơ bản trong tham vấn nhóm
123 3. Phân tích ca tham vấn nhóm
131 Chương 6: Phúc trình các ca tham vấn
132 1. Giới thiệu chung các ca tham vấn đã thực hiện Trong bối cảnh này, dự án “Trường học An toàn, Thân thiện và Bình đẳng” được thực hiện thí điểm tại thành phố Hà Nội, trên phạm vi 10 trường THPT và 10 trường THCS nằm trên 16 quận huyện nội và ngoại thành của thành phố Hà Nội. Dự án nhận nguồn ngân sách từ quỹ Ủy thác Liên Hợp Quốc (UNTF) và văn phòng Plan International Pháp và Phần Lan. Dự án là sự hợp tác giữa tổ chức Plan International Việt Nam với Sở giáo dục và Đào tạo Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học về Giới, Gia đình, Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA), Trung tâm nghiên cứu về phụ nữ quốc tế (ICRW). 133 2. Các ca tham vấn cá nhân
178 3. Giúp đưa ra các quyết định lành mạnh, hữu ích
Tài liệu tham khảo
Phụ lục I: Một số trắc nghiệm đánh giá rối nhiễu tâm lí ở học sinh
Phụ lục II: Những yêu cầu đối với hoạt động của phòng tham vấn học đường
Dự án được thiết kế để có được một cách tiếp cận toàn diện để tích cực giải quyết các vấn đề của Bạo lực giới trong trường học bao gồm các hình thức như quấy rối và xâm hại tình dục; trừng phạt thân thể và tinh thần; bắt nạt trong trường học, bạo lực thông qua các phương tiện điện tử. Dự án tập trung vào việc phòng chống và ứng phó với vấn đề bạo lực giới học đường bao gồm việc huy động sự tham gia học sinh, giáo viên, cha mẹ, Ban giám hiệu, các cơ quan truyền thông vào các can thiệp của dự án nhằm tạo ra được sự thay đổi ở cấp cá nhân, trường học, cộng đồng và hệ thống. Mô hình thử nghiệm này và các bài học rút ra sẽ đóng góp vào cơ chế làm việc về BLTCSG trong trường học, và sẽ có giá trị rất lớn cho các chương trình sau này về phòng chống BLTCSG nói chung và BLTCSG trong trường học nói riêng.
Tài liệu này được xây dựng nhằm cung cấp các thông tin hữu ích cho các nhà quản lý giáo dục trong việc hình thành, phát triển và duy trì hoạt động tham vấn trợ giúp học sinh trong trường học.
Tài liệu được xây dựng dựa trên các khung lý thuyết về hoạt động tham vấn trong trường học, cũng như thực tế yếu cầu của công tác tham vấn đối với các vấn đề xảy ra trong trường học tại Hà Nội nói riêng. Các hướng dẫn đưa ra trong tài liệu đã tính đến các yếu tố
lồng ghép và khuyến khích các nhà quản lý thiết lập dịch vụ tham vấn tâm lý cho học sinh như một phần hoạt động thường xuyên và cần thiết trong các trường học.
Trong khuôn khổ tài liệu này, các khái niệm: nhà tham vấn học đường/nhà tham vấn; chuyên viên tham vấn học đường/chuyên viên tham vấn; hay cán bộ tham vấn học đường/cán bộ tham vấn đều được hiểu theo cùng một nghĩa - đó là những chuyên viên, những giáo viên (chuyên nghiệp hoặc không chuyên về tham vấn) đang làm công tác hỗ trợ học sinh ở trường học về học tập/ hướng nghiệp, hỗ trợ phát triển năng lực cá nhân và xã hội cho các em thì được gọi chung một thuật ngữ là cán bộ tham vấn.
Tổ chức Plan International Việt Nam trân trọng cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thị Minh Đức là người chắp bút cho tài liệu này. Chúng tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến 20 thầy cô là cán bộ tham vấn của 20 đơn vị trường học tham gia dự án đã tham gia tích cực vào các khóa tập huấn, hoạt động hỗ trợ kỹ thuật của dự án và cung cấp các thông tin hữu ích giúp chúng tôi hoàn thành tài liệu, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của các đơn vị trường học, trong đó có các sinh viên các trường Đại học thuộc ngành Tâm lý học và Công tác xã hội.
THAY MẶT TỔ CHỨC PLAN INTERNATIONAL VIỆT NAM
Mục tiêu chung nhất là của cán hộ tham vấn là trợ giúp học sinh trong học tập, nâng cao năng lực cá nhân và các mối quan hệ xã hội ở trường học, tuy nhiên, mục tiêu tham vấn cụ thể lại luôn được xác định từ học sinh. Một ca tham vấn có thể chỉ giải quyết một mục tiêu nào đó, nhưng cũng có thể bao gồm cả 4 mục tiêu dưới đây:
Trong chương tổng quan này làm rõ vì sao cần tham vấn cho học sinh lứa tuổi thanh thiếu niên, mục đích, nhiệm vụ và các nguyên tắc đạo đức trong tham vấn. Chương này cũng làm rõ những yêu cầu về hoạt động của phòng tham vấn trong nhà trường (như yêu cầu về không gian tham vấn, yêu cầu về nhân sự của phòng tham vấn, về bằng cấp, đào tạo của cán bộ tham vấn vè những yêu cầu về ghi chép lưu giữ hồ sơ tham vấn). Ngoài ra, việc chỉ ra ai là thân chủ trong tham vấn học đường, cũng như phân biệt các vị trí của người trợ giúp và các mô hình trợ giúp trong học đường cũng được làm rõ. Và cuối cùng, các hoạt động giám sát và đánh giá cán bộ tham vấn học được cũng được xem xét trong chương này với mục đích chỉ ra rằng sự trợ giúp tâm lí – xã hội của cán bộ tham vấn là một hoạt động có tổ chức và được duy trì trong xuốt cuộc đời nghề nghiệp của họ. Giúp học sinh giảm bớt các cảm xúc tiêu cực
Với mục tiêu giải tỏa cảm xúc, cán bộ tham vấn thể hiện sự lắng nghe tích cực, bày tỏ sự ủng hộ và chấp nhận thái độ của học sinh, hỗ trợ và giúp đỡ để học sinh được giải tỏa cảm xúc thông qua sử dụng kỹ năng thấu cảm. Ví dụ về câu nói giải tỏa cảm xúc tiêu cực:
Cán bộ tham vấn tiếp tục câu chuyện bằng những câu hỏi mở về vấn đề gây bạo lực, mức độ bạo lực trong gia đình, sự trải nghiệm cảm xúc của các em. Ví dụ,
Học sinh lớp 7: Em cảm thấy rất khổ tâm vì bố mẹ em hay cãi nhau, cứ như họ muốn chia tay nhau đến nơi rồi. Nhiều lúc em cảm thấy mình thật bất lực vì không biết phải làm gì để có thể dừng cuộc cãi nhau của bố mẹ.
Vị thành niên là giai đoạn lứa tuổi khoảng từ 12 đến 18 tuổi – là nhóm tuổi chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn. Học sinh lứa tuổi này được đặc trưng bởi sự tăng trưởng nhanh chóng về thể chất, quan tâm đến đời sống xung quanh mình và hình thành một bản sắc cá nhân - Đó là nhu cầu khám phá thế giới xung quanh, kết nối học tập ở trường để ứng dụng vào cuộc sống thực tế của các em. Trong khi đó, với một thế giới phát triển ngày càng đa dạng, kết hợp với sự phát triển công nghệ và mở rộng cơ hội, thanh thiếu niên sớm phải tự đối mặt với những thách thức mà ở các lứa tuổi trước đó không hề có. Với sự tìm kiếm bản sắc độc đáo riêng của mình, học sinh lứa tuổi này đang chuyển dần các mối quan tâm từ cha mẹ sang sự khẳng định của các bạn bè đồng trang lứa. Vì vậy, lứa tuổi thanh thiếu niên này (đặc biệt ở học sinh trung học phổ thông) là cực kỳ nhạy cảm trong việc cảm nhận sự thoải mái, sự hiểu biết và đóng góp ý kiến của những người khác. Đây là giai đoạn đầy thách thức dành cho học sinh, phụ huynh và giáo viên hệ trung học.
Cán bộ tham vấn: Nghe em nói cô hiểu là em đã khổ tâm thế nào vì không biết phải làm gì khi thấy bố mẹ cãi nhau. Điều em lo sợ hơn cả là nguy cơ phá vỡ tổ ấm gia đình từ các cuộc cãi vã này. Chỉ có những người con thực sự yêu thương cha mẹ và mong muốn một cuộc sống bình yên trong gia đình mới có những trăn trở như em. Đôi khi các bậc cha mẹ không nhận ra rằng những tranh cãi của họ đã làm cho con cái phiền lòng. Ngay cả những người rất yêu nhau đôi khi họ cũng cãi vã nhau. Họ cãi nhau thậm chí đánh nhau nhưng điều đó không có ý nghĩa là họ muốn loại bỏ nhau, muốn phá vỡ tổ ấm gia đình hay bỏ rơi con cái.
Cán bộ tham vấn tiếp tục câu chuyện bằng những câu hỏi mở về vấn đề gây bạo lực, mức độ bạo lực trong gia đình, sự trải nghiệm cảm xúc của các em. Ví dụ,
Cán bộ tham vấn: Em cảm thấy thế nào nếu nói với cha mẹ những điều phiền muộn của mình khi chứng kiến họ cãi nhau?
Cán bộ tham vấn cần lưu ý rằng, bạo lực gia đình là vấn đề nhạy cảm đối với trẻ em. Trẻ em có tình yêu thương, gắn bó với gia đình mình sẽ không muốn nói sâu về những điều không hay về bố mẹ, hoặc các em sợ gợi lại sẽ gây thêm tổn thương cho chính mình nên không muốn nói sâu về chủ đề này. Vì vậy, cán bộ tham vấn có thể hỏi gián tiếp qua chính cách nhìn của các em về cha mẹ và bạo lực gia đình mà vẫn thu được thông tin để giúp các em giải quyết vấn đề của mình.
1. https://www.schoolcounselor.org/school-counselors-members/careers-roles/why-middle-school-counselors
Để giúp học sinh chuẩn bị trở thành thế hệ tiếp theo của cha mẹ, người lao động, các nhà lãnh đạo và người dân, mỗi học sinh cần được hỗ trợ, hướng dẫn và có cơ hội trải nghiệm bản thân trong thời thiếu niên, một thời gian tăng trưởng nhanh chóng và thay đổi. Trong đó, cả hai mặt phát triển về cá nhân và xã hội đều có tác động lớn đến thành tích học tập của học sinh. Vì vậy cần phải có các hoạt động tham vấn học đường. Thông qua một chương trình tham vấn phát triển toàn diện ở trường học, cán bộ tham vấn làm việc như một thành viên trong nhóm với học sinh, giáo viên, phụ huynh và cộng đồng để tạo ra một môi trường hỗ trợ giúp học sinh, giúp các em có thể tăng cường quá trình học tập và phát huy thành tích học tập. Chương trình tham vấn học đường giúp học sinh đạt được tốc độ tăng trưởng cá nhân tối ưu, phát huy được các kỹ năng xã hội tích cực và giá trị, thiết lập mục tiêu nghề nghiệp phù hợp và nhận ra tiềm năng học tập đầy đủ để trở nên hiệu quả, góp phần thành viên của cộng đồng thế giới1. Tóm lại, với sự giúp đỡ của một cán bộ tham vấn, học sinh sẽ không phải đối mặt với các vấn đề khó khăn ở trường học một mình.
Giúp học tăng thêm hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của mình
cũng sẽ giúp mẹ làm một số việc nhà, bao gồm những việc em đã kể ra đây (đưa tờ giấy học sinh ghi các đầu việc ra). Vậy từ tuần này em sẽ đánh dấu ở nhà các việc em đã làm được giúp mẹ, ở mỗi việc em ghi bên cạnh tâm trạng của em và thời gian em làm. Em đánh dấu thế này này (hướng dẫn học sinh cụ thể). Tuần sau cô trò gặp nhau em sẽ nói về vấn đề này nhé.
Với mục tiêu này, cán bộ tham vấn giúp học sinh nhận diện được vấn đề đang xảy ra với các em thông qua việc thu thập thông tin, sàng lọc các nguyện vọng, đánh giá nhu cầu của học sinh. Cán bộ tham vấn cung cấp thông tin để giảm thiểu những quan niệm lệch lạc, những suy nghĩ không đúng, giúp học sinh xác định vấn đề quan trọng: Giúp các em nhận biết và chấp thực tế vấn đề, hoàn cảnh của mình như thực tế. ví dụ:
Học sinh: Nếu bố mẹ em li hôn không biết nên ở với ai. Em rất yêu quý cả bố lẫn mẹ, nhưng em thấy khi ở với người này thì em lại có lỗi với người kia. Cuộc tham vấn được gọi là thành công khi học cảm thấy có thể đương đầu với vấn đề của mình mà không cần đến sự trợ giúp của cán bộ tham vấn hay lệ thuộc vào người khác. Bốn mục tiêu này sẽ được hiển thị qua một số ca tham vấn trực tiếp cho học sinh tại các trường thuộc sự án của Tổ chức Plan (xem chương 5). Cán bộ tham vấn: Có phải em muốn nói rằng bố mẹ là một cặp hoàn hảo đối với em.
Vì vậy, nếu em sống với người này thì em lại thiếu người kia.
Tham vấn học đường thiên về tham vấn giáo dục. Hoạt động của tham vấn học đường bị chi phối nhiều bởi những quy định, chuẩn mực trong trường học, Cán bộ tham vấn học đường đôi khi còn hoạt động như một cố vấn/ người hướng dẫn học đường trong việc đào tạo học sinh. Nhiệm vụ của cán bộ tham vấn học đường bao gồm các hoạt động sau:
Hướng dẫn học đường (cá nhân, nhóm nhỏ và nhóm lớn) Học sinh: Vâng ạ. Mẹ thì hiền, người em cần tâm sự lại là mẹ. Hầu như thời gian bố đi công tác xa, chỉ có hai mẹ con sống với nhau. Tuy nhiên mẹ em bây giờ không có việc làm, nếu bố mẹ li hôn, mẹ phải chuyển ra ngoài thuê nhà ở. Nhà em đang ở là nhà của ông bà nội, ông bà ngoại ở quê. Mẹ thì tay trắng ra đi. Nếu em sống với bố thì mẹ sẽ chết mất. Nếu ở với mẹ em cũng sẽ trút gánh nặng lên mẹ, mà em cần phải học tiếp lên đại học.
Cán bộ tham vấn: Em đang cân nhắc giữa một bên là tình cảm, tình mẹ con và một bên là lí trí, những điều kiện tốt giúp em vào đời dễ dàng. Nếu chỉ có hai lựa chọn thì em hãy lắng nghe lòng mình xem thực sự mình muốn điều gì và mình có thể không có điều gì. Em nghĩ thế nào về việc chia sẻ với bố mẹ những suy nghĩ này?
Giúp học sinh đưa ra các quyết định lành mạnh, hữu ích Hướng dẫn (guidance) được hiểu là một hoạt động cung cấp thông tin, cho lời khuyên theo các chủ đề cụ thể được dẫn dắt từ người hướng dẫn, người cố vấn. Cán bộ tham vấn ngoài việc tham vấn tâm lí cho học sinh, họ còn có trách nhiệm như một người hướng dẫn, họ cung cấp thông tin, tăng cường hiểu biết và hướng dẫn học sinh thực hành các kỹ năng xã hội. Trong vai trò hướng dẫn, công việc của cán bộ tham vấn và có thể là giáo viên thực hiện một số hoạt động sau:
• Dẫn dắt, điều khiển buổi làm việc với học sinh
Với mục tiêu này, ca tham vấn chỉ kết thúc khi học sinh (với sự giúp đỡ của cán bộ tham vấn) đưa ra được những phương án giải quyết vấn đề thông qua việc phân tích những khó khăn, thuận lợi, sàng lọc hậu quả của mỗi quyết định được đưa ra và sự thay thế các giải pháp để tìm ra được các giải pháp hiệu quả. Ví dụ: • Thảo luận tập trung vào một chủ đề, trong một thời gian ngắn và có thể chỉ một lần. Hoạt động hướng dẫn thường tập trung vào tri thức/ cung cấp tri thức cho học sinh. Cuộc trò chuyện chủ yếu cung cấp thông tin theo vấn đề được học sinh hỏi.
• Công việc hướng dẫn tập trung vào số đông sinh viên, vấn đề có tính thời sự, vừa xảy ra và “bên ngoài”, nên các chủ đề thảo luận thường không có nội dung chuyển tải khía cạnh tâm lí bên trong mỗi học sinh, như cảm xúc, sự thấu cảm, sự chấp nhận...
Cán bộ tham vấn: Bây giờ chúng ta sẽ thảo luận về các giải pháp lựa chọn dựa trên lợi ích tốt nhất đối với em. Em đang phân vân giữa giải pháp ở với bố hoặc về với mẹ. Bây giờ em sẽ liệt kê ra giấy những lợi ích và bất lợi khi ở với từng người. Những lợi hay bất lợi em nhìn nhận theo ý của em. Ví dụ, tình cảm, vật chất, trách nhiệm, điều kiện sống, hay những mối quan hệ kéo theo, v.v... tùy em lựa chọn, thậm chí sau đó mình có thể xếp thứ bậc ưu tiên những nhu cầu nào là quan trọng hơn... • Việc giúp học sinh đưa ra quyết định dựa vào vào sự gợi ý, vào giải pháp từ người hướng dẫn, thường mang tính chất ngăn ngừa. Hướng dẫn học sinh thực hiện các quyết định
• Mối quan hệ giữa người hướng dẫn và học sinh không quyết định hiệu quả của buổi trò chuyện, mà kiến thức, sự hiểu biết của người hướng dẫn về lĩnh vực học sinh có nhu cầu trợ giúp mới là yếu tố quyết định hiệu quả. Khi các giải pháp đã được lựa chọn, cán bộ tham vấn khuyến khích học sinh thực hiện các kế hoạch đã đề ra bằng cách trang bị cho học sinh các kỹ năng sống phù hợp để các em có thể thích nghi với hành vi hay điều kiện sống mới.
Như vậy, cán bộ tham vấn trong vai trò hướng dẫn thường tạo điều kiện thuận lợi cho buổi thảo luận về tri thức và ít nhấn mạnh đến “tính chất tham vấn” – không tập trung vào Cán bộ tham vấn: Chúng ta đã nói về những khó khăn về vật chất khi em chọn sống với mẹ, em nói rằng nếu ở vơi mẹ em sẽ không đi học thêm nữa mà tự học ở nhà, em
• Không làm theo yêu cầu của giáo viên, phàn nàn về giáo viên,
• Từ chối tham gia các hoạt động ở trường,
• Xác định những rào cản, nguy cơ cản trở học tập và cung cấp các phương thức khía cạnh tâm lý của học sinh và không quan tâm tìm kiếm nguồn lực từ chính học sinh, mà trọng tâm của cuộc trò chuyện là tập trung vào sự hiểu biết của người giúp đỡ (không phải người được giúp đỡ). Chương trình Hướng dẫn học đường (giáo dục học đường)1 thường bao gồm một số hoạt động như: ứng phó, • Hỗ trợ kỹ năng học tập • Hình thành thói quen tích cực trong học tập. • Tổ chức, nghiên cứu và hướng dẫn kỹ năng làm bài thi
• Giáo dục nâng cao hiểu biết về bản thân và người khác
• Hướng dẫn các chiến lược đối phó với các tình huống
• Dạy các kỹ năng xã hội, ứng xử, giao tiếp hiệu quả Những điều kiện phát triển về mặt xã hội và cảm xúc thuận lợi ở trường học để giúp học sinh tiến bộ trong học tập bao gồm: Sự an toàn, sự hỗ trợ, những năng lực về mặt xã hội và sự thách thức. Cán bộ tham vấn trò chuyện, hỗ trợ về mặt tâm lí cá nhân, thảo luận nhóm về các vấn đề liên quan đến học đường, hướng nghiệp. Ngoài ra, cán bộ tham vấn có thể thực hiện các trắc nghiệm đánh giá học sinh. • Truyền thông, giải quyết vấn đề, ra quyết định và giải quyết xung đột
• Nâng cao nhận thức nghề nghiệp, tư vấn hướng nghiệp, trắc nghiệm hướng nghiệp Nhu cầu tham vấn nhằm phát triển cá nhân và xã hội của học sinh thường liên quan đến những khía cạnh sau: và lập kế hoạch • Lo âu, căng thẳng, tự cô lập, thất vọng, • Giáo dục về lạm dụng game/chất gây nghiện, v.v... • Can thiệp khủng hoảng, tự tử ở học sinh,
• Giảm hứng thú trong học tập/công việc,
• Tự đánh giá bản thân thấp,
• Sự phụ thuộc, kém thích nghi với các tình huống xã hội mới,
• Khó khăn trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ, Chương trình hướng dẫn học đường thường được thực hiện qua các buổi trao đổi, nói chuyện với học sinh các lớp. Cán bộ tham vấn thường xây dựng trước kế hoạch hoạt động để hướng dẫn hoạt động cho nhóm lớn trong trường với sự hỗ trợ của giáo viên chủ nhiệm hoặc cán bộ đoàn thanh niên. Khi một cán bộ tham vấn đồng thời lại là một người hướng dẫn, một chuyên gia hay một giáo viên giỏi trong một lĩnh vực giáo dục cụ thể thì hiệu quả của quá trình tham vấn cho học sinh sẽ được tăng lên rất nhiều.
• Các vấn đề liên quan đến bạo lực/bắt nạt học đường, Tham vấn tâm lí (cá nhân và nhóm nhỏ)
• Những vấn đề của cha mẹ ảnh hưởng đến học sinh,
Tham vấn tâm lí được hiểu là một công việc/ một ghề giúp người khác vượt qua khó khăn tâm lí của họ - Giúp người khác tự giúp chính mình. • Nghiện game, lạm dụng chất gây nghiện
• Thực hiện các đánh giá khác nhau về nhân cách và nghề nghiệp
• Xác định thiên hướng, hứng thú nghề nghiệp, v.v…
Tư vấn phụ huynh, giáo viên, những người khác có liên quan
1. https://www.schoolcounselor.org/school-counselors-members/careers-roles/why-middle-school-counselors
Với tư cách là người làm việc “đồng đẳng” trong hỗ trợ học sinh, cán bộ tham vấn tham khảo ý kiến với cha mẹ về: Ở trường học, các dịch vụ tâm lí đáp ứng nhu cầu cho học sinh thông qua hoạt động phòng ngừa và / hoặc can thiệp. Những nhu cầu này luôn được đòi hỏi ở trường học, bởi các sự kiện và điều kiện sống của học sinh luôn đòi hỏi các em phải thích nghi mới, trong khi ở lứa tuổi của các em sự phát triển về mặt sinh học, tâm lí và xã hội chưa hoàn thiện để các em có thể tự lập, tự chịu trách nhiệm một mình với cuộc sống, học tập của mình. Vì vậy, cán bộ tham vấn thực hiện một chương trình tham vấn toàn diện nhằm thúc đẩy và nâng cao và tối đa hóa thành tích của học sinh. • Vấn đề học tập của học sinh và các yếu tố ảnh hưởng, Những vấn đề học sinh cần tham vấn có liên quan đến học tập, như: • Cung cấp thông tin và giới thiệu các dịch vụ và nguồn lực hỗ trợ học sinh • Kết quả học tập sa sút, không chú ý đến việc học tập, • Làm việc về những vấn đề liên quan tới bắt nạt/bị bắt nạt và bạo lực học đường • Sợ đi học/sợ đến trường, trốn học, bỏ học, • Hợp tác cùng gia đình trong việc thực hiện các chiến lược giúp đỡ học sinh, v.v...
Cán bộ tham vấn hợp tác với giáo viên trong các hoạt động hướng dẫn nhóm lớn (cả lớp) về:
• Kỹ năng nghiên cứu khoa học, Trong quá trình làm việc với học sinh, cha mẹ học sinh hay đồng nghiệp các cán bộ tham vấn phải đảm bảo tôn trọng quyền quyền trẻ em liên quan đến học đường. Một số nguyên tắc đạo đức tối thiểu trong tham vấn cho học sinh là: 1/ Giữ bí mật; 2/ Tôn trọng học sinh; 3/ Tin tưởng vào khả năng tự quyết của học sinh và 4/ Bảo vệ lợi ích cho học sinh. • Kế hoạch phát triển nghề nghiệp tương lai của học sinh, Giữ bí mật • Thảo luận về những tình huống có nguy cơ cao và thực hiện các biện pháp can thiệp,
• Nói chuyện và hỗ trợ cán bộ nhà trường, giáo viên và phụ huynh trong việc dạy và ứng xử với trẻ. Thông tin của học sinh chia sẻ phải được cán bộ tham vấn đảm bảo giữ bí mật dựa trên các chuẩn mực đạo đức học đường. Việc giữ bí mật thông tin của học sinh thể hiện sự tôn trọng về tính riêng tư, sự bảo vệ và ủng hộ học sinh. Sự bảo mật khuyến khích học sinh tin tưởng vào mối quan hệ tham vấn, do đó các em sẽ chia sẻ nhiều hơn vấn đề của mình.
Ngoài ra, cán bộ tham vấn có trách nhiệm chuyển các ca tham vấn cần trị liệu đến những dịch vụ trợ giúp sẵn có và đảm bảo việc theo dõi, cập nhật hồ sơ hỗ trợ học sinh.
Tuy nhiên, việc giữ bí mật luôn có giới hạn. Cán bộ tham vấn cần cho học sinh biết về những giới hạn của việc giữ bí mật ngay khi bắt đầu thực hiện sự giúp đỡ. Cán bộ tham vấn sẽ không giữ bí mật thông tin của học sinh trong các trường hợp sau:
• Học sinh cho phép cán bộ tham vấn nói ra vấn đề của các em
• Học sinh có ý định tự hủy hoại bản thân và hủy hoại người khác Ngoài ra, cán bộ tham vấn còn có trách nhiệm cung cấp các thông tin và gợi ý cho Ban giám hiệu nhà trường và các bên liên quan về hoạt động của phòng tham vấn và các thay đổi/cải thiện để đảm bảo chất lượng tham vấn cho học sinh, thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan theo yêu cầu của Ban giám hiệu.
• Cán bộ tham vấn bị gọi ra tòa để hỏi về chính vấn đề của học sinh Điều phối chương trình tham vấn học đường (hỗ trợ hệ thống)
• Một số vấn đề trong ca tham vấn mà cha mẹ học sinh muốn biết (do học sinh là người chưa thành niên nên cha mẹ vẫn là người chịu trách nhiệm về con mình trước xã hội và pháp luật).
Dưới đậy là đoạn trao đổi giữa cán bộ tham vấn và học sinh về tính bí mật và ngoại lệ của việc giữa bí mật : Điều phối chương trình tham vấn học đường thông qua hoạt động hỗ trợ hệ thống việc xây dựng, duy trì và liên kết các tổ chức nghiên cứu liên quan, các phòng tham vấn khác ở các trường, các trung tâm điều trị can thiệp cho học sinh. Hoạt động điều phối gắn với việc sắp xếp các buổi thảo luận giữa những bên liên quan đến vấn đề của trẻ. Hoạt động này bao gồm các chương trình:
Học sinh: Em chào cô ạ. • Phát triển chuyên môn (tập huấn nâng cao chuyên môn, tham dự ca tham vấn trực tiếp của các chuyên gia tham vấn, thảo luận ca) Cán bộ tham vấn: Chào em, như hôm trước em có gọi qua điện thoại nói là có vấn đề bức xúc muốn cô giúp đỡ. • Tham vấn và hợp tác (thực hiện giám sát đồng đẳng, hợp tác với tổ chức cộng đồng
Học sinh: Vâng ạ (im lặng và nhìn xung quanh). • Quản lý chương trình và các hoạt động (ví dụ, điều phối/hỗ trợ hoạt động của nhóm lãnh đạo trẻ nhằm gây dựng mạng lưới tư vấn đồng đẳng tại trường), v.v...
Đạo đức nghề nghiệp được xây dựng dựa trên các giá trị đạo đức căn bản của nhân loại về quyền con người trong một bối cảnh văn hóa, chính trị, luật pháp và nghề nghiệp cụ thể.
Cán bộ tham vấn: Trước khi em nói về chuyện của mình, cô có trách nhiệm phải phải nói với em rằng: Giữ bí mật các thông tin về câu chuyện em sắp nói ra là trách nhiệm của cô. Những điều em chia sẻ đó là bí mật của cô trò mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp sau thì có lẽ cô và cả em không giữ được bí mật. Ví dụ : (1) khi em có hành vi hủy hoại bản thân hoặc người khác; (2) khi có yêu cầu của tòa án. Ngoài ra, (3) có một số vấn đề bố mẹ, hoặc người nuôi dưỡng em họ phải có trách nhiệm với em, vì em đang ở tuổi vị thành niên, nếu họ hỏi hoặc cần phải nói với họ thì cô sẽ thông báo trước cho em biết. Tất nhiên, cả trường hợp nếu em cho phép cô nói ra vấn đề của em, thì cô mới không giữ bí mật.
1. http://www.innerbody.com/careers-in-health/how-to-become-school-counselor.html
Bất kỳ cán bộ tham vấn nào - đặc biệt là những người đang làm việc trong các môi trường học đường đều phải duy trì các tiêu chuẩn đạo đức và chuyên môn cao ở tất cả các lần gặp gỡ học sinh. Cán bộ tham vấn trường học có trách nhiệm pháp lý đối với sự ủy quyền của pháp luật về các báo cáo nghi ngờ lạm dụng và phải có khả năng đối phó với những tình huống nhạy cảm có khả năng gây hại cho học sinh và cung cấp một môi trường thấu hiểu, cởi mở1.
Tôn trọng học sinh
chế và nguy cơ có thể xảy ra trong quá trình tham vấn; có quyền được biết về việc lưu trữ thông tin, ghi âm hay sự đảm bảo về bí mật về thông tin khi học sinh chia sẻ với cán bộ tham vấn và họ có quyền được thông báo trước trong trường hợp thông tin về họ buộc phải chia sẻ với những đối tượng khác và học sinh có quyền tiếp tục hay từ chối dịch vụ tham vấn. Bảo vệ lợi ích của học sinh bao gồm cả việc cán bộ tham vấn không được lợi dụng mối quan hệ với học sinh để mang lại lợi cho mình, như lợi dụng mối quan hệ với gia đình học sinh, dùng học sinh để chống lại đồng nghiệp hay người khác, đặc biệt không có bất kì hành vi nào liên quan tới lạm dụng thân thể học sinh hoặc dung túng cho người khác lạm dụng học sinh. Ngoài ra, bảo vệ lợi ích của học sinh còn bao gồm quyền lựa chọn tham vấn của học sinh, các em không bị ép buộc phải tham vấn.
Cán bộ tham vấn: Em có việc gì cần cô giúp đỡ? Tôn trọng trong tham vấn học đường được hiểu là cán bộ tham vấn nhiệt tình tin tưởng học sinh như một con người có giá trị bất kể địa vị, đạo đức, hành vi, tình cảm tích cực hay tiêu cực của các em. Tôn trọng học sinh là cho học sinh quyền được là chính bản thân mình với các suy nghĩ và tình cảm giác riêng của các em. Tôn trọng không có nghĩa là tán thành, hoặc không tán thành. Cán bộ tham vấn có thể không tán thành quan điểm của học sinh nhưng vẫn tôn trọng các em. Tôn trọng của cán bộ tham vấn thể hiện ở sự trò chuyện không phê phán và không đánh giá học sinh theo cách nhìn của mình. Tôn trọng cũng đồng nghĩa với việc cán bộ tham vấn tin tưởng vào khả năng thay đổi của học sinh từ chính năng lực của các em và cán bộ tham vấn không có ý để học sinh lệ thuộc vào mình. Dưới đây là một ví dụ về sự vi phạm về sự tôn trọng học sinh trong tham vấn.
Học sinh: Không em không có điều gì cần cô giúp đỡ cả. Không hiểu tại sao cô giáo lại bảo em lên gặp cô, em có vi phạm gì đâu, em không biết vì sao em phải lên gặp cô? Học sinh: Bố mẹ ngày nào đi làm về cũng càu nhàu quát tháo các con, nào là chưa học, chưa dọn nhà, chưa cắm cơm. Khó chịu ở cơ quan thì lại đổ lên đầu con cái. Nhiều khi em chỉ muốn bỏ nhà thôi. Cán bộ tham vấn: Vậy à, không sao đâu! Thôi em đã ở đây rồi, cô trò mình nói chuyện một lúc nhé, chuyện gì cũng được.
Học sinh: Không ạ, bây giờ em chỉ có một mong muốn duy nhất là cô cho em về lớp, em đang có tiết học trên lớp ạ.
Ví dụ trên đây là sự “bảo vệ lợi ích của học sinh” không phù hợp, học sinh bị ép làm tham vấn khi các em không muốn hoặc chưa sẵn sàng cho cuộc tham vấn. Cán bộ tham vấn: Cô hiểu tâm trạng của em. Thực ra bố mẹ nào cũng vì con cái, cũng muốn con cái nên người. Khi bố mẹ giao việc nhà cho các con, cũng chỉ là muốn con cái trở thành người có trách nhiệm gia đình. Vậy nên khi các con không làm bố mẹ lại lo lắng con con sẽ hỏng người. Đấy, em xem, với hoàn cảnh kinh tế của nhà em, bố mẹ em đã rất vất vả để lo cho em được học hành chỉnh chu, vì vậy em đừng buồn vì sự càu nhàu của bố mẹ nhé (Cán bộ tham thấn thể hiện sự không tôn trọng cảm xúc của học sinh).
Tin tưởng vào khả năng tự quyết của học sinh
Mỗi học sinh đều có quyền lựa chọn và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. Vì vậy việc cán bộ tham vấn cho lời khuyên mang tính áp đặt cá nhân, hay giải quyết hộ học sinh sẽ không giúp học sinh trưởng thành. Thái độ tin tưởng của cán bộ tham vấn sẽ giúp học sinh nhận ra giá trị riêng của bản thân và chịu trách nhiệm về sự lựa chọn hành vi của mình.
Khi học sinh có vấn đề và có nhu cầu được giúp đỡ các em sẽ tìm đến phòng tham vấn trường học để được trợ giúp. Tuy nhiên tham vấn học đường hiện nay ở Việt Nam đôi khi lại không như vậy. Nhìn chung học sinh tự đến phòng tham vấn học đường là rất ít. Không ít trường, học sinh tới phòng tham vấn là do giáo viên gửi đến. Điều này tạo ra một tâm lí gượng ép, thiếu sẵn sàng hợp tác của học sinh đối với cán bộ tham vấn.
Cán bộ tham vấn: Cô hiểu làm được việc này là không hề dễ dàng với hoàn cảnh của em. Tuy nhiên, khi em đã quyết tâm như vậy cô tin là em sẽ hoàn thành được. Trong những trường hợp như thế này, chỉ có những ai thật sự có quyết tâm cao và có một kế hoạch rõ ràng thì mới có thể đạt được ước vọng của mình. Bây giờ cô trò mình sẽ cùng xem chi tiết từng phần việc cụ thể nhé.
Tuy nhiên, trong trường hợp học sinh bị rối loạn tâm thần, suy nhược thần kinh và không làm chủ được hành vi của mình hoặc có xu hướng hủy hoại bản thân hay người khác… thì cán bộ tham vấn có thể chủ động đưa ra một vài hướng để giải quyết (với sự tham khảo ý kiến của phụ huynh, nhà trường hay người giám sát tham vấn học đường).
Bảo vệ lợi ích của học sinh
Mặt khác, nếu việc giáo viên bộ môn có cái nhìn về tham vấn học đường khác với cán bộ tham vấn (ví dụ, giáo viên nhìn vấn đề của học sinh nghiêm khắc từ góc độ “kỉ luật học đường”; trong khi cán bộ tham vấn nhìn vấn đề của học sinh từ góc độ “tâm lí học đường”) trong cách giúp học sinh giải quyết vấn đề cũng gây cản trở cho học sinh tiếp cận với tham vấn học đường. Không ít giáo viên trong trường có quan niệm phòng tham vấn tâm lí là nơi chỉ những học sinh “có vấn đề” mới phải đến, điều này làm cho học sinh rất sợ bị phân loại, bị gán nhãn trong trường. Ngoài ra, do có khó khăn về địa điểm tham vấn, nên có những trường phải đặt phòng tham vấn ở trong phòng hội đồng nhà trường, phòng công tác đoàn nên đã rất ảnh hưởng đến quá trình tham vấn. Chính điều này cũng làm cho học sinh sợ về lộ bí mật khi đến phòng tham vấn. Những quyền lợi cơ bản tối thiểu của học sinh trong tham vấn học đường là: Học sinh có quyền biết về danh tính và công việc của cán bộ tham vấn; được quyền biết về tiến trình và cách thức làm việc cán bộ tham vấn; được cán bộ tham vấn thông báo về những hạn
Không gian tham vấn cá nhân nhóm học sinh “có vấn đề”, thì việc để tủ sách, tranh ảnh, bút màu, bảng di động, v.v... cho các em đến sinh hoạt (có giờ quy định) là thân thiện và phù hợp.
Hiện nay, tất cả các phòng tham vấn thuộc dự án “Trường học An toàn, Thân thiện và Bình đẳng” của tổ chức Plan đều đáp ứng tối thiểu các thiết bị và đồ dùng: có một tủ đựng sách, một tủ lưu giữ hồ sơ tư vấn có khóa, có nhiều ghế tựa di chuyển dễ dàng và có sổ đăng ký tham vấn và lịch hẹn tham vấn.
http://johanbliixt.blogg.se/category /allmant-35.html
Đối với tham vấn nhóm, việc sử dụng kết hợp các sinh hoạt tập thể, trò chơi, hoạt động nghệ thuật để các thành viên cảm thấy thư giãn và thoải mái khi tham gia vào tham vấn nhóm là rất cần thiết. Thông thường, khi tham vấn các thành viên ngồi vòng tròn để tăng cường giao tiếp với nhau.
http://www.allsaintshuthwaite.co.uk/index.php / facilities/consultation-room/
Không gian tham vấn nhóm Tham vấn học đường là một hoạt động trợ giúp tâm lí, giúp học sinh nâng cao khả năng tự giải quyết những khó khăn tâm lí trong học tập, phát triển cá nhân, xã hội và định hướng nghề nghiệp.
Cán bộ tham vấn học đường hoạt động như một chuyên gia trong nhiều vai trò khác nhau (hướng dẫn, tham vấn, điều phối các hoạt động, v.v...) nhằm cung cấp những hỗ trợ/ một chương trình hỗ trợ tổng thể cho cá nhân, nhóm học sinh để đảm bảo 100% học sinh phổ thông được tiếp cận với cán bộ tham vấn học đường dựa trên nhu cầu của nhiều học sinh.
Phòng tham vấn đặt ở nơi yên tĩnh, rộng để có thể tổ chức tham vấn nhóm nhỏ, tổ chức trò chơi hoặc di chuyển dễ dàng khi cần. Để chương trình tham vấn học đường đạt được hiệu quả tối đa, Hiệp hội tham vấn học đường Mỹ khuyến cáo rằng, một nhân viên tham vấn làm công việc chăm sóc giáo dục và hỗ trợ giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội có liên quan cho học sinh theo tỷ lệ 1: 250. Như vậy, tại nhiều hệ thống giáo dục đa cấp hoặc trường phổ thông đông học sinh trên thế giới (bao gồm cả Tiểu học, THCS & THPT), mô hình về nhân sự của hoạt động tham vấn học đường được tính theo tỷ lệ học sinh, với công thức theo Hiệp hội tham vấn học đường Mỹ là khoảng 250 học sinh sẽ có một cán bộ tham vấn chuyên nghiệp1. Trong khi tỷ lệ đề nghị của toàn quốc cho các nhà tham vấn học đường là 1: 200 học sinh. Tuy nhiên, tỷ lệ hiện tại ở Mỹ là khoảng 471 học sinh cho một nhà tham vấn. Thực tế hiện nay ở Mỹ, số các nhà tham vấn trường học không đủ để đáp ứng nhu cầu tham vấn cho chọ sinh các trường ở tất cả các hệ thống giáo dục2 (ở đại học, nhà tham vấn học đường còn có tên gọi là cố vấn học tập).
1. The Role of the professional school counselor, wvde.state.wv.us/counselors/links/counselors/ role.html
Phòng tham vấn trong trường học nên tránh đặt ở phòng đầu của một dãy phòng học/ làm việc, vì như vậy sẽ gây ồn ào. Việc học sinh, giáo viên qua lại sẽ làm học sinh xao lãng, gây cảm giác người khác có thể “xâm phạm” vào cuộc trò chuyện. Trong phòng tham vấn nên có cửa sổ có rèm. Ánh sáng vào quá nhiều dễ gây căng thẳng cho học sinh, còn phòng kín quá sẽ gây cảm giác ngột ngạt, gây ức chế cho học sinh. Hiện nay ở Việt Nam, nếu mỗi trường học có được một cán bộ tham vấn chuyên trách (có biên chế) làm việc kết hợp với một số giáo viên hoặc cán bộ đoàn để tạo nên một tổ tham vấn là lí tưởng. Hoạt động quản lý nhân sự là do Ban giám hiệu chịu trách nhiệm, còn hoạt động giám sát chuyên môn là do các chuyên gia tham vấn trường học có kinh nghiệm thực hiện. Các cán bộ tham vấn cần được giám sát chất lượng hoạt động định kỳ, đảm bảo
2. http://www.innerbody.com/careers-in-health/how-to-become-school-counselor.html
Phòng tham vấn gây cảm giác nồng ấm và thân thuộc với học sinh khi có cây xanh trong phòng (thậm chí có thể là cây giả) và có tủ sách, tủ tài liệu. Trong bối cảnh tham vấn học đường ở Việt Nam hoạt động tham vấn cho tất cả học sinh lại được hiểu bó gọn trong một
chuyên môn khác nhau. Ví dụ, đào tạo về các rối loạn hành vi ở trẻ em và khóa học về báo cáo lạm dụng trẻ em có thể được yêu cầu bắt buộc đối với các nhà tham vấn học đường ở các trường tiểu học. Trong khi đối với những người tìm kiếm cơ hội để trở thành nhà tham vấn ở bậc đại học, thì các khóa học bổ sung về tư vấn nghề nghiệp lại được yêu cầu1. việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức trong tham vấn. Chuyên gia giám sát chuyên môn có thể/thường là nhà tham vấn, người từ tổ chức bên ngoài đến giám sát chuyên môn cho các cán bộ tham vấn học đường. Ngoài ra, việc chia sẻ các kinh nghiệm tham vấn giữa các cán bộ tham vấn trong và ngoài trường sẽ giúp họ cung cấp dịch vụ tham vấn có chất lượng tốt hơn cho học sinh.
Ở Việt Nam hiện nay, cán bộ tham vấn là người được đào tạo trong ngành tâm lí học (tốt nhất là chọn người học ở chuyên ngành Tâm lí học tham vấn và Tâm lí học lâm sàng), ngành Tâm lí học giáo dục hoặc ngành Công tác xã hội. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh giáo dục Việt Nam hiện nay, cán bộ tham vấn cũng có thể là giáo viên bộ môn có kinh nghiệm làm việc với học sinh được điều động làm công việc tham vấn học đường. Các giáo viên này thường được tăng cường kiến thức về tâm lí học trẻ em, được thực hành về kỹ năng và quy trình tham vấn cá nhân và tham vấn nhóm.
Một người muốn trở thành cán bộ tham vấn học đường chuyên nghiệp (ví dụ ở Mĩ), người học phải trải qua một chương trình tham vấn học đường. Để được thực tập nội trú người học phải có bằng thạc sĩ với 600 giờ thực tập nội trú dưới sự kiểm soát của một chuyên gia tham vấn học đường uy tín1. Ngoài ra, để được chứng nhận là nhà tham vấn tham vấn học đường, ngoài việc phải có bằng thạc sĩ, họ còn phải có 3 năm kinh nghiệm làm việc được giám sát tại cơ sở2.
Chương trình đào tạo thạc sĩ tham vấn học đường yêu cầu các học viên phải hoàn hoàn thành khóa học theo các chủ đề/môn học sau: Trong điều kiện thực hành trợ giúp học sinh hiện nay ở các trường học, các cán bộ tham vấn này có thể phải thực hiện các vị trí của nhà tham vấn học đường, nhà tâm lí học đường và nhân viên công tác xã hội học đường. Đây là một thực tế đáng báo động về công tác hỗ trợ tâm lí – xã hội chuyên nghiệp cho học sinh các cấp học. • Tăng trưởng và phát triển con người
• Lý thuyết tham vấn
• Tham vấn cá nhân
• Tham vấn nhóm
• Cơ sở văn hóa và xã hội Hiện nay (năm 2015), xét từ góc độ chỉ tiêu biên chế chính thức, ở Đà Nẵng mới tuyển được 5 cán bộ tham vấn làm việc tại trường trung học phổ thông công lập trong 10 biên chế được cấp chính thức cho hoạt động tham vấn học đường chuyên nghiệp. Trong khi đó, các trường phổ thông Quốc tế, và một số trường phổ Tư lập đã có chuyên viên vấn học đường làm việc chuyên nghiệp. Các cán bộ tham vấn hoạt động dưới sự quản lý trực tiếp của nhà trường và được hưởng chế độ, chính sách như một người thuộc biên chế, phục vụ lợi ích cho nhà trường. • Trắc nghiệm và đánh giá
• Nghiên cứu và đánh giá chương trình
• Định hướng nghề nghiệp
• Phát triển nghề nghiệp
Ngoài ra, học viên ngành tham vấn học đường được yêu cầu hoàn thành một đợt thực tập và là thực tập viên có giám sát bởi một nhà tham vấn có trình độ tại một trường học3.
1. www.cacrep.org/ Council for Accreditation of Counseling and Related Educational Programs (CACREP, 2001).
Do hiện nay nhà nước chưa cấp biên chế cho các cử nhân tâm lí học làm việc chuyên nghiệp với tư cách là chuyên viên tham vấn/ tâm lí học đường, một số giáo viên của các trường (thuộc dự án “Trường học An toàn, Thân thiện và Bình đẳng” của Tổ chức Plan kết hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, hoặc dự án “Hành trình yêu thương” do Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng và Tổ chức Hòa Bình và Phát triển Tây Ban Nha (PyD) phối hợp thực hiện) được đề nghị tham gia vào các hoạt động tại phòng tham vấn học đường – hoạt động với tư cách là cán bộ tham vấn tâm lí không chuyên. Các chuyên viên tâm lý này đang hưởng lương, chế độ giáo viên (giáo viên tâm lý làm công tác tham vấn học đường), Thực chất các cán bộ tham vấn này là giáo viên ở các bộ môn không bị áp lực về giờ dạy, và có khả năng làm việc với học sinh nên được tăng cường kiêm nhiện thêm công tác tham vấn học sinh hoặc họ là các giáo viên làm tham vấn tình nguyện (không được tính giờ lao động). Theo, tiến sĩ Erika Price, một số nhà tham vấn học đường có thể tốt nghiệp cử nhân ngành tham vấn, tâm lý học, giáo dục học, công tác xã hội. Tuy nhiên, các ứng viên phải có bằng thạc sĩ chuyên ngành tham vấn trường học. Cũng có một số nhà tham vấn học đường họ vốn từ giáo viên trực tiếp đứng lớp trước khi theo học về tham vấn học đường. Ngoài ra, các nhà tham vấn học đường làm việc ở các cấp khác nhau thì có thể cần bổ xung các
2. Hội đồng Tiêu chuẩn Sư phạm Chuyên nghiệp (The National Board for Professional Teaching Standards - NBPTS) yêu cầu 3 năm kinh nghiệm làm tham vấn học đường được giám sát chuyên nghiệp, nhưng không yêu cầu bằng thạc sĩ, chỉ cần có chứng nhận của bang (ở Mĩ, 41 trên 50 bang yêu cầu bằng thạc sĩ tham vấn học đường).
3. https://www.schoolcounselor.org/asca/media/asca/home/WhoAreSchoolCounselors.pdf
1. http://www.innerbody.com/careers-in-health/how-to-become-school-counselor.html
Với sự hỗ trợ tác động ở bình diện chính sách, trong tương lai các cán bộ tham vấn sẽ được xếp ngạch lương, hoạt động tham vấn của họ được coi như một nghề. Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Nghĩa: “Tới đây Bộ GD&ĐT sẽ đề xuất Mô hình tư vấn tâm lý áp dụng tại các trường phổ thông. Mục tiêu là tư vấn để giáo dục hình thành các kỹ năng xã hội; tư
môn; để theo dõi sự hỗ trợ liên tục cho học sinh và sự trưởng thành của học sinh trong nhiều năm sau đó; cung cấp hồ sơ tham vấn khi chính học sinh có nhu cầu được biết; hoặc giải trình khi có sự đòi hỏi của Ban giám hiệu (liên quan đến tư cách pháp nhân học sinh) và các cơ quan pháp luật.
vấn những vấn đề tâm lý lứa tuổi vị thành niên, thanh niên; tâm lý học giới tính và sức khỏe sinh sản; tâm lý gia đình; hướng nghiệp; những vấn đề của xã hội hiện đại. Đội ngũ cán bộ, giáo viên tư vấn sẽ được xây dựng, bố trí nguồn lực và tài chính để đào tạo chuyên sâu. Tại các trường sẽ xây dựng các phòng tâm lý tư vấn riêng, có chuyên gia tâm lý chuyên sâu. Tổ chức các buổi nói chuyện giữa chuyên gia tâm lý với các em; tăng cường hoạt động ngoại khóa để thu hút học sinh nhằm nâng cao kỹ năng sống.1”
Ghi chép hồ sơ Thân chủ (học sinh) trong tham vấn học đường là ai ?
Sau mỗi ca tham vấn cho học sinh, cán bộ tham vấn cần thực hiện các bước sau:
Thân chủ (trong tham vấn học đường) thường là một học sinh /một nhóm học sinh không có vấn đề tâm lí/ là người bình thường; học sinh có vấn đề làm mất cân bằng tâm lí, hoặc học sinh có rối nhiễu tâm lí.
• Hoàn tất ngay việc ghi chép tiến trình tham vấn theo mẫu quy định trong Sổ ghi chép tổng hợp công tác tham vấn, theo đó cán bộ tham vấn ghi chép đầy đủ các ca tham vấn, bao gồm cả các thông tin họ cung cấp cho học sinh và các thông tin học sinh cung cấp và ghi chép lại các thay đổi của học sinh sau khi được tham vấn
• Điền đầy đủ thông tin theo phiếu điều tra cá nhân
Bất kể khi một học sinh nào có nhu cầu tham vấn thì các em đều có một vấn đề gì đó. Vì vậy, với học sinh, có vấn đề hay không có vấn đề đều không quan trọng đối với cán bộ tham vấn. Quan trọng là các em có nhu cầu bộc lộ, chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc của mình cho người có chuyên môn mà các em cần. Một học sinh trở thành thân chủ một hoạt động tham vấn khi:
• Biết mình đang có vấn đề gì đó không ổn;
• Biết rằng nên cần đến sự giúp đỡ của người có chuyên môn; • Hoàn thành báo cáo tóm tắt kết quả tham vấn (theo năm, quý, tháng – tuy theo nhu cầu đánh giá của cơ sở), trong đó có phân tích các thông tin về: số lượng học sinh đến phòng tham vấn, giới tính của học sinh, lớp, nguồn chuyển học sinh đến phòng tham vấn, mức độ/ nhu cầu tham vấn, mục đích tham vấn, chủ đề tham vấn, mức độ đáp ứng/số lượng đăng lí tham vấn và số lượng ca kết nối với các dịch vụ khác, v.v...2 • Chấp nhận nói ra vấn đề của mình một cách khách quan để nhận được sự giúp đỡ; • Các báo cáo tham vấn được mã hóa trong việc mô tả cả, để học sinh không bị • Sẵn sàng đón nhận một sự thực, một cách nhìn nhận mới và thay đổi hành vi, cách nhận dạng. sống (nếu cần); và Lưu giữ hồ sơ và bảo mật thông tin • Chấp nhận có thể tốn kém thời gian, công sức cho việc giải quyết vấn đề của mình1.
Quyền tham vấn luôn thuộc về học sinh. Việc cán bộ tham vấn kết hợp làm việc với cha mẹ học sinh trong quá trình tham vấn là cần thiết và được hoan nghênh, nếu bản thân học sinh có nhu cầu thông báo hay hỗ trợ từ gia đình. Trong trường hợp học sinh vi phạm nghiêm trọng các quy định của trường học, gây ảnh hưởng tiêu cực tới bản thân học sinh, hoặc người khác, đặc biệt sự vi phạm mang tính pháp lý thì việc nhà trường liên lạc với gia đình học sinh vẫn cần có sự thông báo cho học sinh biết. Những thông tin được bảo quản lưu, lưu giữ bí mật là tất cả những gì có thể khiến xác định danh tính của người như tên, tuổi, địa chỉ, và bất cứ thông tin nào mang tính đặc trưng riêng của cá nhân cũng như nội dung thông tin mà thân chủ đã chia sẻ trong quá trình tham vấn. Việc lưu giữ hồ sơ học sinh cần đảm bảo nguyên tắc bí mật và an toàn. Ở các trung tâm tham vấn các văn bản quy định về lưu giữ và bảo mật thông tin luôn được đề cập nhằm tôn trọng tính bí mật riêng tư về mặt thông tin của thân chủ. Lưu giữ hồ sơ và bảo mật thông tin tham vấn đặt ra yêu cầu đối với các cán bộ tham vấn như sau:
Các biểu hiện có vấn đề của học sinh • Hồ sơ tham vấn cá nhân đưọc xếp mã thứ tự và được bảo quản theo hồ sơ học sinh.
• Lưu các hồ sơ tham vấn trong tủ khóa
1. http://www.baomoi.com/can-nhan-rong-mo-hinh-phong-tham-van-tam-ly-hoc-duong/c/17801180.epi
2. Dựa theo yếu cầu đưa ra trong Các tiêu chí quản lý chất lượng hoạt động tham vấn và phiếu thông tin cá nhân.
1. Trần Thị Minh Đức (2016 tái bản lần 2), Giáo trình tham vấn tâm lí, NXBĐHQGHN
Đối với trường học, cán bộ tham vấn phải lưu giữ lại những thông tin ghi chép về học sinh nhằm mục đích cho dịch vụ tham vấn (cứ liệu để thảo luận với người giám sát chuyên Xét từ góc nhìn của cán bộ tham vấn học đường, vấn đề của học sinh là những khó khăn tâm lí liên quan đến trường học. Từ góc độ rối nhiễu tâm lí, bất kể sự việc/hiện tượng nào trong xã hội xảy ra với học sinh, làm ảnh hưởng đến cơ thể, suy nghĩ, cảm xúc hay hành vi của các em, chúng kéo dài trong khoảng 2 tuần, thể hiện qua một số triệu chứng dưới đây
thì các em cần được khuyến khích tìm kiếm sự giúp đỡ của các cán bộ tham vấn hoặc của các chuyên gia tham vấn ngoài trường học. Ví dụ: NHÀ THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG • Học sinh luôn không hài lòng và thấy khó chịu vì mối quan hệ nào đó. đường trao đổi với các gia đình, giáo viên, quản lý trường học và các chuyên gia khác để tạo ra môi trường học tập an toàn và lành mạnh về sức khỏe tâm thần3. • Học sinh thấy buồn chán, lo âu, căng thẳng đau khổ, sợ hãi, những điều này lặp đi, lặp lại và ảnh hưởng đến hoạt động của học sinh.
• Ở học sinh xuất hiện cá tính hiếm thấy và không có trong hành động tiền lệ.
• Học sinh nói nhiều trong một thời điểm và luôn cảm thấy không hài lòng.
• Học sinh có nhận thức phi lí và thể hiện ở hành động mà người khác cho là không bình thường. Phần đông các nhà tham vấn học đường có trình độ ĐH (4 năm) và đạt trình độ thạc sĩ. Họ cũng cần có chứng chỉ quốc gia khi hành nghề. Một số cán bộ tham vấn bắt đầu từ giáo viên, nhưng nhìn chung họ đều bắt đầu từ những nghề tham vấn1.
• Học sinh thường có hành động gây bất bình với người xung quanh.
• Học sinh không thích nghi hoặc khó thích nghi, luôn hành động ảnh hưởng đến mục tiêu của mình và những người xung quanh. Nhà tâm lý học học đường sử dụng các công cụ đánh giá để đo khả năng nhận thức; khả năng học tập; mức độ rối nhiễu của hành vi và nhân cách của những học sinh có rối nhiễu tâm lí ở thể nhẹ và tập trung vào can thiệp; đưa ra những đánh giá phòng ngừa và can thiệp cho học sinh có nguy cơ thất bại học đường, đánh giá khả năng hòa nhập đối với những nhu cầu riêng biệt của học sinh và tập trung vào các chương trình giáo dục, can thiệp, chuyển giao những can thiệp và phục hồi cho học sinh. • Học sinh luôn cảm thấy đau khổ, dằn vặt hay thất vọng với điều kiện, hoàn cảnh Nhà tham vấn học đường hiện tại của bản thân.
Cán bộ tham vấn học đường chuyên nghiệp phải có chứng nhận đào tạo về tham vấn học đường và giấy phép hành nghề, có trình độ và kỹ năng giải quyết về học tập, nhu cầu phát triển xã hội và cá nhân của tất cả các học sinh2.
Trong thực tế, không phải lúc nào học sinh (chúng ta) cũng nhận ra là mình đang có vấn đề cần được giúp đỡ. Điều này do học sinh thiếu hiểu biết về nó, do tự bản thân không thừa nhận nó... Việc lưu giữ những cảm xúc căng thẳng sẽ làm xuất hiện những hành vi mang tính phòng vệ hoặc những hành vi mang tính chống đối, huỷ hoại ở các em. Tham vấn học đường là công việc trợ giúp tất cả các học sinh trong học tập, trong các mối quan hệ xã hội, trong công việc, nhằm nâng cao năng lực cá nhân và giúp họ trở thành người có trách nhiệm và có ích.
Nhân viên công tác xã hội học đường
Nhà tham vấn học đường là người xây dựng và tổ chức các chương trình tham vấn học đường một cách thích hợp với từng giai đoạn phát triển của học sinh; giúp tất cả học sinh cải thiện thành tích học tập, phát triển năng lực cá nhân và xã hội và lập kế hoạch nghề nghiệp. Nhà tham vấn học đường làm việc trong trường học ở tất cả các cấp. (Hiệp hội tham vấn học đường của Mỹ - ASCA, 1990).
Nhà tham vấn học đường được đào tạo để thiết kế, thực hiện và quản lý toàn diện chương trình tham vấn trong một chương trình giáo dục tổng thể của trường học, cũng như cung cấp những can thiệp tham vấn phù hợp nhằm thúc đẩy kết quả học tập và tăng cường sự phát triển thành công của mọi học sinh (đảm bảo 100% học sinh được tiếp cận với cán bộ tham vấn học được ở mọi hình thức trợ giúp).
1. Nguồn: http://kidshealth.org/en/kids/school-counselors.html
2. wvde.state.wv.us/counselors/links/counselors/role.html
1. Dot Kontak, LCSW, School Social Worker's Role. http://www.sswaa.org/?page=721
3. https://www.nasponline.org/about-school-psychology/who-are-school-psychologists
Có thể nói, cán bộ tham vấn là người: Nhân viên công tác xã hội học đường hay Cán sự xã hội học đường là người được đào tạo về chuyên ngành sức khỏe tâm thần ở một mức độ quy định trong phạm vi ngành công tác xã hội nhằm cung cấp các dịch vụ liên quan đến xã hội, tình cảm và điều chỉnh cuộc sống của cá nhân ở trường học và xã hội. Nhân viên công tác xã hội học đường kết nối chặt chẽ giữa gia đình, trường học với các tổ chức xã hội và những chuyên gia trợ giúp ngoài trường học, như bác sĩ, luật sư để cung cấp các dịch vụ cho học sinh, gia đình học sinh và cán bộ trường học để thúc đẩy và hỗ trợ sự thành công trong học tập và xã hội của học sinh1. Công việc của nhân viên công tác xã hội học đường tập trung cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những học sinh không có khả năng tận dụng những cơ hội học tập và khó khăn trong việc học tập. • Coi học sinh là trung tâm của cuộc trò chuyện Nhà tâm lí học đường • Có khả năng lắng nghe, thấu hiểu, chấp nhận học sinh vô điều kiện vì mục đích tăng trưởng ở học sinh Nhà tâm lý học học đường áp dụng chuyên môn về sức khỏe tâm thần, sự học và hành vi để giúp học sinh thành công trong học tập, hành vi và cảm xúc xã hội. Nhà tâm lý học học
• Có kiến thức sâu về hành vi con người, sự phát triển tâm lí của con người và thuần thục các kỹ năng/kỹ thuật tâm lí
• Coi trọng mối quan hệ tham vấn vì hiểu rằng đây là điều quyết định kết quả trợ giúp mạnh nội tâm, kiên nhẫn, không phán xét, có định hướng nghiên cứu, thấu cảm, bảo mật, khích lệ, tự nhận biết bản thân và trung thực, v.v... Tuy nhiên, xét từ vị trí của một cán bộ tham vấn học đường, tác giả Gary Hopkins (2005)1 cho rằng, các thuộc tính (phẩm chất) quan trọng nhất của một cán bộ tham vấn hiệu quả là: cho học sinh • Khả năng lắng nghe (quan trọng nhất) • Hỗ trợ học sinh trong việc học sinh tự đưa ra quyết định cho mình • Khả năng thấu cảm • Luôn thể hiện sự tin tưởng vào khả năng tự ra quyết định của học sinh • Khả năng xây dựng mối quan hệ tin cậy • Giúp học sinh nhận ra và sử dụng tốt tiềm năng của các em • Tạo ra sự khác biệt bản thân
• Tính linh hoạt, mềm dẻo thích nghi • Hiểu rằng, để kết quả trợ giúp học sinh có sự thay đổi từ bên trong học sinh, thay đổi có tính ổn định, lâu bền, vì thế ca tham vấn có thể diễn ra nhiều lần cho một vấn đề của các em. • Sự hài hước (không độc hại)
• Nhận biết bản thân và quan tâm chăm sóc bản thân (giúp cho Cán bộ tham vấn giữ được thể chất, lí trí, tình cảm và tinh thần khỏe mạnh).
Các mô hình tham vấn học đường
Khi nói về mô hình/nhóm nhân sự hỗ trợ học sinh hiệu quả, người ta (Mỹ) nhắc đến việc hợp tác cùng nhau giữa các nhà tham vấn học đường, nhà tâm lí học đường và nhân viên công tác xã hội học đường – những người cùng làm việc trong một trường học dưới sự bảo trợ của Hiệp hội tham vấn trường học Mĩ (ASCA), Hiệp hội Quốc gia các nhà tâm lí học trường học (NASP) và Hiệp hội nhân viên công tác xã hội trường học Mỹ (SSWAA). Nhóm chuyên chuyên gia trợ giúp học đường từ các vị trí công việc khác nhau của mình cùng có nhiệm vụ tạo ra một môi trường học tập an toàn và hỗ trợ để giúp học sinh phát triển tối đa tiềm năng của các em; giúp các em vượt qua những rào cản cá nhân để đảm bảo thành công trong học tập và phát triển nhân cách toàn vẹn.
Trên thế giới có rất nhiều mô hình tham vấn học đường khác nhau: Ở một số nước, vị trí Cán bộ tham vấn học đường được cung cấp bởi các chuyên gia tham vấn trường học. Đó là hoạt động hỗ trợ học sinh bắt buộc trong trường học (có 39 quốc gia, 32 tiểu bang Hoa Kỳ, một tiểu bang của Úc, 3 bang của Đức, 2 quốc gia ở Vương quốc Anh, và ba tỉnh ở Canada...)2. Ví dụ, ở Mĩ, Hiệp hội các nhà tâm lí học đường (NASP, 2008)3 cung ứng các dịch vụ hỗ trợ học sinh theo 3 cấp độ (xem Mô hình dịch vụ 3 cấp độ).
Với các vị trí công việc của mình, các chuyên viên trợ giúp học đường thực hiện các phần công việc khác nhau, như: Hiệp hội tham vấn trường học giúp các nhà tham vấn học đường tập trung tăng cường hỗ trợ học sinh về học tập, nghề nghiệp và phát triển năng lực cá nhân và xã hội để học sinh đạt được thành công trong trường học và trở thành những thành viên sống có trách nhiệm với xã hội. Trong khi đó, Hiệp hội Quốc gia các nhà tâm lí học trường học hỗ trợ nhà tâm lý học đường làm việc với học sinh, giáo viên, và gia đình để hỗ trợ các em nâng cao sức khỏe tâm thần, hỗ trợ về học tập, cảm xúc và hành vi; cung cấp các đánh giá dự phòng, các phát hiện sớm và các dịch vụ can thiệp để đảm bảo tất cả sinh viên có thể cập nhật về vấn đề sức khỏe tâm thần. Còn Hiệp hội nhân viên công tác xã hội trường học tiếp tục duy trì, vận động tăng cường chính sách công và hỗ trợ nhân viên công tác xã hội trường học tạo ra mối liên kết giữa các trường học, gia đình và cộng đồng để giải quyết các rào cản đối với sự thành công của học sinh và phục vụ nhu cầu sức khỏe tâm thần của trẻ em và gia đình của họ thông qua xác định, phòng ngừa, can thiệp, tư vấn và hỗ trợ ban đầu1.
1. School Counselors Reflective On What Makes Them, Effective http://www.educationworld.com/a_curr/curr198.shtml
What Are The Characteristics Of An Effective Counselor? http://www.careerigniter.com/questions/what-are-the-
characteristics-of-an-effective-counselor/
Các phẩm chất của cán bộ tham vấn học đường
2. https://en.wikipedia.org/wiki/School_counselor
3. Tài liệu Khóa đào tạo về Tâm lí trường học, Giảng viên viên đại học Saint Jonh, Mĩ
1. https://c.ymcdn.com/sites/sswaa.site-ym.com/resource/resmgr/Articles/JOINT teaming_statement FINA. pdf
Có rất nhiều phẩm chất khác nhau được đưa ra cho các cán bộ tham vấn tâm lí, như lắng nghe, thân thiện, giao tiếp tốt, có khả năng phối hợp, có kỹ năng đánh giá tốt, sức
Cấp độ 3: Can thiệp chuyên sâu bên ngoài, mang tính cá nhân.
Cấp độ 2: Can thiệp một số học sinh theo nhóm mục tiêu.
Cấp độ 1: Can thiệp tất cả học sinh, mang tính định hướng ban đầu, chủ động phòng ngừa.
Mô hình dịch vụ 3 cấp độ Một số nước khác thuộc nhóm thứ 3, việc giúp đỡ học sinh do một nhóm chuyên gia từ bên ngoài tới giúp đỡ. Họ làm việc theo hợp đồng thỏa thuận giữa trường học và tổ chức hỗ trợ tâm lí. Ví dụ, ở Pháp có các “Mạng lưới trợ giúp chuyên biệt dành cho học sinh có khó khăn - RASED” (xuất hiện từ năm 1990)1. Mạng lưới nhân sự thuộc RASED bao gồm: nhà giáo dục hòa nhập có nhiệm vụ trợ giúp học sinh đặc biệt; nhà giáo dục lại có nhiệm vụ giáo dục lại để giúp học sinh tái hòa nhập và nhà tâm lý học đường có nhiệm vụ can thiệp tâm lý, phân tích những khó khăn ở trẻ, soạn thảo và điều chỉnh các kế hoạch giúp đỡ (ở Pháp không có khái niệm “nhà tham vấn học đường”, chỉ có “nhà tâm lí học đường”). Các hoạt động trợ giúp của mạng lưới RASED không thuộc quản lí của một trường học nào do họ giúp đỡ cho nhiều trường phổ thông. RASED thuộc quyền quản lí bởi Bộ giáo dục Pháp. Bình thường, việc hỗ trợ học sinh có khó khăn học đường thuộc sự quản lí của hệ thống trường học, do giáo viên trong trường đảm trách. Chỉ khi các giáo viên không có khả năng can thiệp, hỗ trợ những rối nhiễu tâm lí của học sinh, họ mới cần đến sự hỗ trợ của RASED. Theo GS.TS. Oddette Lescarret (phỏng vấn, 2016): “Cho đến năm 2013, trải qua một cuộc tranh đấu lâu dài của các nhà tâm lí học, các trường phổ thông ở Pháp mới có vị trí nhà tâm lí học đường, những người làm việc cố định tại các trường học”.
Ở cấp độ 1: Học sinh không có vấn đề về khó khăn học đường chiếm khoảng 80%, nên việc can thiếp chỉ mang tính chất hướng dẫn. Cán bộ tham vấn (thậm chí cả giáo viên) thực hiện các chương trình hướng dẫn nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho nhóm học sinh này. Các hoạt động tăng cường sức khỏe tâm thần cho cộng đồng học sinh là mang tính dự phòng.
Ở Việt Nam hiện nay, trong hệ thống giáo dục phổ thông cả nước (tư nhân, nhà nước và quốc tế) có thể đang tồn tại cả 3 hình thức họạt động trên: 1/ Trường có cán bộ tham vấn chuyên nghiệp, hoạt động cả thời gian ở trường học; 2/ Cán bộ tham vấn là giáo viên của trường được điều động làm công tác tham vấn bán thời gian (họ có được tập huấn về tham vấn, về tâm lí) và 3/ cán bộ tham vấn từ bên ngoài đến trường hỗ trợ tâm lí – xã hội cho học sinh theo thỏa thuận công việc với trường (Cần có những nghiên cứu sâu hơn và cụ thể về thực trạng hoạt động của các cán bộ tham vấn/chuyên viên tham vấn trường học này).
Ở cấp độ 2: Cán bộ tham vấn tham vấn cho 15% số học sinh có căng thẳng tâm lí, có nguy cơ rối nhiễu tâm lí. Tham vấn cá nhân hoặc nhóm nhỏ sẽ giúp học sinh giải quyết được tức khắc các vấn đề liên quan đến học tập, cá nhân và xã hội của các em.
Giám sát (đôi khi còn gọi là huấn luyện, kiểm huấn) được xem là một loại hình tư vấn đặc biệt, tập trung vào chuyên môn. Vì vậy, việc giám sát phải luôn diễn ra trong suốt sự nghiệp của một cán bộ tham vấn (đặc biệt cho các cán bộ tham vấn mới vào nghề) và không dừng lại trước bất cứ trình độ giáo dục, bằng cấp hoặc là thành viên của bất cứ tổ chức nghề nghiệp nào thuộc nhà nước hay tư nhân, và người giám sát hỗ trợ chuyên môn tham vấn là các chuyên gia trong lĩnh vực tham vấn. Ở cấp độ 3: Sự can thiệp đòi hỏi mang tính chuyên môn sâu – chiếm 5% trong tổng số học sinh có nguy cơ cao, có rối nhiễu tâm lí (rối loạn lo âu, trầm cảm, strees sau sang trấn) trong các trường học. Mức độ rối nhiễu tâm lí học đường của các em thường gây ảnh hưởng tới kết quả học tập/công việc, làm rối loạn nhịp sinh hoạt đời thường (ăn, ngủ, nghỉ ngơi),v.v... Do đó, sự can thiệp có thể cần nhiều thời gian và đòi hỏi chuyên môn sâu (thường cần đến vai trò của nhà tâm lí lâm sàng, hay bác sĩ tâm thần) nên học sinh có thể được giới thiệu đến các chương trình/trung tâm hỗ trợ tâm lí chuyên nghiệp, hoặc bệnh viện. Nhiệm vụ của cán bộ tham vấn là thực hiện bản đánh giá sơ bộ, chuyển học sinh đến nơi thích hợp và hỗ trợ khi học sinh trở về trường. Mục tiêu của giám sát tham vấn
1. Nguyễn ngọc Diệp và Nguyễn tùng Lâm (2012), Thực hành tâm lí học đường: mô hình nào cho trường Việt nam? Kỉ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế lần 2 về tâm lí học đường ở Việt nam, thúc đẩy và thực hành tâm lí học đường tại Việt nam, NXB Đại học Huế, 2011.
1. https://en.wikipedia.org/wiki/School_counselor
• Giúp cán bộ tham vấn đạt được các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, sự tự tin và sáng tạo chuyên nghiệp Trong khi đó, với một số quốc gia khác, cán bộ tham vấn học đường lại được cung cấp bởi các giáo viên hoặc giáo viên có thêm nhiệm vụ tham vấn cho học sinh về các vấn đề học đường (Ấn Độ, Nhật Bản, Mexico, Hàn Quốc, Zambia...)1.
• Tăng cường các kiến thức và kỹ năng • Liệu có chỗ nào mình nên xin tư vấn người giám sát,v.v...
• Giúp cán bộ tham vấn có thể giúp các thân chủ của mình đương đầu với vấn đề một Giám sát không theo khuôn mẫu cách tốt nhất có thể.
• Đảm bảo sự an toàn cho cán bộ tham vấn và thân chủ của họ trong các tình huống phức tạp Cán bộ tham vấn trò chuyện tự do với người giám sát, bất kể điều gì cán bộ tham vấn muốn hỏi, chia sẻ. Người lại, người giám sát có thể hỏi cán bộ tham vấn theo các kỹ năng giám sát. Ví dụ:
Người giám sát: Bạn thấy ca tham vấn này thành công bao nhiêu %?
Cán bộ tham vấn: Khoảng 60%
Người giám sát: Vậy 30% còn lại bạn chưa hài lòng về những điểm nào?
Như vậy, trong hoạt động giám sát cán bộ tham vấn tham khảo ý kiến người giám sát để nâng cao khả năng làm việc với thân chủ của mình. Có thể nói nôm na công việc của người giám sát như sau: Tôi (người giám sát) và bạn (cán bộ tham vấn) đang nói về thân chủ của bạn với mục đích nâng cao kiến thức, kỹ năng để bạn giúp đỡ thân chủ của mình tốt hơn. Trong quá trình giám sát, thông tin cá nhân về học sinh sẽ không được cán bộ tham vấn làm lộ, hay cung cấp cho người giám sát để đảm bảo bí mật cho học sinh.
Người giám sát không đánh giá cán bộ tham vấn, không chỉ lỗi, mà họ chỉ đặt câu hỏi để tự các cán bộ tham vấn nhận ra cái nào ổn, không ổn trong ca tham vấn của họ. Khi cán bộ tham vấn không cảm thấy bị đánh gia, họ sẽ chia sẻ nhiều hơn về công việc của họ, về than chủ của mình...
Giám sát dựa vào bảng kiểm
Trong tham vấn học đường, giám sát được hiểu là một loại hình cung cấp chuyên môn, trong đó người được giám sát (cán bộ tham vấn, giáo viên, người lãnh đạo trường làm việc trược tiếp với học sinh) tham khảo ý kiến với người giám sát (chuyên gia tham vấn có bằng cấp và kinh nghiêm giám sát) về trường hợp mình đang quan tâm nhằm nâng cao khả năng làm việc của mình trên học sinh. Hoạt động giám sát nhằm:
• Đảm bảo quyền lợi của học sinh tham gia tham vấn;
• Khuyến khích cán bộ tham vấn tuân theo các tiêu chuẩn đạo đức, pháp lý và nghề nghiệp khi thực hành nghề
• Duy trì sự nghiêm túc khi cán bộ tham vấn làm việc với học sinh; Cán bộ tham vấn được cung cấp một bộ câu hỏi đánh giá toàn diện các khía cạnh trong ca tham vấn theo một khuôn mẫu chuẩn với các mức độ cho điểm từ 01 đến 10. Kết quả bảng kiểm có thể được xem lại và có thể được đưa cho nhà giám sát, nếu cán bộ tham vấn muốn. Giám sát dựa vào bảng kiểm thường không mô tả chi tiết vào các tình huống khác nhau của một ca tham vấn cụ thể. Vì vậy có thể bỏ sót những chi tiết quan trọng của ca tham vấn. Kết quả đánh giá chỉ giúp cán bộ tham vấn và chuyên gia giám sát có cái nhìn tổng thể về một ca tham vấn đã thực hiện.
• Kiểm soát các cán bộ tham vấn thực hiện các biện pháp tác động lên học sinh; Giám sát qua phúc trình ca
• Theo dõi sự phát triển chuyên môn của cán bộ tham vấn;
• Đánh giá sự trưởng thành của cán bộ tham vấn.
Cán bộ tham vấn sau khi thực hiện ca (có ghi âm), đánh máy lại toàn bộ nội dung ca đã thực hiện: Cán bộ tham vấn nói gì, học sinh đã nói gì. sau đó gửi cho người giám sát và đặt lịch hẹn buổi làm việc. Trên cơ sở những thông tin được phúc trình, người giám sát sẽ thảo luận với cán bộ tham vấn. Ví dụ về tình huống giám sát qua phúc trình ca (Người giám sát đã đọc bản phúc trình ca của cán bộ tham vấn gửi trước đó):
Người giám sát: Anh cảm thấy thế nào về ca tham vấn này?
Thông thường các chuyên gia giám sát thường là người được mời từ bên ngoài (trong khuôn khổ dự án, các cán bộ tham vấn sẽ được hỗ trợ chuyên môn từ các nhà tâm lí học có chuyên môn sâu về tham vấn và có kinh nghiệm làm tham vấn). Ngoài ra, việc xây dựng một mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm thường xuyên (tháng 1 lần) giữa các cán bộ tham vấn của các trường sẽ tăng cường được chất lượng tham vấn cho học sinh. Cán bộ tham vấn: Rất tốt, học sinh đã tiến bộ, thay đổi rất nhiều
Các hình thức giám sát công việc của cán bộ tham vấn Người giám sát: Đọc bản phúc trình ca của anh, tôi thấy chỗ nào anh cũng ghi học sinh lỡ hẹn, học sinh có sự lệ thuộc, học sinh còn nói dối. Tự giám sát Cán bộ tham vấn: Cậu ta là người rất tệ... Cán bộ tham vấn sau mỗi buổi tham vấn, nhớ lại ca tham vấn và tự vấn bản thân. Ví dụ:
• Ca này mình đã đạt được bao nhiêu điểm? Ngoài các hình thức giám sát nêu trên, các hình thức giám sát trực tiếp qua tham dự ca, qua tấm kính một chiều; giám sát qua băng ghi âm, băng video đều có thể được thực hiện. • Chỗ nào mình cảm thấy hài lòng?
• Nếu lần sau gặp lại mình sẽ tập trung vào chỗ nào?
Các mức độ được giám sát tham vấn học đường
• Với cán bộ tham vấn mới thực hành trên học sinh, người giám sát hướng dẫn một quy trình làm ca, các kỹ năng thực hành ca. Tập trung phân tích (kiến thức, kỹ năng, quy trình ca tham vấn) để nâng cao chất lượng thực hiện ca tham vấn
• Khi cán bộ tham vấn ít nhiều đã có những kinh nghiệm tham vấn, sự chia sẻ của người giám sát tập trung vào vấn đề của học sinh, cách thức cán bộ tham vấn tiếp cận với học sinh, hay cách cán bộ tham vấn cảm nhận về công việc và kết quả họ thu được. Một học sinh lớp 7 đã gây gổ đánh bạn trong lớp, không chuẩn bị bài trước khi đến trường. Trong tư cách là người trợ giúp, nhà trường đề nghị anh/chị gặp học sinh này để giúp đỡ.
Hãy giải thích công việc của anh chị trong các vai trò dưới đây:
1. Hướng dẫn • Cao hơn, người giám sát không chỉ giúp đỡ các cán bộ tham vấn nâng cao những kiến thức và năng lực tham vấn, mà quan trọng hơn, các phẩm chất của người giám sát như sự tin cậy, an toàn, kín đáo, thông cảm, quan điểm nhìn nhận vấn đề của học sinh được cán bộ tham vấn tiếp thu, học hỏi và qua đó, truyền lại cho học sinh của mình. 2. Tham vấn tâm lí Đánh giá cán bộ tham vấn 3. Trị liệu tâm lí
4. Tư vấn/Giám sát
Ngoài việc được giám sát chuyên môn, cán bộ tham vấn còn chịu sự đánh giá tổng thể công việc họ làm, thái độ lao động và các mối quan hệ công việc. Đánh giá nhân việc thực chất là một hoạt động kiểm soát công việc và con người lao động trong tổ chức
Một Cán bộ tham vấn có thể cùng lúc thực hiện nhiều vai trò khác nhau, đặc biệt khi làm việc trong lĩnh vực tham vấn học đường.
Đánh giá nhân viên thường được thực hiện qua hình thức phỏng vấn/ trò chuyện. Người giám sát và cán bộ tham vấn đều phải chuẩn bị cho cuộc đánh giá. Người giám sát nêu bật những điểm mạnh, chỉ ra những yếu tố có thể cải thiện và xác định nhu cầu đào tạo cho cán bộ tham vấn. Trong hoạt động đánh giá nhân viên, cán bộ tham vấn được bày tỏ quan điểm về công việc và tổ chức nơi họ làm việc, qua đó thống nhất các hoạt động tiếp theo.
Thời lượng giám sát và đánh giá cán bộ tham vấn
Trong vai trò hướng dẫn, họ gặp học sinh đó và tất cả những người có liên quan để làm rõ vấn đề của học sinh này. Công việc của người hướng dẫn chủ yếu là cung cấp thông tin, đưa lời khuyên, giảng giải cho học sinh các chuẩn mực học đường v.v… Công tác hướng dẫn cũng được thực hiện bởi bất cứ giáo viên nào trong trường.
• Các cán bộ tham vấn họp với người giám sát chuyên môn: 1 lần / tháng (mục đích thống nhất nội dung sẽ giám sát và phân công trách nhiệm về các ca tham vấn sẽ giám sát).
• Cán bộ tham vấn được giám sát cá nhân 1 buổi giám sát cá nhân hoặc giám sát nhóm về một ca tham vấn: 1 lần/ tháng.
1. Trần Thị Minh Đức, Giáo trình tham vấn tâm lí (2016), NXBĐHQGHN
• Các cán bộ tham vấn được người giám sát đánh giá (đánh giá nhân viên): 1 lần / 6 tháng (mục đích giúp cơ sở xác định mức độ khen thưởng, điều chỉnh lương và cơ hội thăng tiến, hoặc đánh giá tiến trình trưởng thành của người thử việc để đưa ra các quyết định giữ lại nhân viên hay không. Đánh giá của người giám sát chủ yếu tập trung vào công việc hơn là vào tư cách cán bộ tham vấn. Trong vai trò tham vấn, cán bộ tham vấn chỉ gặp riêng học sinh, làm rõ hành vi bạo lực của em đó, can thiệp tập trung vào nhận thức, xúc cảm, tính cách học sinh. Cán bộ tham vấn có thể gặp nhưng người có liên quan để làm rõ vấn đề của học sinh, nhưng phải thông báo cho học sinh về các cuộc gặp gỡ này và cần nhận được sự đồng ý của học sinh. Cuộc tham vấn học sinh cuối cùng vẫn phải hướng đến việc cung cấp các kỹ năng xã hội cho học sinh. Tại trường học, nhiệm vụ của cán bộ tham vấn là gặp tất cả học sinh theo các hình thức giúp khác nhau (tham vấn cá nhân, nhóm có cùng vấn đề) với mục tiêu giúp các em phát triển các kỹ năng cá nhân, kỹ năng xã hội, nâng cao thành tích học tập và hướng nghiệp.
Trong vai trò trị triệu tâm lý (nếu cán bộ tham vấn được đào tạo sâu về tâm lí lâm sàng), họ sẽ sử dụng trắc nghiệm để đánh giá học sinh. Nếu cán bộ tham vấn nhận thấy học sinh bị rối nhiễu tâm lý, như trầm cảm, lo âu, tăng động giảm chú ý…, họ sẽ thảo luận cùng cha mẹ học sinh để gửi học sinh đến các cơ sở thăm khám tâm lí/tâm thần chuyên nghiệp để được chăm sóc chuyên biệt hơn. Theo nghiên cứu của Hiệp hội tham vấn học đường Mĩ, chỉ có khoảng 5% học sinh trong các trường phổ thông có rối nhiễu tâm lí phải gửi ra bên ngoài chăm sóc.
Trong vai trò làm tư vấn/ giám sát chuyên môn, cán bộ tham vấn có trách nhiệm gặp gỡ các giáo viên và cha mẹ học sinh. Công việc của họ chủ yếu là nâng cao kiến thức, kỹ năng cho những người này để họ làm việc tốt hơn với học sinh hay con của mình.
Như vậy, trong hoạt động nâng cao chuyên môn của bản thân qua thảo luận ca, dự ca, tham gia hội thảo v.v..., cán bộ tham vấn luôn được chuyên gia giám sát hỗ trợ nâng cao kiến thức và kĩ năng để họ làm việc tốt với học sinh/ thân chủ của mình. Tuy nhiên, đối với cấp “thấp hơn”, cán bộ tham vấn lại có hoạt động tư vấn hỗ trợ cho các giáo viên, cha mẹ học sinh để những người này làm việc hiệu quả hơn với học sinh hay con em mình.
Xét riêng ở Việt Nam, các cán bộ tham vấn với mức độ đào tạo “tay ngang” như hiện nay, khả năng làm việc của họ chỉ giống như người làm công tác hướng dẫn, hoặc như người làm tham vấn giáo dục.
Bậc một: Sự đòi hỏi, đáp ứng của con người về các nhu cầu căn bản nhất thuộc thể chất, như thức ăn, nước uống, không khí... các nhu cầu này là nền tảng cho sự tồn tại của con người.
Cán bộ tham vấn: Con có biết là đi học quan trọng thế nào không? Bây giờ con cứ bỏ học đi lang thang kiếm sống, ngày được vài ba đồng, trong khi cả một tương lai trước mắt đang chờ đợi con.
Học sinh: Con thưa cô, bà con mấy hôm nay không đi làm được, ở nhà hết tiền mua đồ ăn, em con không kiếm tiền được. Nếu đi học, con sợ cả nhà con chết đói (òa khóc). Ca tham vấn học đường được gọi là có hiệu quả phụ thuộc không nhỏ vào mức độ nắm vững của cán bộ tham vấn về một số lí thuyết phát triển tâm lí và xã hội của thanh thiếu niên và khả năng ứng dụng một số thuyết trong thực hành tham vấn tâm lí. Trong khuôn khổ của tài liệu này chúng tôi sẽ giới thiệu tóm tắt một số thuyết về phát triển tâm lí, chúng là nền tảng giúp soi sáng những vấn đề tâm lí và xã hội của con người, như thuyết phát triển nhu cầu con người, thuyết phát triển tâm lí xã hội của con người. Ngoài ra, có một số thuyết được ứng dụng vào thực hành công tác tham vấn /trị liệu tâm lí cho học sinh cũng được chứng tôi giới thiệu, như thuyết phân tâm, thuyết hành vi, thuyết nhận thức và thuyết nhân văn. Cán bộ tham vấn: À, cô hiểu... Nhưng dù sao thì em cũng cố đi học nhé, đi học mới có tương lai sau này em à?
Hệ thống thang nhu cầu theo A. Maslow (1908-1970) thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp (nhu cầu cho sự tồn tại) nằm phía dưới, trong khi các nhu cầu cho sự phát triển, sự hoàn thiện cá nhân được xếp ở các thang bậc trên cao, của kim tự tháp.
Đoạn trò chuyện cho thấy cán bộ tham vấn đã lo cho tương lai của học sinh, cô muốn học sinh có tri thức để chuẩn bị hành trang nghề nghiệp vào đời. Với cô, học hành là quan trọng cho tương lai của trẻ em (cô suy luận từ vị trí của cô), trong khi đối với một học sinh nghèo thì nhu cầu thức ăn, nước uống, nơi ở mới là quan trọng nhất. Khi nhu cầu tối thiểu ở tầng thấp nhất (bậc 1) được đáp ứng thì các cá nhân mới có thể nghĩ đến sự thỏa mãn các nhu cầu ở bậc cao hơn.
Bậc hai: Các nhu cầu về sự an toàn, an ninh của con người, như cảm giác được bảo vệ về thân thể, tài sản; được có việc làm; được bảo vệ sức khỏe... Những nhu cầu này là đòi hỏi tất yếu của con người trong xã hội. Hiện nay, trường học là nơi không đảm bảo an toàn cho học sinh do tình trạng bạo lực gây ra.
Nếu gõ vào bất kì một trang báo điện tử nào, với cụm từ “Bạo lực học đường” có thể thấy vô vàn bài báo viết về sự không an toàn của học sinh.
Mỗi cá nhân trong quá trình tồn tại và phát triển của mình đều trải qua các mức độ phát triển nhu cầu khác nhau, đi từ thấp tới cao. Sự không đáp ứng của một thang nhu cầu nào đó (đặc biệt 2 nhu cầu ở bậc dưới) có ảnh hưởng đến sự mất cân bằng trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách của cá nhân. Đó cũng là nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lí, những rối loạn hành vi. Ví dụ, nếu trẻ vị thành viên sinh ra trong một gia đình nghèo, nhu cầu cơ bản về thể chất, thức ăn, nước uống không được đáp ứng đầy đủ, trẻ không có nhà để ở và thiếu sự chăm sóc của cha mẹ, v.v... có thể trẻ dễ dàng nảy sinh những hành vi vi phạm chuẩn mực xã hội. Cũng như vậy, trẻ em không thể tồn tại thiếu các mối quan hệ thấu cảm và yêu thương từ gia đình, bạn bè, trường học. Cảm giác không được yêu thương, không được chấp nhận, không được tôn trọng có thể là nguồn gốc của các hành vi lệch lạc xã hội ở vị thành niên.
SỰ MẤT AN TOÀN HỌC ĐƯỜNG ĐỐI VỚI HỌC SINH Hệ thống thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow
• Hai nữ sinh đánh nhau trước sự cổ vũ của bạn học • Nữ sinh đánh nhau, bạn bè cổ vũ, quay clip • Nữ sinh lớp 7 bị ép ăn cát, bạn bè đứng xem • Đâm thủng bụng lớp trưởng vì không cho lấy ghế • Bức xúc vì ngày nào cũng bị bắt nạt ở lớp học • Thầy giáo vụt gậy tre vào mặt học sinh • Ghi sổ bạn trực nhật bẩn, nữ sinh bị đánh dã man • Nữ lớp trưởng liên tiếp bị bạn trùm đầu đánh hội đồng • Nữ sinh bị đánh hội đồng phải nhập viện
Học sinh lớp 12 bị đâm chết từ một cái “liếc”
Nguồn: kenh14.vn/bao-luc-hoc-duong.html
• • Bức thư "đau đớn vì những lời miệt thị" của nữ sinh Phú Thọ bị đánh hội đồng • Nữ sinh bị đánh hội đồng vì lý do từ trên trời rơi xuống v.v...
Thời gian vừa qua, em thường đến nhà một bạn học cùng lớp để học chung, đôi khi cùng bạn phụ giúp việc bơm vá xe cho khách cùng bố bạn, dù gia đình bạn không yêu cầu em giúp. Nhà bạn khá nghèo, nơi ở chật chội, nóng bức, nhưng Tùng cảm thấy rất thích vì bố mẹ bạn hay vui vẻ trò chuyện với các con, đặc điệt trong các bữa ăn hàng ngày. Chú Tùng đã gọi điện đến cán bộ tham vấn trường học để nhờ cô thuyết phục em về nhà.
Dưới đây là đoạn trò chuyện ngắn giữa cán bộ tham vấn và Tùng: Đoạn trò chuyện dưới đây cho thấy cán bộ tham vấn học đường đã có trách nhiệm trong việc bảo vệ sự an toàn cho học sinh:
Cán bộ tham vấn: Điều gì khiến em nghỉ học hai tuần nay?
Học sinh: Em thưa cô, em bị bó xương tay, em bị mấy anh chị lớn đánh trên đường đi học về, có bạn còn bị trấn xe... Cán bộ tham vấn: Tùng ơi, cô nghe nói em thường không ở nhà mà đến nhà bạn ở. Cô biết em ở nhà bạn rất chật chội, ăn uống thiếu thốn, và em không được chăm sóc đầy đủ như bố mẹ em muốn. Em có biết như vậy sẽ làm bố mẹ và chú thím sẽ lo lắng cho em không? Nhà em to rộng, đầy đủ là thế, bao nhiêu bạn ước ao có được một điều kiện như em mà không được. Em nên về nhà ở đi.
Tùng: Em chỉ muốn ở nhà bạn thôi. Bố mẹ bạn ấy rất quý em. Về nhà một mình em chán lắm.
Cán bộ tham vấn: Nhưng nhà bạn chật chội, nếu em ở nhà bạn thì gia sư không đến dạy em được. Chú thím em dù ban ngày đi làm, nhưng tối họ cũng ở nhà mà. Em ở chỗ bạn nếu bố mẹ biết được sẽ lo lắng cho em và có thể trách chú thím em. Điều này làm ảnh hưởng tới quan hệ họ hàng nhà em.. Cán bộ tham vấn: (Sau khi hỏi chuyện cụ thể học sinh)... Cô sẽ nói chuyện với Ban giám hiệu và trường sẽ làm việc với xã để có các biện pháp để xử lí việc này. Các em cần được bảo vệ an toàn khi đến trường và ở trường học. Cô cám ơn em đã chia sẻ nhiều chuyện về mất an toàn ở trường học không chỉ với em mà còn với các bạn khác nữa... Bây giờ cô trò mình thử bàn xem có cách nào để em và các bạn có thể tự bảo vệ bản thân trên đường đi học về nhé... (Cán bộ tham vấn tiếp tục thảo luận về an toàn học đường với học sinh).
Phân tích:
Bậc ba: Nhu cầu được gắn bó, yêu thương và được thuộc về thành viên trong một gia đình, nhóm, cộng đồng. Cảm giác bị bỏ rơi, không được ai quan tâm, yêu thương ở học sinh nếu không được hỗ trợ tham vấn sẽ có thể dẫn các em đến trình trạng giảm sút học tập, có hành vi lệch lạc xã hội, hoặc hành vi hủy hoại bản thân.
Vận dụng thang đánh giá nhu cầu của Maslow, cán bộ tham vấn nhận thấy: Tùng sống trong môi trường được đáp ứng đầy đủ về nhu cầu vật chất. Tuy nhiên, nhu cầu của em lại là được yêu thương, được khẳng định bản thân. Cuộc sống ở nhà một mình của Tùng giúp cho cán bộ tham vấn thấy được sự thiếu hụt các nhu cầu căn bản của em:
1/ Tùng thiếu tình thương yêu cha mẹ và người thân: Nhu cầu gắn bó, yêu thương gia đình của em bị hụt hẫng. Em cảm thấy cô đơn, trống trải từ khi em bị chia cắt tình cảm với cha mẹ đẻ và sau khi bà ngoại đột ngột bị mất, ông ngoại đi nơi khác ở. Tình huống:
2/ Em có cảm giác bị mất “mất an toàn”, “bị bỏ rơi” khi ở một mình, em cần đến những người thân xung quanh mình. Vì vậy em cần đến nhà bạn, tìm kiếm sự an toàn và tình yêu thường từ gia đình bạn.
3/ Tùng cảm thấy mình không có giá trị, không được tôn trọng do em không được khuyết khích thể hiện bản thân, em như “người thừa” trong gia đình. Vì vậy em có nhu cầu được thể hiện “giá trị” của mình khi được cùng bạn phụ giúp việc bơm vá xe giúp bố mẹ nhà bạn.
Tùng hiện đang học lớp 9. Bố mẹ em sống ở nước ngoài. Năm em chuẩn bị vào lớp một, bố mẹ gửi em về cho ông bà ngoại ở Hà Nội để em được chăm sóc cho chu đáo, được học tiếng Việt và để bố mẹ em yên tâm làm ăn ở nước ngoài. Năm ngoái, bà ngoại, người gắn bó yêu thương em nhất đã bị mất do tai nạn giao thông. Ông em hiện được bác cả đón về ở để tiện chăm sóc. Tùng chuyển sang ở với chú thím. Chú thím em không có con nên rất thương em. Chú làm nghề lái xe, vắng nhà thường xuyên. Thím dâu bán hàng ngoài chợ từ sáng đến tối mịt mới về nhà. Em ở nhà một mình, không biết làm gì ngoài việc học và chơi điện tử.
Như vậy, cán bộ tham vấn khi trò chuyện với Tùng cần làm sáng tỏ những thiếu hụt về các nhu cầu căn bản ở tuổi vị thành niên của em (như đã nêu ở trên). Cán bộ tham vấn cần lên kế hoạch không chỉ trò chuyện với Tùng, mà cần có buổi trò chuyện với chú thím của em để họ có thể giúp em đáp ứng các nhu cầu căn bản của em mà vẫn đảm bảo việc học tập ở trường.
Erik Erikson (1902-1994) nhấn mạnh đến các khía cạnh xã hội ảnh hưởng đến 8 giai đoạn phát triển lứa tuổi, tương ứng với 8 cuộc khủng hoảng hay xung đột. Dưới tác động của môi trường xã hội, những khủng hoảng về phát triển lứa tuổi nếu được giải quyết sẽ làm cho nhân cách được phát triển. Trong trường hợp ngược lại, khi môi trường xã hội và gia đình,v.v... không đáp ứng phù hợp với sự phát triển lứa tuổi sẽ gây ra những tổn thương tâm lý, những hành vi lệch lạc ở học sinh. Điều này gây ảnh hưởng xấu tới phát triển tâm lý trẻ ở các giai đoạn tiếp theo. Bậc bốn: Nhu cầu được tôn trọng, được lắng nghe và ghi nhận về khả năng và thành công ở mỗi người. Khi thanh thiếu niên không được tôn trọng, bị chèn ép trong gia đình có thể gây nên những ức chế tâm lý, có thể dẫn đến những hành động “chứng tỏ bản thân” theo hướng tiêu cực.
Cán bộ tham vấn: Em cho rằng một số bạn ở lớp đã coi thường mẹ em về chuyện mẹ ăn mặc không gọn gàng, hốt hoảng chạy vào trường tìm em vì tưởng em bị ốm đi cấp cứu. Chỉ vì chuyện đó mà em xấu hổ với mẹ ư? Ở lứa tuổi thanh thiếu niên, để đạt được sức mạnh bản ngã họ phải giải quyết thành công 4 cuộc khủng hoảng trước đó, đặc biệt là vượt qua cuộc khủng hoảng lần thứ 5 – Giai đoạn thể hiện bản sắc cá nhân hoặc bị lẫn lộn về vai trò trong tiến trình phát triển. Đây chính là giai đoạn phát triển tập trung ở nhóm học sinh trung học. Học sinh: Em không xấu hổ vì mẹ, em chỉ tức giận các bạn thôi. Em không thích các bạn đưa mẹ em ra giễu cợt.
Cán bộ tham vấn: Ôi giời, có chuyện gì to tát đâu, chắc các bạn chỉ đùa em thôi mà. Tức giận dẫn đến đánh nhau vì chuyện này thì cô thấy không đáng... (Cán bộ tham vấn cười vui vẻ với học sinh).
• Giai đoạn khủng hoảng 1: Từ 0 - 12 tháng tuổi: Liên quan đến hình thành sự tin tưởng>< hay sự không tin tưởng. Nếu trẻ không được đáp ứng thoả mãn nhu cầu tồn tại của bản thân sẽ có thể làm cho trẻ bị rối loạn phản ứng, trẻ mất lòng tin vào bản thân. Ngược lại, nếu người lớn luôn đáp ứng đúng nhu cầu của trẻ theo một trật tự, trẻ sẽ hành động theo phản xạ có điều kiện, theo kinh nghiệm và "niềm tin" của mình và vì thế trẻ có được sự tin cậy, lòng tin vào bản thân và người khác.
Đoạn trò chuyện cho thấy cán bộ tham vấn đã không quan tâm đến cảm xúc tự trọng của học sinh, cô chỉ tập trung nói về vấn đề/sự kiện mà không đoái hoài đến lòng tự trọng của em đang bị tái tổn thương vì sự vô tình của chính cô.
• Giai đoạn khủng hoảng 2 - Giai đoạn 12 tháng - 3 tuổi: Sự tự chủ >
Bậc năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân, muốn sáng tạo, được làm điều mình thích để hoàn thiện nhân cách. Nhu cầu này chỉ được cá nhân đề cập đến khi những nhu cầu cơ bản ở các tầng thấp hơn đã được đáp ứng hoặc cùng với chúng được đáp ứng. Ở trẻ vị thành niên nhu cầu tự hoàn thiện thể hiện qua khuynh hướng muốn làm người lớn; tự khẳng định trong nhóm bạn; xác định bản sắc riêng; định hướng nghề nghiệp. Các nhu cầu này được thể hiện ở các lĩnh vực học tập, lao động, giao tiếp ứng xử, tình bạn tình yêu, định hướng giá trị.
• Giai đoạn khủng hoảng 3 - Giai đoạn 3 - 6 tuổi: Óc sáng kiến> • Giai đoạn khủng hoảng 4 - Giai đoạn 6-12 tuổi: Có năng lực>< sự tự ti, kém cỏi.
Việc luyện cho trẻ tính ham thích làm việc, ham muốn học hỏi kiến thức, học làm
việc sẽ giúp trẻ có cảm giác thành công. Ngược lại, nếu trẻ không được học hỏi,
khám phá, trẻ sẽ cảm thấy mình kém cỏi, tự ti và tự hạ thấp bản thân. Có thể nói, khi các nhu cầu cơ bản của học sinh không được đáp ứng, điều này có thể sinh
ra những rối loạn cảm xúc và hành vi ở các em, trong đó có cả những hành vi vi phạm
pháp luật. Nhiệm vụ của cán bộ tham vấn khi trò chuyện với học sinh là xác định được học
sinh đó đã đạt được những nhu cầu nào và các em có nhu cầu nào muốn đạt được trong
thang nhu cầu cơ bản của con người, để có thể giúp các em nhận ra rằng, những nhu cầu,
mong ước hay dự định nào của các em thì có tính khả thi ở lứa tuổi và điều kiện của các
em để giúp em thực hiện hóa chúng. • Giai đoạn khủng hoảng 5 - Giai đoạn 12-18 tuổi: Bản sắc cá nhân> ở em nữa nhỉ? (học sinh đã ngừng khóc). Cô nghĩ, nhiều nam giới ở tuổi trưởng thành
sẽ ước một người vợ có các đặc điểm giống như em... sinh thường có những câu hỏi về bản thân một cách không rõ ràng, như: Mình là ai?
Mình có giá trị gì? Tương lai của mình ra sao? v.v... Câu chuyện với học sinh chuyển sang hẳn một sắc thái khác: Em thảo luận với cán bộ
tham vấn về kết quả học tập ở mức trung bình của em, em nói về quan hệ bạn bè, về ứng
xử trong gia đình... Trước khi kết thúc cuộc trò chuyện, em nói rằng: “Có thể việc học hành
của em chưa chấm dứt ở bậc phổ thông. Em cám ơn cô vì có cuộc trò chuyện này”. Cuộc tham
vấn đã kết thúc thành công khi cán bộ tham vấn giúp học sinh nhận ra được những giá
trị thực ở bản thân, giúp em chấp nhận một thực tế của mình mà không so sánh mình với
các bạn khác. Khi các em không tìm được câu hỏi về giá trị, về tương lai của bản thân, điều này khiến
các em lo lắng và không ít em tự tìm cho mình những giá có thể không phù hợp với chính
mình, như: bắt chước, ảo tưởng và nhập tâm từ các giá trị được thừa nhận của người khác.
Điều này dẫn đến sự lẫn lộn vai trò khi các em “đóng kịch” và “ảo tưởng” về bản thân, thể
hiện không đúng cảm xúc, vai trò xã hội của mình hoặc vay mượn kiến thức của người
khác. Đôi khi sự lẫn lộn bản sắc đẫn đến lẫn lộn vai trò và điều này diễn ra trong suốt cuộc
đời của một người. Phân tích một đoạn trong ca tham vấn cho học sinh về nỗi buồn phiền
trong mối quan hệ bất hòa với bố mẹ (như học sinh ghi trong phiếu đăng kí xin tham vấn): Như vậy, cán bộ tham vấn khi tham vấn cho học sinh lứa tuổi “xác định bản sắc cá nhân”
(từ khoảng 12 - 18 tuổi, đặc biệt là nhóm học sinh trung học phổ thông), cần nắm vững
các đặc điểm tâm lí xã hội của các giai đoạn này để đánh giá được căn nguyên của các cảm
xúc, nhận thức và hành vi; giúp học sinh ứng phó hài hoà giữa nhu cầu cá nhân và sự đáp
ứng xã hội; giúp các em lứa tuổi thanh thiếu niên nhận biết thực sự: Mình là ai? Mình có gì?
Tương lai của mình như thế nào? v.v... để các em tự tin vững bước vào đời mà không phải
nhập vai người khác để khẳng định giá trị ảo của mình. Học sinh nữ lớp 11: Bố mẹ không hiểu em, không nghe em nói (khóc), bố gia trưởng,
em chưa nói xong bố đã cắt ngay và nói “Tao biết rồi” ... Bố bảo học hết lớp 12 là đi công
nhân, học đại học cũng không xin được việc, em cũng thấy thế... Mẹ em bây giờ nghỉ
làm... hay đi bệnh viện... Em nói bố mẹ có chuyện gì cho con biết, con lớn rồi, có cần con
giúp gì không, không ai nói gì với em (khóc).... Việc nhà, cơm nước em đều làm hết.... Em
tham gia nhóm Lãnh đạo trẻ, làm các việc ở trường... Bây giờ đang hè em đi làm thêm....
Các bạn chơi theo nhóm, em không theo nhóm nào cả... Có lần em bị bạn vả một cái vì
cười vô cớ... Em cũng chả giận, kệ chúng nó.... Em hay buồn, không phải chỉ những lúc
bị bố mẹ mắng em mới buồn, đang đêm ngủ chợt tỉnh giấc em cũng thấy buồn, em lại
khóc, khóc chả vì lí do gì ... Simund Freud (1856-1939), người đầu tiên xây dựng mô hình phân tích tâm lí, được ứng
dụng rộng rãi trong tham vấn và trị liệu tâm lí. Theo quan điểm phân tâm, những hành vi
hiện tại bất thường có thể là hậu quả tồn đọng trong vô thức từ quá khứ bị dồn nén. Vì vậy,
trị liệu phân tâm giúp cho thân chủ trở về câu chuyện quá khứ, tìm lại những cội rễ vô thức
của vấn đề hiện tại, giải phóng các cảm xúc tiêu cực và tiến tới loại bỏ những triệu chứng
tâm bệnh. Cán bộ tham vấn giúp thân chủ tập trung vào sự kiện xảy ra trong quá khứ để
dòng sự kiện đó ăn nhập với vấn đề đang xảy ra ở hiện tại. Các công trình của S. Freud liên quan đến thực hành trợ giúp tâm lí cho trẻ em và vị
thành niên là: Cấu trúc nhân cách (Bản năng xung động, bản ngã và siêu ngã); các quá
trình vô thức, cơ chế phòng vệ (cơ chế bảo vệ), sự liên tưởng, sự chuyển vai và đề kháng1. Câu chuyện liên tục đã qua 50 phút. Cán bộ tham vấn lắng nghe, thảo luận từng vấn đề
học sinh nêu ra nhưng học sinh vẫn khóc. Vậy là vấn đề của học sinh có thể không phải
là buồn phiền vì bất hòa với bố mẹ như em nghĩ (sự bất hòa như em nói chỉ là các triệu
chứng mà không phải là vấn đề của em). Vào 20 phút cuối của buổi tham vấn, cán bộ tham
vấn nhận ra vấn đề của học sinh có liên quan đến “khủng hoảng lứa tuổi” do em không
xác định được “bản sắc cá nhân” của mình. Em lo lắng không rõ: Mình là ai và tương lai
mình sẽ ra sao khi em chìm đắm vào những “bế tắc” xung quanh em, khi ngầm so sánh
với các bạn, như: gia đình em nghèo, mẹ ốm, bố hay quát con nên bầu không khí gia đình
thường không vui vẻ; em có kết quả học bình thường; em không có bạn thân; em thật sự
không xinh xắn và tương lai của em là có khả năng không được tiếp tục học đại học như
em muốn... Cán bộ tham vấn chuyển mục tiêu tham vấn về nỗi buồn, sự trách móc cha mẹ
sang trò chuyện giúp em xác định các giá trị thực của em: 1. Kathryn Geldard & David Geldard (2000), Nguyễn Xuân Nghĩa và lê lộc dịch và biên tập, ĐH mở bán công, TP Hồ Chí Minh. Cán bộ tham vấn: Mỗi người đều có những điều kiến sống khác nhau và có những
niềm tự hào về bản thân khác nhau. Cô nhận thấy, về hình thức em có nụ cười rất tươi,
ngay cả khi em không xinh như một vài bạn. Có ai nói với em điều này chưa nhỉ? (học
sinh gật đầu, cười). Em là người con hiếu thảo trong gia đình. Em biết bố mẹ nghèo nên
em chấp nhận đi làm sau khi tốt nghiệp phổ thông, dù em muốn học cao hơn. Em có
những ưu điểm mà nhiều bạn cùng trang lứa không phải ai cũng có, như làm các công
việc nội trợ gia đình; đi làm thêm hỗ trợ kinh tế cho cha mẹ; tham gia công việc chung
của trường, em nhường nhịn khi chơi với bạn... Còn điều gì thú vị mà cô chưa nhận thấy BẢN CHẤT BỊ CHE GIẤU TRONG HÀNH VI CON NGƯỜI (Theo cách nhìn của thuyết phân tâm) Đôi nam nữ học sinh ngồi uống nước buổi tối với nhau trong một quán thơ
mộng bên hồ. Chàng trai là hiện thân của "Cái Tôi” thực tế, trong khung
cảnh lãng mạn, anh ngắm nhìn cô gái và không ngớt thì thầm khen cô đẹp,
cô đáng yêu. "Cái Nó" với bản năng vô thức mạnh mẽ đang gây áp lực lên
"Cái Tôi" bằng cách thì thầm xúi giục chàng trai cầm tay cô gái, ôm hôn cô
và muốn nhiều hơn nữa... "Cái Siêu Tôi" tràn đầy lương tâm và trách nhiệm
xã hội luôn nhắc nhở bên tai chàng trai rằng: "Hãy là một người lịch sự”, ”Hãy
là người có giáo dục"... Cô gái nhìn chàng trai than thở rằng cả nhà cô đang
đi nghỉ mát, cô thấy trống trải trong lòng khi ở một mình tối nay. Chàng trai
đưa cô gái về nhà và nán lại qua đêm vì ... không nỡ để cô ở một mình. Câu chuyện cho thấy sự tương tác phức tạp trong cấu trúc nhân cách của
con người với sự hiện diện của ”cái Nó”, ”cái Tôi”, ”cái Siêu Tôi” và cơ chế phòng
vệ trong mỗi cá nhân1. Bản ngã (Ego - Cái tôi): Là một phần của nhân cách, các hành động được điều khiển bởi
quy tắc ứng xử thực tế. Chức năng của cái tôi là hạn chế năng lượng bản năng để duy trì
sự an toàn cá nhân và tồn tại được theo chuẩn mực xã hội. Thông thường cá nhân học hỏi
những quy tắc ứng xử thích hợp và an toàn. Cái tôi (ý thức) luôn vừa cố gắng hành xử hợp
lý, vừa phù hợp với điều kiện thực tế lại vừa nỗ lực kiềm chế không cho cái bản năng xuất
hiện, nhưng vẫn làm hài lòng ”cái nó”. Ví dụ: Freud cho rằng cấu trúc nhân cách là một hệ thống với các tầng bậc thể hiện khác nhau:
Bản năng (vô thức), bản ngã (cái tôi) và siêu ngã (siêu tôi). Ba khía cạnh này luôn đan xem
vào nhau thể hiện qua hành vi ứng xử mà không phải lúc nào con người cũng nhận thức
và kiểm soát được. Học sinh A ngồi trong lớp, em cảm thấy rất đói, tay thỉnh thoảng sờ vào gói xôi muốn
ăn (bản năng), nhưng quy tắc học đường là không được ăn trong giờ học nên em vui vẻ
không ăn, em chờ đến giờ giải lao mới ăn (hành vi có ý thức). Trong khi đó, bạn B đói thì
cứ ăn, thậm chí em ăn một cách vụng trộm trong lớp, ăn chỉ nhằm thỏa mãn ”cái nó”
(cái bản năng). Hành động này đã bị cô gọi lên phòng... để chỉnh đốn. Bản năng (Id - Cái nó) là phần bẩm sinh của nhân cách, xuất hiện từ khi con người mới sinh
ra, hoạt động thiếu tổ chức và không bị kiểm soát, luôn đòi hỏi và thôi thúc, thuộc về vô
thức. Khi mới sinh, hành vi cá nhân thường thoả mãn những ham muốn vô thức (ví dụ trẻ
đói là đòi ăn, bất kể ăn ở đâu, ị lúc nào trẻ muốn). Hành vi bản năng hướng cơ thể tới việc
đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu cá nhân mà không để ý đến những nguyên tắc hay
yêu cầu của thực tế. Cán bộ tham vấn cần động viên, cổ vũ khi học sinh thực hiện các hành động có ý thức,
hành động dựa trên quy tắc, chuẩn mực của tập thể. Khi tham vấn cho những học sinh,
luôn có những tình huống thể hiện hành vi bản năng, hành vi thiếu kiểm soát xã hội, cán
bộ tham vấn cần trò chuyện để có thể hiểu được những cách suy nghĩ, cách hành động,
những niềm tin phi lí được hình thành từ chính cuộc sống và sự dạy dỗ trong gia đình của
các em. Qua đó, giúp học sinh thay đổi những cách nhìn nhận không thực tế, những ham
muốn cá nhân không phù hợp của mình (xem thêm thuyết nhận thức-hành vi). 1. Câu chuyện về bản chất bị che dấu của nam giới và được tác giả phóng tác dựa theo ý tưởng của E. Neukrug, 1999. Dẫn theo, Khi tham vấn cho học sinh, cán bộ tham vấn có thể chỉ ra những hành vi bản năng của học
sinh (thích đánh nhau thì đánh nhau, bất chấp sau đó chuyện gì sẽ xảy ra), cho các em thấy
những hành vi vô nguyên tắc, thiếu ý thức có thể đáp ứng nhu cầu, mong muốn trước mắt
của các em, nhưng về lâu dài có thể dẫn tới sự hủy hoại khả năng thành công của các em.
Những hành vi bản năng như vậy cần được cá nhân ý thức để kiểm soát. Trần Thị Minh Đức (2016), Giáo trình tham vấn tâm lí, NXBĐHQGHN, tái bản lần 2. Siêu ngã (Superego - Siêu tôi): Đó là những quy ước đạo đức và về những điều đúng sai
trong xã hội, thể hiện lương tâm, trách nhiệm xã hội của mỗi cá nhân - cái tôi lý tưởng.
Hành vi siêu tôi được hình thành vào những năm cuối của giai đoạn trước tuổi đi học. Tại
thời điểm này, trẻ đã biến các quy tắc và các giá trị của cha mẹ, của xã hội thành một phần
thể hiện trong suy nhĩ, hành vi của trẻ. Trẻ học hỏi những điều ”lí tưởng” để hoàn thiện
nhân cách của mình theo các vai trò xã hội. tại của học sinh. Vì vậy, hỏi chuyện về thời thơ ấu của học sinh có thể giúp các cán bộ tham
vấn nối kết được với vấn đề hiện tại của các em, giúp cán bộ tham vấn có thể lí giải được
những rối nhiễu tâm lí, rối nhiễu hành vi hiện tại có thể liên quan đến các mối quan hệ
không thỏa mãn trong quá khứ của các em. Ví dụ dưới đây về hành vi lo sợ thất bại học tập
đã gây sự hủy hoại bản thân ở một học sinh. Những xung đột vô thức (giữa bản năng và sự thỏa mãn) có thể gây ra những rối loạn cơ
thể, như khi căng thẳng do không được thỏa mãn dễ sinh ra những rối loạn về ăn uống,
có thể dẫn đến rối loạn nhịp tim, đổ mồ hôi...) và những rối loạn tâm lí như lo âu, hoảng
sợ. Những xung đột tâm - sinh lí bị dồn nén bên trong đôi khi cá nhân không nhận biết
được. Ví dụ: Các cơ chế phòng vệ của cái tôi Một học sinh lớp 12 chuẩn bị thi đại học, em cố gắng hết sức để cố làm hài lòng cha mẹ
và thực hiện điều mong mỏi của bản thân – được vào đại học. Người mẹ với mong ước
lớn lao đối với sự thành công của con nên ngày nào cũng ân cần nấu đồ bổ dưỡng cho
con, bữa nào bà cũng ép uống sữa, nước cam; chăm sóc giấc ngủ cho con... Bà sợ con
không đủ sức cho kì thi trọng đại này. Nhưng bà không ngờ rằng cách quan tâm ân cần
quá mức của bà làm cho người con sợ hãi, em lo nghĩ đến việc trượt đại học sẽ làm phụ
công mẹ và làm mẹ buồn phiền. Vì vậy học sinh cứ ăn là nôn ra, vào lúc thi thử đại học
thì bị đau quặn bụng phải nghỉ làm bài. Cán bộ tham vấn gặp học sinh trò chuyện về kì thi, cách học thi; nói về các áp lực thi cử; về
những nỗi ám ảnh lo bị trượt và hướng dẫn em các cách thở sâu, thể dục để giảm strees
học đường. Cấu trúc của nhân cách theo quan điểm của S. Freud cho thấy sự phức tạp trong mối quan
hệ giữa những bản năng xung động mang tính ham muốn vô thức với những biểu hiện
hành vi theo chuẩn mực có tính ý thức được xã hội chấp nhận. Điều này đòi hỏi cán bộ
tham vấn phải nhận biết được những động cơ chính là nguyên nhân thúc đẩy hành vi của
học sinh, qua đó mới có thể giúp học sinh nhìn nhận đúng vấn đề của các ẹm và như vậy
mới đề ra được phương thức giúp đỡ phù hợp. Bản năng và các quá trình vô thức Theo S.Freud, bản năng sống bao gồm tất cả những xung năng của một người như đói,
khát và hoạt động tình dục (Libido). Bản năng sống hướng hành vi vào những hoạt động
cho sự tồn tại của con người, còn bản năng chết thể hiện ở những hành vi hướng đến sự
tiêu diệt, hủy hoại và tự hủy hoại bản thân. Đôi khi bản năng chết thể hiện ở việc cá nhân
chuyển những cảm giác huỷ diệt bản thân ra bên ngoài, hướng vào đồ vật người khác,
như: chửi bới, đánh nhau gây tổn thương đến người khác để trút bỏ những sợ hãi, căng
thẳng trong người. Các quá trình vô thức xảy ra thường do kết quả xung đột giữa bản năng và siêu ngã. Ví dụ
trong thời thơ ấu, sự xuất hiện của đứa em khiến đứa trẻ lớn cảm thấy bị “ra rìa” do cha mẹ
giảm sự quan tâm tới trẻ lớn. Bản năng xung động có thể "xúi bẩy" trẻ lớn có mong muốn
làm hại em (mong đứa em không có trên đời, hoặc mong cho nó chết...). Nhưng siêu ngã
mách bảo trẻ không được làm như vậy (do sợ bị trừng phạt, do được gán trách nhiệm làm
anh). Nếu thực tế xảy ra như mong muốn của trẻ, đứa bé này có thể trở nên âu lo, bị rối loạn
tâm lí; cũng có thể ở đứa trẻ xuất hiện cơ chế tự vệ, như hình thành phản ứng ngược. Ví dụ,
trẻ tỏ ra yêu em nhiều hơn để được cha mẹ yêu quý mình. Những quá trình vô thức xảy ra trong thời thơ ấu có thể ảnh hưởng tới hành vi thời hiện Phóng chiếu Phóng chiếu là gán cho người khác hay đổ lên đồ vật những ý nghĩ, lỗi lầm do mình gây
ra; đổ lỗi cho người khác những cảm xúc, ham muốn không thể chấp nhận của chính bản
thân; quy kết, đổ lỗi cho người khác khi mình phạm lỗi; trách người khác về hành động
của mình. Ví dụ: Cán bộ tham vấn: Sao em không làm bài tập ở nhà? Trong cuộc sống, các cá nhân thường có những căng thẳng, những nỗi lo hãi. Để giải
thoát khỏi chúng, cá nhân thường tìm các phương thức đối phó, như: tự suy xét về nguyên
nhân gây ra và đưa ra những cách ứng phó được coi là hợp lí; trò chuyện với những người
đáng tin cậy để nhận được những lời khuyên; tham gia vào các hoạt động khác nhau để
giải thoát, trốn vào giấc ngủ cho quên đi; dùng các chất kích thích như thuốc lá, rượu, bia,
ma túy; quan tâm thái quá đến tình dục; thậm chí có người giải thoát lo sợ bằng cách xâm
hại người khác hoặc tự hủy hoại bản thân. Học sinh: Tại vì bố mẹ em về muộn, em ăn xong đã khuya nên không kịp làm bài, hoặc: Cán bộ tham vấn: Lí do gì khiến em đánh bạn? Có thể nói, cơ chế phòng vệ cái tôi là những hành vi được hình thành để chống lại sự lo âu
do kinh nghiệm và ký ức tuổi thơ gây ra. Chức năng của cơ chế phòng vệ là tránh cho cá
nhân khỏi nhận biết sự lo lắng, nỗi đau mà họ đang trải nghiệm. Học sinh: Tại vì nó quay sang nói chuyện làm em bị thầy phạt. Dưới đây là những cơ chế phòng vệ (được S. Freud và các đồng sự đưa ra) cho phép cá
nhân bù trừ sự bất lực của mình. Tuy nhiên, về lâu dài các hành vi kiểu này sẽ gây ra những
mâu thuẫn nội tâm, những rối nhiễu tâm lý, những bất lực trước cuộc sống. Các cơ chế
phòng vệ bao gồm: Cơ chế phóng chiếu, đổ lỗi thường xuất hiện với những cá nhân ít chịu trách nhiệm về
hành vi của bản thân. Vì vậy, khi trò chuyện với học sinh, cán bộ tham vấn có thể sử dụng
kỹ năng thấu cảm để giúp các em chấp nhận những những thực tế đang có để thay đổi
bản thân. Dồn nén Phóng nội (nhập nội) Đó là một sự chế ngự những lo lắng, những cảm xúc tiêu cực để không cho các sự kiện/
thực tế phát lộ ra bên ngoài, để khỏi phải chịu đựng chúng. Theo Jo.Godefroid1, dồn nén
là nén vào vùng vô thức sự ham muốn hoặc tình huống xung đột tâm lý – Đó là một sự
quên chủ động; dồn sự kiện, ý nghĩ xuống vùng vô thức cho quên đi: Ý tưởng bị dồn nén
vào vùng vô thức gây ra quên, còn cảm xúc lại ở vùng ý thức gây ra lo sợ. Ví dụ: Cá nhân chấp nhận bị gán, bị đánh giá không đúng nhằm tránh gây căng thẳng, gây va
chạm. Đó là một sự chấp nhận những điều không đúng để được bình yên, để cho qua
chuyện. Cơ chế “chuyển vào trong” ở học sinh có thể gây ra những rối loạn cảm xúc và
hành vi sau này ở các em. Ở khía cạnh giáo dục, nếu cha mẹ 99 lần nói con mình là “ngu
như lợn”, lần thứ 100, đứa trẻ sẽ ăn cám! Ví dụ về cơ chế nhập nội: Học sinh: Bố em quá tệ, ông đánh con cái mà không thương xót, cứ như thể con cái là Cán bộ tham vấn: Điều gì khiến em không lấy tiền nhưng lại nhận là có lấy? bị thịt để ông ấy trút giận í. Cán bộ tham vấn: Thế mẹ em có biết chuyện này không? Học sinh: Mẹ em á, em cũng chả biết nữa... Học sinh: Khi mà cô chủ nhiệm và các bạn tin rằng lấy trộm tiền của bạn, vì lúc đó mỗi
mình em ngồi trong lớp, em bị đau bụng nên không xuống giờ thể dục, em lại không
chứng minh được nên em nhận cho cho nó xong. Cả lớp cứ chất vấn lên xuống làm em
quá mệt mỏi. Nhưng bây giờ nói chuyện với cô, em biết là cô sẽ tin em nên em mới nói
là em không hề lấy tiền của bạn! Hợp lý hóa Học sinh có biểu hiện sự lo lắng, căng thẳng và không muốn tiếp tục đề cập chuyện này,
cán bộ tham vấn đã chuyển chủ đề. Tuy nhiên, ở buổi tham vấn sau, học sinh nói rằng em
đã rất giận mẹ vì mẹ quá hiền, mẹ bất lực không thể bảo vệ mình và các con, nhưng em lại
yêu mẹ, em không muốn trách mẹ. Hợp lý hóa là đưa ra nguyên nhân, cách lý giải, biện minh cho hành không hay của mình
bằng những nguyên nhân, sự lí giải có vẻ hợp lý. Ví dụ, đưa ra lý lẽ không đúng sự thật
nhưng có vẻ logic, dễ được chấp nhận để giải thích, biện minh cho hành động không hay
của mình, ví dụ: Giáo viên lỡ tay đánh học sinh, nhưng lại bảo: Tôi cần nghiêm khắc để các em nên người. Như vậy, sử dụng cơ chế dồn nén, học sinh sẽ tránh nghĩ đến những sự thật không vui.
Những biểu hiện của cơ chế này thường được phát lộ qua giấc mơ được học sinh nhắc
tới, ở sự nói buột miệng, hay học sinh “quên” câu chuyện đang nói đến... Tất cả những tín
hiệu này giúp cho cán bộ tham vấn hướng đến những uẩn khúc mà học sinh cố dồn nén,
không chia sẻ ra. Đây có thể là những nguyên nhân gây căng thẳng tâm lí, gây rối loạn
hành vi trong câu chuyện hiện tại của em. 1. Jo.Godefroid, Những con đường tâm lí học tập 3, NXB Pierre Mardage Liege – Bruxelles, 1987, Trung tâm nghiên cứu Tâm lí trẻ em, tủ sách NT 1998. Lớp trưởng thiếu trách nhiệm với các hoạt động của lớp, nói: Em muốn các bạn trong
lớp phải có ý thức tự giác hơn nên em để các bạn tự xoay xở thôi. Giả bệnh Thực tế những hành vi đó không phải bắt nguồn từ lý do như cá nhân đưa ra, nhưng lại
được cá nhân hợp lí hóa để được những người khác chấp nhận. Khi tham vấn cho học
sinh, cán bộ tham vấn có thể nhận ra sự lí giải, biện hộ của học sinh, giúp các em nhìn
nhận vấn đề như thực tế vốn có để các em có thể đương đầu giải quyết được vấn đề của
mình. Trước những khó khăn, những mối đe dọa, cá nhân thường trốn vào bệnh. Điều này có
thể gây ra các triệu chứng rối loạn cơ thể mà không có nguyên nhân thực thể rõ rệt. Việc
cá nhân trốn vào bệnh theo cách này thì không thể chữa bằng y tế được. Cán bộ tham vấn
cần giải thích cho “bệnh nhân” cơ chế “giả bệnh” để học sinh vượt qua những khó khăn
của mình. Chuyển di Đó là sự chuyển cảm xúc hay phản ứng tiêu cực của mình từ một đối tượng này sang đối
tượng khác hoặc chuyển di sang đồ vật để được an tâm. Ví dụ: Phụ huynh gọi điện cho cán bộ tham vấn: Cô xem thế nào, cháu Hải con tôi học lớp
6, từ hôm nhập trường đến nay mới có 2 tháng mà cháu luôn kêu bị đau bụng, đau đầu,
có hôm bị nôn. Đi học về ngày nào cháu cũng kêu bệnh. Cán bộ tham vấn: Chị có nghĩ tới việc đưa cháu đi khám y tế? Học sinh lớp 11tức giận cô giáo về nhà xé vở, quát mẹ: Tại sao mẹ không nói cho con
biết hôm nay là thứ năm để con còn mang sách toán đi học, làm cô giáo quát con! Phụ huynh: Tôi đã đưa cháu đi khám rồi, bác sĩ không phát hiện cháu bị gì cả. Tôi lo Cô giáo giận con, đến lớp lẩm bẩm mắng học sinh: Thật là một lũ ăn hại như nhau! quá! Cán bộ tham vấn: Cháu có nói cụ thể cho chị biết trong những trường hợp cụ thể nào thì cháu bị? Cán bộ tham vấn cần chỉ cho học sinh thấy việc đổ lỗi kiểu “giận cá chém thớt” sẽ làm các
em khó nhận ra thực sự vấn đề của mình; rằng việc đổ lỗi không đúng sự thực chỉ giúp
học sinh giảm tức giận hay lo sợ trước mắt mà không giúp giải quyết được tận gốc những
rắc rối thực tế của các em. Phụ huynh: Thì cháu nói lúc cô thầy kiểm tra bài, lúc gọi cháu lên bảng, lúc... Tôi chẳng hiểu sao thầy cô lại làm cháu bị bệnh. Thoái lùi, thoái bộ Cán bộ tham vấn: Vâng. Chị nói cháu thứ 3 tuần tới, cuối buổi học cháu lên gặp tôi ở phòng tham vấn nhé. Tôi hi vọng có thể giúp chị xác định bệnh của cháu. Thăng hoa Cơ chế thoái bộ thể hiện ở những hành động của cá nhân không phù hợp với lứa tuổi khi
có căng thẳng tâm lí. Ví dụ: cậu học sinh lớp 12 bị bạn bắt nạt về nhà khóc, mách bố mẹ;
hoặc thể hiện những hành động giậm chân, cắn móng tay, la hét, mách người lớn; hay cô
giáo khóc to vì bất lực với học sinh – những đứa trẻ bằng tuổi con cô. Ở một số cá nhân khi nhu cầu không được thoả mãn, hay không được đáp ứng họ thăng
hoa vào các hoạt động dễ được xã hội chấp nhận hay đề cao, như thăng hoa vào hoạt
động nghệ thuật, khoa học, tôn giáo, làm từ thiện, những hoạt động có mục đích cao cả
thay cho một mục đích ban đầu không đạt được. Ví dụ: V. là học sinh lớp 10, em thường bị bắt nạt ở trường học, em đã nghỉ học một tuần trước
vì bị stress. Sau khi trở lại trường, được giáo viên chủ nhiệm khuyến khích, em đã mạnh
dạn đến phòng tham vấn để trò chuyện với cán bộ tham vấn. Khi câu chuyện chuyển
trọng tâm sang cậu học sinh thường trấn lột và dọa bóp cổ V., em hầu như không nói
gì. Em liên tục đưa ngón tay cái lên miệng – kiểu cắn móng tay. Quan sát ngón tay của
em, cán bộ tham vấn nhận thấy đầu ngón tay cái bị bẹp, móng ngắn sát phần da, cán
bộ tham vấn nhận thấy có thể em đã bị “căm chốt” ở giai đoạn “môi miệng”, giai đoạn
từ 0 tuổi đến 12 tháng tuổi. Vì vậy, ở tuổi trưởng thành, khi gặp khó khăn hay lo sợ em
lại có hành vi lệ thuộc vào thời thơ ấu bằng cách đưa tay lên miêng ngậm, mút. Người mẹ gọi điện đến trường yêu cầu cán bộ tham vấn giúp đỡ cậu con trai 15 tuổi –
cháu Minh, học lớp 10, lí do là cậu đã xô người mẹ ngã gẫy tay vì người mẹ không cho
cậu sử dụng xe máy phân khối lớn. Sau khi nói chuyện với Minh và cha mẹ cậu một cách
riêng biệt, cán bộ tham vấn nhận thấy Minh không có vấn đề về bạo lực với cha mẹ,
hành động xô người mẹ chỉ là phản ứng nhất thời. Tuy nhiên, một mối lo lắng lớn hơn
ở cán bộ tham vấn là những trận cãi vã to tiếng mãnh liệt của cậu với người mẹ và sự
kém thích ứng xã hội của cậu. Ở trường, Minh hầu như không có bất cứ một người bạn
nào. Cách xử sự của cậu bị các bạn coi là lập dị, nên họ thường xa lánh cậu. Việc học sinh đưa tay lên miệng cắn, ngậm liên tục khi nói chuyện, hoặc trường hợp học
sinh có biểu hiện nhõn nhẽo, la hét không phù hợp với lứa tuổi của các em là những chỉ
báo cho cán bộ tham vấn hướng tới những lo âu vô thức của học sinh, mà chính bản thân
học sinh có thể chưa ý thức rõ ràng được mối lo âu đó. Khi nhận thấy những hành động
như vậy cán bộ tham vấn nghĩ tới sự căng thẳng, sự lo lắng, giận dữ, hay sự trốn thoát thực
tế của học sinh. Với ví dụ trên, việc hỗ trợ các biện pháp phòng chống nguy cơ bị bắt nạt
học đường cho V. phải gắn với câu chuyện về những mối lo âu hiện tại ở học sinh. Qua câu chuyện với người mẹ, cán bộ tham vấn nhận ra rằng người mẹ này chưa bao giờ
được chồng và gia đình chồng yêu thương. Chị sống trong sự bị ghẻ lạnh và ruồng bỏ của
người chồng. Khi Minh ra đời, cậu là tất cả với mẹ. Bản thân chị không thể đặt ra giới hạn
với cậu quý tử của mình. Chị là một người mẹ hoàn hảo về tình yêu thương con, một sự
đầu tư tình yêu quá thái do chị đã thăng hoa tình yêu của mình vào đứa con thay vì vào
người chồng. Sự quan tâm và kiểm soát của người mẹ đã làm cho Minh bị rối lạn cảm xúc
và thiếu kỹ năng xã hội. Huyễn tưởng, mơ mộng Đó là một sự “chạy trốn” khỏi thực tế khó khăn bằng cách huyễn tưởng, mơ mộng hay tạo
ra những câu chuyện không có trong thực, hoang đường để chốn tránh những lo âu thực
tại. Ở trường phổ thông giáo viên cũng hay gặp trường hợp những học sinh "chống cằm"
mơ mộng nhìn ra cửa sổ để tìm nguồn vui khi các em gặp căng thẳng. Trò chuyện với mẹ của Minh đã giúp cán bộ tham vấn nhận ra rằng, việc người mẹ không
được nhận và bày tỏ tình cảm yêu thương của mình với người chồng giúp cán bộ tham
vấn giải thích được “cơ chế thăng hoa” tình yêu thương ở người mẹ dồn vào đứa con mình.
Điều này gây nên những rối loạn trong cách ứng xử của chị với cháu và cản trở sự tự do
giao tiếp của Minh với bạn bè ở trường. Đây chính là vấn đề quan trọng mà cán bộ tham
vấn cần thảo luận riêng với mẹ của Minh và với Minh. Học sinh: Hôm qua đi học về tối em bị mấy thằng lưu manh trấn lột, nó còn đánh Né tránh, phủ định, cự tuyệt em. Chyên viên tham vấn: Lúc đó em làm gì? Học sinh: Oh! Lúc đó em chỉ ước có một sức mạnh phi thường để quật nó chết luôn, hoặc giá lúc đó em có thể bay nhanh như chim để thoát khỏi bọn nó... Cá nhân chối bỏ một cách vô thức một hiện thực đang xảy ra vì lo sợ nó ảnh hưởng tới sự
an toàn của bản thân. Ví dụ, học sinh né tránh sự thật, sự đau buồn hay sợ hãi bằng cách
làm ngơ như không có chuyện gì xảy ra. Việc cá nhân né tránh, tảng lờ hay không chấp
nhận sự thật khi cho rằng rồi sự việc hay cảm xúc sẽ qua đi là một dạng hành động trốn
thoát thực tế, trong khi thực tế không tự biến mất. Dưới đây là một đoạn nói về sự cự tuyệt
của học sinh và sự khéo léo dẫn dắt của Cán bộ tham vấn: Cán bộ tham vấn: Cô trò mình đã nói về chuyện học hành và bạn bè của em... Bây giờ em nói một chút về gia đình mình nhé. Học sinh: Gia đình em thì có gì để nói (phản ứng rất nhanh), cô muốn biết về điều gì ạ? Bố mẹ em vẫn bình thường... Trong cuộc sống đôi khi các cá nhân, đặc biệt ở lứa tuổi vị thành niên, khi gặp khó khăn
các em có những tưởng tượng, mơ mộng gặp “Hoàng tử” hay “Công chúa” của đời mình.
Sự tưởng tượng trốn thoát thực tế có thể giúp học sinh giảm lo âu. Tuy nhiên, trách nhiệm
của cán bộ tham vấn là giúp các em dù mơ tưởng “bay nhảy cao xa” thì cũng phải trở lại
thực tế cuộc sống đời thường với những trách nhiệm đương đầu với khó khăn của mình.
Vì vậy, khi tham vấn cho học sinh, cán bộ tham vấn cần tách bạch giữa cơ chế huyễn
tưởng, mơ mộng với những ước muốn có thể thực hiện được để giúp học sinh hiện thực
hóa ước mơ của các em. Cán bộ tham vấn: Em có thể nói bất kể điều gì em muốn nói về bố mẹ mình. Học sinh: Họ chẳng có gì đặc biệt khiến em phải nhắc đến họ. Em không muốn nhắc Đồng nhất hóa đến chuyện gia đình ở đây. Cán bộ tham vấn: Em nói đúng, họ chẳng có gì đặc biệt để xen lẫn vào câu chuyện của
cô trò mình. Tuy nhiên họ lại có liên quan chút xíu đến việc em cân nhắc có nên tiếp tục
học đại học hay không. Em cũng biết, chi phí cho học đại học là rất lớn, điều này ít nhiều
có phụ thuộc vào thu nhập của gia đình em. Đó là sự đồng nhất bản thân, hay sự suy nghĩ, hành vi của một cá nhân với những người
khác hay với một nhóm mà cá nhân cho là họ có giá trị làm tăng “cảm giác có giá trị của
bản thân”. Cơ chế đồng nhất hóa nói lên việc cá nhân hành động giống người khác để cảm
thấy giá trị của mình được tăng lên. Doạn chuyện trò dưới đây giữa cán bộ tham vấn học
đường với học sinh lớp 11 cho thấy rõ ảnh hưởng của sự đồng nhất giá trị xã hội lên bản
thân học sinh. Học sinh: Vâng! Bố mẹ em, bố mẹ em mới mới bị bắt ... (học sinh bắt đầu khóc)... Học sinh lớp 11: Em muốn làm lãnh đạo. Cán bộ tham vấn: Theo em, làm lãnh đạo là làm gì? Học sinh: Là mình làm chỉ huy người khác, mình có nhiều quân, mình có thể ra lệnh cho họ được. Cán bộ tham vấn: Điều gì khiến em muốn làm lãnh đạo? Học sinh: Em thích có tư cách. Em thấy mấy đứa chả hơn gì em, nó cậy có bố làm lãnh
đạo nên làm gì cũng xong, bao nhiêu người xoắn lấy nó. Khi mình làm lãnh đạo, họ sẽ
nể phục mình... Cán bộ tham vấn đã biết qua báo chí rằng, bố mẹ học sinh mới bị đi tù do vận chuyển ma
túy nhưng cô không muốn chủ động hỏi khi học sinh chưa sẵn sàng nói về điều này. Cơ
chế phủ định, cự tuyệt với những điều không hay về bố mẹ đang ngăn cản học sinh nói
về gia đình mình, em sợ chuyện lộ ra sẽ làm hại tới em, em sợ bị cán bộ tham vấn đánh
giá xấu về em. Cán bộ tham vấn đã tôn trọng sự im lặng của học sinh, dù cô rất muốn học
sinh chấp nhận một thực tế rằng trong thời gian sắp tới em sẽ có cuộc sống thiếu vắng
bố mẹ mình, và có thể phải chịu đựng những đàm tiếu trong bạn bè, cộng đồng nơi em
sinh sống. Nhận thấy học sinh cần được hỗ trợ tâm lí để vượt qua những khó khăn ban
đầu nên cô đã khéo léo tránh để học sinh bất ngờ cự tuyệt sự thật mà từ từ chấp nhận trò
chuyện về gia đình mình. Khi học sinh muốn đồng nhất hóa bản thân vào những vai xã hội tích cực, có giá trị thông
qua sự học hỏi, rèn luyện bản thân và nghề nghiệp đáng được cán bộ tham vấn khích
lệ. Tuy nhiên khi học sinh đồng nhất mình một cách không hiện thực, như ở trường hợp Việc cán bộ tham vấn trò chuyện cùng học sinh về sự thật đau lòng, hay sự khó chịu sẽ
giúp học sinh nâng cao được bản lĩnh của mình để đón nhận mọi tình huống có thể xảy ra
trong cuộc sống, thay vì né tránh hay phủ định chúng. Hình thành phản ứng ngược trên, học sinh lớp 12 nói rằng: “Em muốn làm lãnh đạo trong ngành luật, nhưng em không
muốn làm luật sư”. Cán bộ tham vấn đã đưa học sinh trở lại thực tế cuộc sống và học tập
của em; cung cấp cho em những kiến thức về ngành/nghề và hướng dẫn em chọn nghề;
giúp em nhìn nhận bản thân, điều kiện thực tế của mình và yêu cầu xã hội đối với các
ngành/nghề để em có sự lực chọn một công việc tương lai sao cho phù hợp với vai xã hội
mà em mong muốn. Đó là một cơ chế tự vệ thể hiện qua những phản ứng trái ngược với ý muốn bị dồn nén
bên trong. Bằng cách này, cá nhân có những hành động bên ngoài đi ngược lại với cái
mình mong muốn trong đầu, nhằm che giấu và duy trì những tình cảm, suy nghĩ thực bên
trong của mình và để được người khác chấp nhận. Cơ chế này trong dân gian thường nói:
“Nói vậy mà không phải vậy”. Ví dụ: Bù trừ Một học sinh nữ lớp 12 rất thích người bạn trai học giỏi ngồi kế bên, cô luôn tìm cách
gần gũi cậu bạn, nhưng cô lại sợ bạn bè coi thường. Khi người bạn trai rủ cô đi chơi, cô
lập tức nói “Không”. Làm như vậy, cô cảm thấy giữ được “phẩm giá” của mình đối với
cậu bạn trai và bạn bè của mình. Khi cá nhân cảm thấy yếu kém ở một khía cạnh nào đó, họ sẽ bù đắp ở một lĩnh vực khác
hoặc phóng đại đặc điểm tích cực của mình hoặc làm hành động nào đó để che giấu, bù
trừ những đặc điểm yếu kém mà không khắc phục được. Ví dụ: Cán bộ tham vấn khi trò chuyện với học sinh có thể nhận thấy suy nghĩ, mong muốn của
các em đôi khi không phản ánh phù hợp với hành vi, biểu hiện bên ngoài của các em do
các em sợ bị cô lập, sợ bị đánh giá xấu trong nhóm bạn. Vì vậy, nhiệm vụ của cán bộ tham
vấn là giúp các em trở thành chính mình và thực lòng với người khác. Một học sinh lớp 11 có kết quả yếu kém về học lực em đã đền bù bằng cách phát triển
các hoạt động khác để tự cảm nhận tốt về giá trị của mình, như em thường mời các bạn
về nhà chơi, cho bạn ăn uống, sử dụng đồ thoải mái, hay bao tiền cho các bạn khi đi
xem phim, v.v... để tránh cảm giác khó chịu vì bị coi thường. Em nói với cám bộ tham vấn
rằng: “Em cảm thấy tự hào vì nhiều bạn tôn trọng và yêu quý em hơn cả những bạn học
giỏi”. Cán bộ tham vấn cần nói chuyện với học sinh về những khó khăn trong học tập, về những
cách mà em có thể thành công trong học tập để có được sự tôn trọng, yêu quý của bạn bè
(nếu em thực sự cần những giá trị này), thay vì cố gắng làm những việc khác để bù trừ vào
hoạt động khiếm khuyết của bản thân. Các cơ chế phòng vệ dù diễn ra trong cuộc sống đời thường của con người thì chúng cũng
ngăn trở khả năng của con người ứng phó, giải quyết về các vấn đề của cuộc sống. Vì thế,
Cán bộ tham vấn cần nắm vững các cơ chế phòng vệ cá nhân để giúp học sinh hiểu được
lý do về các hành động, cảm xúc, mong muốn, suy nghĩ của các em, qua đó giúp học sinh
nhận biết và có khả năng ứng phó trực tiếp với các vấn đề nam giải của mình thay vì tảng
lờ, quên đi, đổ lỗi, bù trừ, nói ngược, thoái lui, viện lí, hay mơ mộng hão huyền. Chuộc lỗi Tự do liên tưởng Cá nhân khi có hành động xấu, hành động không hay, để tránh những cảm xúc tiêu cực
do hành động đó gây ra, cá nhân lại đền bù bằng một hành động tích cực để cảm thấy an
lòng, để tránh được cảm xúc tội lỗi do mình gây ra, thay vì thẳng thắn xin lỗi và có trách
nhiệm sửa sai. Ví dụ: Giáo viên sau khi mắng thậm tệ học sinh, hôm sau lại thưởng điểm cho cả lớp, hay quyên tiền đóng góp quỹ cho lớp. Người mẹ sau trận giừ đòn với con lại đưa con đi phố mua quà cho con, đáp ứng các đòi hỏi của con. Đó là một kỹ thuật cơ bản trong trị liệu phân tâm, thân chủ “tự do” trong trạng thái được
khuyến khích rộng mở mọi tâm tư, cảm xúc, những ý nghĩa và huyễn tưởng; thân chủ tự
do diễn dạt bằng lời một cách tự nhiên mà không bị kiểm duyệt hay phán xét. Phương
pháp tự do liên tưởng giúp thân chủ có thể nói bất cứ điều gì xuất hiện trong tâm trí, thân
chủ tự khám phá những vô thức và giải phóng những điều bị dồn nén trong quá khứ. Nhà
trị liệu không bình luận, phê phán hay đưa ra bất cứ một nhận xét nào. Sau khi nghe câu
chuyện của thân chủ, nhà phân tâm bắt đầu tạo dựng một bức tranh về những nội dung
vô thức của thân chủ, nhà tham vấn luận giải về căn nguyên, các động lực và các đặc tính
của đề. Kỹ thuật tự do liên tưởng là cách thức hiệu quả nhất để đem lên bề mặt ý thức các
nội dung bị dồn nén, giúp thân chủ sáng rõ về vấn đề của mình. Học sinh bị kiểm điểm ở lớp, về nhà đã có hành động tích cực giúp cha mẹ, như lau nhà,
rửa bát, giặt quần áo của mình. Học sinh hi vọng các tội lỗi ở lớp sẽ được cha mẹ “giảm
nhẹ” và trẻ cũng tránh được những ân hận do những hành vi xấu của mình gây ra. Chuyển dịch và chuyển dịch ngược Chuyển dịch Cán bộ tham vấn nếu phát hiện ra “cơ chế chuộc lỗi” ở các em thì cần sử dụng kỹ năng
thấu cảm để làm rõ hành vi gây lỗi và nỗi ân hận của các em qua hành vi thay thế tích cực.
Cán bộ tham vấn khi trò chuyện cần tách bạch 2 loại hành vi này để học sinh nhận ra lỗi
của mình và ủng hộ học sinh duy trì hành vi tích cực, khi hành vi thay thế này có ý nghĩa
về giáo dục và tạo niềm vui cho chính học sinh. Trong quá trình tham vấn, ở thân chủ luôn xuất hiện phản ứng xúc cảm hay sự tưởng
tượng. Các cảm xúc này thường được đồng nhất với người nào đó là trung tâm của những
xung đột xúc cảm trong quá khứ ở thân chủ (thường là bố mẹ hoặc người yêu). Khi trò chuyện với nhà tham vấn, thân chủ vô thức chuyển dịch các phản ứng cảm xúc này vào
nhà tham vấn – Đó là sự chuyển dịch. Dựa trên 3 lí thuyết nền tảng trong tâm lí học, như: Thuyết điều kiện hóa cổ điển của
Ivan Pavlov (1894-1936), thuyết điều kiện hóa thao tác/hành vi của Burrhus Frederic
Skiner (1904-1990) và thuyết học tập xã hội của Albert Bandura (sinh 1925), trị liệu hành
vi ra đời. Khi nhận thấy học sinh có sự chuyển dịch cảm xúc – kiểu “đổ lên đầu nhà tham vấn cảm
xúc không vui của mình”, cán bộ tham vấn cần điều chỉnh những cảm xúc này ở học sinh,
bằng cách “phiên dịch” lại những tình cảm chuyển dịch nhawmg giúp học sinh nhận ra
nguồn gốc, xuất xứ của những trải nghiệm thời thơ ấu ở thân chủ. Những cảm xúc này
thường là vô thức được học sinh phóng chiếu lên cán bộ tham vấn như thể cán bộ tham
vấn là nguyên nhân gây ra các cảm xúc tiêu cực ở học sinh. Trị liệu hành vi phát triển mạnh vào đầu những năm 60 của thế kỉ XX, với những đóng góp
lớn của Joseph Wolpe (1915-1997), Arnold Lazarus (1932 – 2013), William Glasser (sinh
1925), Albert Bandura. Chuyển dịch ngược Đó là những xung đột cảm xúc không được hoá giải của nhà tham vấn bị phóng chiếu, đổ
lên thân chủ. Quan điểm của trị liệu hành vi cho rằng: Một người làm bất kỳ cái gì đều là hành vi, còn
cái gì một người có là nét tính cách”. Hành vi là sản phẩm của quá trình học tập. Do đó quá
trình tham vấn tập trung vào hành vi của thân chủ, nhằm giúp thân chủ tăng cường hành
vi tích cực và giảm hành vi không mong muốn. Trong thực hành tham vấn học đường, đôi khi cán bộ tham vấn đổ lên học sinh lên cảm
xúc vô thức, những bức bối của mình. Cơ chế chuyển dịch ngược chắc chắn làm ảnh
hưởng tới tính khách quan trong việc nhìn nhận vấn đề của học sinh. Nền tảng của trị liệu hành vi là: Con người có khuynh hướng duy trì và lập lại những hành
vi mang lại sự thoải mái, lời khen, sự ngưỡng mộ hoặc các phần thưởng vật chất. Trái lại,
con người sẽ tránh hoặc bỏ những hành vi không đem lại kết quả tốt đẹp cho bản thân1. Sự chống đối, kháng cự Một hành vi luôn bị ảnh hưởng từ hai khía cạnh: Sự chống đối hay kháng cự - là thuật ngữ đề cập đến việc thân chủ có những hành vi
mang tính chất chống đối để ngăn không cho cảm xúc tiêu cực, sự thù địch hay tức giận
bộc lộ ra bên ngoài, hay nhằm vào ai đó. • Môi trường bên ngoài: Tất cả các kích thích từ bên ngoài lên cá nhân. Ví dụ, học sinh
sống trong môi trường có nhiều người sử dụng ma tuy thì sẽ dễ sử dụng ma túy. • Cá nhân: Nhận thức của cá nhân. Ví dụ, học sinh cho rằng sử dụng ma túy sẽ giúp
em quên đi nỗi cô đơn, giúp em thoát khỏi sự bế tắc thì với môi trường sống có ma
túy, em có thể sẽ bị nghiện. Có thể nói, sự chống đối, kháng cự được nhìn như một kỹ thuật được dùng để tránh phải
đề cập, phải đối đầu với một vấn đề nào đó mà khi nó xuất hiện sẽ làm thân chủ không
thoải mái. Nhà tham vấn chỉ cho thân chủ thấy họ đang đề kháng, để phá vỡ sự chống đối
nhằm giúp thân chủ đối mặt với thực tế đó. Ví dụ: Để duy trì một hành vi nào đó cho học sinh, cán bộ tham vấn cần tạo ra một môi trường
tâm lí – xã hội thuận lợi và có sự củng cố hành vi đó. Củng cố là cái tác động từ bên ngoài
nhằm giúp cán bộ tham vấn duy trì một hành vi nào đó ở học sinh. Ví dụ, tác nhân củng
cố thường được cán bộ tham vấn sử dụng, đó là cho lời khen, thưởng vật chất, tạo cơ hội... Các bước thay đổi hành vi Sự thay đổi hành vi diễn ra theo 5 bước và các cán bộ tham vấn có thể ứng dụng trong
tham vấn cho học sinh như sau: Bước 1: Xây dựng mối quan hệ Học sinh H, cảm thấy không hài lòng với cán bộ tham vấn học đường. Em cho rằng cô
quá khắt khe với em về giờ giấc, về yêu cầu công việc phải làm ở nhà trước mỗi buổi
tham vấn. Em phản ứng bằng cách không bày tỏ bất cứ điều gì với cán bộ tham vấn.
Cán bộ tham vấn đã chỉ ra sự tương đồng giữa mối quan hệ này với mối quan hệ của em
với cha em, nhưng em chối bỏ. Học sinh H không nhận thấy được sự kháng cự nơi mình
bởi việc thừa nhận này sẽ mang đến oán giận hướng vào người cha mà em vẫn đang
dồn nén sự ẩm ức bấy lâu nay. Sự “bừng hiểu”chỉ xuất hiện sau khi học sinh buông bỏ
sự kháng cự do nhìn ra sự tái lặp mâu thuẫn của em với bố trong mối quan hệ của em
với cán bộ tham vấn. Khi đó những dồn nén, sự ấm ức, những hành vi không thực hiện
trong gia đình được em đem ra thảo luận. Sau đó cán bộ tham vấn giúp học sinh thay
đổi hành vi bằng cách thực hiện những hoạt động theo mục tiêu có hiệu quả hơn. Cán bộ tham vấn xây dựng một mối quan hệ tích cực với thân chủ và xác định một cách
rõ ràng những mục tiêu tham vấn cho thân chủ theo phương pháp hành vi. Ví dụ, sau khi
chào hỏi, học sinh nói về vấn đề của mình như sau: 1. Trần Đình Tuấn, Tham vấn tâm lí cá nhân và gia đình (2013), trang 42, NXBĐHQGHN Học sinh: Em và mẹ luôn cãi nhau, em không thể chịu đựng được cách áp đặt của mẹ Khi làm việc với học sinh, cán bộ tham vấn có thể phát hiện ra sự chống đối của học sinh
như sự né tránh thảo luận một vấn đề nào đó, sự che dấu cảm giác thù địch, hay sự phẫn
uất không cho bộc lộ ra bên ngoài của học sinh. trong bất cứ việc gì em định làm. Bước 5: Kết thúc tham vấn và theo dõi Cán bộ tham vấn: Cô có thể giúp gì cho em? Học sinh: Là em nói hai mẹ con em hay hục hặc với nhau, em chỉ muốn đến nhà bạn ở vì em không thể nói chuyện được với mẹ một cách bình thường. Cán bộ tham vấn phải duy trì liên lạc với học sinh trong một khoảng thời gian cần thiết
(3 đến 6 tháng) để bảo đảm thành công của quá trình thay đổi hành vi, chuẩn bị cho học
sinh tâm thế và khả năng tự điều chỉnh sau khi quá trình tham vấn kết thúc. Cán bộ tham vấn: Thực sự khi đến đây em muốn cô giúp gì cho em? Câu hỏi học sinh cần trả lời: Kế hoạch tự điều chỉnh tiến triển tốt như thế nào? Học sinh: Em muốn cô giúp em làm cách nào để em có thể nói chuyện được với mẹ mà không cảm thấy căng thẳng. Kỹ thuật làm mòn cảm xúc Hỗ trợ học sinh theo quan điểm hành vi đặt ra cho các cán bộ tham vấn phải yêu cầu học
sinh nói rõ ràng vào một mục tiêu hành vi cụ thể mà học sinh muốn thay đổi. Bước 2: Xác định vấn đề và đặt mục tiêu Cán bộ tham vấn và học sinh trò chuyện và cùng xác định những hành vi đặc trưng mà
học sinh quan tâm và đặt ra một vài mục tiêu thử nghiệm. Nhiệm vụ của cán bộ tham vấn
là: Lắng nghe học sinh nói về những mâu thuẫn mẹ con, những cảm xúc tiêu cực nào của
em và về vấn đề gì khi em nghe mẹ nói, những tín hiệu nào khiến học sinh cảm thấy đó là
sự áp đặt của người mẹ lên học sinh,v.v... Kỹ thuật làm mòn cảm xúc (hay kỹ thuật Hóa giải các cảm xúc sợ hãi, đều thuộc nhóm kỹ
thuật Giải mẫn cảm có hệ thống) thường được dùng cho những người bị ám ảnh sợ, lo hãi.
Kỹ thuật được diễn ra như sau: Để thân chủ ở trạng thái thư giãn (hướng dẫn trước cho
thân chủ bài tập thư giãn), sau đó thân chủ tiếp xúc lặp đi lặp lại với hàng loạt kích thích
từ yếu (theo mức độ sợ hãi do kích thích gây ra), tới mạnh dần hơn. Lặp lại nhiều lần cho
đến khi thân chủ mất cảm giác ám ảnh sợ đó. Kỹ thuật này có thể dùng trong tham vấn
cá nhân hoặc nhóm. Ví dụ, học sinh bị ám ảnh sợ, cán bộ tham vấn thực hiện kỹ thuật làm
mòn cảm xúc như sau: 1/ Hướng dẫn học sinh các thao tác thả lỏng, thư giãn toàn thân. Ở bước 2, câu hỏi học sinh cần trả lời là: Hành vi đặc thù nào mình thật sự mong muốn
thay đổi? (ví dụ, sự phản ứng ngay lập tức khi cảm thấy không hài lòng là hành vi học sinh
muốn thay đổi). 2/ Trò chuyện về vật/người với nỗi ám ảnh, sợ hãi đó (về chuột, độ cao, bóng tối...). Bước 3: Lựa chọn các kỹ thuật và thực hành theo mẫu 3/ Đưa cho mỗi học sinh một danh sách những thứ có liên quan đến nỗi sợ hãi của họ - xếp
thứ tự sự sợ hãi từ thấp đến cao và yêu cầu học đọc bản mô tả đó (hoặc để học sinh tự
sắp xếp những tác động gây sợ hãi cho họ từ thấp đến cao). 4/ Yêu cầu học sinh nhắm mắt tưởng tượng lại một cách sinh động lần lượt từng kích thích gây lo âu đã liệt kê trong khi thả lỏng cơ thể hết sức có thể. Cán bộ tham vấn dựa vào kinh nghiệm của học sinh hoặc vận dụng có một số kỹ thuật
để trợ giúp học sinh. Ví dụ: Cán bộ tham vấn đề nghị học sinh đưa ra những kinh nghiệm
thành công nào em đã có trước đây khi nói chuyện với mẹ mà không khó chịu, cán bộ
tham vấn cũng có thể hướng dẫn kỹ năng và cung cấp thông tin cho học sinh về những
cách mọi người có thể dùng để nói chuyện với nhau mà không cảm thấy khó chịu. Cán bộ
tham vấn giúp học sinh một số kỹ năng như tập thư giãn trên khuôn mặt và học các thao
tác thư giãn cơ thể), v.v… Nếu kích thích được quen dần không gây những khó chịu cho cơ thể thì chuyển lên một
kích thích mạnh hơn. Nếu ở học sinh xuất hiện cảm giác lo âu - khó chịu thì dừng lại, tập
trung thư giãn để có thể tiếp tục thích ứng. Cứ như vậy đến nấc thang gây sợ cao nhất. Ở bước 3, câu hỏi học sinh cần trả lời là: Những việc cụ thể nào mình sẽ phải thực hiện
để đạt được mục tiêu? Quá trình thực hiện có theo yêu cầu của cán bộ tham vấn? Cách
thức củng cố hành vi nào mình có thể sử dụng để thực hiện các kế hoạch đề ra hiệu quả? Bước 4: Lượng giá sự thành công Hình huống: Học sinh muốn gần gũi với bố dượng để cải thiện mối quan hệ thân thiện
bố - con. Quá trình tham vấn được coi là thành công khi có sự giảm thiểu những hành vi bất thường,
kéo dài thường xuyên ở học sinh. Nếu không đạt được, cán bộ tham vấn và học sinh phải
xác định lại vấn đề và các kỹ thuật áp dụng. Học sinh lớp 9: Em và bố dượng không hợp nhau. Từ bé em đã sợ đứng gần ông ấy. Em
hầu như không nói chuyện với ông ấy. Điều này làm mẹ em rất buồn. Em đã suy nghĩ
nhiều rồi. Nếu em và ông ấy không hòa thuận thì có lẽ người đau khổ nhất và có thể
là người hứng chịu đau khổ lại là mẹ em. Em nghĩ bố có lẽ cũng không quan tâm tới
chuyện này, mẹ em cứ khuyên em chủ động trước với bố. Em không biết thế nào nữa? Câu hỏi học sinh cần trả lời ở bước 4 là: Những cách thức tự giám sát bản thân nào mà
mình có thể sử dụng để giúp duy trì được sự tiến bộ? Cán bộ tham vấn: Em muốn cô giúp gì cho em? Học sinh: Em muốn cô giúp em thay đổi mối quan hệ với ông ấy. 3/ Ghi lại tất cả những trải nghiệm này để buổi tham vấn kế tiếp sẽ chia sẻ với cán bộ Cán bộ tham vấn: Ý em là, em thực sự muốn gần gũi, nói chuyện với bố dượng mà không cảm thấy sợ ông ấy? (chỉ rõ hành vi học sinh muốn thay đổi) tham vấn. Học sinh: Vâng ạ. Đúng thế ạ. Kỹ thuật tràn ngập Cán bộ tham vấn: Bây giờ chúng ta nói chuyện một chút về bố dượng em nhé. Bố Kỹ thuật này còn có tên gọi khác là kỹ thuật Duy trì tình trạng “căng thẳng kinh khủng”. dượng em là người thế nào? Học sinh: (Nói về bố dượng, về sự xuất hiện của bố trong gia đình; nói về mẹ mình và về gia đình mình....). Tràn ngập là kỹ thuật mà nhà tham vấn đặt thân chủ trực tiếp vào kích thích gây sợ hãi
có cường độ lớn nhất và khuyến khích duy trì nó cho đến khi thân chủ không còn thấy sợ
nữa. Mức độ lo lắng hoặc sợ hãi ban đầu là hoàn toàn cao, nếu thân chủ duy trì được tình
trạng sợ hãi đủ dài, mức độ sợ hãi của họ sẽ giảm. Để dập tắt hoàn toàn một số phản ứng
sợ hãi, cần lặp đi lặp lại tràn ngập. Đây là một phương pháp trị liệu hiệu quả (Wolpe 1982)1. (Nhà tham vấn hỏi chuyện để cố gắng hiểu về động cơ học sinh muốn gần bố
dượng và để chắc chắn rằng em thật sự có mong muốn gần gũi bố dượng, mà
không phải chỉ do mẹ thúc ép). Cán bộ tham vấn: Bây giờ, chúng ta có một thang đánh giá từ 1 điểm đến 10 điểm,
em hãy ghi lại tất cả những cách thức biểu hiện, những kinh nghiệm mà em cho
rằng có thể gần gũi với bố: từ sự gần gũi ít gây cho em sự khó chịu, hay sợ hãi (một
điểm) cho đến những hành vi gây cho em cảm xúc ái ngại, lo sợ nhất (10 điểm). Trong cuộc sống, những sự kiện gây ra căng thẳng, lo sợ thường được cá nhân tảng lờ,
quên đi, né tránh để khỏi phải đương đầu. Hành vi né tránh căng thẳng không làm cho
các cá nhân tốt hơn mà chỉ giúp cá nhân có thể giải thoát được trạng thái căng thẳng tạm
thời. Tuy nhiên, việc “dồn nén” tình trạng gây ra căng thẳng, lo âu xuống vùng vô thức thì
lo lắng, căng thẳng vẫn còn đó, nằm ở vùng ý thức. Vì vậy, khi tái hiện sự kiện tương tự sẽ
khiến cá nhân càng không thể kiểm soát được cảm xúc của bản thân. Đối với những học sinh có thói quên lảnh tránh căng thẳng mạnh, thay vì báo “quên đi”,
cán bộ tham vấn cần khuyến khích học sinh tiếp tục đương đầu với “căng thẳng kinh
khủng” đó và học cách làm quen với chúng. Cán bộ tham vấn giúp học sinh đương đầu với
sự kiện cho đến khi sự căng thẳng, sợ hãi bị chai lì đến mức “biến mất” thì mới thôi. Học sinh: Vâng ạ (Làm bài tập liệt kê theo các hoạt động và xếp theo thang đánh giá;
cán bộ tham vấn quan sát, thỉnh thoảng hỏi chuyện để giúp học sinh cảm thấy thoải
mái khi xếp điểm). Học sinh liệt kê, ví dụ: “Ăn cơm tối xong có thể ngồi lại trên bàn cạnh
chỗ bố vẫn xem ti vi trong khi vẫn giả như đang xem bài, trong khoảng 30 phút” – ít sợ
hơn cả (1 điểm) đến sự gần gũi gây ra những cảm xúc tiêu cực nhất, lo sợ nhất (10 điểm),
như nói: “Bố dừng quát mẹ đi”, hay “Bố cho con tiền đóng học” tương ứng với những
cảm xúc em tưởng tượng ra. Cán bộ tham vấn: Bây giờ cô hướng dẫn em một số động tác thư giãn để em cảm thấy Ví dụ, một học sinh đến gặp cán bộ tham vấn, em nói rằng em rất căng thẳng và có cảm
xúc tiêu cực khi nghĩ đến việc phải công khai hành vi xấu của mình, đó là hành vi ăn căp
tiền của bạn: thoải mái hơn nhé. Học sinh: Em trót lấy tiền của bạn, em xin hoàn lại toàn bộ số tiền em đã lấy và em xin cô giữ kín chuyện này. (cán bộ tham vấn hướng dẫn thư giãn, bất kể bài tập nào miễn là học sinh cảm thấy
thư giãn trong người). Học sinh: (Tập thu giãn 10 phút). Cán bộ tham vấn: Cô biết em đã ân hận về chuyện lấy em lấy tiền của bạn. Tuy nhiên
việc này có lẽ không còn giải quyết trong khuôn khổ giữa em và bạn nữa. Cô rất tiếc
phải nói với em rằng, em cần xin lỗi tất cả các bạn trong lớp một cách công khai. Vì việc
em gây ra làm ảnh hưởng tới nhiều bạn khác, làm các bạn ghi kị lẫn nhau. Cán bộ tham vấn: Bây giờ em đọc lại một lần tất cả những điều em ghi ra đây. Sau đó,
hãy nhắm mắt vào, thở đều và tưởng tượng lại lần lượt từng hành động gây cho em lo
âu, sợ hãi khi gần bố. Trong khi tưởng tượng thì thả lỏng cơ thể hết sức có thể nhé. Học sinh: Em không thể công khai chuyện này cho cả lớp biết được. Thật kinh khủng cô
ạ. Em ân hận lắm. Nếu cần phải làm gì để bù lại những tổn thất em đã gây ra cho cả lớp
em sẵn sàng làm, trừ điều công khai trước lớp cô ạ. Cán bộ tham vấn quan sát học sinh qua nhịp thở cho đến khi học sinh tự dừng lại. Sau đó
cán bộ tham vấn trò chuyện với học sinh, hỏi em về cảm giác cơ thể, về cảm xúc với với
hành vi tương ứng. Cán bộ tham vấn yêu cầu học sinh về nhà: Cán bộ tham vấn: Em nghĩ được như vậy là rất tốt. Cô hiểu em đang cảm thấy thế nào.
Tuy nhiên việc công khai xin lỗi các bạn sẽ giúp em mạnh mẽ hơn, tự tin hơn vào bản
thân mình. Em hãy về suy nghĩ đến việc mình sẽ nói thế nào với cả lớp và cô sẽ giúp
emđối diện với những căng thẳng này. 1/ Luyện tập cho tới khi nào em nói ra hay làm điều gì đó với bố mà không cảm thấy lo
sợ (nếu hoạt động nào đó khiến em lại lo sợ thì phải tập lại cho đến khi hết lo sợ thì
mới chuyển qua hoạt động khác. 2/ Thử ứng dụng thực hành nói chuyện, làm việc cùng bố. Sau vài lần trò chuyện, cán bộ tham vấn học đường đã giúp em lặp đi lặp lại cảm giác
“căng thẳng kinh khủng” với những tưởng tượng khác nhau về phản ứng của các bạn. Kỹ thuật củng cố từng phần Cuối cùng học sinh đã “bào mòn”, “chai lì” được cái cảm xúc căng thẳng đó. Sự duy trì được
tình trạng “căng thẳng kinh khủng” đã giúp học sinh “tấn công” được sự sợ hãi do hành vi
sai lệch em gây ra. Thực tế đã chứng minh rằng các hành vi sẽ được củng cố và trở nên mạnh hơn khi các tác
nhân củng cố (khen, thưởng) không duy trì liên tục. Trong trường hợp ngược lại, khi một
người liên tục nhận được các tác nhân củng cố, hành vi của họ sẽ không duy trì bền vững. Ở trường hợp trên, cán tham vấn đã giúp học sinh nhận ra rằng: việc em tập dượt để đối đầu
với tình trạng căng thẳng khi phải thông báo với cả lớp rằng mình là người lấy cắp tiền về
lâu dài sẽ tốt hơn nhiều so với việc trốn tránh thực tế, nhưng luôn luôn lo sợ vụ việc sẽ lộ ra. Kỹ thuật củng cố tích cực Ví dụ: Nếu một đứa trẻ thỉnh thoảng nhận được phần thưởng vì trẻ làm giúp cha mẹ việc
nhà, thì hành vi làm việc nhà của trẻ sẽ được duy trì bền vững hơn so với việc cha mẹ
thưởng cho trẻ liên tục với bất kì hành động nào của trẻ. Cũng như vậy, một học sinh ở lớp
thỉnh thoảng được cô giáo khen cụ thể cho một hoạt động nào đó thì em này sẽ cố gắng
hơn rất nhiều so với một học sinh khác, em liên tục được khen và lại khen chung chung
mỗi khi em làm gì đó ở lớp. Cán bộ tham vấn tạo điều kiện để học sinh cảm thấy dễ chịu, thoải mái để hành vi được
duy trì. Khi cán bộ tham vấn hoặc cha mẹ ngợi khen những việc làm tốt, hay kết quả học
tốt của học sinh thì sẽ duy trì và củng cố được sự chăm làm, chăm học của các em. Ví dụ: Kỹ thuật trừng phạt Cán bộ tham vấn: Phải là một học sinh có ý thức cao trong học tập nên em mới có được kết quả học tập đáng ngưỡng mộ như vậy. Cô thật tự hào về em. Kỹ thuật củng cố tiêu cực Cán bộ tham vấn tạo ra một điều kiện, tình trạng khó chịu, đau đớn hoặc lấy đi một lợi ích,
một cảm giác sung sướng nhằm chấm dứt một hành động không phù hợp. Lưu ý: Củng
cố tiêu cực làm tăng cường hành vi, trong khi trừng phạt không kích thích hành vi mà còn
gây sự tức giận, thù hận và có thể làm ảnh hưởng đến hành vi. Kỹ thuật này thường được
cha mẹ sử dụng với con cái, đôi khi giáo viên cũng hành xử với học sinh: Cán bộ tham vấn tạo ra một môi trường hay điều kiện để cá nhân cảm thấy khó chịu, đau
đớn nhằm giúp cá nhân duy trì hoặc lập lại một hành vi. Cán bộ tham vấn có thể củng cố
tiêu cực để giúp học sinh duy trì hành vi tích cực. Ví dụ: Cán bộ tham vấn: Với sức học của em ngày càng sút đi thế này, tốt nhất em nên đăng kí vào mấy trường tốp dưới cho đảm bảo. Người mẹ: Như mẹ đã nhắc con lần trước rằng, nếu kết quả học tập kì này của con
bị giảm xút bố mẹ sẽ phạt con. Vì vậy, từ bây giờ tất cả các buổi sáng chủ nhật con sẽ
không được đi đá bóng cho đến khi con đem về bảng điểm khá hơn. Học sinh: (ngồi im lặng, vẻ mặt khó chịu)... .............. Sau buổi trò chuyện đó, học sinh đã tăng cường cho hoạt động học tập và 5 tháng sau học
sinh đã đỗ vào trường phổ thông trung học hạng A ở Hà Nội). Giáo viên: Em đã biết rõ là các bạn tổ chức đánh nhau ở trường nhưng em không nói
với giáo viên. Vì vậy em sẽ không được xét thưởng học sinh giỏi trong học kì này. Cô
rất tiếc! Phương pháp phân tích đa phương diện Củng cố tiêu cực đôi khi cũng xảy ra khi hành vi gây khó chịu lại được củng cố. Ví dụ: Khi
bố mẹ không cho trẻ tham gia các hoạt động ở lớp, trẻ tức giận, gào khóc ầm ĩ (kích thích
gây khó chịu), sau một hồi quát tháo bố mẹ lại bảo con “Thôi cứ đi đi, nhanh lên kẻo
muộn”. Như vậy, hành vi của cha mẹ đang bị kiểm soát bởi sự củng cố tiêu cực của con.
Mặc dù cha mẹ có thể tin rằng mình đã làm thay đổi hành vi tiêu cực của con (từ giận dữ
chuyển sang vui vẻ), nhưng thực tế họ chỉ đang cố thoát khỏi hành vi gây khó chịu của trẻ
tạm thời và chính cha mẹ bị đứa trẻ kiểm soát. Ví dụ khác: Đây là phương pháp phổ biến trong tham vấn hành vi do Arnold Lazarus xây dựng, dựa
trên sự phân tích cẩn thận 7 mẫu biểu hiện, được tạo bởi 7 chữ cái tiếng Anh- BASICID.
Bằng việc nhận dạng nhu cầu của học sinh trong tham vấn, cán bộ tham vấn yêu cầu học
sinh miêu tả các mặt biểu hiện của bản thân bằng việc trả lời những câu hỏi thuộc các lĩnh
vực dưới đây: Người mẹ: Con ơi nhanh lên, thu xếp đồ chơi vào để đi học nhạc nào. • Hành vi: Học sinh phải thống kê một danh sách những hành vi có thể quan sát được Con trai: Con không đi đâu, con ở nhà chơi cơ (Sau một hồi giằng co, người mẹ giận dữ mà học sinh muốn thay đổi. trẻ khóc ầm ĩ lên). • Xúc cảm: Học sinh viết ra những tình cảm, tâm trạng và những cảm xúc mạnh mà họ Người mẹ: Vậy thì thôi, không đi thì cho ở nhà bình thường không mong muốn, như lo lắng, tội lỗi, giận dữ, buồn chán… Kết quả là trẻ cười nói vui vẻ, bà mẹ hài lòng vi tưởng đã ngự chế được cơn tức giận của
con, thực tế bà đang bị con điều khiển bởi một hành vi củng cố tiêu cực. 1. Dẫn theo, E.Neukrug (1999), The world of the Counselors, Books/ Cole Publishing Company • Cảm giác: Học sinh phải nói lên bất cứ cảm giác tiêu cực nào liên quan đến các giác
quan xúc giác, vị giác, khứu giác, thị giác thính giác, như căng thẳng, chóng mặt,
đau đớn, đỏ mặt, đầy hơi… Bước 1 • Tưởng tượng: Học sinh viết ra bất kỳ những điều phiền toái trong giấc mơ, những
ấn tượng sâu sắc, những nét tiêu cực, sự tưởng tượng về hình ảnh chính bản thân
mình, lập ra một danh sách bất cứ hình ảnh tinh thần hoặc những hình ảnh âm
thanh nào gây rắc rối cho học sinh. Cán bộ tham vấn: Cảm giác cơ thể của em khi có lo âu thế nào?
Học sinh: Đầu em căng ra, chóng mặt, vã mồ hôi, tê chân, khó thở và đau
nhói ở ngực. Bước 2 • Sự nhận thức: Học sinh lập ra một danh sách bất kỳ thái độ, giá trị, uy tín và ý tưởng
đem lại hạnh phúc của họ. Danh sách này cũng bao gồm cả những ý nghĩ tiêu cực
về bản thân họ. • Mối quan hệ liên cá nhân: Học sinh viết ra bất cứ sự giao tiếp nào gây khó chịu với
người khác (những mối quan hệ, tình bạn, người yêu, đồng nghiệp, những người
quen) cũng như bất kỳ sự đối xử của người khác gây khó chịu với các em. Cán bộ tham vấn: Bây giờ em làm theo yêu cầu của cô nhé: Em hãy thở
thật mạnh theo cô trong 2 phút.
(học sinh thực hiện thở mạnh như cô hướng dẫn)
Cán bộ tham vấn: Hết 2 phút rồi. Bây giờ dừng lại, em hãy nhắm mắt lại.
Hãy tưởng tượng lại một chút. Em hãy viết lại hoặc nói cho cô biết em cảm
thấy như thế nào? Bước 3 • Những chất gây nghiện/ Tình trạng cơ thể: Cán bộ tham vấn yêu cầu học sinh liệt kê
tất cả những chất gây nghiện, hoặc có ảnh hưởng tới sức khỏe mà các em tự dùng
hoặc theo sự chỉ dẫn của bác sĩ. Sau khi học sinh miêu tả 7 phương diện, cán bộ tham vấn trò chuyện cởi mở vào những
mục tiêu tham vấn được phát triển cho mỗi mẫu biểu hiện. Bài tập này rất thực tế và có thể
được áp dụng bởi bất kỳ cán bộ tham vấn nào có sự hiểu biết về sự can thiệp tham vấn,
còn về phía học sinh, các em có thể miêu tả 7 mặt biểu hiện của BASICID. Học sinh: Tim em đập nhanh hơn, khó thở, nổi da gà.
Cán bộ tham vấn: Em đang nghĩ gì trong đầu?
Học sinh: Em nhớ lại sự kiện đã làm em lo sợ (em bị tai nạn)
Cán bộ tham vấn: Cảm giác cơ thể của em bây giờ có gì giống với như khi
em lo sợ thật sự?
Học sinh: Về cơ bản đều có biểu hiện giống nhau ạ
(Khi làm thử nghiệm cán bộ tham vấn cũng cho học sinh cảm giác tương tự
như khi em có lo sợ thật, nhằm mục đích dạy cho học sinh về cách kết nối sự
kiện và đương đầu với nó). Bước 4 Cán bộ tham vấn: Bây giờ em lại làm theo yêu cầu của cô nhé: Nào. Hãy
nhắm mắt lại: “Hít vào 2,3,4,5; giữ lại 2,3,4,5; thở ra 2,3,4,5; hít vào…” (Thực
hiện5 lần) Bước 5 Kỹ thuật này dùng để hướng dẫn cho những học sinh đang có sự lo lắng và sợ hãi. Các bài
tập thư giãn giúp học sinh tăng năng lực kiểm soát các trạng thái xúc cảm, cơ thể, nhờ
đó có thể đương đầu có hiệu quả với các rối nhiễu tâm lí. Kỹ thuật thư giãn được dùng để
hoá giải những rối nhiễu tâm lí kiểu ám sợ, lo hãi và được thừa nhận là một trong những
phương pháp có hiệu quả, dễ sử dụng và dễ thành công. Dưới đây là 2 kỹ thuật thư giãn
được sử dụng trong thực hành tham vấn hành vi mà các cán bộ tham vấn cần sử dụng
thành thục để hướng dẫn cho những học sinh có vấn đề về lo âu và căng thẳng. Hướng dẫn thư giãn thay đổi cảm giác cơ thể Các bước làm thay đổi cảm giác cơ thể như sau1: Bước 1: Cán bộ tham vấn yêu cầu học sinh viết ra giấy những cảm giác cơ thể khi các
em gặp căng thẳng. Ví dụ: Lo âu, hồi hộp, sợ, cảm thấy không an toàn... Bước 2: Cán bộ tham vấn yêu cầu học sinh thở trong 2 phút, thở thật mạnh, thở gấp Cán bộ tham vấn: Dừng lại, bây giờ em cảm thấy thế nào?
Học sinh: Em không thấy sợ nữa, không lo sợ nữa.
Cán bộ tham vấn: Điều gì bây giờ khiến em lại không lo sợ nữa?
Học sinh: Em không biết, có lẽ là do em thở bình thường.
Cán bộ tham vấn: Như vậy luyện thở cải thiện được cảm giác sợ hãi, lo âu.
Bây giờ em có thể tự nói với mình điều gì?
Học sinh: Em có thể kiểm soát được nhịp thở để xoá bỏ cảm giác lo âu Kết thúc Bước 3: Học sinh cảm nhận được cảm giác về cơ thể giống như khi học sinh có căng
thẳng thật sự Bước 4: Cán bộ tham vấn hướng dẫn học sinh hít thở đều đặn trong 2 phút Cán bộ tham vấn: Em hãy viết lại vào giấy điều em vừa nói. Từ bây giờ trở
đi khi lo âu như thế em có thể bật đồng hồ luyện thở và để kiểm soát nỗi
lo của mình và tự nhủ với mình như em đã viết ra giấy nhé. Em có thể kiểm
soát được nhịp thở để xoá bỏ cảm giác lo âu. 1. Kỹ thuật Thay đổi cảm giác cơ thể và thực hiện ca được hướng dẫn bởi giáo viên nước ngoài trong khóa trị liệu nhận thức hành vi, tại viện Tâm lí học, 2008 Bước 5: Cán bộ tham vấn hỏi lại cảm giác của học sinh lúc này. Cán bộ tham vấn nói cho học
sinh biết là các em có thể kiểm soát được những căng thẳng của mình bằng hơi thở. 5. Đôi mắt. Hãy nhắm mắt thật chặt. Cảm nhận sự căng cơ vùng quanh mắt. Sau đó
thư giãn nhóm cơ này (dần buông lỏng), ghi nhớ sự khác biệt giữa giai đoạn căng
cơ và giai đoạn thư giản. Nhắc lại các bước trên. Đây là bài tập mà cán bộ tham vấn học đường có thể dùng trong tham vấn cho học sinh
có lo âu, trong đó 2 nhiệm vụ cán bộ tham vấn cần thực hiện: 1/ Hướng dẫn thay đổi cảm
giác cơ thể và 2/ Hướng dẫn thay đổi suy nghĩ, niềm tin tiêu cực (trị liệu nhận thức hành
vi – 9 bước, tham khảo hướng dẫn ở phần cuối của mục 5 – thuyết nhân thức). Luyện thư giãn khi căng thẳng và lo hãi 6. Lưỡi và Hàm. Tiếp theo hãy xiết chắt hai hàm răng lại bằng việc cho hàm trên và
hàm dưới tiếp xúc với nhau. Kéo các góc của miệng ra phía sau, và tạo thành một
nụ cười cực xấu, sau đó từ từ thư giãn và chú ý tới sự khác biệt. 7. Nhấn làn môi. Hãy nhấn chặt đôi môi và chú ý đến sự căng cơ. Sau đó thư giãn nhóm cơ quanh vùng miệng. Nhắc lại các bước trên. 8. Hơi thở. Hãy hít một hơi thật sâu, và cảm nhận sự thư giãn tuyệt vời ở cánh tay, ở trên
đầu và ở miệng. Hãy thưởng thức và chìm ngập trong cảm giác thư giãn sảng khoái. Thư giãn là bài tập mà cá nhân có thể tự tiến hành. Trong khoảng thời gian ít nhất là luyện
tập kỹ năng thư giãn trong khoảng 20 đến 30 phút mỗi ngày, thực hiện trong một tuần.
Mục đích của bài tập là cung cấp những phương pháp tự kiểm soát bản thân nhằm giảm
những lo hãi và sự căng thẳng không cần thiết, đồng thời giúp có thể thư giãn toàn thân.
Tự thư giãn được luyện tập tốt nhất khi cá nhân ở trong một khung cảnh yên tĩnh và trong
tư thế người nằm sấp (xõng soài). 9. Cổ. Hãy cố gắng để cằm chạm tới ngực và tạo ra một lực ép để giữ sự tiếp xúc giữa
cằm và ngực. Sau đó dần dần buông thả và cảm nhận sự khác biệt, tiếp tục nhắc
lại các bước trên. Ngửa đầu ra đằng sau và hãy cố gắng chạm tới lưng, cảm nhận
sự căng lên của cơ, từ từ buông thả và thư giãn, sau đó lặp lại các bước trên. Chiến lược để đạt được sự thư giãn cơ là quá trình làm căng cơ sau đó thư giãn ở nhiều
nhóm cơ khác nhau và được lặp đi lặp lại. Trước tiên hãy căng một tập hợp cơ đã xác định
từ trước trong nhiều giây và sau đó thư giãn nhóm cơ này cũng trong khoảng thời gian
tương tự. Khi sử dụng phương pháp này, trước tiên nên tiến hành với nhóm cơ chủ chốt
bằng việc lặp đi lặp lại hai lần chu kỳ căng và thả cơ trên nhóm cơ cụ thể nào đó. Với mục
đích giúp sự thư giãn được lâu hơn, thì các kỹ thuật hỗ trợ như tập trung vào hơi thở,
tưởng tượng mình đang sống trong khung cảnh yên bình hay những tình huống giúp thư
giãn. Điều này có thể hỗ trợ hiệu quả cho phương pháp tự thư giãn1: 10. Ngực và vai. Kéo hai bả vai ra phía sau cho tới khi chúng dường như chạm vào
nhau, và thư giãn. Lặp lại các bước. Bây giờ bạn hãy đẩy vai ra phía trước xa hết
mức có thể thực hiện, sau đó từ từ buông thả và cảm nhận sự khác biệt. Nhắc lại
các bước trên. Cuối cùng hãy nhún vai của mình lên và có gắng chạm tới tai. Giữ
nguyên trạng, buông thả và lặp lại các bước. 11. Hơi thở. Hít một hơi thật sâu, nén hơi trong khoảng bảy giây và sau đó thở ra thật nhanh. Thực hiện lại lần nữa. Ghi nhận cảm giác khi thư giãn. 12. Nhóm cơ dạ dày. Thắt chặt nhóm cơ dạ dày lên phía trên. Hãy thắt chặt dạ dày
đến lúc cứng lên như việc thắt chặt một đoạn giây. Sau đó thư giãn và lặp lại các
bước trên. 1. Bàn tay và cánh tay. Bắt đầu bằng việc dựa lưng ra đằng sau hay nằm xuống ở tư
thế thư giãn với cánh tay buông hai bên sườn. Thở sâu vài lần để thư giãn hơn, và
gìm hơi thở ít nhất 5 giây. Hãy nhắm mắt lại trong suốt bài tập thư giãn. Bây giờ
hãy chú ý đến tay phải, nắm chặt thành nắm đấm, và cảm nhận sự căng lên ở cánh
tay ngày càng căng mạnh. Bây giờ hãy thư giãn, buông thả cánh tay và tận hưởng
cảm giác khác biệt. Sau 15 đến 20 thì lặp lại, và lần này tập trung vào sự khác biệt
giữa thư giãn và căng cơ. 13. Phần mông. Hãy làm mông cứng chặt lại bằng cách kéo chúng sát lại với nhau, giữ nguyên trạng, buông thả, lập lại. 14. Đùi. Căng cơ đùi lên. Buông thả cơ nhanh chóng, và lặp lại. Cảm nhận sự khác biệt 2. Nắm tay. Trước hết nắm tay thật chặt bàn tay trái, sau đó thư giãn và cảm nhận
sự khác biệt. Hãy lặp lại phương pháp căng cơ lặp lại một số lần, phải lưu ý đến số
thời gian tập luyện cần thiết. trong căng cơ giữa các đùi và bây giờ hãy cảm nhận sự thư giãn tột cùng. 3. Bắp tay. Co gập bắp cơ bên tay trái. Cảm nhận sự căng lên của cơ, và sau đó buông
lỏng, nhắc lại một số lần. Hít một hơi thật sâu, nén hơi lại và cảm nhận sự thư giãn
trên cánh tay. 15. Ngón chân. Hướng những ngón chân về phía đầu và ghi lại sự căng cơ. Thư giãn.
Lặp lại. Sau đó hướng các ngón chân ra phía ngoài (tẽ ngón chân ra xa nhau), và
cảm nhận sự căng cơ. Buông thả nhanh và lặp lại. Hãy cụm các các ngón chân lại.
Giữ nguyên trạng, và sau đó thư giãn. Nhắc lại các bước. 4. Phần mặt trên. Làm tăng các cơ trên trán bằng việc đưa lông mày lên cao hết mức
có thể. Để nguyên trạng thái này 5 giây, và cảm nhận sự căng cơ ngày càng mãnh
liệt hơn. Thư giãn và chú ý đến sự khác biệt. Sau đó lặp lại công thức này. 1. Corey.G (1991), Theory and Practice of Counseling & Phsychotherapy, Books/Cole Publishing Company Sau khi mỗi nhóm cơ trên được tập luyện căng trùng cơ hai lần thì cán bộ tham vấn tổng
kết lại những bài tập thư giãn điển hình bằng những lời tóm tắt hay nhận xét. Yêu cầu thân
chủ chú ý ghi nhận những cảm giác trong quá trình thư giãn, sự ấm lên, sự bình thản đang
lan toả khắp cơ thể. Kỹ thuật này rất thuận tiện và hữu ích khi tập thư giãn với băng ghi
âm để có thể làm theo các bước của bài tập một cách dễ dàng. Những niềm tin tiêu cực về bản thân • Mình chắc chắn không làm được điều này; mình là người thua cuộc • Mình là nạn nhân • Mình không xứng đáng; mình là người không tốt Từ thập niên 60 của thế kỷ 20, vấn đề nhận thức được coi là có ảnh hưởng tới mạnh mẽ tới
hành vi của con người. Các nhà trị liệu nhận thức tin rằng có một sự tương tác phức tạp
giữa ý nghĩ, cảm giác và hành động. Trong đó, nhấn mạnh đến cái cách mà con người nghĩ
và tạo nên ý nghĩa về thế giới xung quanh. • Mình không được như các bạn; • Mình không có khả năng • Trốn tránh, tảng lờ những khó khăn thì dễ hơn là đương đầu và chịu trách nhiệm • Mình không nên làm trái ý người khác • Để tồn tại tốt trong cuộc sống, mình nên dựa vào những người khác, v.v... Ứng dụng lí thuyết phát triển nhận thức của Jean piaget (1896-1980) và thuyết nhận thức
xã hội của Albert Bandura (sinh 1925) vào lí thuyết hành vi, một số nhà tâm lí đã tạo nên
trị liệu nhận thức hành vi. Trong suốt thập niên 60, liệu pháp nhận thức đã trở nên phổ
biến bởi Albert Ellis (1913 - 2007). Tên gọi trị liệu nhận thức hành vi bắt đầu được sử dụng
1990 nhằm chỉ tất cả những phép trị liệu tâm lý có định hướng đến nhận thức, như trị liệu
nhận thức (Aaron Beck), trị liệu hành vi xúc cảm hợp lý (Albert Ellis) và trị liệu hành vi hợp
lý (Maxie C. Maultsby). Những niềm tin phóng chiếu, đổ lỗi cho người khác, bên ngoài • Mọi người luôn luôn chỉ trích mình • Vì ... nên mình mới như thế này • Sự bất hạnh của con người có nguyên nhân bên ngoài và mình không có khả năng Các nhà trị liệu nhận thức tin rằng một người được sinh ra với khả năng suy nghĩ hợp lý
hoặc không hợp lý và những suy nghĩ này được củng cố qua nhiều năm đã trở nên vững
chắc, khó mất đi. Tuy nhiên, các nhà trị liệu nhận thức vẫn tin rằng, liệu pháp nhận thức
như là một quá trình định hướng logic, liên quan đến việc thay thế những ý nghĩ không
hợp lý bằng những suy nghĩ hợp lý. kiểm soát được nó. • Cuộc sống sẽ là tai hoạ khi sự việc không đi đúng hướng mà mình mong muốn, v.v... Những niềm tin thiếu khoan dung người khác • Họ cố tình làm hại mình Khi suy nghĩ, niềm tin của con người trở nên phi lý, tiêu cực đã gây ra những rối tâm lí, hay
rối loạn bệnh lí (Ví dụ, người bị trầm cảm thường có lối tư duy gần như tự động rằng mình
là người thất bại, là người vô giá trị và không ai ưa...), thì các phép trị liệu nhận thức có thể
giúp thân chủ điều chỉnh sự nhận thức và những đánh giá tiêu cực về bản thân để giúp họ
vượt qua những khó khăn gây ra rối loạn trầm cảm ở họ. • Nó cố tình biến mình thành trò hề trước mặt người khác • Nó cố tình chọc tức mình Khi tham vấn cho học sinh, cán bộ tham vấn cần chỉ ra những ý nghĩ và niềm tin lệch lạc,
những quan niệm phi lý của học sinh, khi các em có những khẳng định sai lệch kiểu như
sau: • Cần phải dạy cho nó một bài học Những niềm tin khẳng định sai lệch về bản thân • Luôn có loại người xấu xa, độc ác, tàn bạo trong xã hội • Mình không cho phép ai coi thường mình • Những người làm điều xấu nhất định phải bị trừng phạt, v.v... • Mình có quyền đánh nó nếu nó coi thường mình Những niềm tin phi lý ở cá nhân thường đã gây nên những ứng xử không thích hợp, đòi
hỏi cán bộ tham vấn nhận biết chúng theo một số dạng sau: • Bạo lực phải đáp trả bằng bảo lực • Suy nghĩ tuyệt đối hoá theo kiểu hoặc tất cả, hoặc là không có gì; • Mình cần phải được mọi người yêu mến, tôn trọng. • Trầm trọng hoá, quan trọng vấn đề trước một thất bại không đáng kể, dẫn đến mất • Mình lúc nào cũng phải giỏi giang và làm tốt những việc mình làm. niềm tin vào bản thân, người khác và xã hội; • Mình không bao giờ được phạm sai lầm • Tự ám thị là mình không có khả năng chịu đựng thất bại; • Mọi người không có quyền nghĩ xấu về mình • Khái quát hoá một cách vội vã, thái quá do chỉ dựa vào một, hai biểu hiện của sự • Nếu có điều gì gây nguy hiểm hoặc gây sợ sệt thì mình cần chặn đứng trước khả kiện, hoàn cảnh xảy ra với mình. năng xuất hiện của nó, v.v... • Học sinh suy nghĩ tuyệt đối hoá theo một thái cực, chỉ nhìn vào một khía cạnh của sự việc; Khi làm việc với những học sinh có niềm tin tiêu cực này, cán bộ tham vấn tránh đổ lỗi hay
kết tội học sinh, mà hướng dẫn cho các em làm cách nào để tránh việc tự xỉ vả và kết tội
bản thân. • Học sinh quan trọng hoá hoặc coi thường sự kiện. Theo quan điểm trị liệu nhận thức hành vi: không có gì là tốt hay xấu mà chỉ có sự nhìn
nhận của chúng ta về về sự việc, hiện tượng đó là tốt hay xấu mà thôi. Vì vậy, mục đích
của trị liệu nhận thức hành vi là giúp thân chủ kiểm soát được cảm xúc của mình, thay đổi
nhận thức để thay đổi hành vi. Tất cả những lỗi trong nhận thức – xử lí thông tin của học sinh có thể dẫn các em đến
những cách nhìn nhận sự việc/hiện tượng/con người theo hướng tiêu cực, trầm trọng hơn
so với thực tế của chúng. Để giúp thân chủ thay đổi nhận thức cho hợp lý, Cán bộ tham
vấn cần phải: • Thiết lập một mối quan hệ nồng ấm, không phê phán thân chủ; • Chỉ ra những suy luận vô lý trong nhận thức của thân chủ; Như vậy, các sự kiện tự bản thân nó không mang lại xúc cảm và hành vi của con người.
Nhưng chính nhận thức của chúng ta về các sự kiện đó có thể dẫn chúng ta đến những rối
loạn xúc cảm và hành vi. Ví dụ: • Phân tích tình huống/sự kiện để tìm những lỗi hoặc tính vô lý của chúng; • Phân tích những tiền đề sai lệch ban đầu để tìm ra tính bất hợp lý cần phải điều chỉnh; • Xem xét lại tình huống/sự kiện theo cách nhìn của người khác để thân chủ có cái nhìn hợp lý hơn, từ đó tìm ra các giải pháp thay thế; • Thay thế những ý nghĩ tích cực và thực tế hơn ở thân chủ. Từ mô hình ABCDE ở trên, Ellis xây dựng 5 bước cơ bản trong kỹ thuật thay đổi nhận thức
tiêu cực được lí áp dụng trong tham vấn học đường, mà các cán bộ tham vấn cần nắm vững: 1/ Cán bộ tham vấn cho học sinh rõ em đang có những ý nghĩ không hợp lý, ví dụ: Một học sinh lớp 11 luôn bị cha mẹ chê trách, em bị so sánh với những người khác mỗi
khi em làm không theo ý cha mẹ. Sự chế trách liên tục của cha mẹ khiến em tin rằng:
"Mình là đồ kém cỏi”, “Mình là đồ bỏ đi”. Điều này làm học sinh chán nản muốn bỏ học,
có xu hướng đập phá, tấn công người khác và đôi khi tự làm đau mình. Cán bộ tham
vấn khi làm việc với học sinh có thể nhận thấy rằng, các hành vi vi phạm trên ở một khía
cạnh nào đó xuất phát từ niềm tin tiêu cực của em về bản thân mình. Tuy nhiên, ở một
khía cạnh khác, có thể đó là những minh chứng tiêu cực ở học sinh rằng: “Tôi không
phải là đồ kém cỏi”, “Hãy coi chừng tôi”. Dù ở khía cạnh nào thì việc nhận thức sai lệch
về bản thân và sự kiện cuộc sống cũng có thể gây ra rối loạn cảm xúc và hành vi tiêu cực,
hành vi hủy hoại. Cán bộ tham vấn nhắc lại lời học sinh: Dường như em đang cho rằng mình làm gì cũng phải hoàn hảo và người khác không có quyền nghĩ xấu về mình. Mục đích của trị liệu nhận thức hành vi đòi hỏi cán bộ tham vấn giúp thân chủ trong việc
phân tích tình huống phải đối đầu, vạch ra những điều bất hợp lý trong nhận thức để đi
đến thay đổi chúng. 2/ Cán bộ tham vấn chỉ ra cho học sinh thấy cách thức các em duy trì những suy nghĩ
không hợp lý đó. Trị liệu nhận thức có 2 dạng biểu hiện: 1/ Điều chỉnh nhận thức; và 2/ Trị liệu xúc cảm
hợp lí. Điều chỉnh nhận thức Cán bộ tham vấn: Cách em nhìn nhận về lợi ích trong mỗi công việc mình thực hiện và
thực tế thành công trong học tập của em đã hướng em duy trì những cách nghĩ buộc
mình phải đạt được điều này, điều khác. Tuy nhiên mọi việc không chỉ phụ thuộc vào sự
quyết tâm của em. Yếu tố ngoại cảnh đôi khi cũng ảnh hưởng tới kết quả hoạt động của
mình. Em nghĩ thế nào về điều này? Phương pháp điều chỉnh nhận thức về cơ bản giống với cách tiếp cận xúc cảm hợp lí,
nhưng có phần mềm mỏng với thân chủ hơn khi coi trọng giá trị của mối quan hệ tham
vấn và ảnh hưởng của nó đến quá trình thay đổi của thân chủ. 3/ Cán bộ tham vấn thách thức những niềm tin không hợp lý của học sinh, Những rối nhiễu tâm lí sẽ xảy ra khi cá nhân nhìn nhận cuộc sống như là một nơi rất nguy
hiểm, đầy sự đe doạ. Có 6 lỗi chính trong quá trình nhận thức - xử lý thông tin của học sinh
dẫn đến việc duy trì những niềm tin bất hợp lí mà cán bộ tham vấn cần nhận diện, đó là: • Học sinh suy luận tùy tiện, các tình tiết không ăn nhập vào nhau; Cán bộ tham vấn: Em cho rằng, mình làm gì cũng phải hoàn hảo. Liệu mình có thể
nghĩ khác đi rằng, đôi khi mình cũng không phải là người hoàn hảo. Cũng như việc em
cho rằng người khác không có quyền nghĩ xấu về em. Liệu thực tế có thể có cách nghĩ
khác rằng, suy nghĩ thế nào là việc của người ta, điều quan trọng là mình không xấu
như người ta nghĩ. Em cảm thấy thế nào về những cách suy nghĩ theo hướng khác này? • Học sinh khái quá hoá thái quá làm thậm xung câu chuyện; 4/ Học sinh nhận biết các nguồn tiếp thu và duy trì niềm tin không hợp lí, • Học sinh chú ý vào chi tiết, tiểu tiết của câu chuyện; Cán bộ tham vấn: Theo em, từ đâu mà em có những niềm tin, suy nghĩ theo một thái • Học sinh tự vận vào mình sự kiện không hề có liên quan tới bản thân; cực như vậy? 5/ Giúp học sinh phát triển một cách sống hợp lý hơn Trong khi bạn của học sinh này, khi bị người yêu bỏ (sự kiện A), cô tin rằng: "Anh ta
không xứng đáng với mình" (niềm tin B), điều này dẫn cô ta đến cảm giác may mắn
thoát được anh ta vì cô đã tìm được một người tốt hơn anh ta (hệ quả C). Cán bộ tham vấn: Chúng ta đã nói về những thành công và cả những điều em chưa
hài lòng về bản thân mang tính hệ thống, dù em nói là mình đã cố gắng rất nhiều từ
phía bản thân nhưng em vấn không hài lòng về những thành công đó. Bây giờ em hãy
nghĩ đến một người mà em muốn là họ, nhưng em lại không thể được như họ để xem
họ khác mình thế nào nhé. Với việc vận dụng mô hình ABC trong tham vấn học đường, cán bộ tham vấn có thể lí giải
được hành vi của học sinh mình đang giúp đỡ. Qua đó, cùng học sinh xem xét, phân tích
những nhận thức sai lệch, những niềm tin tiêu cực của em về bản thân và cuộc sống, giúp
học sinh thay đổi nhận thức để có được những cảm xúc tích cực và hành vi hiệu quả hơn. Albert Ellis cho rằng các cá nhân có xu hướng phát triển niềm tin phi lý để đáp ứng các
mục tiêu ưu tiên bị ngăn chặn. Ông thiết lập mô hình trị liệu ABCDE (Ellis và Dryden, 1987)
như sau: "A" - Sự kiện hoặc nghịch cảnh kích hoạt. Đây là những sự kiện, chỉ là một thực tế.
"B" - Niềm tin phi lý về sự kiện, nghịch cảnh về "A"; niềm tin này dẫn đến "C" - Hậu quả cảm
xúc và hành vi. "D" – Những tranh luận thách thức niềm tin phi lý và “E” - Cảm xúc và hành
vi mới có hiệu quả hơn do thay đổi suy nghĩ hợp lý hơn về các sự kiện ban đầu1. Có thể nói, việc cán bộ tham vấn vận dụng các cách nói khẳng định, lặp đi lặp lại có tính kỹ
thuật đã giúp học sinh thay đổi nhận thức tiêu cực về mình. Ví dụ, học sinh nói “Em chẳng
là gì”, cán bộ tham vấn hướng dẫn học sinh luyện tập để nói với chính mình rằng: “Mình
có một số ưu điểm nhất định”; hoặc học sinh thay vì quan niệm rằng: “Mình sẽ không bao
giờ tìm được người nào khác như anh ấy”, cán bộ tham vấn hướng dẫn học sinh nói: “Tôi sẽ
tìm được một người khác yêu tôi mà không cần phải giống như anh ấy”. Cán bộ tham vấn sử
dụng phương pháp luyện tập này nhằm giúp học sinh chống lại những ý nghĩ tiêu cực
về bản thân (xem ca tham vấn thay đổi nhận thức của học sinh ở chương 6, phần 4, ca 2). Các bước của trị liệu nhận thức hành vi (CBT) Sự phát triển của các mô hình tri liệu nhận thức hành vi đã đưa ngành tham vấn, cũng như
phép trị liệu nhận thức trở nên phổ biến trên thế giới. Hiện nay trị liệu nhận thức hành vi
được các nhà trị liệu tâm lí sử dụng nhiều nhất trên thế giới - chiếm 68,7 % (kết hợp với
các kỹ thuật trị liệu khác)1 Triết lý của trị liệu nhận thức hành vi là: Không phải A (tình huống gây vấn đề) dẫn tới C
(Hệ quả) mà là B (suy nghĩ, niềm tin) tác động đến C. Khi cán bộ tham vấn giúp học sinh
có niềm tin hữu ích để thay đổi kết quả hành động (do có cảm xúc và hành vi phù hợp). Trị liệu nhận thức hành vi rất phù hợp với học sinh có trầm cảm, lo âu, tức giận, rối loạn ám
ảnh cưỡng chế hay rối loạn stress sau sang chấn (sau một sự kiện nào đó). Mục đích của trị
liệu nhận thức hành vi là giúp học sinh kiểm soát đ¬ược cảm xúc của mình, thay đổi nhận
thức và thay đổi hành vi. Trị liệu xúc cảm hợp lí 1. Xác định tình huống gây vấn đề (A): Thân chủ xác định sự kiện kích hoạt, gọi tên sự việc. Ví dụ, trượt vào trường chuyên. 2. Xác định hệ quả, cảm xúc (C): Gọi tên cảm xúc (buồn chán). Đây là mô hình hướng dẫn, giáo dục và giáo dục lại được áp dụng phù hợp trong tham
vấn học đường, với giả thuyết cho rằng: việc thay đổi về nhận thức của học sinh sẽ dẫn
đến thay đổi về hành vi, nhận thức là yếu tố quyết định đến cảm xúc và hành vi của mỗi cá
nhân. Tiếp cận xúc cảm hợp lí có mô hình ABC, trong đó: A – bắt đầu Sự kiện hoặc nghịch
cảnh B - Niềm tin C - Hệ quả, Ví dụ: 1. http://www.psychotherapynetworker.org/component/content/article/81-2007-marchapril/898-ten-most-influential- therapists 1. http://psychcentral.com/lib/rational-emotive-behavior-therapy/ 3. Đánh giá hệ quả cảm xúc (C): Học sinh tự đánh giá mức độ buồn chán theo thang
0-10 điểm; đánh giá hành vi và đánh giá cảm giác cơ thể (xem cảm giác cơ thể có
tương ứng với phản ứng tâm lí). Một học sinh nữ lớp 12 bị người yêu bỏ (Sự kiện A), cô tin rằng: "Mình là đồ kém cỏi’, rằng:
“Mình sẽ không bao giờ tìm được người nào khác như anh ta" (niềm tin B), điều này dẫn
cô đến cảm giác chán nản, bỏ ăn, muốn tự sát (hệ quả C). 4. Đánh giá cảm xúc thứ cấp: Cảm xúc khởi nguồn (buồn chán) có dẫn đến cảm xúc khác. Xác định cảm xúc chính để tập trung giải quyết. kiện cốt lõi mà cán bộ tham vấn cần có để tạo nên sự thành công trong ca tham vấn. Đó
là những phẩm chất sau như: 5. Gợi mở niềm tin, suy nghĩ (B): Hỏi về sự kiện cụ thể đó (trượt vào trường chuyên),
những suy nghĩ, niềm tin, cảm nhận của học sinh về sự kiện đó. Có thể để học sinh
viết ra giấy những suy nghĩ, niềm tin của mình. • Sự trung thực • Chân thành và thích hợp • Cảm thông trọn vẹn và chính xác 6. Kết nối niềm tin và cảm xúc (B-C): Kết nối giữa suy nghĩ, niềm tin với hệ quả (nền
tảng của CBT). Giúp học sinh nhận ra chính niềm tin của các em dẫn đến cảm xúc
chứ không phải bản thân sự việc thi trượt đó. • Chấp nhận học sinh vô điều kiện và • Sự tôn trọng tích cực vô điều kiện 7. Thách thức niềm tin sai lệch: Giúp học sinh nhận ra niềm tin đó, qua: 1/ Bằng
chứng (dựa vào đâu...?); 2/ Tính logic trong suy nghĩ; 3/ Tính có ích của niềm tin đó.
Mục đích là giúp học sinh chấp nhận mình có niềm tin sai lệch, cần phải thay đổi để
có niềm tin hữu ích. 8. Thay thế bằng niềm tin có ích: Chỉ ra hiệu quả, sự hữu ích của niềm tin mới. Mục đích là giúp học sinh thay đổi niềm tin. Theo quan điểm tiếp cận thân chủ trọng tâm, hiệu quả tham vấn phụ thuộc chính vào việc
cán bộ tham vấn xây dựng được mối quan hệ tích cực với thân chủ/ học sinh của mình. Có
thể xem xét mối quan hệ nhà tham vấn – thân chủ trong bối cảnh tham vấn học đường
(theo quan điểm của C. Rogers) như sau: 9. Giao bài tập về nhà: Một số bài tập liên quan đến thư¬ giãn cơ thể, ghi lại nhật kí
những hoạt động trong ngày, ghi lại những việc có ích mình đã làm và đánh giá tâm
trạng. Mục đích là giúp học sinh tự đ¬ương đầu với vấn đề của mình. • Cán bộ tham vấn thể hiện cho học sinh thấy mình là người đáng tin cậy, chắc chắn,
trung kiên. Như vậy, yếu tố trung thực, chân thành của cán bộ tham vấn phải được
học sinh cảm nhận trong mối quan hệ tham vấn. • Cán bộ tham vấn diễn tả thông suốt và phù hợp giữa ngôn ngữ bằng lời và không
lời; giữa lời nói và hành vi để toát lên được sự minh bạch, rõ ràng đối với học sinh. • Cán bộ tham vấn bày tỏ thái độ nồng hậu, chăm sóc, quan tâm để tránh tạo ra một mối quan hệ tham vấn vô cảm, vô cá tính. • Cán bộ tham vấn có tinh thần mạnh mẽ để biệt lập và không bị đắm chìm vào vấn đề của học sinh. Người sáng lập thuyết nhân văn là Carl Rogers (1902 - 1987). Tâm lý học nhân văn được
phát triển vào thế kỷ XX cùng lúc ở cả Mỹ và Châu Âu, nhằm chống lại hai trường phái
nổi bật là phân tâm cổ điển và hành vi cổ điển với quan niệm cực đoan về con người, khi
không coi trọng những mối quan hệ tình người hoặc thiếu vắng những lý tưởng, mục tiêu
quan trọng để phấn đấu trong mỗi con người. Trường phái nhân văn xuất hiện vào những
năm 60 của thế kỷ XX, trong đó trị liệu thân chủ trọng (sau này gọi là tham vấn tập trung
vào cá nhân) là cốt lõi của lí thuyết này. • Mặt khác, cán bộ tham vấn cần có đủ sự an tâm để cho phép học sinh được là
chính họ, học sinh được tự do bày tỏ con người của mình mà không sợ bị đánh
giá. • Cán bộ tham vấn có khả năng thấu hiểu vấn đề của học sinh để giúp học sinh không phòng vệ, không quanh co mà đi thẳng vào thực tế của mình. Mục đích lớn nhất là phải tạo ra được bầu không khí an toàn và tin tưởng để giúp thân chủ
(tự khám phá bản thân thông qua quan hệ trị liệu) có thể ý thức được vật cản kìm hãm sự
phát triển của mình. Từ đó thân chủ dần dần có khuynh hướng cởi mở, tin tưởng vào sự
tự giải quyết vấn đề của bản thân hơn và ngày càng sẵn sàng đương đầu với những cái cố
hữu, bảo thủ, và đồng thời ngày càng sống thực với những phẩm chất bên trong của mình
để thích ứng, đối đầu được những tac động từ bên ngoài. • Cán bộ tham vấn chấp nhận mọi khía cạnh của học sinh y như con người họ, để
giúp học sinh không phải giả dối, "đeo mặt nạ" trước cán bộ tham vấn và trước cuộc
đời. • Cán bộ tham vấn với đầy đủ sự tinh tế trong mối quan hệ với học sinh để giúp học
sinh tập trung cảm nhận và đối phó với những xung đột trong chính bản thân mình
mà không phải lo đối phó với bên ngoài, với cán bộ tham vấn. • Cán bộ tham vấn giúp học sinh thoát khỏi sự lo sợ bị người khác đánh giá để học Trong bối cảnh tham vấn học đường, học sinh được xem như là một chủ thể có hiểu biết,
các em phải được hiểu, được chấp nhận. Phương pháp tham vấn lấy học sinh làm trung
không cọi học sinh là người có vấn đề cần chữa trị hoặc tìm kiếm những nguyên nhân từ
quá khứ của học sinh mà cái chính là khuyến khích học sinh tự thực hiện hóa những tiềm
năng của bản thân để phát triển tâm lý lành mạnh. Vì vậy, khi học sinh tham gia vào mối
quan hệ tham vấn thì các em được trao quyền chủ động giải quyết vấn đề. sinh nhận ra khả năng và trách nhiệm trong chính mình. • Cán bộ tham vấn coi học sinh như một người đang trong tiến trình trưởng thành, Hiệu quả của tham vấn tập trung vào thân chủ học sinh phụ thuộc chính vào việc cán bộ
tham vấn tạo dựng được một mối quan hệ giữa tin tưởng với học sinh. Vì vậy những điều đang thay đổi mà không bị trói buộc bởi quá khứ của học sinh. được những cảm xúc đó. Ví dụ, một phụ nữ 42 tuổi, phụ huynh của học sinh lớp 12, trong
đến trường vì vấn đề của hocn sinh đã chia sẻ với cán bộ tham vấn học đường: "Tôi luôn
luôn phải sống trong tâm trạng cô đơn, không ai trong gia đình quan tâm đến tôi. Thậm chí,
chồng tôi cũng không chú ý đến tôi, mấy đứa con tôi lúc nào cũng chỉ yêu cầu tôi cái này, cái
nọ. Và tôi luôn cảm thấy kinh sợ khi mỗi sáng thức dậy"1. Câu hỏi đặt ra với nhà tham vấn
theo quan điểm thân chủ trọng tâm: 1/ Tâm trạng của người mẹ lúc này như thế nào? Bị lờ đi; Không được thông cảm;
Không được phát huy thế mạnh; Không được thương yêu; cảm giác sống vô nghĩa. Có thể nói, khi cán bộ tham vấn tạo được một mối tương giao chân thực trong suốt với
các cảm giác thực của mình; khi có sự nhiệt tình tôn trọng và chấp nhận học sinh như một
cá nhân riêng biệt và có khả năng nhạy cảm để nhìn thế giới của học sinh giống như học
sinh nhìn, thì học sinh sẽ cảm nhận và hiểu được những khía cạnh bị đè nén trước đây của
mình; học sinh sẽ thấy con người mình trở nên nhất quán hơn, có thể hành động hữu ích
hơn; học sinh có thể trở nên giống mẫu người mà các em ao ước muốn trở thành; học sinh
tự chủ và tự tin hơn, độc đáo hơn và tự bộc lộ hơn; học sinh hiểu người khác và chấp nhận
người khác hơn và có thể đương đầu với những vấn đề của đời sống một cách thích đáng
và dễ chịu hơn1. 2/ Sự phản hồi mà cán bộ tham vấn cảm nhận được từ những thông tin khách hàng
đưa ra là: Tôi cảm thấy chị đang chìm ngập trong sự cô đơn và tuyệt vọng với cảm
giác luôn thường trực rằng, điều gì sẽ xảy ra tiếp theo nếu sự việc này vẫn tiếp diễn
với mình. Với kỹ thuật phản hồi cảm xúc theo quan điểm thân chủ trong tâm cán bộ tham vấn khi
lắng nghe câu chuyện của thân chủ, cần đặt ra 2 câu hỏi để xem xét: Quan điểm tham vấn tập trung vào thân chủ không đòi hỏi cán bộ tham vấn phải có/
thành thục nhiều kỹ năng tham vấn. Bởi cách hỗ trợ này hầu như không áp dụng các kỹ
năng. Theo Corey: Các kỹ năng chỉ đóng vai trò thứ yếu so với thái độ cần có của nhà trị
liệu (đóng vai trò chủ yếu). Trị liệu thân chủ trọng tâm tối thiểu hoá việc áp dụng các kỹ
năng tác động trực tiếp, các cách diễn dịch, sự đặt câu hỏi, việc điều tra, chẩn đoán và tìm
hiểu lịch sử vấn đề của thân chủ. 1/ Tâm trạng của học sinh lúc này như thế nào? (cán bộ tham vấn nhận ra những cụm từ miêu tả những cảm xúc mà học sinh đang trải nghiệm). 2/ Sự phản hồi mà cán bộ tham vấn cảm nhận được từ những thông tin khách hàng
đưa ra là gì? (phản hồi của cán bộ tham vấn cho học sinh biết điều mà họ đã nghe
thấy). Trị liệu thân chủ trọng tâm lại áp dụng tối đa khả năng nghe tích cực (nghe chăm chú tất
cả các điều thân chủ nói, dù là những điều vu vơ hay thoảng qua). Lắng nghe tích cực theo
phương pháp thân chủ trọng tâm đòi hỏi cán bộ tham vấn phải lắng nghe bằng tất cả các
giác quan, nghe bằng sự cảm nhận của xúc cảm, nghe bằng "trái tim", lắng nghe là dừng
nói và dừng suy nghĩ. Lắng nghe tích cực thể hiện ở việc nghe và nhận hết được cảm xúc
của đối tác, không suy luận, đánh giá, không liên hệ với cái này cái kia2. Tóm lại, bốn quan điểm tâm lí căn bản được ứng dụng trong thực hành tham vấn và trị
liệu đã thể hiện các kiểu hợp tác rất khác nhau giữa cán bộ tham vấn và thân chủ. Có thể
diễn giải một cách khái quát cả 4 quan điểm tiếp cận thân chủ trong thực hành trợ giúp
tâm lí như sau: Sự phản hồi thể hiện ở việc cán bộ tham vấn nói lại bằng ngôn ngữ của mình hay nhắc lại
lời của thân chủ một cách cô đọng để làm rõ hơn cảm xúc, ý nghĩa cảm nhận của thân chủ.
Đó chính là kỹ năng phản hồi cảm xúc đa dạng chứa đựng một khả năng lắng nghe tích,
sự cảm nhận các tầng bậc của cảm xúc và khả năng phản hồi của cán bộ tham vấn. Ví dụ: Kỹ năng phản hồi cảm xúc bề mặt (xem phần kỹ năng phản hồi chung) Học sinh: mẹ em không hiểu em, suốt ngày nghi ngờ em, mẹ không tin những gì em nói và không quan tâm tới cảm giác của em Cán bộ tham vấn: Dường như em đang cảm thấy chán nản và giận dữ khi người mà em yêu thương lại không tin tưởng em. Kỹ năng phản hồi cảm xúc đa dạng (theo quan điểm thân chủ trọng tâm) 1. Trần Thị Minh Đức (2016), Giáo trình tham vấn tâm lí, NXBĐHQGHN 2 Mô phỏng trường hợp của Corey.G, Theory and Practice of Counseling & Phsychotherapy, Books/Cole Publishing Company, 1991. Cán bộ tham vấn phải có khả năng phân biệt được những cảm xúc mà học sinh đang trải
nghiệm, phải nghe chính xác, rành rọt những thông tin mà khách hàng đang bày tỏ, phải
thấu hiểu những ý nghĩa sâu xa, cốt lõi mà học sinh đang cố gắng truyền tải và phản hồi Các quan điểm tiếp cận trong tham vấn1 4/ Quan điểm nhân văn với phương pháp tham vấn tập trung vào thân chủ lại tin rằng
mỗi cá nhân đều có thể định hướng được cuộc sống của chính mình. Các thân chủ
đều có khả năng giải quyết những vấn đề phức tạp trong cuốc sống một cách hiệu
quả mà không cần đến sự diễn dịch và định hướng từ các chuyên gia tham vấn.
Với sự “cho phép” thân chủ được là chính mình trong mối quan hệ giúp đỡ và với
những phẩm chất “nhân văn” của mình, cán bộ tham vấn tạo ta được lòng tin nơi
thân chủ để giúp thân chủ tự xem xét bản thân và khám phá ra những phần sâu kín
nhất trong con người mình mà không cần đến sự hướng dẫn, chỉ bảo mang tính “kỹ
thuật” của cán bộ tham vấn. Chính các phẩm chất đạo đức của cán bộ tham vấn đã
làm chuyển hóa ở thân chủ. Trong giai đoạn hiện nay với sự mở rộng về cách nhìn đa văn hóa thì quan điểm "chiết
trung" trong thực hành tham vấn có thể là có ý nghĩa hơn cả. Việc sử dụng cách thức tiếp
cận nào phụ thuộc rất nhiều quan điểm nhìn nhận vấn đề của cán bộ tham vấn và ở một
chừng mực nhất định nó phụ thuộc chính vào vấn đề của thân chủ. Có thể nói, các vấn đề khác nhau luôn có cách cách tiếp cận hiệu quả khác nhau. Ngược
lại, một vấn đề của thân chủ có thể được tiếp cận từ nhiều quan điểm khác nhau. Xét đến
cùng ”mọi nẻo đường rồi cũng đến Rome”! 1/ Quan điểm phân tâm không chủ trương hướng dẫn, gợi ý hay phản hồi thông tin
cho thân chủ mà chỉ tập trung lắng nghe thân chủ chia sẻ một cách “tự do”. Bằng
việc sử dụng các kiến thức tâm lí liên quan đến cấu trúc nhân cách; các quá trình vô
thức, cơ chế phòng vệ (cơ chế bảo vệ), và các kỹ thuật sự liên tưởng, sự chuyển vai
và đề kháng cấu cán bộ tham vấn diễn giải lại cho thân chủ thấy những tắc nghẽn
về tâm lí trong quá khứ, đặc biệt ở thời thơ ấu làm ảnh hưởng tới cảm xúc, hành vi,
thậm chí gây ra những rối nhiễu tâm lí ở thời hiện tại của thân chủ. 2/ Tham vấn theo quan điểm hành vi lại hướng vào việc giúp thân chủ tập trung vào
một số hành vi trọng điểm cần thay đổi. Chỉ khi thân chủ tự khám khá ra được vấn
đề chính họ cần thay đổi thì cán bộ tham vấn sẽ từng bước hướng dẫn thân chủ tự
thực hiện quyết định thay đổi hành vi của mình với sự kiểm soát chặt chẽ của các
bài tập/các kỹ thuật của nhà tham vấn. 1. Kathryn Geldard và David Geldard, Công tác tham vấn trẻ em, tập 1, sơ đồ trang 75, Đại học mở, thành phố Hồ Chí Minh, 2000. Sơ đồ đã được Trần Thị Minh Đức và Lê Lan Phương bổ sung thêm phần các tiếp cận. 3/ Tham vấn theo quan điểm nhận thức giúp thân chủ hiểu việc họ đã tạo ra và duy trì
những ý nghĩ, niềm tin sai lệch, phi lí thế nào về bản thân và thế giới xung quanh.
Cán bộ tham vấn hỗ trợ thân chủ xác định lại những suy nghĩ không phù hợp, diễn
giải cho họ thấy chính niềm tin của họ dẫn tới sự tồi tệ mà họ đang có chứ không
phải do sự vât, hiện tượng đó gây ra sự tồi tệ ở họ. Thông qua việc diễn giải và
hướng dẫn cụ thể theo một quy trình nhất định thân chủ sẽ thay đổi nhận thức và
hành vi của mình theo hướng tích cực và phù hợp với thực tế. Trong các kỹ năng tham vấn nói chung, có một số kỹ năng cơ bản được sử dụng chủ yếu
trong các buổi tham vấn, đặc biệt là tham vấn học đường. Đó là: kỹ năng lắng nghe, kỹ
năng hỏi, kỹ năng phản hồi, kỹ năng thấu cảm, kỹ năng hóa giải im lặng, kỹ năng thách
thức và kỹ năng cung cấp thông tin. Cán bộ tham vấn không lắng nghe - không thể hỗ trợ tâm lý cho học sinh ! Sự lắng nghe của cán bộ tham vấn truyền cho học sinh một thông điệp là chúng ta đang
quan tâm đến câu chuyện của các em. Cán bộ tham vấn lắng nghe những sự kiện, xúc
cảm, niềm tin, thái độ, quan điểm của các em và thu nhận bất cứ sự biểu hiện nào ở các
em. Kỹ năng lắng nghe được thể hiện qua bốn thành tố chính sau: Sự hoà nhập thể hiện ở việc cán bộ tham vấn có hành vi, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói, tốc độ
lời nói, thái độ, biểu cảm nét mặt, ánh mắt… phù hợp với biểu cảm và thông tin học sinh
chia sẻ. Những thể hiện không hòa nhập: • Không thể gọi là có sự hòa nhập giữa cán bộ tham vấn với học sinh khi học sinh nói nhỏ, nói chậm còn cán bộ tham vấn lại nói to, nói nhanh! • Không thể gọi là có sự hòa nhập khi học sinh mặt buồn rầu, còn cán bộ tham vấn lại nói cười tươi tỉnh! • Không thể gọi là có sự hòa nhập khi học sinh nói ngắt quãng, đắn đo lựa chọn câu từ còn cán bộ tham vấn lại nói liền mạch, từ ngữ quá mạch lạc, v.v... Hoà nhập trong một không gian tham vấn thể hiện sự phù hợp, sự tương đồng giữa
những biểu hiện cận ngôn ngữ và biểu cảm cơ thể của học sinh với biểu hiện của cán bộ
tham vấn. Đây là thành tố đầu tiên của sự lắng nghe. Cán bộ tham vấn sử dụng những cái gật đầu, "a ha", "phải', "được", " đúng", "ừ", "à", "vâng”, “cô
hiểu", “cô đang nghe em nói", “em cứ tiếp tục "… Những đáp ứng này làm cho học sinh cảm
thấy mình đang được chú ý, được quan tâm; kích thích các em nói nhiều hơn vì các em sợ
nói bỏ sót ý, nói không hết sẽ làm cho người các em tin cậy không hiểu mình. Tuy nhiên, sự
đáp ứng của Cán bộ tham vấn cần tránh quá lộ liễu, tránh thể hiện quá lố sự tán thưởng hay
không tán thưởng, như: "ối", "chà", "thật kinh khủng“. Cán bộ tham vấn nhắc lại thông tin vừa nghe theo dạng nhấn mạnh vào cảm xúc hay soi
sáng một thông tin để học sinh tiếp tục câu chuyện của mình. Sự phản hồi ngắn của cán
bộ tham vấn là cách báo cho học sinh biết cô đang nhìn nhận vấn đề của học sinh theo
cách mà học sinh nhìn nhận, không quan trọng thông tin học sinh đưa ra chính xác hay không, mà quan trọng là cô đang tin tưởng em qua cách cô phản hồi mà không phá vỡ
mạch tư duy, cảm xúc của học sinh. Ví dụ: Cán bộ tham vấn nói: “Vậy là em đã bỏ đi”; hay
“Em đã thất vọng vì bạn”. • Cán bộ tham vấn: Em cho rằng mình làm mẹ khổ (Cán bộ tham vấn lưu
ý điều mập mờ, không rõ ràng trong câu nói đầy cảm xúc của học sinh,
mà không tập trung vào thông điệp dễ làm học sinh phòng vệ, nếu nhắc
lại, hoặc hỏi: “Sao em lại mong bố chết”). Tóm lược lại một số ý chính trong câu chuyện của học sinh để chuyển ý: “Vậy là….”; “Những
ý chính mà em đã nêu ra là...”, “Như vậy là chúng đã ta đã nói về…”. Mục đích của việc tóm tắt
là gom từng phần, từng khía cạnh trong câu chuyện của học sinh vào một trọng tâm, qua
đó để tạo đà thảo luận những khía cạnh khác của vấn đề, hoặc chuyển vấn đề. • Học sinh: (Khóc to hơn, Cán bộ tham vấn để Học sinh khóc, lấy nước và khăn
giấy đưa Học sinh). Là, là hôm trước em đi học về thấy mẹ bị bố đánh, em nói:
“Bố dừng lại đi”, bố quay sang chửi em này nọ, bảo “Mày đi học cũng toi cơm
thôi”, “Giống nhà này ai cũng thân lừa ưa nặng”... Mẹ bảo “Nó làm gì ông mà
ông chửi nó”, thế là bố tiếp tục đánh mẹ..., mẹ chạy ra phía cửa... Lúc đó em
tức quá chạy vào bếp vớ được cái gậy, lúc đó em chỉ muốn phang một cái cho
bố chết luôn, đỡ làm khổ mẹ, nhưng em lại không dám (gật đầu). Em đặt cái
gậy trên bàn, trên bàn (Trẻ lại khóc tiếp, Cán bộ tham vấn im lặng)... Lúc đó,
lúc đó bố quay lại, bất ngờ chộp luôn (gật đầu), phang vào đầu mẹ... mẹ bị
thương nặng, khâu 2 vết dài ..., mẹ đang ở bệnh viện (gật đầu). Hóa ra em là
người làm hại mọi người... Bố bị giải lên công an rồi... (Cán bộ tham vấn để
trẻ tiếp tục với cảm xúc của mình, sau 30 giấy mới tóm lược cảm xúc). • Cán bộ tham vấn: Cô đã nghe em chia sẻ về các lí do khiến em nghỉ học cả
tuần trước. Bây giờ em nói một chút về gia đình mình nhé, về bố mẹ mình ấy
mà. (Cán bộ tham vấn đưa ra một đề nghị bao quát tập trung vào gia
đình học sinh nhằm tìm mối liên hệ với sự việc nghỉ học của học sinh) • Cán bộ tham vấn: Sau tất cả những gì em chia sẻ, cô cảm thấy em rất yêu
thương mẹ, em cho rằng vì mình mà mẹ bị thương, bố bị bắt. Mặc dù rất giận
bố nhưng em đã không trút sự giận dữ lên bố. Chỉ có những người con thật
sự có tình yêu thương cha mẹ mình mới có nỗi lòng day dứt như thế. (sự lắng
nghe dừng lại khi học sinh đã trình bày xong lí do nghỉ học). Có phải vì chuyện này mà em đã nghỉ học? • Học sinh: Vâng! • Học sinh: Mẹ em (trẻ rớm nước mắt khóc), mẹ em năm này 42 tuổi, mẹ ít
nói, bố hay say rượu và chửi đánh mẹ, còn mẹ thì hiền, mẹ cũng chiều em
(gật đầu nhẹ). Mẹ rất muốn em học hành, hôm nào được điểm cao là em
chỉ muốn về nhà ngay để báo cho mẹ biết (mỉm cười). Bố bảo có học cao
cũng chả kiếm được việc, nên em chỉ học hết 12 rồi đi làm (gật đầu nhẹ). Chị
họ em tốt nghiệp đại học cũng chả kiếm được việc làm (ừ)... (Cán bộ tham
vấn lắng nghe, chỉ bày tỏ những tín hiệu đáp ứng tối thiểu như gật đầu,
cười, nói “ừ”, “thế à”, tốc độ nói và giọng nói phù hợp với sự bày tỏ của
trẻ để câu chuyện của Học sinh cứ tiếp tục hiện ra theo cảm xúc của em). • Cán bộ tham vấn: Có vẻ như em rất yêu mẹ, em chỉ muốn đem niềm vui cho
mẹ. (Cán bộ tham vấn phản hồi thông tin tập trung vào cảm xúc của trẻ
với người mẹ, ngầm khuyến khích trẻ tiếp tục nói về mẹ mình). (Cả đoạn trên cho thấy cán bộ tham vấn đã tóm lược câu chuyện ở dạng
thấu cảm, nhấn mạnh cảm xúc yêu thương và sự bất lực không bảo vệ được
mẹ, sự giận dữ bố nhưng không ghét bố và nỗi ân hận về hành vi của mình,
trong khi gác lại những chỉ dẫn, cho lời khuyên hay chỉnh đốn học sinh
về những suy nghĩ, mong muốn tiêu cực của học sinh về bố mình. Sau đó
chuyển câu chuyện trở lại với mục tiêu tham vấn ban đầu bằng một câu hỏi
về việc nghỉ học của trẻ). • Học sinh: Mẹ hiền và không bao giờ quát mắng em, bố em thì hay đánh mẹ
(gật đầu), em rất muốn học hành chăm chỉ để mẹ vui nhưng dạo này em học
không vào, mỗi lần mẹ bị đánh em không biết làm gì, chỉ ra một chỗ ngồi
khóc (gật đầu). Em làm mẹ khổ (ừ)..., Em chỉ mong bố chết đi (gật đầu)....
(Học sinh nói từng ý rời, không hết mạch, Cán bộ tham vấn không bày
tỏ thái độ “chấn chỉnh học sinh”). Giáo viên bình thường: Có phải vì mẹ em bị ốm không? Còn câu hỏi của cán bộ tham vấn (2): Học sinh: Em rất hay lo khi nghĩ về mẹ. Trong kỹ năng lắng nghe, cán bộ tham vấn duy trì sự lắng nghe bằng việc biểu hiện cơ thể
phù hợp, đáp ứng tối thiểu, phản hồi ngắn và tóm lược mà không xem câu hỏi của mình
trong khi học sinh nói. Cần để cho học sinh nói hết mạch vấn đề. Câu hỏi chỉ đưa ra khi
Cán bộ tham vấn muốn chuyển sang một vấn đề khác/ ý khác và như vậy, sự lắng nghe
lại tiếp tục. Cán bộ tham vấn: Có chuyện gì xảy ra vậy em? Trong tham vấn chuyên nghiệp, đặt câu hỏi không chỉ là một cách thức khai thác thông
tin về thân chủ, mà còn nhằm mục đích giúp thân chủ sáng rõ hơn / nhận ra vấn đề của
mình. Trong tham vấn học đường, cán bộ tham vấn đặt câu hỏi không chỉ giúp học sinh nói ra
những điều các em đang cảm thấy, đang nghĩ đến, mà còn giúp các em nói ra cả những
điều đã bị quên đi trong quá khứ. Vì vậy, trước khi hỏi chuyện học sinh, các Cán bộ tham
vấn cần ý thức rõ ràng về các câu hỏi mà mình sẽ đặt ra cho học sinh: Khi học sinh trò chuyện, trong câu chuyện của các em thường bao gồm nhiều sự kiện, tình
huống, hay nhiều cảm xúc khác nhau, Ví dụ, chúng được hiển thị qua các màu đỏ, xanh và
tím (trong khung). Người trò chuyện bình thường (hình thứ 1) họ sẽ hỏi lộn xộn đủ mọi
chủ đề theo hiểu biết/tư duy của họ. Trong khi đó, cán bộ tham vấn (hình thứ 2) họ sẽ hỏi
thân chủ theo logic của vấn đề. Do đó các nội dung học sinh đề cập đến sẽ được nhóm/
phân loại theo chủ đề một cách tự động, mà không lộn xộn, rời rạc giữa các nội dung.
Cũng như vậy, với cán bộ tham vấn có kỹ thuật hỏi chuyện, thì thông tin thu được từ học
sinh sẽ rất nhiều, do câu hỏi họ đặt cho học sinh là câu hỏi có dạng mở, khuyến khích học
sinh trả lời. Trong khi người bình thường không có kỹ năng hỏi, thông tin thu được ít do
đặt câu hỏi đóng – mở lộn xộn về mặt kỹ thuật hỏi. • Câu hỏi này sẽ đem lại mục đích gì? • Câu hỏi này có gây xáo trộn nội tâm của học sinh? Một câu hỏi của cán bộ tham vấn đưa ra được coi là có kỹ năng – kỹ năng hỏi, nó luôn hàm
chứa 2 khía cạnh: nội dung hỏi và kỹ thuật hỏi. • Liệu mình có lường được hậu quả về câu hỏi đưa ra cho học sinh? Nội dung hỏi • Câu hỏi này nên thể hiện thế nào thì tốt nhất? • Câu hỏi này liệu có biểu hiện thái độ của mình về học sinh? • Câu hỏi này liệu có dẫn lạc hướng vấn đề của học sinh? Câu hỏi luôn được đi theo chủ đề, cảm nhận, suy nghĩ mà học sinh đang nói tới - câu hỏi
không đi theo logic tư duy của cán bộ tham vấn, vì như vậy sẽ làm trệch hướng sinh nghĩ
của học sinh và không còn khách quan khi đặt câu hỏi. Câu hỏi tốt là câu hỏi mở, mời học
sinh thể hiện bản thân, bao gồm ý hỏi mở đi kèm với nội dung học sinh đang nói tới, hay
đang cảm nhận về nó. Ví dụ: • Lúc này mình có nên đặt câu hỏi? • Có vẻ như đang có điều gì đó làm em buồn, em có muốn nói về điều này? • Ý em là gì khi em nói...? • Vậy điều đó có ý nghĩa gì với em? • Trong các ý em vừa nêu, em muốn nhấn đến ý nào? Kỹ thuật hỏi Khai thác thông tin qua việc đặt câu hỏi bao gồm nhiều loại câu hỏi có kỹ thuật khác nhau: 1. Câu hỏi của người bình thường 2. Câu hỏi của cán bộ tham vấn Nhìn chung, câu hỏi của người bình thường (1): • Câu hỏi mở là câu hỏi có nhiều lựa chọn trả lời và giúp học sinh tiếp nối câu chuyện.
Các câu hỏi mở là câu hỏi có kỹ thuật, chúng thường có nội dung hỏi khách quan,
buộc học sinh phải trả lời. Các câu hỏi mở thường gắn với ý hỏi: Như thế nào? Bằng
cách nào? Điều gì? Gì? Ai? Ở đâu? Bao giờ? Học sinh: Em rất hay lo khi nghĩ về mẹ. • Câu hỏi đóng là dạng câu hỏi chỉ có một phương án trả lời. Loại câu hỏi không sử
dụng kỹ thuật hỏi, chúng thường xuất phát từ suy nghĩ chủ quan của cán bộ tham yy Câu hỏi phép lạ Đó là loại câu hỏi giúp học sinh tự hình dung và mô tả chi tiết về một tương lai sẽ khác đi
khi vấn đề của các em được giải quyết - nhờ có “phép lạ”. vấn nhằm chứng minh, hay khẳng định/phủ định điều cán bộ tham vấn muốn biết.
Đó là những câu hỏi có các phương án trả lời ngắn dựa theo thông tin chủ quan của
người hỏi: Có/ Không? Rồi/Chưa? Câu hỏi đóng không phải là câu hỏi đánh giá thực
trạng vấn đề nên chúng cung cấp thông tin rất ít cho người hỏi và rất chủ quan, mà
người trả lời thậm chí chỉ cần gật hay lắc đầu. Ví dụ: Tình huống: Một học sinh bị bạn cùng lớp đánh, em không biết phải làm thế nào để xử
lí mối quan hệ giữa em và bạn sau đó. Em gặp cán bộ tham vấn xin giúp đỡ. Dưới đây là
mẫu một phiên bản của câu hỏi phép lạ thường được các cán bộ tham vấn, nhân viên
công tác xã hội hỏi: Cán bộ tham vấn: Cô sẽ hỏi em một câu hỏi khá lạ... (dừng lại), câu hỏi lạ là thế này ...
(dừng lại), giả sử sau khi chúng ta nói chuyện... (dừng lại), em trở về lớp tiếp tục học và
gặp lại bạn đã đánh em ... (dừng lại). Vào buổi đêm khi em đang ngủ, bỗng có một phép
lạ xảy ra, nó đã giúp em giải quyết vấn đề này ... (dừng lại) và thế là vấn đề hôm nay đã
được giải quyết ... (dừng lại). Vậy theo em, phép lạ trong giấc mơ đã giải quyết vấn đề
giữa em và bạn như thế nào? (Steve de Shazer Insoo, 2005)1. Câu hỏi đóng
1. Em có biết giai đoạn AIDS không?
2. Em có biết về những điều kiện
làm vi rút HIV phát triển nhanh
không? Câu hỏi mở
1. Theo em, giai đoạn AIDS là gì?
2. Theo em, những điều kiện nào sẽ
làm cho vi rút HIV phát triển nhanh?
3. Em cảm thấy thế nào về việc một
vài bạn thường giễu cợt các bạn nữ
trong lớp? 3. Em có thấy thoải mái về việc một
vài bạn thường giễu cợt các bạn
nữ trong lớp không? 4. Bố em có vui không khi em báo cho bố biết kết quả học của em? 5. Em thường gần gũi với mẹ hay với 4. Theo em, bố cảm thấy thế nào khi
em báo tin về kết quả học của em?
5. Em thường gần gũi với ai trong nhà?
6. Em thấy điều kiện học tập ở đây như bố? thế nào? Cán bộ tham vấn cần chú ý là câu hỏi phép lạ cần được đặt ra từ từ, bao hàm cả sự quan
sát hành vi không lời để đảm bảo tốc độ cảm nhận của học sinh phù hợp với khả năng hấp
thụ nội dung câu hỏi. Điều này bao hàm cả việc tôn trọng sự im lặng của học sinh. Câu hỏi
phép lạ đòi hỏi phải tạo ra một câu chuyện lý thú, gây được cảm hứng cho học sinh. Việc
trả lời của các em sẽ dẫn dắt cán bộ tham vấn có thể lần theo cách giải quyết mà các em
hướng tới, giúp các em tập trung chú ý vào giải pháp: “Như thế nào?”, “Làm gì?” mà không
nhằm tìm ra sự thật của nan đề để đổ lỗi cho nhau, hoặc giải thích “Tại sao?”. Những điều
này luôn dẫn câu chuyện vào ngõ cụt, vào những chuyện cãi vã. Tùy thuộc vào từng tình
huống và học sinh cụ thể, câu hỏi phép lạ có thể khác nhau. Ví dụ, vẫn tình huống trên: 6. Điều kiện học tập ở đây là quá tốt với các em phải không? Cán bộ tham vấn: Nếu em thức dậy vào ngày mai và có một phép lạ đã xảy ra thì em
thấy phép lạ đó khác với thực tế hiện nay như thế nào? Hoặc: Những dấu hiệu đầu
tiên báo rằng phép lạ xảy ra đối với em (trong lớp em / trong gia đình em...) là gì? Thông thường, phản ứng ban đầu của học sinh có thể là: "Em không biết". Sau 5 giây im
lặng, cán bộ tham vấn có thể nói, hỏi như sau: Hãy đoán xem Đó là một câu hỏi khó và cô cũng không nghĩ em sẽ ngay lập tức biết câu trả lời, nhưng hãy suy nghĩ về nó một lát, Trong tham vấn nói chung, các tình huống/ sự việc của thân chủ đã xảy ra và họ không
biết làm thế nào để giải quyết hiệu quả, vì vậy cán bộ tham vấn cần đặt câu hỏi giúp thân
chủ tập trung vào giải pháp. Các dạng câu hỏi theo quan điểm tập trung vào giải pháp
thường được sử dụng nhiều là: Câu hỏi phép lạ, câu hỏi khám phá ngoại lệ, câu hỏi ứng
phó và câu hỏi mở rộng1. Đây là các dạng câu hỏi mà cán bộ tham vấn học đường có thể
giúp học sinh hình dung tương lai mà các em mong đợi khi giải quyết vấn đề của mình. Người bạn tốt nhất của em sẽ nói gì nếu bạn ấy ở đây? 1. Đã chuyển nội dung cho phù hợp với tình huống học đường ở Việt Nam. 1. Michael P. Nichols (2009), The Essentials of Family therapy, Pearson. Để giúp học sinh thực hiện hóa mong muốn của mình, cán bộ tham vấn thường đề nghị
học sinh miêu tả cuộc sống/con người mình sẽ như thế nào khi các vấn đề khó khăn xảy
ra và các em đối phó như thế nào để những khó khăn đó không còn gây trở ngại tới mong
muốn của các em (câu trả lời của học sinh là: Làm gì? Làm như thế nào?). Các cán bộ tham vấn theo quan điểm tập trung vào giải pháp cho rằng luôn có những thời
điểm mà học sinh cảm thấy mình bình yên, không có vấn đề gì với mình. Vì vậy, cán bộ tham vấn cần khuyến khích học sinh xác định các sự cố nào đã xảy ra và cách giải quyết
thành công của các em. Vì vậy, các câu hỏi khám phá ngoại lệ mà cán bộ tham vấn có thể
hỏi học sinh là: Đó là câu hỏi sử dụng thang đo lường về sự khác biệt, nhằm giúp học sinh tự đánh giá bất
kể điều gì theo kinh nghiệm của các em (còn gọi là câu hỏi chấm điểm). Lúc đó em đã làm gì? 1____________________5____________________10 Lúc đó em làm như thế nào? Rất tồi tệ Trung bình Rất tuyết vời Làm thế nào em thực hiện được điều đó? Điều gì khiến em quyết định làm điều đó? Theo em, những điều em cho rằng cần phải làm ngay trước khi sự việc có thể xảy ra một
lần nữa là gì? Bằng cách sử dụng thang đo 10 điểm, cán bộ tham vấn có thể hỏi về sự kiện, về nhận
thức/niềm tin, cảm xúc, mong muốn, hành vi, sự phấn đấu, sự tiến triển, cách thức hành
động.v.v… của học sinh để xem học sinh nhìn nhận vấn đề đó như thế nào. Ví dụ: Câu hỏi khám phá ngoại lệ có mục đích giúp học sinh nhớ lại những gì các em đã làm tốt
trong quá khứ, giúp các em nâng cao sự tự tin vào bản thân và giúp các em thực hiện được
các “bước nhỏ” theo viễn cảnh mong đợi của các em. Cán bộ tham vấn: Giả sử chúng ta có mười mức đánh giá về chuyện bế tắc trong học
tập của em, trong đó mức một là rất tồi tệ, mức 10 là rất tuyết vời, còn 5 điểm là trung
bình, không tốt cũng không xấu. Vậy em đánh giá sự bế tắc trong học tập của mình
đang ở mức độ nào? Sau khi học sinh trả lời, cán bộ tham vấn có thể tiếp tục đặt các câu hỏi ở dạng câu hỏi
phép lạ, câu hỏi ứng phó, câu hỏi ngoại lệ và các loại câu hỏi khác. Ví dụ: Các câu hỏi ứng phó giúp học sinh nhận ra mình có nhiều nguồn lực hơn các em từng
nghĩ. Bất kể chuyện gì, khi học sinh cảm thấy vô vọng nhất, cán bộ tham vấn cũng tìm ra
được khả năng ứng phó của học sinh. Khi xử dụng câu hỏi ứng phó, cán bộ tham vấn cần
tỏ ra sự tò mò và ngưỡng mộ để làm nổi bật những điểm mạnh của học sinh. Ví dụ: Cán bộ tham vấn: Như vậy, điều rất tuyệt vời (rất tồi tệ) đã xảy ra với em là gì? Hay: Làm
cách nào để có thể đạt được (có thể tránh được) những điều rất tuyệt vời (rất tồi tệ) đó? Cán bộ tham vấn: Em nói là em làm cái gì cũng thất bại, hầu như cuộc đời em đầy
những chuyện không may, nhưng cô tự hỏi làm thế nào mà em có thể vừa học tốt, vừa
làm nhiều việc giúp bố mẹ (giúp lớp mình), trong khi nhiều bạn cùng trang lứa như em
không làm được? Ngay cả những câu chuyện lẻ nhạt và đời thường nhất cán bộ tham vấn cũng có thể đưa
ra được những câu hỏi về sự ứng phó của học sinh. Ví dụ: Cán bộ tham vấn: Thầy có thể thấy mọi thứ thực sự khó khăn với em, nhưng thầy giật
mình bởi thực tế em dậy mỗi buổi sáng và làm tất cả mọi thứ cần thiết cho cha mẹ. Em
đã làm điều này như thế nào? Đó là một câu hỏi dạng mở, nhưng nó lại gây cảm giác bị chất vấn, bị dồn ép và đôi khi nó
ám chỉ rằng người được hỏi đã hoặc đang làm điều gì đó sai. Câu hỏi tại sao có thể dẫn dắt
học sinh đến câu trả lời biện hộ, “hợp lí” theo xu hướng: nếu tình huống “xấu” học sinh sẽ
đưa ra những lí do khách quan, còn nếu tình huống “tốt” các em sẽ biện hộ theo hướng do
chủ quan, do bản thân. Các câu hỏi tại sao cũng có thể làm học sinh vô tình trả lời tự vệ và
làm thỏa mãn người hỏi. Để hạn chế sự phòng vệ từ học sinh, thay vì đặt câu hỏi “Tại sao?”
Cán bộ tham vấn hỏi “Điều gì?”. Ví dụ về câu hỏi chất vấn. CÂU HỎI KHÁCH QUAN
1. Điều gì khiến em đánh các bạn nữ? CÂU HỎI CHẤT VẤN
1. Tại sao em lại đánh các bạn nữ?
2. Tại sao hôm qua em không Ở câu hỏi ứng phó này, việc cán bộ tham vấn tóm tắt ngay ban đầu: "Thầy có thể thấy mọi
thứ thực sự khó khăn với em" là dành cho học sinh cảm nhận một sự thật và xác nhận câu
chuyện của học sinh là đúng theo cách em nói. Ở vế thứ hai của câu hỏi, với nội dung: "Em
làm điều này như thế nào?" cũng khẳng định một sự thật hiển nhiên, nhưng lại là khía cạnh
trọng tâm của kỹ thuật hỏi: Giúp học sinh nhận ra cách thức mà các em đã ứng phó bằng
một câu hỏi nhẹ nhàng. đến trường? 2. Điều gì khiến em hôm qua em không đến trường? 3. Tại sao các bạn làm được mà em Cán bộ tham vấn có thể sử dụng một số câu hỏi ứng phó khác, như: 3. Điều gì khiến các bạn làm được y Điều gì khiến em tiếp tục tiến lên cho dù có các hoàn cảnh khó khăn bủa vây như thế? mà em chưa làm được? không làm được?
Tại sao ? Tại sao? y Em đã làm thế nào để giữ cho mối quan hệ giữa em và bạn không trở nên xấu hơn? Điều gì? Điều gì? trách nhiệm với lời nói đó. Đó là một câu hỏi có nhiều ý hỏi và với nhiều phương án trả lời. Ví dụ: Cán bộ tham vấn phản hồi làm cho học sinh có cảm giác được quan tâm, còn cán bộ tham
vấn biết chắc điều mình hiểu là không sai, không suy diễn. Trong trường hợp nếu hiểu sai
sẽ được học sinh giải thích và điều chỉnh kịp thời. Cán bộ tham vấn: Cô giáo đã thông báo chuyện em đánh nhau ở lớp phải không và
bố mẹ em nói thế nào về chuyện này? Hoặc: Em thấy học trường này như thế nào và tại
sao mẹ em lại muốn chuyển trường cho em? Khi sử dụng kỹ năng phản hồi, cán bộ tham vấn có thể lặp lại nội dung câu nói hoặc lặp lại
cảm xúc nhằm giúp học sinh ý thức hơn về nội dung tình cảm trong ngôn từ của các em.
Có ba loại phản hồi. Loại câu hỏi này hàm chứa những suy luận chủ quan, dẫn dắt hay lập luận từ phía cán bộ
tham vấn. Điều này gây cản trở quá trình hình thành mối quan hệ tham vấn thân thiện và
gây ra sự bất hợp tác ở học sinh. Ví dụ: Cán bộ tham vấn: Điều kiện học ở đây là quá tốt rồi, em có điều gì phàn nàn không? (câu hỏi đóng, dẫn dắt) Cán bộ tham vấn đơn giản nhắc lại những gì học sinh vừa nói, nhưng ngắn gọn hơn, rõ
ràng hơn. Đây là loại phản hồi làm tăng sự chú ý của học sinh. Ví dụ, sau khi học sinh giãi
bày khó khăn tâm lí liên quan đến ứng xử với một bạn trai trong lớp, cán bộ tham vấn có
thể nhắc lại (phản hồi nội dung) như sau: Cán bộ tham vấn: Em nói em không thích hòa đồng với các bạn trong lớp, điều này có
nghĩ là em không định tham gia vào các hoạt động của lớp phải không? (câu hỏi đóng,
suy luận) Cán bộ tham vấn: Em nói rằng, hôm qua trên đường đi học về, một bạn nam đã có
những hành vi xàm xỡ với em, dù em không đồng ý nhưng bạn vẫn không dừng lại,
dường như bây giờ em chưa biết nên xử lí thế nào. Cán bộ tham vấn: Lúc nãy em nói.... sao bây giờ em lại...? (câu hỏi chất vấn) Tóm lại, một câu hỏi tốt thường bao chứa các đặc điểm sau: Sự phản hồi dạng này không thể hiện một tình cảm hay thái độ đánh giá nào đó của cán
bộ tham vấn. Đơn giản đó chỉ là một phát biểu lại, hay diễn đạt lại lời của học sinh, giúp
học sinh ý thức rõ hơn về điều mình vừa nói. CÂU HỎI TỐT LÀ CÂU HỎI: • Ngắn gọn • Ý mở • Rõ ý • Phù hợp • Chỉ một ý • Khách quan Học sinh trong khi bày tỏ câu chuyện của mình thường bắt đầu bằng các cảm xúc, đôi khi
học sinh cũng không ý thức hết được cảm xúc của mình. Sự phản hồi cảm xúc của Cán bộ
tham vấn có thể giúp giải mã cảm xúc của học sinh. Vì vậy, khi phản hồi Cán bộ tham vấn
cần phiên dịch lại những cảm xúc chân thực nhất mà học sinh đang cảm thấy vào lúc câu
chuyện đang được nói đến. Ví dụ: • Gợi sự quan tâm • Gợi câu hỏi mới Cán bộ tham vấn: dường như điều này đã để lại trong em một nỗi buồn. Cán bộ tham vấn: Có vẻ như em đang cảm thấy bối rối khi biết sự thật về câu chuyện này, tuy nhiên em lại nói là không có chuyện gì quan trọng cả. Cán bộ tham vấn cũng có thể phản hồi lại một cảm giác ngầm ẩn mà học sinh cảm nhận
thông qua những dấu hiệu: sự lựa chọn từ, một tiếng thở dài, một sự ngập ngừng, một
thoáng nổi giận trong cái nhìn, một giọng nói yếu đi. Ví dụ: Phản hồi là nói lại điều thân chủ vừa nói đến, vừa cảm thấy; hoặc làm sáng tỏ điều thân
chủ muốn nói đến và đạt được sự tán thành của thân chủ. Học sinh: Bố mẹ em không ngừng kết tội nhau, họ xỉ xả nhau mà không nghĩ đến chuyện con cái đang đau lòng chứng kiến những cảnh không hay về họ. Cán bộ tham vấn: Dường như em đang cảm thấy thất vọng về những người em yêu thương nhất. Trong tham vấn học đường, phản hồi đạt được một sự khách quan khi cán bộ tham vấn
chỉ đơn giản nói lại/ nhắc lại những điều mình quan sát thấy, mà không gắn với suy luận,
đánh giá về vấn đề và bản thân học sinh. Vì vậy, phản hồi chỉ nên liên quan đến làm rõ các
câu hỏi: thế nào? cái gì? mà không nhằm giải thích tại sao? Phản hồi cảm xúc có thể giúp cán bộ tham vấn nhận thấy ngay được nỗi buồn hay sự tức
giận của học sinh. Tuy nhiên, nếu học sinh chưa sẵn sàng để chấp nhận các cảm xúc đang Ý nghĩa của phản hồi là giúp cho học sinh cảm thấy có người đang lắng nghe và hiểu
mình, làm cho học sinh được khích lệ và giúp học sinh ý thức được điều họ vừa nói và có có thì câu phản hồi cảm xúc mà cán bộ tham vấn đưa ra có thể không thành công và đôi
khi còn thất bại do học sinh đề kháng, chống đối. Ví dụ: Cán bộ tham vấn: Ý em là bạn đã có những hành vi ứng xử không tốt với các bạn. Vì Thấu cảm (Empathy) là cảm nhận điều người khác đang cảm nhận, hiểu người khác bằng
tình cảm cũng như bằng tư duy. điều này em đã rất tức giận bạn. Học sinh: Không! Em không việc gì phải tức bạn! Bạn là gì với em mà em phải tức bạn Trong tham vấn, đó là khả năng nhận biết, cảm nhận, hiểu cảm xúc của người khác thông
qua cử chỉ, lời nói, hành vi của người đó. (Học sinh cao giọng phản ứng ngay lập tức). Kỹ năng thấu cảm là một kỹ năng phức hợp đòi hỏi cán bộ tham vấn phải sử dụng kết hợp
tốt kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hóa giải lý im lặng và kỹ năng phản hồi. Sử dụng kỹ năng
thấu cảm, cán bộ tham vấn khiến học sinh: Phản hồi soi sáng là lôi lên bề mặt ý thức những cảm nhận vô thức và làm sáng tỏ. Ví dụ
về phản hồi soi sáng: • Cảm nhận mình được tôn trọng với những trải nghiệm đang có • Cảm nhận được người khác lắng nghe và hiểu mình Phụ huynh: Vợ chồng tôi đang có những bất đồng về giáo dục cháu Hải, tôi không sao
nói được với bố cháu về cách giáo dục cháu của anh ấy, mọi thứ không ổn chút nào! À,
thế cô đã có gia đình chưa nhỉ? • Cảm thấy bớt lo lắng và giảm tức giận nếu rơi vào tâm trạng xấu • Dễ dàng tiếp tục cởi mở cảm xúc, ý tưởng hay sự phản ứng • Tin tưởng cán bộ tham vấn và cảm thấy muốn tiếp tục bộc lộ bản thân Cán bộ tham vấn: Tôi chưa có gia đình. Những điều chị chia sẻ không ảnh hưởng tới
việc tôi hiểu về nỗi lo lắng của chị khi anh ấy dạy con không như chị mong muốn. Có
phải ý chị là: Chị sợ cháu Hải sẽ hư do cách giáo dục của bố cháu? • Nghe thấy những biểu cảm dưới ngôn từ của học sinh • Cảm nhận và hiểu những cảm xúc, những điều học sinh đã trải qua • Quan tâm đến nhu cầu của học sinh Tóm lại, dựa vào các tình huống tham vấn, cán bộ tham vấn có thể sử dụng hình thức
phản hồi nội dung, phản hồi cảm xúc, hay phản hồi soi sáng. Tuy nhiên, lời nói phản hồi
phải diễn tả lại đúng với những gì đang diễn ra ở học sinh mà không kèm theo những thái
độ đánh giá. Cán bộ tham vấn có kỹ năng phản hồi tốt sẽ giúp học sinh cảm thấy mình
được lắng nghe, được chấp nhận, được chia sẻ và cán bộ tham vấn xây dựng được mối
quan hệ tham vấn cởi mở, tâm tình và có hiểu biết với học sinh. • Nhạy cảm và tôn trọng những giá trị, những trải nghiệm của học sinh cho dù điều đó có thể không phù hợp với Cán bộ tham vấn • Có sự nâng đỡ, động viên học sinh • Nhìn thấy mặt tích cực của học sinh đằng sau cảm xúc, hành vi tiêu cực CÁC MỆNH ĐỀ THƯỜNG ĐI VỚI KỸ NĂNG
PHẢN HỒI • Dường như .... • Cô/thầy có cảm nhận rằng .... Kỹ năng thấu cảm cho phép cán bộ tham vấn lắng nghe sâu sắc hơn ý nghĩ và cảm giác
của học sinh. Qua đó, cán bộ tham vấn có thể trả lời học sinh về những điều các em nói
theo những cách khác nhau. • Như vậy, em muốn rằng .... • Hình như em ... • Ý em vừa nói là .... • Có vẻ như em đang cảm thấy .... • Vấn đề chính em muốn nói là... Lời nói thấu cảm của cán bộ tham vấn có thể đạt ở những mức độ khác nhau, tùy vào thái
độ tôn trọng, sự cảm nhận vấn đề và mức độ kinh nghiệm thực hành có giám sát của cán
bộ tham vấn. Ví dụ dưới đây phản ánh các mức độ thể hiện kỹ năng thấu cảm khác nhau
của cán bộ tham vấn. Mức 1: Lời nói của cán bộ tham vấn không bày tỏ được sự thấu cảm mà còn gây phản cảm
cho thân chủ/học sinh. Tình huống chia sẻ của học sinh: Học sinh: Em cảm thấy buồn khi nmẹ của người bạn thân em vừa mới qua đời vì tai
nạn, em ngồi đó mà không biết phải nói gì với bạn để bạn ấy đỡ đau khổ. Em thật vô
tích sự! • Cho học sinh thấy điều các em đang cảm thấy là đúng trong hoàn cảnh của các em
(cán bộ tham vấn thể hiện sự thừa nhận những cảm xúc đang có của học sinh). -
thấu cảm mức 3. Cán bộ tham vấn: Thực ra ta cũng chẳng làm được gì để giảm nỗi đau khổ của người khác, vậy nên tốt hơn là em cứ để bạn yên đi, không nên làm phiền bạn ấy. • Chỉ cho học sinh thấy những giá trị tích cực trong suy nghĩ, cảm xúc của các em (Học
sinh cảm thấy mình có giá trị trong hoàn cảnh của họ sinh) - thấu cảm ở mức 4. Những lưu ý cần tránh trong lời nói thấu cảm • Không đưa ra lời khuyên (hãy, nên), bảo học sinh làm gì, làm thế nào Mức 2: Cán bộ tham vấn đưa ra lời khuyên, bày tỏ quan điểm mà không tập trung nói về
cảm xúc của học sinh. Cho lời khuyên thì vẫn chưa phải là thấu cảm. Vẫn hình huống học
sinh nói ở trên: • Không đưa kinh nghiệm cá nhân của cán bộ tham vấn vào câu nói • Không đứng về một phía nào trong thông tin học sinh đưa ra để bênh hoặc chê Cán bộ tham vấn: Theo cô em nên động viên bạn ấy để bạn vơi bớt nỗi buồn, em nói
cho bạn ấy biết rằng mình cũng khổ tâm và nói cả lớp sẵn sàng giúp bạn ấy khi bạn
cần. • Không giảng giải đạo đức, hay bình luận về vấn đề, về học sinh • Không đặt câu hỏi Mức 3. Lời nói của cán bộ tham vấn đạt ở mức thấu cảm, thể hiện sự chấp nhận cảm xúc
và lời nói của học sinh, giúp học sinh vơi đi nỗi lòng do cảm thấy được tôn trọng cảm xúc
của mình. Vẫn hình huống học sinh nói trên: Học sinh nói với cán bộ tham vấn: Cô ơi, em rất lo lắng vì sắp đến kì thi rồi mà em không làm
sao nhớ được những phần đã học. Cán bộ tham vấn: Cô cảm nhận được nỗi buồn và sự lúng túng của em khi em chứng
kiến nỗi đau của bạn do mẹ mất đột ngột mà không biết phải an ủi bạn thế nào. Một số
người rơi vào hoàn cảnh của em họ cũng có cảm xúc như vậy. Mức 4. Sự bày tỏ của cán bộ tham vấn đạt ở mức độ sâu sắc, khi chỉ ra những giá trị tích
cực của học sinh, giúp học sinh cảm nhận về giá trị của mình. Vẫn hình huống học sinh
nói trên: • Mức thấu cảm mức 1: Chắc là em đang bị phân tán bởi nhiều thứ xung quanh nên
chưa tập trung thật sự vào ôn thi thôi, thi cử là điều tự nhiên của đời học sinh mà ai
cũng phải trải qua, có gì mà lo hả em. (học sinh không được thấu cảm mà có thể còn
cảm thấy bực mình – phản cảm). Cán bộ tham vấn: Em cảm thấy buồn phiền về bản thân khi không biết làm cách nào
để chia sẻ nỗi đau cùng bạn về việc mẹ bạn mới mất. Chỉ có những người thật sự quan
tâm và yêu thương bạn bè mình mới có cảm xúc như em. • Mức thấu cảm mức 2: Em cứ yên tâm, rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi, đừng lo lắng quá mà
ảnh hưởng đến sức khỏe và trí nhớ. Em cứ bình tĩnh, mỗi ngày học một ít rồi dần dần sẽ
nhớ thôi mà. (An ủi, cho lời khuyên, không hiểu học sinh muốn đưa ra thông điệp
gì – chưa đạt mức thấu cảm). • Mức thấu cảm mức 3: Dường như em đang lo lắng vì sắp thi mà em cảm thấy không
nhớ được những phần mình đã học. Một số bạn rơi vào hoàn cảnh của em họ cũng có
cảm xúc lo lắng như em (đã thấu cảm vấn đề của thân chủ - thừa nhận cảm xúc lo
lắng của học sinh). Với cách bày tỏ của Cán bộ tham vấn ở mức 4, sự nhận thức về vấn đề của học sinh không
chỉ được "ý thức hóa", mà học sinh còn thấu cảm sâu sắc hơn với cảm xúc của chính mình.
Điều này khiến học sinh sẽ có hành động tích cực thay vì duy trì những cảm xúc tiêu cực
ở bản thân. Để có được kỹ năng thấu cảm, Cán bộ tham vấn cần thực hiện các yêu cầu trong một lời
nói thấu cảm với học sinh như sau: • Đặt mình vào hoàn cảnh của học sinh để cảm nhận về điều các em đang cảm thấy, cảm
nhận "như thể của mình" (Đây là yêu cầu về thái độ tôn trọng, chấp nhận học sinh). • Mức thấu cảm mức 4: Nghe em nói, cô hiểu em là một học sinh rất có trách nhiệm
và biết quan tâm đến tương lại của mình nên em lo lắng vì nghĩ rằng mình không nhớ
được những phần đã học. Chỉ có những học sinh thực sự nghiêm túc trong học hành và
thi cử mới có những trăn trở như vậy. (Cán bộ tham vấn thấu cảm ở bậc cao khi chỉ
ra giá trị tích cực của học sinh, học sinh có cảm giác được nâng đỡ vì có người hiểu
nỗi lòng mình, học sinh sẽ cố gắng cải thiện việc ôn thi mà không bị chìm vào nỗi lo
lắng không nhớ bài). • Nhắc lại cảm xúc và nguyên nhân dẫn đến cảm xúc mà học sinh vừa nói (thể hiện kỹ năng lắng nghe tốt của cán bộ tham vấn). Cán bộ tham vấn khi bày tỏ sự thấu cảm cần sử dụng từ ngữ dung dị, gần gũi với văn
phong của học sinh và phải bày tỏ chúng một cách tự nhiên. • Cung cấp thông tin không ẩn chứa thái độ của Cán bộ tham vấn đối với thông tin • Cung cấp thông tin không hướng đến cách giải quyết vấn đề Cung cấp thông tin là một đáp ứng giúp thân chủ thu được những thông tin khách quan,
có giá trị để giải quyết vấn đề của thân chủ. Đối với lĩnh vực tham vấn học đường, việc cung cấp thông tin kèm theo những niềm tin
và kinh nghiệm chủ quan thường biến Cán bộ tham vấn trở thành những người đóng vai
trò cha mẹ, thầy cô, người lớn bảo ban, dạy dỗ "con trẻ". Trong tham vấn học đường, cán bộ tham vấn cần phân biệt sự khác nhau giữa việc cung
cấp thông tin và việc “dạy” cho học sinh điều gì đó, theo kiểu cố gắng áp đặt ý tưởng lên
học sinh. Làm rõ những thông tin mang tính khách quan (thông tin thực tế, sự kiện) với những
thông tin mang tính nhận thức, phỏng đoán chủ quan của Cán bộ tham vấn (thông tin
suy luận, giả định). Ví dụ: Thông tin cung cấp cho học sinh hay cha mẹ học sinh cần liên quan đến một mục đích
tham vấn và cán bộ tham vấn cần thoải mái chia sẻ những dữ liệu chỉ liên quan tới vấn
đề đang bàn tới mà không gắn với kinh nghiệm cá nhân của cán bộ tham vấn, dù kinh
nghiệm này được đánh giá là tốt. Cán bộ tham vấn: Tôi nghĩ là.... Tôi tin là..., hay: Tôi cho rằng... . Khác với thông tin như: Cán bộ tham vấn: Thực tế cho thấy... Tôi nhìn thấy..., Ví dụ: Cặp phụ huynh đến trường của con mình (cháu học lới 6), gặp cán bộ tham vấn xin
tham vấn về việc họ nên nói chuyện thế nào với con gái nuôi nếu cháu hỏi về bố mẹ thật
của mình. Cán bộ tham vấn cho học sinh thấy rằng các em có quyền trong việc nên hay không nên
làm theo chỉ dẫn của cán bộ tham vấn. Ví dụ: Phụ huynh: Theo chị, chúng tôi nên nói như thế nào nếu sau này con gái hỏi chúng tôi
về cha mẹ thật của cháu, hoặc nó hỏi chúng tôi có phải là cha mẹ nuôi không, thì chúng
tôi nên trả lời thế nào? Cán bộ tham vấn: Sự lựa chọn như thế nào là ở em quyết định. Cô hi vọng em sẽ cân
nhắc những thông tin cô đưa ra từ những kinh nghiệm của người khác để đi đến quyết
định của mình. Cán bộ tham vấn giúp học sinh phân biệt suy nghĩ của bản thân với thông tin của người
khác cung cấp, khuyến khích học sinh chia sẻ và tự chịu trách nhiệm về việc lựa chọn
thông tin của mình. Ví dụ: Cán bộ tham vấn: Mỗi gia đình khi nhận con nuôi đều có những trăn trở trước những
câu hỏi của trẻ về nguồn gốc gia đình. Thực tế nuôi dạy trẻ là con nuôi cho thấy các gia
đình thường có những cách trả lời trẻ khác nhau và kết quả đã đem lại đôi khi không
lường hết được. Tôi biết một số cha mẹ chọn cách nói thật, cho cháu biết thực tế về câu
chuyện của cháu. Họ cho rằng ở một độ tuổi nào đó con cái có quyền được biết về xuất
xứ của mỉnh. Việc trả lời thẳng thắng này không hề làm mất đi tình cảm yêu quý bố mẹ
nuôi của trẻ, thậm chí lại làm cho trẻ càng thêm yêu quý và thông cảm với cha mẹ nuôi
hơn. Tuy nhiên có trường trường hợp, việc cha mẹ nói cháu là con nuôi đã làm giảm
tình cảm của cháu với cha mẹ nuôi, điều này làm cho cháu mặc cảm với bố mẹ nuôi và
tức giận bố mẹ đẻ ra mình. Chỉ có anh chị mới biết là nên nói thật hay không nói với trẻ
sau khi đã cân nhắc về độ tuổi của cháu, tình cảm của anh chị với cháu và tình cảm của
cháu với anh chị. Cán bộ tham vấn: Chúng ta đã cùng nhau phân tích về việc lựa chọn nghề nghiệp của
em dựa vào các yếu tố như đặc điểm và yêu cầu của nghề mà em thích; đặc điểm tính
cách, năng lực của em đối với nghề đó và thị trường lao động của ngành nghề đó trong
những năm tới. Em cũng đi đến nhận định rằng với khả năng của em thì em sẽ thi vào
trường kinh tế, tuy nhiên em lại phân vân khi cùng sức học như em một số bạn lại định
thi vào trường ngoại thương. Mặt khác, em cũng phân vẫn giữa mong muốn của bố
mẹ với thực tế mong muốn của em. Cô nghĩ, sự lựa chọn ngành nghề của mọi người
rất đa dạng, em đang lựa chọn ngành nghề cho em mà không phải cho bố mẹ em. Các
bạn cũng lựa chọn theo nhu cầu của các bạn, các bạn không phải là em. Cũng như vậy,
những điều cô chia sẻ với em chỉ là ý kiến cá nhân của cô... Trước khi cân nhắc về cách trả lời đứa trẻ con anh chị sao cho thỏa đáng nhất, chúng ta sẽ
nói một số chuyện xung quanh về mối quan hệ giữa anh chị và cháu. Ví dụ: Anh chị cảm
nhận thế nào về cháu? Anh, chị coi đứa trẻ này giống như là con nuôi của mình hay cảm
thấy cháu thực sự là con đẻ của mình? v.v... Anh chị có thể chia sẻ bất cứ thông tin gì anh
chị muốn nói về cháu và về anh chị với cháu... Thách thức học sinh về các thông tin mà cán bộ tham vấn cung cấp để học sinh phải
đương đầu với các thông tin đó thay vì các em tiếp nhận trong sự im lặng thụ động. Ví dụ: Sự cung cấp thông tin của cán bộ tham vấn cho học sinh được thể hiện qua một số điểm sau: • Cung cấp thông tin để mở rộng vấn đề cần xem xét ở học sinh Cán bộ tham vấn: Em đã nghe một loạt các thông tin liên quan đến việc lựa chọn
ngành nghề, em cảm thấy thế nào về những thông tin này? (hoặc: Em nhìn nhận vấn
đề này như thế nào?). • Cung cấp thông tin mà không thuyết phục học sinh • Cung cấp thông tin mà không bao chứa sự áp đặt lời khuyên NHƯỢC ĐIỂM CỦA CUNG CẤP THÔNG TIN TRONG THAM VẤN Mục đích của cung cấp thông tin là giúp học sinh hướng đến hành động. Vì vậy thông tin Cán
bộ tham vấn đưa ra tránh mang tính lí luận hay cho lời khuyên mà cần tập trung vào việc làm
thế nào để học sinh vận dụng thông tin vào thực hành giải quyết vấn đề của các em. Ví dụ sau đây cho thấy cán bộ tham vấn đã sử dụng kỹ năng cung cấp thông tin và tránh
cho lời khuyên như thế nào. Học sinh: Thưa cô, hiện nay em đang phân vân không biết nên chọn học đại học ở đâu.
Theo cô, còn 6 tháng nữa là em tốt nghiệp phổ thông rồi, sau đó em không biết nên ra
nước ngoài học đại học hay học đại học trong nước rồi mới đi học thạc sĩ ở nước ngoài.
Bố mẹ em thì bảo để cho em lựa chọn. Em thấy khó quá, cô cho em một lời khuyên. Nhược điểm của việc cung cấp thông tin là làm chuyển trọng tâm tham
vấn từ học sinh sang cán bộ tham vấn. Đặc biệt khi cán bộ tham vấn
hướng vào việc cho lời khuyên thì mối quan hệ tham vấn tập trung hơn
vào cán bộ tham vấn và làm tăng khả năng phụ thuộc của học sinh vào
mối quan hệ tham vấn. Điều này sẽ làm cho cách thức phản ứng của cán
bộ tham vấn trở nên nặng nề khi học sinh không hưởng ứng với những
thông tin cán bộ tham vấn cung cấp, vì thường học sinh đã biết các thông
tin này. Do vậy, dù đưa ra bất kỳ thông tin nào, cán bộ tham vấn cũng nên
nhận biết cẩn thận nhu cầu của học sinh và cân nhắc tính hiệu quả đối với
học sinh. (E.Neukrug,1999)1 Im lặng là không thể hiện phản ứng, thái độ hay lời nói. Trong bối cảnh tham vấn học đường, nếu cán bộ tham vấn để học sinh duy trì tình trạng
im lặng lâu (bất kể vì lí do gì) sẽ dẫn tới tình trạng lệ thuộc của học sinh vào cán bộ tham
vấn. Điều này có thể dẫn tới sự bế tắc truyền thông trong tham vấn. Cán bộ tham vấn: Em đang đặt cho cô câu hỏi không dễ trả lời. Cô không phải là em
nên cô không biết thực sự em nên ra nước ngoài học đại học hay học trong nước. Cô
biết một số anh chị ở các khóa trên của trường mình, sau khi tốt nghiệp phổ thông, một
số anh chị đã đi học ngay đại học ở nước ngoài. Trường mình hiện có khá nhiều anh chị
đang học ở Anh, Mĩ, Pháp, Nhật hay Lào. Cô nghe nói, nhiều anh chị đã có một tương lai
khá ổn. Có người đang làm việc bên đó, có người đã về Việt Nam làm việc, một số anh
chị khác còn đang học. Trong số các anh chị đó, cô cũng nghe nói có người không theo
học được nên đã bỏ học đi làm ở bên đó, đi làm chui ấy. Tất nhiên tương lai như vậy có
vẻ không ổn rồi. Tuy nhiên, có một số anh chị khác mặc dù học khá giỏi, ngoại ngữ tốt
và gia đình lại có điều kiện đi học nước ngoài, nhưng các anh chị ấy lại lựa chọn học
trong nước. Các anh chị học trong nước họ cũng thành công trong học tập hay công
việc của mình. Khi học sinh duy trì sự im lặng lâu quá 30 giây trong ca tham vấn, cán bộ tham vấn cần
nhanh chóng nhận biết lí do của sự im lặng để hóa giải chúng. Các lí do khiến học sinh im
lặng có thể là: • Sợ bị lộ chuyện, sợ bị chê cười, sợ bị hiểu lầm hay đánh giá • Không có khả năng bày tỏ nội tâm Đi học ở nước ngoài hay học trong nước là một sự cân nhắc thận trọng, nó đòi hỏi ta phải
có một sự chuẩn bị khá kỹ về tâm lí, kinh tế, ngoại ngữ và cả các điều kiện tác động khác
như: học ở đâu thì tốt? Điều kiện sống và học tập ở đó như thế nào? Để cô có thể cung cấp
thông tin giúp em đưa ra được một giải pháp tối ưu cho chính mình, chúng ta cần làm rõ
một số thông tin liên quan tới nhu cầu và khả năng của em, sự ủng hộ của gia đình em,
cũng như những nguy cơ em có thể gặp phải khi em lựa chọn nơi học tập cho mình. Bây
giờ chúng ta sẽ làm rõ từng khía cạnh nhé. Câu hỏi đầu tiên, chung nhất em cần làm rõ là:
Thực sự trong thâm tâm em muốn học ở đâu? • Không tin là được chia sẻ • Sợ nói ra làm tổn thương đến người khác • Sợ làm tổn thương đến chính mình • Không tin tưởng ở người cùng trò chuyện • Cho rằng giữ im lặng sẽ tốt hơn nói ra Kỹ năng cung cấp thông tin của cán bộ tham vấn cần gắn với mục tiêu tham vấn của học
sinh. Các thông tin cung cấp cho học sinh không bao hàm sự định hướng hay thuyết phục
học sinh thực hiện theo kinh nghiệm của cán bộ tham vấn và việc cung cấp thông tin cho
học sinh luôn kết hợp với việc khai thác thông tin từ học sinh. Cán bộ tham vấn giúp học
sinh bày tỏ quan điểm, suy nghĩ, mong muốn, hành vi của các em về vấn đề các em đưa
ra. Qua đó Cán bộ tham vấn mới có thể giúp học sinh khám phá một cách chi tiết những
phương án của mình với những hành vi và cảm xúc còn mập mờ. • Quan niệm rằng chuyện cá nhân, không nên nói ra 1. E.Neukrug (1999), The world of the Counselors, Books/ Cole Publishing Company • Lúng túng chưa biết bắt đầu từ đâu • Im lặng để cân nhắc, suy xét điều định nói Tình huống 2. Cán bộ tham vấn nhận thấy học sinh cho rằng giữ im lặng sẽ tốt hơn nói ra. • Chưa tìm được từ để nói • Đang quá nhiều bức xúc trong lòng • Điều tế nhị khó nói Cán bộ tham vấn: Nếu im lặng có thể giúp em cảm thấy tốt hơn nói ra thì em cứ giữ im
lặng. Tuy nhiên, trong trường hợp của em thầy không chắc đây là một giải pháp hay. Hi
vọng em sẽ suy nghĩ điều thầy nói. Nếu khi nào em muốn chia sẻ thì có thể nói với thầy.
Điều em nói chỉ có hai thầy trò mình biết thôi. v.v... Tình huống 3. Cán bộ tham vấn nhận thấy học sinh sợ nói ra sẽ bị lộ bí mật nên không
muốn nói. Trước khi cán bộ tham vấn sử dụng kỹ năng hóa giải im lặng, cần để học sinh duy trì sự im
lặng của mình trong khoảng 30 giây, sau đó. • Chỉ ra lý do gây ra im lặng của học sinh (đòi hỏi cán bộ tham vấn có khả năng nhạy Cán bộ tham vấn: Cô hiểu là em đang phân vân cân nhắc có nên nói ra câu chuyện
của mình hay không vì em sợ bị lộ bí mật. Điều này cho thấy em là học sinh kín đáo.
Trách nhiệm của cô là giữ bí mật về những điều học sinh chia sẻ. Cô muốn được giúp
em nhưng không biết giúp thế nào khi em im lặng. Em có thể nói chuyện riêng của em
mà không sợ bị lộ ra bên ngoài. cảm để đoán đúng lý do gây ra sự im lặng của học sinh). Tình huống 4. Cán bộ tham vấn nhận thấy học sinh đang rơi vào tâm trạng buồn nên im
lặng không nói được. • Bày tỏ thấu cảm với sự im lặng của học sinh (thể hiện sự chấp nhận khi học sinh
không nói, cán bộ tham vấn không tò mò và cho phép học sinh được thể hiện như
họ muốn – im lặng). Cán bộ tham vấn: Đôi khi những câu chuyện buồn làm chúng ta muốn chôn chặt
trong lòng. Vì vậy, việc giữ im lặng có thể làm em cảm thấy yên tâm. Tuy nhiên, em sẽ
phải chịu đựng âm thầm một mình và nỗi buồn thì vẫn làm em khổ tâm. Thầy hi vọng
có thể giúp được em vơi đi nỗi buồn. Những điều em chia sẻ sẽ là bí mật giữa chúng ta. • Khuyến khích học sinh nói ra vấn đề của mình (nói cho học sinh hiểu tích tụ điều
không vui trong lòng sẽ khiến các em phải chịu đựng một mình mà vấn đề không
tự mất đi, nếu nói ra có thể các em cảm thấy nhẹ nhõm hơn; nói ra có thể sẽ được
giúp đỡ). Tình huống 5. Học sinh chưa tin tưởng vào cán bộ tham vấn nên im lặng: • Cho học sinh thấy cán bộ tham vấn muốn giúp khi các em cần (thể hiện sự sẵn sàng giúp đỡ học sinh và tôn trọng sự im lặng của các em). Cán bộ tham vấn: Khi em đến đây là ít nhiều em đã có sự tin tưởng vào cô. Tuy nhiên
vào lúc này em lại giữa im lặng. Nhìn thấy em ôm sự im lặng trong lòng mà cô không
thể giả vờ như không cảm thấy có chuyện gì đó đang xảy ra với em. Cô hi vọng sớm có
được lòng tin để em có thể san xẻ nỗi lòng mình. Biết đâu khi em nói ra mình có thể tìm
được cách giải quyết cho vấn đề của em.Câu chuyện của em là bí mật của cô trò mình. • Nói về sự bảo mật của thông tin để các em yên tâm chia sẻ (Cán bộ tham vấn không
cần nói về ngoại lệ của giữ bí mật vì điều này đã được khẳng định khi bắt đầu cuộc
tham vấn cho học sinh). Tình huống 6. Cán bộ tham vấn nhận thấy học sinh nói ra sợ ảnh hưởng đến người khác: Lưu ý: Trong kỹ thuật sử lý im lặng Cán bộ tham vấn luôn xử dụng những từ:"im lặng",
"nói", “không nói”. Đây là những từ chốt cần nhấn để học sinh ý thức về trạng thái đang im
lặng không nói của mình. Cán bộ tham vấn: Thầy biết là không dễ dàng để có thể tâm sự những chuyện thầm
kín của mình với người ngoài, nhất là khi chuyện đó lại liên quan đến người thân của
mình. Tuy nhiên, nếu lúc nào em cảm thấy muốn trò chuyện cho khuây khoả, thầy luôn
sẵn sàng lắng nghe tâm sự của em, biết đâu khi nói ra em sẽ cảm thấy nhẹ nhõm trong
lòng hơn. Những điều em chia sẻ thầy không có quyền làm lộ bí mật. Dưới đây là một số tình huống học sinh im lặng được Cán bộ tham vấn “phá băng”. Trong
tham vấn học đường, các tình huống im lặng này rất điển hình đối với học sinh: Tình huống 7. Cán bộ tham vấn nhận thấy học sinh tự nguyện xin tham vấn, nhưng lúc
vào phòng tham vấn thì lại không nói gì, ngồi im lặng: Tình huống 1. Cán bộ tham vấn nhận thấy học sinh lúng túng không biết bắt đầu từ đâu
câu chuyện của mình. Cán bộ tham vấn: Cô hiểu khi em đến phòng này là em muốn trò chuyện với cô. Nhưng
nếu lúc này em cảm thấy chưa sẵn sàng nói về chuyện của em thì không nhất thiết phải
nói ngay bây giờ. Chúng ta có thể nói chuyện này vào khi nào em cảm thấy thật thoải
mái cũng được. Những chuyện em chia sẻ với cô sẽ là bí mật của cô trò mình. Cán bộ tham vấn: Đôi khi chúng ta cảm thấy lúng túng khi bắt đầu câu chuyện của
mình. Em có thể nói bất cứ điều gì đang chợt đến trong đầu mà không nhất thiết em
phải vào ngay vấn đề của mình. Em cứ từ từ, không cần vội vàng, mình nhớ đến đâu
nói đến đấy, sau đó chúng ta sẽ cùng sắp xếp lại. Những điều em chia sẻ là bí mật của
cô trò mình. Cán bộ tham vấn: Vậy em có dự định gì sau khi tốt nghiệp phổ thông? Đối đầu trong tham vấn là một kỹ năng của Cán bộ tham vấn nhằm giúp thân chủ cố gắng
vượt qua khó khăn tâm lí của mình. Kỹ năng đối đầu thúc đẩy thân chủ đối diện với những
mâu thuẫn của mình (sự không nhất quán giữa lời nói, cảm xúc, thái độ, hành vi) để nỗ lực
tìm ra các phương hướng giải quyết. Học sinh: Em thấy học đại học thì chưa chắc kiếm được việc theo ý mình, nhà em làm gì
có ai có thể giúp xin việc cho em được. Nghĩ đến chuyện học đại học cũng mệt mỏi... Em
sẽ đi công nhân thôi. Chỗ em có nhà máy Samsung họ đang tuyển người, xin vào đấy
họ cũng dạy nghề cho mình. Mình có nghề, như thế em thấy tốt hơn là đi học đại học.
Lương họ cũng trả cho 4 -5 triệu một tháng. Cán bộ tham vấn: Em có kết quả học rất tốt, em lại rất thích học, điều gì khiến em thay Trong tham vấn học đường, kỹ năng đối đầu, thách thức khuyến khích sự tự bộc lộ, khám
phá bản thân, giúp học sinh trở nên lớn mạnh và trưởng thành hơn. đổi quyết định đi làm nhanh như vậy? Học sinh: Vâng, em vẫn thích đi học, em biết có học thì vẫn tốt hơn không học, nhưng Có 4 loại mâu thuẫn, thể hiện sự không thống nhất trong chính thân chủ (Hackey và
Cormier,1996), đòi hỏi thân chủ phải đối đầu để vượt qua vấn đề của mình: học cao rồi để làm gì hả cô (òa khóc). • Mâu thuẫn giữa giá trị/niềm tin/nhận thức và hành vi của thân chủ • Mâu thuẫn giữa hành vi và cảm xúc của thân chủ • Mâu thuẫn giữa chính những lời nói của thân chủ • Mâu thuẫn giữa những cảm xúc có ý thức và những cảm xúc thực sự bị ẩn giấu. Để giúp học sinh có thể đối đầu với những khó khăn trong học đường, cán bộ tham vấn
cần chỉ ra cho học sinh thấy loại/những loại mẫu thuẫn mà các em đang có. Cán bộ tham vấn nhận ra có mâu thuẫn trong câu chuyện của học sinh: 1/ Mâu thuẫn
giữa niềm tin vào việc học hành (học vẫn hơn không học) và hành vi không đăng kí
vào đại học (ngừng học) của học sinh; 2/ Mâu thuẫn giữa lời và cảm xúc của học sinh
khi quyết định đi làm nhưng lại bật khóc; 3/ Mâu thuẫn giữa lời nói trước và lời nói sau
của thân chủ khi nói thích đi học, sau lại nói đi làm tốt hơn. Hoặc, em nói: học thì tốt
hơn không học, nhưng lại nói học để làm gì, và 4/ Mâu thuẫn giữa những cảm xúc có
ý thức (chấp nhận đi làm, đi làm là tốt) và những cảm xúc thực sự bị ẩn giấu (khóc khi
nói đi làm). • Cán bộ tham vấn chỉ ra sự không thống nhất ở học sinh bằng sự phản hồi đơn giản: "Một mặt em…, nhưng em (trong khi em)…’’ Tùy vào tình huống câu chuyện, cán bộ tham vấn có thể sử dụng kỹ năng đương đầu để
thchọc sinh thức học sinh về các biểu hiện không thống nhất (mâu thuẫn) khác nhau để
giúp học sinh đối đầu với chúng. Cán bộ tham vấn có thể chọn một trong các cách đối
đầu sau: 1. Cán bộ tham vấn phản hồi sự mâu thuẫn giữa chính những lời nói của thân chủ: Một mặt em nói em vẫn thích đi học, mặt khác (nhưng) em lại nói học để làm gì. • Cán bộ tham vấn yêu cầu học sinh giải thích sự không thống nhất của mình: "Hãy
giải thích cho thầy hiểu ý em là gì khi em nói… trong khi đó em lại….". (Đẩy cao sự
thách thức học sinh) • Cán bộ tham vấn tóm lược điều không thống nhất ở học sinh: “Em nói rằng … Tóm
lại có phải ý em là…". (Lôi lên bề mặt hàm ý của học sinh để các em rõ hơn về mình) • Cán bộ tham vấn thấu cảm sự mâu thuẫn bằng cách nhắc lại cảm xúc gắn với sự 2. Cán bộ tham vấn yêu cầu học sinh giải thích sự không thống nhất giữa thông tin
nghe thấy và thông tin nhìn thấy: Hãy giải thích cho cô hiểu ý em là gì khi em nói
em không muốn đi học đại học, em muốn đi công nhân nhưng cô lại thấy em khóc
một cách ấm ức. kiện và chỉ cho học sinh thấy những giá trị nằm dưới sự mâu thuẫn đó. • Cán bộ tham vấn sử dụng hài hước, châm biếm để nêu bật sự vô lý trong mâu thuẫn của học sinh. 3. Cán bộ tham vấn tóm lược làm rõ điều không thống nhất trong học sinh: Em nói
rằng em thấy đi làm tốt hơn là đi học, nhưng em vẫn thích học. Tuy nhiên em lại nói
học để làm gì, rồi lại khóc... Tóm lại có phải ý em là em muốn tiếp tục học lên nữa,
nhưng em lại sợ học xong nhỡ không xin được việc làm ổn định thì em sẽ làm tốn
tiền của cha mẹ. Tình huống 1. 4. Cán bộ tham vấn thấu cảm mâu thuẫn của học sinh: Là một học sinh chăm ngoan
nên em cảm thấy lúng túng trong việc lựa chọn giữa đi học hay đi làm. Em thích
được học lên cao nhưng em lại lo sợ tiêu tốn tiền của cha mẹ mà công việc sau này
lại chưa rõ ràng trong khi nếu lựa chọn đi làm, em biết công việc sẽ ổn định và đỡ
đần cho cha mẹ, nhưng thật sự em chưa sẵn sàng cho việc này. Chỉ có những học Học sinh: Bố bảo tùy em lựa chọn giữa đi học và đi làm. Đi học đại học như chị họ em,
tốt nghiệp rồi nhưng có kiếm được việc ổn định đâu, vẫn phải làm hợp đồng cho một
trường tư dạy trẻ khuyết tật. Bố nói đi học tốn kém mà cuối cùng vẫn không xin được
việc thì học làm gì. Đi làm có nghề chắc chắn cũng rất tốt, vì vậy em không đăng kí vào
đại học. sinh biết thương yêu cha em và có trách nhiệm với tương lai đời mình của mình mới
trăn trở và dằn vặt bản thân nhiều như thế. 5. Cán bộ tham vấn hài hước: Lúc này giá được biến thành con gì đó để không phải lo nghĩ, không phải đối đầu thì hay quá nhỉ. Tình huống 2 Học sinh: Cô ơi, em đã quyết tâm không chơi game trong giờ học, nhưng em không
khỏi dừng suy nghĩ đến game. Cán bộ tham vấn chỉ ra sự không thống nhất, mâu thuẫn
theo các cách khác nhau để học sinh phải đối đầu với chúng: 1. Cán bộ tham vấn phản hồi mâu thuẫn: Một mặt em nói rằng em quyết tâm không
chơi game trong giờ học, nhưng mặt khác, em vẫn luôn suy nghĩ đến game. 2. Cán bộ tham vấn yêu cầu học sinh giải thích sự không thống nhất trong lời nói
của học sinh: Hãy giải thích cho cô hiểu ý em là gì khi em nói rằng em quyết tâm không
chơi game trong giờ học nhưng em không thể dừng suy nghĩ đến game. 3. Cán bộ tham vấn tóm lược làm rõ điều không thống nhất: Em nói rằng em quyết
tâm không chơi game trong giờ học, nhưng em vẫn không thể dừng suy nghĩ đến game.
Phải chăng ý em là em không thể dừng việc chơi game được. 4. Cán bộ tham vấn thấu cảm mâu thuẫn: Em vốn thích chơi game nhưng em biết
rằng chơi game sẽ ảnh hưởng đến học tập và làm phiền lòng cha mẹ, vì vậy em muốn
dừng việc chơi game. Tuy nhiên, em không thể không suy nghĩ đến game. Một số học
sinh khi bắt đầu từ bỏ một thói quen xấu nào đó đôi khi cũng rơi vào tâm trạng như em. 5. Cán bộ tham vấn sử dụng hài hước, giễu cợt: 1/ Giá cả đời chỉ chơi game thôi,
không cần học mà vẫn trở thành người được mọi người ngưỡng mộ thì hay biết mấy,
hoăc: 2/ Giá nhà trường đưa trò chơi này thành môn game cho học sinh học thì hay biết
mấy, sẽ có một số bạn vừa học giỏi lại vừa chơi game hay! GỢI Ý GIỚI THIỆU VỀ CÔNG VIỆC CỦA CÁN BỘ THAM VẤN (Sau khi đã chào hỏi làm quen...) Quá trình hỗ trợ học sinh dù xảy ra nhiều buổi hoặc chỉ trong một buổi thì cán bộ tham
vấn vẫn cần thiết tôn trọng các bước/các giai đoạn của quy trình tham vấn và thời gian
cho mỗi giai đoạn là rất khác nhau, có thể là vài buổi hoặc vài chục phút. Các giai đoạn của
quá trình tham vấn đó là: 1/ Xây dựng quan hệ giữa cán bộ tham vấn và thân chủ; 2/ Thu
thập thông tin và xác định vấn đề; 3/ Lựa chọn giải pháp và xây dựng kế hoạch thực hiện;
4/ Thực hiện giải quyết vấn đề; 5/ Đánh giá kết thúc tham vấn và theo dõi sau khi kết thúc.
Trong công việc thực tế, tùy vào mục tiêu tham vấn của thân chủ mà cán bộ tham vấn sử
dụng các giai đoạn của quá trình tham vấn. 1. Xây dựng mối quan hệ tin tưởng giữa cán bộ tham vấn và học sinh • Chào hỏi, tạo thoải mái cho học sinh, hoan nghênh học sinh đến (có thể nói chuyện ngoài lề nhưng không được làm chệch mục tiêu tham vấn). Trước khi chúng ta bắt đầu vào câu chuyện của em, cô xin nói qua về cô và
công việc ở phòng tham vấn này. Cô tên là X, công việc của cô là giúp đõ các em
vượt qua những khó khăn trong học tập và cuộc sống. Cô chỉ có thể giúp được
em khi biết rõ về câu chuyện của em. Vì vậy em sẽ nói về vấn đề của mình và cô
là người lắng nghe. Trong khi em nói có chỗ nào chưa rõ cô sẽ hỏi lại, hoặc làm
rõ thông tin. Sau khi cô và em hiểu được vấn đề gì đang thực sự xảy ra với em,
chúng ta cùng nhau thảo luận phương án giải quyết. Cô sẽ giúp em làm sáng
tỏ vấn đề và chúng ta sẽ cùng cân nhắc các cách giải quyết sao cho có hiệu quả
nhất, còn em sẽ thực hiện chúng, nếu cần. Có những vấn đề phải mất vài buổi
trò chuyện, có những vấn đề chỉ cần một buổi. Kết quả tham vấn phụ thuộc rất
nhiều từ chính sự cố gắng của em. Cán bộ tham vấn: Chào em, mời em ngồi (chỉ một chỗ ngồi), hoặc chỉ các chỗ ngồi,
nói: Em có thể ngồi chỗ nào trong mấy chỗ này cũng được; Em có thể ngồi chỗ nào mà
em cảm thấy thoải mái). Đưa nước: Em uống nước đi; mời em uống nước... Trong quá trình làm việc, có thể cô cần thêm một số thông tin từ những người
khác để xem xét vấn đề của em tốt hơn. Nếu cần gặp ai, về vấn đề gì trong số
người thân của em cô sẽ nói để em biết. Cán bộ tham vấn: Cám ơn em đã đến đây nói chuyện với cô...Em vừa tan lớp à? (Hôm
nay học thế nào? Hôm qua có phim, bóng đá, thi hoa hậu em có xem?... bất kể hoạt
động nào, chương trình nào đang là mối quan tâm của giới trẻ). • Giới thiệu qua về bản thân, công việc của bản thân liên quan đến công việc giúp đỡ (nếu học sinh lần đầu tiên đến phòng tham vấn). Những thông tin em chia sẻ với cô chỉ có cô và em biết mà thôi, trừ khi vấn đề
của em liên quan đến vi phạm pháp luật hoặc vi phạm kỉ cương học đường, lúc
đó chúng ta khó có thể giữ được bí mật. Bây giờ em giới thiệu qua về bản thân sau đó nói về vấn đề của mình nhé. • Làm rõ cho học sinh hiểu tính chất của hoạt động trợ giúp tâm lý và nói về một số
nguyên tắc tham vấn (nguyên tắc giữ bí mật, nguyên tắc học sinh tự quyết định về
hành vi của mình). • Hỏi về lí do đến tham vấn để xác định rõ mục tiêu tham vấn của học sinh (Xem trong khung gợi ý). Trước khi hỏi về thông tin cá nhân, mục tiêu học sinh đến tham vấn, cán bộ tham vấn có
thể đưa ra các câu nói “mào đầu” tùy theo các tình huống như sau: 1/ Học sinh lần đầu tiên đến phòng tham vấn. Cán bộ tham vấn: Chào em, lần đầu tiên gặp cô, chắc em cũng ít nhiều bỡ ngỡ khi chia
sẻ những khó khăn của mình. Một số bạn khi lần đầu tiên đến gặp cán bộ tham vấn học
đường cũng thường cảm thấy bỡ ngỡ và e ngại. 2/ Học sinh đã vài lần gặp cán bộ tham vấn trong trạng thái miễn cưỡng. Cán bộ tham vấn: Chào em, có thể em đang cảm thấy ái ngại, sợ cô đánh giá vì em đã gặp cô vài lần và lần này lại gặp nữa. 3/ Học sinh đã gặp cán bộ tham vấn vài lần và vẫn muốn gặp • Cán bộ tham vấn cố gắng thu thập một cách khái quát những trải nghiệm cảm xúc,
niềm tin của học sinh về những điều xảy ra và về bản thân để xác định các hành vi
có vấn đề. Cán bộ tham vấn: Chào em, hẳn là những cuộc nói chuyện giữa cô trò mình cũng ít
nhiều đem lại cho em những thông tin bổ ích, vì vậy em lại muốn gặp cô. Cô rất vui vì
gặp lại em ở đây. • Cán bộ tham vấn thảo luận cùng học sinh những suy nghĩ, những lo lắng xung quanh vấn đề của học sinh. 2. Thu thập thông tin, xác định vấn đề của học sinh • Cung cấp cho học sinh những thông tin bổ xung, giải thích các vấn đề của học sinh Thu thập thông tin theo các cách nhìn khác nhau. Những thông tin học sinh liên quan đến nhu cầu giúp đỡ • Vấn đề hiện tại/ Tình trạng vấn đề • Giúp học sinh xác định rõ vấn đề của mình (đôi khi vấn đề các em nêu ra chỉ là triệu
chứng; cán bộ tham vấn phải lắng nghe và hỏi cụ thể, đôi khi tốn nhiều thời gian,
mới xác định được đúng vấn đề của các em). Tình trạng vấn đề là sự kiện xảy ra làm ảnh hưởng tới học sinh khiến học sinh xin
tham vấn. Sự kiện xảy ra là gì? Học sinh cảm thấy thế nào? Sự kiện ảnh hưởng đến
sinh viên như thế nào? Trong giai đoạn thu thập thông tin và xác định vấn đề, cán bộ tham vấn cần ghi lại một số
thông tin để xem xét: • Lịch sử vấn đề (1) Những thông tin từ quan sát trực tiếp (Ấn tượng chung về học sinh; những lưu ý liên
quan đến vấn đề của học sinh, những quan sát khi vãng gia (nếu có); (2) Các kết quả thăm khám y khoa (nếu có); Những thông tin về học sinh trong quá khứ, tiểu sử bản thân học sinh trong quá
trình phát triển, mối quan hệ của học sinh với gia đình, bạn bè, v.v... Tập trung vào
những thông tin liên quan đến vấn đề học sinh muốn giúp đỡ. (3) • Hoàn cảnh gia đình Các kết quả đánh giá tâm lí (nếu có), như kết quả của các chuẩn đoán ban đầu qua
trắc nghiệm hay phiếu đánh giá, v.v... 3. Lựa chọn giải pháp và xây dựng kế hoạch thực hiện Lựa chọn giải pháp Điều kiện kinh tế gia đình; những thông tin liên quan đến các thành viên trong gia
đình; xu hướng dạy dỗ con cái của cha mẹ; các sự kiện xảy ra trong gia đình có ảnh
hưởng tới học sinh và người thân... có liên quan đến vấn đề của học sinh. • Sức khỏe học sinh Cán bộ tham vấn hướng dẫn học sinh liệt kê những vấn đề/hành vi các em muốn thay đổi
(dựa vào xác định mục tiêu tham vấn). Tình trạng sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tâm lí hiện tại của học sinh. • Liệt kê vấn đề/ những vấn đề của học sinh • Điều kiện văn hóa xã hội cộng đồng Vấn đề 1 :……………………………………………………… Vấn đề 2 : ……………………………………………………… Tiểu môi trường văn hoá nơi học sinh sống; những nguồn hỗ trợ từ cộng đồng hay
chính sách xã hội mà học sinh có thể được hưởng...(nếu liên quan đến vấn đề cần
giúp đỡ). Cán bộ tham vấn hướng dẫn học sinh liệt kê các giải pháp cho từng vấn đề, thảo luận cùng
học sinh các giả pháp các em đưa ra về tính hiện thực của từng giải pháp. Xác định vấn đề • Liệt kê các giải pháp có thể thực hiện Vấn đề 1: • Cán bộ tham vấn hướng dẫn học sinh hoàn thành một bản liệt kê những sự kiện liên
quan và những lo lắng mà học sinh thấy cần được giúp đỡ trước khi đến gặp Cán bộ
tham vấn. Giải pháp a1 :……………………………………………… • Cán bộ tham vấn giúp học sinh sắp xếp những thông tin thu được vào một số nhóm Giải pháp b1 : ……………………………………………… - gọi là “nhóm có cùng chủ đề”. Vấn đề : • Cán bộ tham vấn hỏi đầy đủ, tỉ mỉ sự việc liên quan đến hành vi, suy nghĩ, niềm tin, Giải pháp a2 :…………………………………………….… cảm xúc, tâm trạng và tình trạng cơ thể của học sinh. Giải pháp b2: …………………………………………….… giải pháp/ mục tiêu đạt được, công việc, thời gian thực hiện và nguồn lực hỗ trợ. Hướng
dẫn lập bảng đánh giá tâm trạng khi thực hiện các hoạt động. Ví dụ về tình huống về xây
dựng kế hoạch thực hiện: Khi học sinh xác định một giải pháp nào đó, cán bộ tham vấn cùng học sinh phân tích thế
mạnh và mặt hạn chế của giải pháp. Cán bộ tham vấn tôn trọng giải pháp mà học sinh lựa
chọn. Việc giúp học sinh phân tích được những thuận lợi và khó khăn của mỗi giải pháp
học sinh lựa chọn mới là trách nhiệm quan trọng của cán bộ tham vấn. • Phân tích thuận lợi/bất lợi trong mỗi giải pháp 1/ Thuận lợi : Giải pháp a1 là…. , Giải pháp b1…. 2/ Bất lợi : Giải pháp a1 là…. , Giải pháp b1…. Học sinh nữ bị học lại lớp 12 và chuyển trường mới (do kết quả học bị đuối và em bị ốm nên
nghỉ nhiều). Khi vào trường mới, em chán nản lại nghỉ học, nhà trưởng nhắc nhở nếu không
đi học đều sẽ bị dừng học. Cán bộ tham vấn tháng trước đã có một buổi làm việc với học
sinh và người bố (em sống với bố) về trường hợp của em. Mục tiêu tham vấn lần 2: Giúp học
sinh lựa chọn giải pháp và xây dựng kế hoạch thực hiện giải pháp (trích đoạn): Cán bộ tham vấn không đưa ra các giải pháp cho học sinh. Trong trường hợp học sinh
không đủ khả năng đưa ra giải pháp thực hiện, cán bộ tham vấn gợi ý cho họ lựa chọn giải
pháp qua việc sử dụng kỹ năng cung cấp thông tin, giúp học sinh xác định các nguồn hỗ
trợ và những giới hạn để có được giải pháp phù hợp. Cán bộ tham vấn có thể gợi ý giải
pháp như sau: Cán bộ tham vấn: Chúng ta đã nói chuyện về việc tăng cường kiến thức và sự hòa
nhập của em vào môi trường mới. Bây giờ mình sẽ liệt kê các giải pháp cụ cho hai vấn
đề đó. Điều này sẽ giúp em hoạch định được một kế hoạch cụ thể, giúp em rõ mình
cần làm gì để thích nghi với lớp mới và nâng cao kết quả học tập. Lần trước cô có
hướng dẫn em về nhà lập một kế hoạch hành động Vậy em đã phác thảo thế nào về
các hoạt động này? Học sinh: Em và bố đã liệt kê một số đầu việc như cô dặn (học sinh đưa ra một bảng kế hoạch). Cán bộ tham vấn: Một số người trong hoàn cảnh của em họ đã sử dụng giải pháp A, B,
C.(hay, họ đã liên hệ với M, N để .....). Tuy nhiên đấy là giải pháp của họ. Là người trong
cuộc em biết rõ vấn đề của mình. Vì vậy chỉ có em mới biết giải pháp nào là phù hợp với
mình. Bây giờ chúng ta sẽ xem từng giải pháp của em. Cán bộ tham vấn: Bây giờ chúng ta cùng xem bảng các hoạt động hai bố con xây dựng nhé. Học sinh: Về vấn đề X..., em định... Còn vấn đề Y... em có nghĩ tới 2 giải pháp là... Kế hoạch thực hiện các hoạt động của học sinh Nguồn lực Mục tiêu Các hoạt động Thời gian, địa
điểm Cán bộ tham vấn: Cô sẽ cùng em phân tích những mặt mạnh, mặt yếu của từng giải
pháp em đưa ra, còn lựa chọn giải pháp nào và thực hiện nó như thế nào là quyết định
của em. Cô sẽ đồng hành cùng em trong suốt thời gian này để việc học tập của em được
thực hiện tốt nhất trong khả năng cho phép. Về vấn đề X giải pháp em định đưa ra là P,
Z... Chúng ta sẽ lần lượt xem xét những điểm lợi và bất bợi đối với 2 giải pháp nhé. Về giải
pháp Y..., theo em điểm lợi và bất lợi của nó là gì?... Tìm gia sư Bố và con Nâng cao kiến
thức Trong trường hợp học sinh không thể nghĩ ra giải pháp mà chờ đợi vào sự gợi ý, lời khuyên
bên ngoài, Cán bộ tham vấn có thể nói (vẫn trường hợp trên): Thi đỗ đại học Bố và bà nội cấp:
tiền học thêm, xe
máy, các phụ phí
khác Toán , Anh: Giáo viên dạy
thêm + Tự làm bài
Văn: Tự học theo sách
hướng dẫn Chiều thứ 2,
4, 6,
Các buổi còn
lại Tự thu xếp thời gian Cán bộ tham vấn: Cô hiểu, thật khó khăn để đưa ra được quyết định đúng đắn trong
hoàn cảnh có quá nhiều sự kiện như thế này. Tuy nhiên không ai có thể đưa ra quyết
định thay cho em được. Chỉ có em mới là người hiểu rõ mình thực sự mong muốn điều
gì. Cô tin tưởng vào khả năng quyết định. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét cụ thể từng khía
cạnh nhé... Thời gian còn
lại Hòa nhập bạn bè,
trường học Cùng lớp: Dự sinh nhật bạn,
vệ sinh môi trường, các HĐ
nhân đạo; văn nghệ trường yy Xây dựng kế hoạch thực hiện Sau khi phân tích thận lợi /bất lợi của từng giải pháp đối với từng vấn đề, học sinh cùng
cán bộ tham vấn lựa chọn giải pháp tối ưu cho việc thay đổi (cả về nhận thức, xúc cảm và
hành vi – tập trung chính vào thay đổi hành vi). Tập yoga Bà nội cấp tiền Thư giãn, tăng
cường sức khỏe Các tối thứ từ
6-7 h Sau khi đã cùng học sinh xem xét các giải pháp và lựa chọn được giải pháp tối ưu, cán bộ
tham vấn giúp học sinh xây dựng kế hoạch hành động để thực hiện giải pháp được lựa
chọn. Cán bộ tham vấn hướng dẫn học sinh lập một bảng các công việc cần làm cho mỗi học sinh có thể gọi điện khi cần hỗ trợ thêm (ví dụ, khi em có cảm xúc, tâm trạng không
tốt, khi em rơi vào tình huống chưa biết nên làm thế nào) và hẹn thời gian gặp buổi sau. Bảng đánh giá tâm trạng của học sinh Điểm 1: Rất tồi – điểm 5: Bình thường – điểm 9: Rất tốt Ngày Cán bộ tham vấn dựa theo “Kế hoạch thực hiện các hoạt động” của học sinh để thảo luận
về động cơ lựa chọn các hoạt động, tính khả thi của từng hoạt động, thời gian dành cho
các hoạt động, sự nỗ lực thực hiện, các chi phí tài chính, v.v... . Ví dụ trong bản kế hoạch
thực hiện các hoạt động, cán bộ tham vấn cần hỏi rõ “Thời gian còn lại” là như thế nào
khi học sinh ghi cho “Hoạt động hòa nhập bạn bè”. Hoặc, cũng với hoạt động này, ở mục
“Nguồn lực”, học sinh ghi là “Tự thu xếp thời gian” thì điều đó có nghĩa là gì? Trong khi trò
chuyện, cán bộ tham vấn luôn khích lệ sự cố gắng của học sinh và tin tưởng vào sự cố
gắng của học sinh. 2 3 4 5 6 7 Chủ
nhật Đánh
giá
tuần 4. Thực hiện giải quyết vấn đề Hoạt động Học tập ở lớp 4 4 5 5 5 7 Không Dưới BT Học tập ở nhà 5 5 5 5 6 6 6 BT Tham gia trong lớp 1 1 2 3 7 2 Không Tồi tệ 7 7 8 8 Tốt Tập yoga chưa chưa chưa BT BT BT Tốt Tồi Tồi Dưới
BT Đánh giá các HĐ
theo ngày Đây là giai đoạn học sinh phải hành động để thay đổi thực trạng bằng cách thực hiện kế
hoạch đặt ra. Cán bộ tham vấn kiểm tra tiến trình thực hiện nhiệm vụ của học sinh. Cán
bộ tham vấn quan tâm tới khía cạnh tâm lí trong việc thực hiện các hoạt động (học sinh
suy nghĩ thế nào khi thực hiện hoạt động đó, tâm trạng, cảm xúc khi thực hiện các hoạt
động). Cán bộ tham vấn trao đổi với học sinh về tầm quan trọng của việc thực hành tại
nhà, hướng dẫn em ghi chép việc thực hiện các hoạt động và đánh dấu vào bảng kiểm
soát tâm trạng hàng ngày thông qua các hoạt động theo mục tiêu tham vấn đề ra). Ở mỗi
buổi tham vấn, cán bộ tham vấn cùng học sinh rà soát kế hoạch thực hiện các bài tập về
nhà. Khen ngợi sự cố gắng của học sinh và yêu cầu học sinh cam kết thực hiện các hoạt
động mà học sinh đã đưa ra. Vẫn ví dụ về trường hợp trên (trích đoạn): 5. Lượng giá kết thúc tham vấn và theo dõi sau khi kết thúc Cán bộ tham vấn: Em đã vào học được hơn một tháng, nhưng em lại thấy chán nản
muốn nghỉ học nhưng bố không cho nghỉ, một số bạn khi phải thích nghi lại môi trường
học tập sau một thời gian dài nghỉ học cũng có tâm trạng giống em. Buổi trước chúng
ta đã bàn về kế hoạch thực hiện các hoạt động mà em và bố đưa ra và em cũng đã hứa
là sẽ về thực hiện các hoạt động và đánh dấu tâm trạng của mình tương ứng với cac
hoạt động. Cô muốn trao đổi với em về cái bảng đánh giá tâm trạng của em. Trước khi lượng giá kết thúc đợt tham vấn, cán bộ tham vấn khuyến khích học sinh phản
hồi những suy nghĩ, tâm trạng của mình trong quá trình làm việc với cán bộ tham vấn.
Sau đó, cán bộ tham vấn đánh giá những tiến bộ học sinh đã đạt được để củng cố và tăng
cường niềm tin nơi học sinh bằng cách chỉ ra các hoạt động học sinh đã đạt được. Những
nguồn lực nào giúp cho học sinh đạt được như vậy. Cán bộ tham vấn bày tỏ cảm giác tích
cực khi được làm việc với học sinh. Ví dụ, trong buổi lượng giá kết thúc, cán bộ tham vấn
sau khi chào hỏi, có thể mở đầu như sau: Học sinh: Tâm trạng em tệ lắm cô ạ. Thực sự là em quá nản khi quay lại học. Bây giờ em
chỉ thích ở nhà cắm hoa, nghe nhạc, nấu ăn và đợi bố đi làm về. Nhắc đến chuyện học
em lại như bị ốm. (Lấy trong cặp sách bảng đánh giá tâm trạng đưa cho Cán bộ tham
vấn xem). Cán bộ tham vấn: Cô trò mình đã có 5 buổi làm việc với nhau. Buổi đầu em đến cùng
với bố, sự chán nản lộ trên khuôn mặt và trong lời nói của em. Em cảm thấy đi học
là một sự thách thức khó vượt qua. Còn bây giờ em nói là “niềm vui đã quay trở lại”.
Cô vui khi nghe em nói như vậy. Hôm nay chúng ta sẽ tổng kết quá trình cô trò mình
làm việc cùng nhau, tập trung chính vào việc em cảm thấy thế nào về chuyện học tập
và thích ứng với môi trường học mới của em; xem xét những điều kiện chủ quan và
khách quan đã giúp em hòa nhập; cô trò mình cũng sẽ bàn về những cách thức mình
để duy trì tâm trạng tích cực đối với trường học và những nguy cơ có thể làm ảnh
hưởng tới kết quả học của em... Đầu tiên cô muốn hỏi em: Em cảm thấy thế nào về 5
buổi làm việc vừa qua? Để chắc chắn rằng vấn đề của học sinh đã ổn định, cán bộ tham vấn cần liên hệ lại với học
sinh để gặp trực tiếp, hoặc qua điện thoại, email, sau một tháng, 3 tháng, 6 tháng và việc
này cần được báo cho học sinh trước khi kết thúc tham vấn. Giai đoạn kiểm tra, giám sát việc học sinh thực hiện các giải pháp đòi hỏi Cán bộ tham vấn
thường xuyên sử dụng kỹ năng hỏi, kỹ năng thấu cảm, kỹ năng cung cấp thông tin và kỹ
năng đương đầu thách thức. Cán bộ tham vấn chú ý đến những kết quả khác biệt trong
các hoạt động của học sinh để hỏi về chúng. Ví dụ, trong “Bảng đánh giá tâm trạng” của
học sinh, cán bộ tham vấn nhận thấy học sinh cho 7 điểm vào hoạt động “tham gia trong
lớp” ngày thứ 6 và cho 7 điểm tâm trạng vào “học tập ở lớp”, hoặc các ngày học sinh tham
gia tập Yoga thì điểm tâm trạng của học sinh đều cao hơn khi không tập. Cán bộ tham vấn
cần đặt câu hỏi cho học sinh về những lý do khiến tâm trạng của em thay đổi theo hướng
tốt. Cán bộ tham vấn sử dụng kỹ năng thấu cảm để khen ngợi những nỗ lực của học sinh.
Kết thúc buổi, Cán bộ tham vấn tổng kết theo hướng khích lệ động viên học sinh, hướng
dẫn học sinh tiếp tục thực hiện các bài về nhà theo bảng kế hoạch hoạt động đã đề ra, dặn QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA HỌC SINH TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Luôn có những học sinh cố gắng để thay đổi hoàn cảnh/ vấn đề của mình,
nhưng cũng có những học sinh không làm gì cả. Các em muốn thay đổi nhưng
không hành động gì. Đó là quyết định của các em. Đạo đức nghề trợ giúp
không cho phép cán bộ tham vấn quyết định vấn để của học sinh, đặt biệt yêu
cầu học sinh làm điều các em không muốn. Cán bộ tham vấn có thể thuyết
phục học sinh, nhưng không thể làm thay các em. Nhiệm vụ của cán bộ tham
vấn là thảo luận cùng các em những điều có thể xảy ra và hỗ trợ, nâng đỡ để
các em thực hiện. Nếu học sinh từ chối thay đổi thì đó là việc của các em. Điều
này không có nghĩa là cán bộ tham vấn thất bại hay kém cỏi. Đây chính là bản
chất của mối quan hệ trợ giúp: Giúp học sinh tự giúp chính mình! • Khuyến khích bộc lộ tự do và phát triển mối quan hệ trong và ngoài nhóm • Giúp nhóm giải quyết mâu thuẫn; dấn thân vào hành động để thay đổi hành vi và đưa ra được các quyết định Nhóm là một tập hợp từ 2 người trở lên, họ tham gia trong nhóm một cách tự nguyện vì
có cùng mục đích, có chung một hay nhiều mối quan tâm hoặc lợi ích. • Hỗ trợ nhóm xây dựng chương trình hành động và điều phối các hoạt động của nhóm. Trách nhiệm của mỗi cá nhân • Các thành viên lắng nghe, đóng góp ý kiến và phản hồi Tham vấn nhóm là một hình thức tương tác trực tiếp, theo đó, các vấn đề của các cá nhân
sẽ được thể hiện trong phạm vi nhóm (nhóm lý tưởng thường có khoảng từ 6 đến 12
người). Nhóm tham vấn luôn có cùng vấn đề giống nhau, được cán bộ tham vấn chọn
trước, họ tập hợp nhau lại để nói về các vấn đề, xúc cảm, trải nghiệm với nhau rất riêng tư
và không ồn ào với sự giúp đỡ của cán bộ tham vấn. • Các thành viên có ý thức xây dựng nhóm làm việc hiệu quả Trách nhiệm của cả nhóm • Đối tượng tham vấn là ai? • Thống nhất các mục tiêu cần đạt, các nguyên tắc làm việc nhóm. • Nơi sinh hoạt, bối cảnh sinh hoạt? • Tạo không khí thân thiện, cởi mở và tin cậy lẫn nhau • Nhu cầu gì cần được đáp ứng? • Có phương pháp giải quyết sự không nhất trí đối với một vấn đề • Mục tiêu gì cần đạt được? • Không khí làm việc giữa các thành viên trong nhóm thân thiện, giúp đỡ, tôn trọng, • Thời gian kéo dài bao nhiêu buổi/thời gian? và khuyến khích các thành viên họat động. • Sinh hoạt nhóm dựa trên cách nhìn nhận, hay quan điểm gì? • Phương cách thực hành: cơ cấu, trách nhiệm, mối quan hệ bên trong và bên ngoài Ưu điểm của tham vấn nhóm nhóm, các hoạt động nào được sử dụng, cách thức tổ chức… ? • Kinh phí cho các buổi tham vấn nhóm? • Số lượng các thành viên trong tham vấn nhóm không thay đổi đã tạo ra nhiều cơ
hội để mỗi thành viên nhóm được tái hiện lại những vấn đề gây tranh cãi trong gia
đình, trong khi các thành viên nhóm lại ít bị phụ thuộc vào nhau như các thành viên
trong gia đình do họ bị ảnh hưởng đa dạng bởi các thành viên khác trong nhóm. Trách nhiệm của cán bộ tham vấn • Tạo môi trường để các thành viên nhóm tin tưởng nhau • Tìm hiểu cơ cấu chính thức và phi chính thức của nhóm, giúp cho hai cơ cấu này gần • Tạo điều kiện để các cá nhân có những tình cảm gắn bó, sự chấp nhận, có cơ hội
để hiểu người khác, để quan sát, bắt chước và được cổ vũ về mặt xã hội. Tham vấn
nhóm tạo cơ hội cho việc trải nghiệm những vấn đề chung của mọi người. nhau • Tác động vào mối tương tác giữa các thành viên trong nhóm, giúp các em có kỹ năng diễn đạt và phản hồi • Cho phép cá nhân diễn tả nhưng cảm giác tiêu cực và những cảm giác trong quá
khứ và bày tỏ được ý nghĩ và cảm giác mang tính cá nhân trong bối cảnh các thành
viên trong nhóm sống lại những quan hệ, những cảm xúc tiêu cực, nhận diện lại nó
và điều chỉnh bản thân. • Hiểu biết tâm lý cá nhân, chẩn đoán được diễn biến tâm lý trong nhóm và phát hiện
nhu cầu, khó khăn, thuận lợi của từng cá nhân để có hướng hỗ trợ và từng bước cải
thiện • Các thành viên có điều kiện phản hồi những ý kiến có liên quan tới sự phòng vệ và
sự chống đối cá nhân, giúp cá nhân cởi mở, sẵn sàng chia sẻ, và đón nhận sự phản
hồi, sự đối đầu, sự tán dương qua các thành viên nhóm. • Khuyến khích mọi người chia sẻ suy nghĩ, tâm trạng của mình • Dàn xếp khi nhóm có mâu thuẫn, bị rối loạn kỉ cương • Làm rõ các yêu cầu/đề nghị của các thành viên; duy trì thảo luận vào trọng tâm, • Có thể sinh hoạt một cách dân chủ và tự quyết, các thành viên được cung cấp quyền
lực nhiều hơn trong việc xem xét vấn đề và giúp họ học cách đương đầu với vấn đề
trong cuộc sống. nhấn mạnh những điểm quan trọng Hiểu biết về hành vi cá nhân trong nhóm • Thông qua những vấn đề tranh cãi giống nhau, cá nhân được trải nghiệm và hiểu rõ
được những tác nhân vô thức đang đè nén, cá nhân sẽ nhìn nhận vấn đề của mình
khách quan hơn, từ đó giúp cá nhân giảm bớt sự phòng vệ để học cách biết chấp
nhận bản thân. Hành vi hướng về cá nhân: Những hành vi gây bất ổn trong tham vấn nhóm • Các thành viên trong nhóm khi hiểu người khác và chấp nhận người khác sẽ giúp • Gây hấn • Gây cảm tình mình tự bồi dưỡng ý thức hợp tác trong tập thể. • Cạnh tranh • Nói về mình • Cản trở, gây gián đoạn • Nói đi, nói lại điều tâm đắc riêng Hành vi duy trì nhóm: Hành vi này tạo sự gắn bó và ngăn chặn sự rạn nứt của nhóm • Khuyến khích • Thừa nhận sai lầm • Tạo ra những thay đổi về nhận thức, cách cư xử và sự phát triển tính cách của mỗi
thành viên, tăng cường sự tự tin và tự chủ trước các tình huống, giúp các thành viên
tăng cường những kinh nghiệm xã hội. Mặt khác, các thành viên nhóm được hỗ trợ
trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề. Qua đó, giúp cá nhân trở nên thành
thực và hành động tích cực hơn và thay đổi thái độ trong nhóm. • Hoà giải • Đánh giá dựa vào các quy chuẩn • Giữ hoà khí • Đưa ra các quy chuẩn • Cán bộ tham vấn quan sát thái độ, quan điểm, hành vi của các thành viên khác
thông qua sự chống đối hay sự cổ vũ sẽ giúp cho cán bộ tham vấn nhận biết tốt hơn
với từng cá nhân. • Thoả hiệp • Tham vấn nhóm làm giảm thời gian và công việc cho cán bộ tham vấn. Hành vi hướng về công việc: Hành vi hỗ trợ nhóm phát triển. Người có hành vi này thường cố hoàn thành nhiệm vụ với các đặc trưng: Nhược điểm của tham vấn nhóm • Cho và nhận thông tin • Vấn đề riêng tư của mỗi thành viên có thể khó được duy trì trong nhóm • Làm sáng tỏ/triển khai công việc • Nhóm trong tổ chức thường phức tạp hơn, khó sinh hoạt • Phối hợp, phân tích, ứng dụng vào thực tiễn • Nhóm cần nhiều nguồn lực hỗ trợ, như: quỹ, trang bị, tiện nghi, di chuyển… Điều này gây cản trở cho hiệu quả hoạt động của nhóm • Thúc đẩy nhanh công việc • Cá nhân ít được quan tâm riêng biệt hơn trong nhóm • Kiểm tra sự thống nhất ý kiến • Cá nhân trong nhóm dễ bị “dán nhãn” hơn • Khởi xướng công việc và đúc kết, tóm lược ý • Ý kiến của nhóm có thể làm hỏng ý kiến của thiểu số Hiểu biết về vấn đề của nhóm • Vướng mắc trong truyền thông • Mâu thuẫn giữa các cá nhân trong nhóm • Tham vấn nhóm thích hợp cho những học sinh có vấn đề tâm lí do nghiện các chất
kích thích, do béo phì, những học sinh có khủng hoảng lứa tuổi và khủng hoảng
khác hoặc có stress và những chấn thương tâm thần. • Xu hướng thống trị của thiểu số trong nhóm • Tham vấn nhóm không thích hợp với một số người nhút nhát, tự ti, người không có
khả năng diễn đạt ngôn ngữ và người dễ sợ hãi khi giao tiếp với nhiều người. • Hiện tượng ngôi sao trong nhóm • Hiện tượng cá nhân bị bỏ rơi trong nhóm, cá nhân lệ thuộc vào nhóm • Cơ cấu phi chính thức lấn áp cơ cấu chính thức, v.v... • Một trong những yêu cầu cho sự thành công của tham vấn nhóm là cán bộ tham
vấn phải biết cách điều hành nhóm. Chỉ khi cán bộ tham vấn phải có trình độ cao
trong việc tổ chức hoạt động nhóm thì việc tham vấn mới có hiệu quả. • Các thành viên có cùng vấn đề • Số thành viên tham gia lí tưởng khoảng từ 6- 12 người • Hai cán bộ tham vấn, hoặc một cán bộ tham vấn và một người hỗ trợ • Thời gian trung bình khoảng 1.5 - 2 tuần một lần tham vấn • Cán bộ tham vấn yêu cầu nhóm ngồi quây lại vòng tròn để các cá nhân có cơ hội giao tiếp, mặt đối mặt và chịu trách nhiệm với nhau nhiều hơn. • Mỗi vẫn đề thường tham vấn khoảng từ 6 - 12 lần Sơ đồ vị trí các thành viên trong tham vấn nhóm • Có thể chia nhóm theo giới tính • Các thành viên tham gia theo khả năng • Yêu cầu từng người một nói. • Không nói chuyện riêng, không châm trọc, riễu cợt, đánh nhau • Các thành viên ngồi vòng tròn để dễ dàng chia sẻ • Phòng rộng yên tĩnh để dễ dàng cho hoạt động nhóm • Cam kết tham gia vào các lần gặp gỡ của nhóm và phải đúng giờ BẢN CAM KẾT CỦA HỌC SINH THAM GIA THAM VẤN NHÓM Tôi, ký tên dưới đây, đồng ý: 1. Tham gia các phiên tham vấn nhóm và báo trước một ngày
lý do mình vắng mặt. • Cán bộ tham vấn quan sát vị trí ngồi của mỗi thành viên trong nhóm, sự tương tác
giữa các cá nhân, cử chỉ phi ngôn ngữ, sự tích cực, tần suất tham gia thảo luận và
chia sẻ vấn đề ... Ví dụ, như trong sơ đồ, cán bộ tham vấn quan sát thấy học sinh số
01 và số 6 hầu như chưa phát biểu một lần nào, trong khi học sinh số 11 phát biểu
và tương tác với các bạn 5 lần. 2. Không nói bất cứ điều gì xảy ra trong nhóm với bất cứ ai
ngoài nhóm, trừ khi vấn đề đó gắn với bản thân tôi và không
liên quan đến các thành viên khác trong nhóm. • Cán bộ tham vấn (hoặc người hỗ trợ) mô hình hóa vị trí của các thành viên trong
nhóm, quan sát sự “tung hứng” hay phản bác các ý kiến giữa các thành viên trong
nhóm 3. Thực hiện tất cả những gì đã đồng ý với nhóm trong các
phiên tham vấn. • Cán bộ tham vấn chú ý tới tính năng động của nhóm (các mối quan hệ không chính thức giữa các thành viên trong nhóm). 4. Nói theo vòng để mọi người đều có cơ hội nói. • Trong quá quan sát nhóm, cán bộ tham vấn không bày tỏ thái độ, ý kiến cá nhân dù
học sinh đúng hay sai, không giải thích mà chỉ nói lại những điều khách quan. 5. Đưa ra thông báo 2 tuần trước khi muốn chấm dứt sự tham
gia của mình1. Là cách cán bộ tham vấn hỏi ý kiến của các thành viên xung quanh một vấn đề để làm rõ
quan điểm giống/ khác nhau của các thành viên trong nhóm. • Khi đặt câu hỏi xoay vòng cán bộ tham vấn cần giữ cho nhiều người cùng trả lời một Ngoài việc sử dụng các kỹ năng tham vấn cơ bản trong tham vấn cá nhân, Cán bộ tham
vấn sử dụng một số kỹ năng tham vấn nhóm sau: ý hỏi để duy trì vấn đề đang xem xét. 1. Nguồn: Charles J. Vander Kolk (1985), Introduction to Group Counseling and Psychotherapy,Charles E. Merrill Publishing • Sau khi đã có vài người cùng chia sẻ, cán bộ tham vấn có thể tóm lại các ý kiến, chọn ra 3 đến 4 nhóm ý kiến chung rồi thảo luận. Compan A Bell & Howell Company. • Khi nhóm thảo luận, cán bộ tham vấn lắng nghe tích cực • Nhắc lại ý kiến của các thành viên, không bày tỏ quan điểm cá nhân của Cán bộ tham vấn để duy trì tính xoay vòng của câu hỏi • Xác định rõ các nguyên tắc làm việc trong nhóm • Chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt trong ý kiến của các thành viên. • Phát hiện những người có hành vi bất ổn từ sớm (Những người im lặng, nói chuyện • Dẫn dắt thành viên thảo luận kết nối những ý kiến mà Cán bộ tham vấn cho là quan riêng; làm việc riêng; nói quá nhiều; thường có những cảm xúc mạnh). trọng. • Giảm bớt sự độc quyền nói của người nói nhiều (xử dụng sự nhắc lại thông tin sau • Sự kết nối ý tưởng cần duy trì liên tục giữa các thành viên . đó cán bộ tham vấn chuyển sang người khác). Lưu ý: • Khuyến khích những người không chịu nói ra ý nghĩ của mình (xử dụng kỹ năng đặt câu hỏi xoay vòng kết nối và có cảnh báo). • Khi muốn một người dừng lời nói lại (không kết nối) cán bộ tham vấn cần phản hồi ý của học sinh để học sinh cảm thấy là được cán bộ tham vấn lắng nghe tốt. • Trước khi muốn một người ít nói, nhút nhát đưa ra ý kiến của mình, cán bộ tham vấn • Thấu cảm với thành viên có cảm xúc tiêu cực: Gọi tên cảm xúc cá nhân đang trải
nghiệm liên quan đến hành vi bất ổn có nguyên nhân từ phía họ (đá bóng lại). Điều
này giúp cá nhân ý thức hơn về vấn đề của họ. phải chuẩn bị cho họ bằng Kỹ thuật cảnh báo. Ví dụ: • Cán bộ tham vấn ngăn cản sự bất ổn trong nhóm bằng cách lối kéo các thành viên
vào mục tiêu của buổi tham vấn. Ví dụ: Hôm nay mục tiêu làm việc của chúng ta là
… Do vậy việc này chúng ta tạm gác vào buổi tiếp theo, chúng ta có thời gian để nói
vào việc này. Cán bộ tham vấn: Sau khi chúng ta nghe bạn A nói xong, thì chúng ta sẽ nghe tiếp bạn
B, sau đó là bạn C sẽ nói. Bạn B và C chưa phát biểu nhưng các bạn cũng có những ý kiến
riêng của mình, chúng ta sẽ nghe bạn nói sau đó (trong trường hợp học sinh chưa sẵn
sàng nói cũng không sao). • Trò chuyện thêm với một số thành viên có bức xúc trong giờ giải lao (Tìm hiểu
nguyên nhân, bàn luận về những quan tâm của họ, nhấn mạnh những ưu điểm của
họ, bàn luận về tiến trình nhóm gắn với vai trò của họ...). Hành vi bất ổn là hành vi bất thường, không nằm trong quy tắc, chuẩn mực nhóm. Sự phát
triển của hành vi này gây ra những xáo trộn, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình thực hiện
mục tiêu nhóm. • Cán bộ tham vấn quan sát, để ý tới những thành viên ngại chia sẻ vấn đề của mình
(đây có thể là nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lý của họ) để cổ vũ, khuyến
khích họ tự tin hơn vào bản thân và nhóm để cùng nhau xem xét vấn đề của họ theo
chiều hướng tích cực. • Hành vi bất ổn có thể xảy ra ở những người quá tự tin, người nói rất nhiều, người
muốn tập trung vào bản thân, người gây sự chú ý. Tất cả điều này có thể làm ảnh
hưởng đến tiến trình nhóm. • Hành vi bất ổn còn thể hiện khi cá nhân công kích thành viên khác, phóng chiếu
lên các thành viên khác những sự không hài lòng của mình mà không do các thành
viên khác gây ra (cán bộ tham vấn tránh để hiện tượng “vật hy sinh”, “kẻ dơ đầu chịu
báng” xảy ra trong nhóm). • Hành vi bất ổn có thể là sự im lặng hầu như không nói, không có một biểu hiện
phản ứng hay đồng tình của một cá nhân nào đó. Sự im lặng này có thể làm ảnh
hưởng đến không khí chung của nhóm. • Thành lập nhóm: tiếp nhận các thành viên qua nguồn, như: Hỏi học sinh, giáo viên
giới thiệu, học sinh tự đăng lý. Dù hình thức nào thì cũng đi từ sự tự nguyện của học
sinh. • Hành vi bất ổn có thể là những biểu hiện lặp lại về giờ giấc không theo quy định, nói chuyện riêng, đùa cợt không phù hợp v.v… • Phỏng vấn học sinh: Những học sinh sẽ tham gia tham vấn nhóm có buổi trò chuyện
riêng với cán bộ tham vấn (và người hỗ trợ nhóm) để đánh giá vấn đề của học sinh. Nhiệm vụ của cán bộ tham vấn là hạn chế hoạt động của các thành viên này, giúp tất cả
mọi người hướng vào hướng vào chung của nhóm. • Phân tích các yếu tố: Nhóm hỗ trợ thảo luận và sắp xếp học sinh theo các nhóm
cùng vấn đề. Cân nhắc các yếu tố như: đặc điểm tính cách, tuổi, giới tính, văn hóa,
học vấn, tính chất nhóm. • Thông báo kế hoạch tham vấn nhóm cho các thành viên (danh sách thành viên tham gia, thời gian, địa điểm, vấn đề, yêu cầu, quy tắc...). Các buổi tham vấn sau (tham vấn ngắn chỉ cần 3 - 5 buổi), Cán bộ tham vấn thức hiện các
bước nhỏ (mang tính tương đối và không nhất thiết phải thực hiện tất cả các bước này. (1) Các thủ tục ban đầu (1) Cán bộ tham vấn nói lý do của sự gặp gỡ • Chào hỏi Cán bộ tham vấn chào hỏi chung mọi thành viên, hoan nghênh sự có mặt của họ. Cán bộ
tham vấn cần sử dụng lời thấu cảm về lý do có buổi tham vấn nhóm, ví dụ: • Hỏi về buổi trước tham vấn trước, hoặc công việc của các thành viên. (2) Xác định mục tiêu của buổi tham vấn • Nói rõ mục đích của buổi làm việc nhóm • Nhắc lại về nguyên tắc giữ bí mật, Cán bộ tham vấn: Trong cuộc sống nhiều khi chúng ta không biết làm gì trước tình
huống có vấn đề. Tuy nhiên, chúng ta là những con người có trách nhiệm với chính
bản thân mình và không cam chịu. Chính vì vậy, hôm nay chúng ta ngồi đây để lắng
nghe và chia sẻ những kinh nghiệm của chúng ta về.... Cán bộ tham vấn nói chậm,
nhìn mọi người. • Hỏi người tham gia về những mong muốn của họ (2) Nói về mục đích của tham vấn nhóm • Một cán bộ tham vấn khởi xướng vấn đề, một cán bộ tham vấn ghi chép Cán bộ tham vấn: “Mục đích chúng ta đến đây hôm nay là…” Sau đó hỏi các thành viên để xác định các nhu cầu của mọi người. Người hỗ trợ ghi bảng
các nhu cầu sau đó chốt lại các mục đích chung của cả nhóm. Sau khi thực hiện các thủ tục, từ đây cán bộ tham vấn vận dụng tất cả các kỹ năng để thực
hành tham vấn nhóm. Các kỹ năng được cán bộ tham vấn xử dụng không nhất thiết theo
trình tự trước sau như đưa ra dưới đây. (3) Thực hiện hoạt động làm quen Quan sát và mô tả nhóm Cán bộ tham vấn mời các thành viên giới thiệu về bản thân (có thể chia thành các nhóm
nhỏ, 3 người một nhóm, sau đó đại diện nhóm giới thiệu chung nhóm mình). (4) Thảo luận các nguyên tắc, quy định Cán bộ tham vấn mô hình hóa buổi tham vấn bằng cách nhìn xung quanh vị trí ngồi và
các mối liên hệ giữa các thành viên (xem ai tham gia và ai ngồi yên, sự quan tâm tới cuộc
thảo luận, số lần phát biểu, thái độ phát biểu, vai trong nhóm, bầu không khí nhóm) và
ghi lại bầu không khí tham vấn. Đưa ra câu hỏi/chia sẻ vấn đề chung nhất Cán bộ tham vấn đặt câu hỏi chung để mọi người chia sẻ. Ví dụ: Cán bộ tham vấn thảo luận về giờ giấc; nói về nguyên tắc bảo mật và các nguyên tắc khác;
nói về sự tham gia và lắng nghe của mọi người; về nơi để đồ dùng cá nhân theo quy định.
Tất cả các khía cạnh này đều trình bày ở dạng thảo luận chung (nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn)
và ghi tên giấy lớn khi chốt lại. (5) Cam kết tham gia Cán bộ tham vấn: Chúng ta cảm thấy thế nào về việc xả rác trong lớp? / nói xấu người
khác? / đánh nhau? / tung thông tin không chính xác lên mạng hay cách chúng ta duy
trì tình yêu tuổi học trò?... Cán bộ tham vấn đề nghị các thành viên trong nhóm ký sổ, ghi địa chỉ, có thể thực hiện
các nghi lễ về sự cam kết (truyền ngọn nến sau khi nói điều ước cho cá nhân và nhóm)... (6) Xác định một số kí hiệu của nhóm Cán bộ tham vấn sử dụng kỹ năng đặt câu hỏi xoay vòng, Ví dụ: Ý kiến của em thế nào về
vấn đề này? Còn em? Em nữa, ý em là gì? các bạn đã có ý kiến của mình, còn em?... Chờ đợi/lắng nghe sự chia sẻ và Khuyến khích mọi người cùng tham gia Giao tiếp bằng mắt, sử dụng tay, tiến tới gần tạo sự gần gũi với những người hay e ngại
và gọi tên họ. Đưa ra các trò chơi trước, giữa và sau buổi tham vấn nhóm. Thảo luận về những kí hiệu
như tiếng vỗ tay, gõ bàn, hay một tiếng động nào đó để khởi động, kết thúc để các thành
viên trong nhóm ngầm hiểu là buổi tham vấn bắt đầu/ kết thúc; có thể trao quà hoặc ký
tên vào biểu tượng chung của nhóm. Cổ vũ/động viên tối thiểu (7) Đặt tên nhóm Vâng…? thế … rồi sao nữa?... hãy nói thêm một chút… Các thành viên đặt tên cho nhóm mình nếu nhóm duy trì từ trên 5 phiên tham vấn trở lên. Cách này sẽ giữ cho người nói tiếp tục ý kiến của mình. Lắng nghe tích cực đều chờ đợi thảo luận về điều này, chúng tôi nghĩ sẽ là một ý hay khi
chúng ta ngồi lại với nhau và cùng nói về nó. Sử dụng giao tiếp bằng mắt và ngôn ngữ có thể. Khen ngợi và khuyến khích –
nhưng không nên khen quá đà. Người trợ giúp B: Phản hồi Tôi chỉ muốn nói là tôi rất vui được gặp gỡ từng người trong số các
em, và tôi hi vọng các em sẽ có thể chia sẻ những cảm xúc của mình
về đại học. Người trợ giúp A: Cán bộ tham vấn bằng ngôn ngữ của mình nhắc lại một cách ngắn gọn điều mọi
người nói để chắc chắn cán bộ tham vấn đã nghe và hiểu đúng ý học sinh (và
ngược lại). Sao chúng ta không bắt đầu bằng việc mỗi em hãy nói các em sẽ học
trường nào và các em muốn học chuyên ngành gì, nếu như các em
đã quyết định rồi. Người trợ giúp B: Sử dụng kỹ thuật phản hồi để dừng kết nối và kỹ thuật cảnh báo khi cán bộ tham
vấn muốn chuyển vấn đề hoặc muốn kêu gọi sự tham gia của các thành viên khác. Bây giờ chúng ta đã biết mình muốn hướng tới đâu (đại học). Tôi
muốn được nghe xem các em cảm thấy như thế nào về điều mà các
em đang phấn đấu thực hiện. Làm rõ vấn đề Học sinh 1: Em chưa suy nghĩ gì về vấn đề này. Em đã bận chuyện học hành đến
nỗi em không nghĩ về nó nhiều. Hỏi để làm sâu hơn vấn đề và làm cho vấn đề rõ ràng hơn. Ví dụ: Em nghĩ gì / Em thấy thế
nào về điều này? Hãy kể thêm một chút? Ý em là gì khi em nói là....? Người trợ giúp A: Nhưng đó là điều khá quan trọng để suy nghĩ, em không thấy vậy ư? Định hướng lại Học sinh 2: Lôi kéo người khác tham gia thảo luận. Ví dụ: Bạn A nói là… em có đồng ý với ý kiến này?
Những người khác thì thế nào?...” Chà, điều đó đúng là quan trọng, không còn nghi ngờ gì nữa. Em chỉ
mới nghĩ về những khó khăn đối với những người mới mà em sẽ phải
gặp ở đại học. Tổng kết, kết thúc Học sinh 3: Em nghĩ sẽ là một ngôi trường mới và những người lạ. Người trợ giúp B: Tóm lược lại tiến trình làm việc nhóm, bầu không khí tâm lí trong nhóm và sự thay đổi cảm
xúc, thái độ và hành vi của một số người (nếu có). Em cảm thấy đôi chút sợ hãi là điều tự nhiên, khi phải tới một địa
điểm mới, nơi mà em sẽ phải thiết lập những tình bạn mới. Học sinh 4: Vâng, mà cũng còn sự thật là phải rời xa một số người mà mình quan
tâm tới nữa. Em chưa từng bị tách khỏi gia đình mình. Người trợ giúp A: Bối cảnh: Một nhóm học sinh lớp 12 được hướng dẫn bởi một Cán bộ tham vấn học đường và
một người hỗ trợ (gọi chung là người trợ giúp A và B). Họ gặp học sinh mỗi tuần một lần trong
một tiếng rưỡi. Đương nhiên nó có thể là khó khăn. Tuy vậy nó dường như là cần
thiết, và em có thể giải quyết được nó nếu như em tự chuẩn bị cho
bản thân mình tốt. Học sinh 5: Mục tiêu tham vấn của nhóm: Thảo luận về thái độ của học sinh đối với môi trường đại
học và học sinh cảm thấy như thế nào khi đi học xa nhà. Em không hẳn là đau khổ về việc rời xa mọi người. Đây có thể gần
như trở thành một cuộc hành trình, thậm chí sẽ là một thuận lợi khi
ra khỏi nơi đây để học hỏi nhiều hơn. Dưới đây là 2 buổi tham vấn trong số 6 buổi cán bộ tham vấn học đường làm việc với học sinh1.
Cán bộ tham vấn sau khi tham khảo ca sẽ thử trả lời theo các hỏi ghi ở buổi đầu tiên. Học sinh 6: Buổi thứ 1 1. Charles J. Vander Kolk (1985), Introduction to Group Counseling and Psychotherapy Charles E. Merrill Publishing Company, A
Bell & Howell Company (Ghi chú: Hai ca tham vấn và câu hỏi thảo luận đã có chỉnh sửa cho phù hợp với bối cảnh tham vấn
học đường ở Việt Nam). Người trợ giúp A: Đúng thế, một vài người trong số chúng ta có thể thích có một khởi
đầu hoàn toàn mới. Em không thể làm được nhiều thứ ở đây mà
không bị ai đó mắng mỏ. Em bị trách mắng vì tất cả mọi thứ. Còn ở
đại học, ít nhất là em sẽ không phải bị mắng mỏ như ở đây. Thật là tốt khi các em đều có mặt ở đây hôm nay. Mục đích của chúng
ta là thảo luận về sự chuẩn bị của các em cho việc đi học đại học. Việc
học xa nhà có thể là một trải nghiệm rất khó khăn. Vì tất cả các em Người trợ giúp B: Đại học có thể là một khởi đầu mới, một cơ hội để làm điều gì đó mới
mẻ với cuộc đời của em. Có ai khác cũng cảm thấy như vậy? Người trợ giúp A: Đương nhiên chỉ tới một ngôi trường mới thì không thể thay đổi
được mọi thứ. Em cũng sẽ phải xem xét xem mình sẽ khác như thế
nào nữa. lại với em cũng giống như những người ở đây đối với em, nếu em
vẫn hành xử như cũ. Tôi lo là đại học có thể sẽ là một trải nghiệm
tồi tệ với em nếu em không cố gắng làm cho nó trở thành một trải
nghiệm tốt. Học sinh 7: Học sinh 1: Em không biết liệu có thể sẽ có được một khởi đầu mới nào cho mình
không? Em không bận tâm việc rời khỏi đây, nhưng đồng thời em
cũng không hào hứng với nơi mình sẽ tới. Em không biết nghĩ gì về
nó nữa. Điều này nghe có phần giống với những gì bạn số 7 đã nói về việc
em mong muốn mọi người sẽ khác đi trong khi em vẫn như cũ. Em
không biết, điều này không hoàn toàn thích hợp với cách suy nghĩ
của em. Học sinh 8: Người trợ giúp B: Em có thể cân nhắc về nó. Hầu hết mọi người đều gặp rắc rối khi
chấp nhận sự thay đổi. Muốn làm gì là tùy ở em. Em mong chờ điều đó bởi em sẽ có nhiều tự do hơn. Sẽ không ai bảo
em phải đi lúc nào và phải làm cái gì. Em sẽ rất vui được tự mình độc
lập. Học sinh 2: Học sinh 9: Việc thay đổi có thực sự do bạn số 1 quyết định hay không, nếu
không ai chịu tha cho bạn ấy? Ý em là, tại sao bạn ấy phải cố húc
đầu vào tường làm gì? Em thích có những người biết trông chừng em. Em muốn quyết định
các việc, nhưng em cũng muốn được giúp đỡ khi đưa ra các quyết
định. Người trợ giúp B: Người trợ giúp B: Em số 2, em có vẻ cũng đang đấu tranh với những cảm xúc giống
như của bạn số 1. Em chắc phải có một số cảm xúc liên quan tới sự
sẵn sàng thay đổi của em. Tôi cảm thấy một số trong các em chưa sẵn sàng rời xa những người
mà các em biết là luôn hỗ trợ mình và các em khác của nhóm thì chờ
để được đi xa, được độc lập? Học sinh 2: Người trợ giúp A: Chúng ta thảo luận về sự độc lập và tính trách nhiệm thì sao nhỉ?
Chúng có vẻ là những chủ đề hay mà các em đã nói đến cho tới lúc
này. Thảo luận dành cho cán bộ tham vấn học đường Em đã luôn nghĩ, vì sao em phải thay đổi nếu như chẳng ai đối xử
với em khác đi cả? Không phải nên là từ cả hai phía sao? Bây giờ, khi
em nghĩ tới trường đại học, em tự hỏi liệu có thể có khác biệt ở đó
không? Ý em là, chưa có ai ở đó xử tệ với em - chưa từng, dù sao đi
nữa. 1. Hãy mô tả phong cách làm việc của 2 người trợ giúp? Người trợ giúp A: 2. Mỗi người giúp đỡ có thể làm tốt hơn hoặc làm xấu đi tình trạng của nhóm như thế nào? Em đang để ngỏ cửa, chờ đợi khả năng sẽ có một chút khác biệt.
Em vẫn chưa chắc chắn. Một chút giống như là bạn số 1. Mọi người
sẽ làm thế nào với bạn số 1 và số 2 đây? Người trợ giúp B: 3. Theo anh / chị, trong 2 người trợ giúp trên, người trợ giúp nào có phong cách làm việc
thực thụ của một Cán bộ tham vấn nhóm theo quan điểm tập trung vào thân chủ? Nếu mỗi người trong các em được thay đổi một điều gì đó về bản
thân mình và các em có thể thử nghiệm ở một địa điểm mới, nơi
được gọi là đại học, các em sẽ có thể thay đổi điều gì? ...................... Học sinh 3: Buổi thứ 6 Người trợ giúp B: Em muốn có thể làm quen với các bạn mới mà không bị quá căng
thẳng vì việc này. Em căng thẳng tới mức thậm chí chưa bao giờ
dám thử. Người trợ giúp B: Có ai có thể giúp bạn số 3 việc này? Tôi nghĩ là chúng ta đang có một sự thảo luận tốt về thái độ của các
em đối với đại học và khi chúng ta tiếp tục vấn đề này, tôi nghĩ các
em sẽ được chuẩn bị tốt hơn cho đại học. Ai có thể giúp nhóm bắt
đầu buổi thảo luận ngày hôm nay? Học sinh 4: Học sinh 1: Em không chắc về điều mà mọi người nói tuần trước, rằng đại học
không cần thiết phải là một trải nghiệm khác biệt. Em không gặp bất kì rắc rối gì khi kết bạn. Em nghĩ cũng sẽ có rắc
rối khi tạo ra kẻ thù. Tất cả mọi người đều là kiểu này hoặc kiểu kia
thôi. Dù sao đi nữa, em cũng có thể giúp được, chỉ không chắc là
giúp như thế nào thôi. Người trợ giúp A: Người trợ giúp A: Em đã nói một lần về việc em muốn tới nơi mà mọi người không
biết đến em như thế nào. Có thể là mọi người ở đó sẽ phản ứng Điều đó thật tuyệt, em số 4, khi em có thể sử dụng năng lực của em
để giúp bạn số 3. Các em thích cùng xử lí việc đó như thế nào? Học sinh 3: Tôi muốn một vài ý tưởng của bạn số 4. Học sinh 4: Hãy nói chuyện sau khi họp nhóm xong và chúng ta sẽ tìm ra vấn
đề nhé. Người trợ giúp B: Em số 3, hãy nói một chút về các tình huống khiến cho em thấy
căng thẳng, sau đó bạn số 4 và những người còn lại trong chúng ta
có thể sẽ đưa ra được một vài ý tưởng đặc biệt nhé. Bình luận: Trong phiên thứ 6, người trợ giúp B vẫn giữ nguyên cách tiếp cận của một Cán
bộ tham vấn học đường chuyên nghiệp với phong cách làm việc tập trung vào thân chủ,
còn người trợ giúp A (người hỗ trợ) đã thay đổi phong cách làm việc qua sự liên hệ với
nhóm tốt hơn và tập trung vào học sinh hơn là vào ý kiến chủ quan của mình. Nhóm học
sinh đã trở nên cố kết hơn, cởi mở hơn về các cảm xúc, và sẵn sàng xem xét xem họ sẽ
đương đầu với đại học như thế nào. GHI NHỚ! Kỹ năng của người trợ giúp là một trong những yếu tố chủ
chốt trong tham vấn nhóm hiệu quả. Tham vấn nhóm đòi
hỏi phải thích ứng từ các kỹ năng của tham vấn cá nhân,
cũng như những kỹ năng khác. Cho tới nay, việc huấn luyện
những người trợ giúp nhóm đã thay đổi, các Cán bộ tham
vấn được đào tạo qui chuẩn từ phong cách đến kỹ năng làm
việc nhóm, cùng với kinh nghiệm giám sát của người giám
sát nhóm (Charles J. Vander Kolk, 1985). thêm hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của mình; 3/ Giúp học sinh đưa ra các quyết định
lành mạnh, hữu ích; 4/ Tập trung vào giải pháp nhằm thay đổi hành vi. Ở một số ca đòi
hỏi nhiều hơn một mục tiêu tham vấn thì chúng tôi có ghi rõ ở ca đó. Ở một số ca khác,
nếu nhận thấy cần tiếp tục tham vấn, chúng tôi có gợi ý ở cuối ca để cán bộ tham vấn các
trường có thể tiếp tục làm việc với các em. Các ca tham vấn dưới đây được chúng tôi thực hiện trực tiếp ở các trường thuộc dự án của
tổ chức Plan. Để giúp cán bộ tham vấn không chuyên (và có thể cho cả giáo viên tham vấn
học đường chuyên nghiệp) có cách nhìn cụ thể hơn khi thực hiên một ca tham vấn học
đường, chúng tôi cô gắng khái quát, cắt gọt và lựa chọn các ca có nội dung thường được
học sinh các trường đề cập đến. Các ca lựa chọn được trình bày theo các mức độ “nặng
– nhẹ” khác nhau của vấn đề (đi từ mục tiêu giải tỏa cảm xúc đến thay đổi nhận thức và
hành vi), do đó sự tiếp cận tham vấn cũng khác nhau về thời gian hỗ trợ và về cách thức
tiếp cận vấn đề. Trong số 23 ca tham vấn đã được thực hiện, có nhiều ca cán bộ tham vấn không tiếp cận
theo một quan điểm tham vấn / trị liệu nào cụ thể. Ví dụ, những ca tập trung giải tỏa cảm
xúc hay nâng cao hiểu biết về bản thân cho học sinh thì việc cán bộ tham vấn sử dụng các
kỹ năng tham vấn cơ bản một cách thành thục là quan trọng và những ca này chủ yếu đi
theo một quy trình tham vấn chung). Cũng có vài ca, vấn đề của các em phức tạp hơn nên
cán bộ tham vấn kết hợp một/hoặc vài quan điểm tiếp cận và dựa vào quy trình tham vấn
của quan điểm đó. Vì vậy ở các ca đó có ghi cụ thể về quy trình tham vấn và yêu cầu về thời
gian tương ứng với các vấn đề cần làm sáng tỏ. Dưới đây là 9 ca cá nhân được sắp xếp một cách tương đối theo mục tiêu tham vấn mà các
em học sinh đưa ra. Khi thực hiện ca tham vấn ở trường học, các cán bộ tham vấn cố gắng xác định vấn đề
thực sự của các em. Có một số ca, học sinh nhìn vấn đề của mình có thể khác với cán bộ
tham vấn nhìn vấn đề của các em, do đôi khi các em đánh giá vấn đề của mình là A, B,
nhưng thực ra chúng chỉ là các triệu chứng của một/vài khía cạnh vấn đề đang nằm ở tầng
ý thức trong khi vấn đề thực của các em có thể còn nằm trong vùng vô thức, chúng cần
được cán bộ tham vấn giúp các em nhận ra. Chỉ khi xác định được đúng vấn đề của các
em, cán bộ tham vấn mới cùng các em đưa ra cách hỗ trợ phù hợp và theo đó, số lần tham
vấn cho các em là khác nhau. Vì thế, có ca vấn đề của các em “nặng hơn” thời gian tham
vấn cho phép nên cán bộ tham vấn chỉ mới gợi câu chuyện bên ngoài, để các em tự do
trò chuyện mà có thể không “động chạm” vào bất cứ một vấn đề/khía cạnh nào trong câu
chuyện của các em. Những ca như vậy cần có nhiều thời gian và liên tục gặp gỡ các em thì
mới có thể giúp các em được. Với mục tiêu tập trung giải tỏa cảm xúc, cán bộ tham vấn hầu như chỉ xử dụng một số kỹ
năng cơ bản trong đó tập trung vào: kỹ năng lắng nghe tích cực (thể hiện sự ủng hộ và
chấp nhận thái độ của học sinh), kỹ năng thấu cảm (nâng đỡ tinh thần, giảm cảm xúc tiêu
cực), kỹ năng phản hồi (giúp khẳng định thông tin nhấn mạnh và duy trì thông tin) và đặt
câu hỏi (giúp mở rộng thông tin). Trong bối cảnh thiếu cán bộ tham vấn học đường, các ca giải tỏa cảm xúc cho học sinh có
thể thực hiện trong một, hai buổi. Xét từ góc độ đạo đức nghề nghiệp, chúng tôi - những chuyên gia tham vấn từ bên ngoài
“đến và đi”, vì vậy không cho phép mình "xới tung" câu chuyện của các em, sau đó có thể
“bỏ rơi” các em trong mớ hỗn độn của các sự kiện đó. Vì vậy, giải pháp an toàn của chúng
tôi cho các em là trò chuyện nâng đỡ tinh thần các em, giúp các em cảm thấy có người đã
lắng nghe, đã thấu cảm và tạo môi trường tham vấn an toàn để các em được nói bất kể
vấn đề gì các em muốn nói. CA SỐ 1 NỖI ĐAU BUỒN SAU KHI CHIA TAY NGƯỜI YÊU Mục tiêu tham vấn: Giúp học sinh giải tỏa cảm xúc đau khổ sau khi chia tay người
yêu và lên kế hoạch thay đổi thực trạng. Trong tối thiểu 23 ca chúng tôi đã thực hiện ở các trường (mỗi trường chỉ thực hiện trung
bình một phiên với thời gian từ 45 phút đến 100 phút). Trong tài liệu này chúng tôi giới
thiệu 11 ca tham vấn (2 ca tham vấn nhóm và 9 ca tham vấn cá nhân)1. Các ca còn lại được
chúng tôi trích dẫn theo đoạn để đưa vào các chương làm ví dụ minh họa. Có một số ca
không được trình bày trong tài liệu này do việc phúc trình ca bị cắt tỉa quá ngắn gọn gây
khó hiểu, hoặc bị ngắt bỏ do các em nói nhỏ nên cán bộ tham vấn không ghi chép được.
Tất cả tên thật của các em trong các ca đã được thay đổi, các ca đều mang tính khuyết
danh. 1. Chào hỏi,
làm quen, xây
dựng mối quan
hệ thân thiện Dựa vào các nhu cầu và mục tiêu tham vấn mà các em đưa ra, chúng tôi sắp xếp các ca
theo mức độ hỗ trợ sau: 1/ Giúp học sinh giải tỏa cảm xúc tiêu cực; 2/ Giúp học sinh tăng 1. Trong đó có 6 ca (ca 1,2,4,5,7 và 11) được thực hiện bởi PGS. TS. Bùi Thị Hồng Thái - Cán bộ tham vấn: Chào em, cô là cán bộ tham vấn tâm lí. Hôm nay
cô rất vui vì được gặp và trò chuyện với em. Trước tiên, cô cảm ơn em
đã tin tưởng và đến gặp cô.
- Học sinh: Em chào cô, em tên là Minh, học sinh lớp 11. Em có
chuyện muốn hỏi cô.
- Cán bộ tham vấn: Cô đang nghe em nói. Những gì em chia sẻ sẽ là
bí mật của chúng ta. - Cán bộ tham vấn: Ừ. Khi yêu nhau, bạn trai thường đối xử với em
như thế nào? thác
2. Khai
thông tin, xác
định vấn đề của
học sinh - Học sinh: Em yêu một bạn học cùng lớp. Chúng em yêu nhau khá
lâu rồi, từ khi mới vào lớp 10. Sau đó, vì tính em hay nghĩ linh tinh
nên em hay ghen tuông dẫn tới việc chúng em chia tay. Chia tay
một tháng rồi em vẫn còn tình cảm với bạn, vẫn còn cảm giác nhớ
nhung, đôi khi em hay nghĩ quẩn hoặc thấy bạn quan tâm đến ai
khác em buồn, em cảm thấy vẫn còn nặng lòng với bạn. Rồi có lúc
em nhớ về những kỉ niệm đã có với bạn, em hay khóc. Giờ em không
muốn yêu ai nữa. - Học sinh: Thực ra bạn rất tốt với em. Bạn ấy giúp em nhiều việc
rồi hay chịu đựng em và quan tâm đến em lắm. Có khi em quát bạn
trước mặt các bạn khác, bạn cũng chỉ im lặng mà không trách mắng
gì em. Rồi khi em đòi chia tay nhưng sau đó bạn có giải thích việc
với bạn gái kia là hiểu lầm nên chúng em quay lại với nhau. Là em
đề nghị quay lại. Bạn cũng nói là không thích em cứ hay bắt nạt bạn
trước mặt người khác như thế. - Cán bộ tham vấn: Hẳn là em đã dành tình cảm chân thành cho
bạn ấy nên việc chia tay mới khiến em đau lòng như vậy. Bây giờ em
muốn cô giúp em điều gì? - Cán bộ tham vấn: Có vẻ như em cho rằng mình mới là người quyết
định tình yêu này. Trong khi bạn em cũng có tiếng nói quan trọng
trong việc duy trì hay cắt đứt mối quan hệ của các em. Vậy khi quay
lại, em có thay đổi việc hay quát bạn? - Học sinh: Em chỉ muốn chia sẻ cảm xúc đau buồn sau khi chia tay
và em muốn cô nói cho em biết làm thế nào để em mạnh mẽ hơn,
em không còn khóc mỗi khi nghĩ về bạn ấy hay những kỉ niệm đã qua
nữa và làm thế nào để em để có thể nói chuyện với bạn ấy một cách
bình thường. Bạn ấy cũng đã khuyên nhủ em nên cố gắng để tâm
vào chuyện học hành. Lúc mới chia tay bạn ấy, em chẳng làm được gì,
nhưng nghe theo bạn em cũng cố gắng học và cũng đạt được điểm
tốt, có khi em còn giúp được bạn làm bài tập nên em cũng thấy vui.
Nhưng nhìn chung, bạn hay lảng tránh em nên em buồn. Giờ em đã
chăm chỉ học hơn rồi, em chỉ muốn bạn ấy có thể nói chuyện với em
như hai người bạn bình thường, em phải làm sao ạ? - Cán bộ tham vấn: Đầu tiên cô muốn được nghe em nói về tình cảm
giữa em và bạn, sau đó, chúng ta sẽ xem làm thế nào để em mạnh
mẽ hơn sau chia tay nhé. - Học sinh: Dạ có. Vì em nghĩ là bạn đã phải chịu đựng em nhiều
rồi nên khi quay lại, bạn nói gì em cũng nghe. Em luôn kìm nén bản
thân để không cư xử với bạn như lúc trước nữa. Lúc này em mới hiểu
bạn đã phải chịu đựng em như thế nào. Xong vì em nhún nhường
quá nên bạn đã cư xử với em như lúc trước em cư xử với bạn. Bạn hay
quát em, yêu cầu em phải thế này thế kia. Lúc đầu việc gì em cũng
chấp nhận hết, nín nhịn cho qua. Rồi về sau chính em không chịu nổi
nên em lại đòi chia tay. Cứ thế rồi lại quay lại và chia tay, rồi lại quay
lại. Mỗi lần quay lại đều là em chủ động đề nghị. Đến giờ chúng em
chia tay lần thứ 4 rồi. Lần này em cũng chủ động nói quay lại với bạn
nhưng bạn bảo thôi, hãy chỉ là bạn bè thôi, chắc em không còn cơ
hội nữa rồi. - Cán bộ tham vấn: Dường như em chưa thực sự tin rằng em và bạn
đã chia tay. Em cảm thấy thế nào khi bây giờ bạn không còn là người
yêu của em nữa? - Học sinh: Chúng em học cùng lớp, chơi với nhau từ lớp 10 rồi yêu
nhau, tính ra chúng em yêu nhau được 8 tháng. Bạn ấy là người
chăm chỉ, hiền lành và rất yêu em. Nhưng vì em hay ghen, em hay
quát mắng bạn ấy. Mỗi lúc nhìn thấy bạn nói chuyện với bạn khác
thì em khó chịu nên lại tỏ thái độ với bạn ấy rồi cãi nhau. Nói chung,
việc chia tay hoàn toàn là do em. - Cán bộ tham vấn: Ý em là gì khi em nói việc chia tay hoàn toàn là
do em? - Học sinh: Vâng, em khóc nhiều lắm ạ. Em chẳng làm được gì.
Những lần trước khi em nói quay lại bạn đồng ý nhưng lần này, bạn
không muốn quay lại nữa, chắc em không còn cơ hội nào nữa, tất cả
là do em vì em cứ hay chành chọe, bắt nạt bạn ấy. - Cán bộ tham vấn: Trong một mối quan hệ, lúc nào cũng có sự tác
động của cả hai người. Vì tình cảm của em với bạn vẫn còn nhiều
nên em cho rằng lỗi là tại em, em luôn bắt nạt bạn làm bạn xa em.
Điều này làm em day dứt và càng tăng thêm nỗi nhớ dành cho bạn.
Nhưng thực tế, chính bạn cũng duy trì cho em thói quen - Học sinh: Tại em hay ghen, em hay quát mắng bạn ấy. Với lí do nữa
là có một bạn gái khác xen vào chuyện tình cảm của chúng em, em
làm ầm lên với bạn trai và cả bạn gái ấy. Em đọc được tin nhắn yêu
đương trong máy bạn rồi bạn còn tặng quà cho bạn gái ấy nữa. Nên em
đòi chia tay. Với lại tính em cũng trẻ em nữa, hơi chút là em lại đòi chia
tay nhưng thực ra em rất yêu bạn ấy. đều cần thời gian để quen với việc không còn người kia bên mình,
quen với những trật tự mới trong cuộc sống của mình. Có thể bạn ấy
cũng cần thời gian để quen với việc chia tay này nên việc tạm thời né
tránh em cũng là điều có thể hiểu được.
- Học sinh: Nhưng em đã từng đề nghị bạn là nếu ngại mọi người xì
xào thì cứ gọi nhau là mày, tao đi. Nhưng bạn không chịu, bạn vẫn
muốn em phải gọi anh, em như trước đây. Mà mỗi khi gọi anh, em
như thế, em lại nghĩ về quãng thời gian còn ở bên bạn, em không
chịu được. 3. Lên kế hoạch
thay đổi thực
trạng - Cán bộ tham vấn: Em biết đấy, thật khó để người ta có thể đi từ
trạng thái này sang trạng thái đối lập trong khoảng thời gian ngắn.
Cũng như em lúc này, em chưa chấp nhận được chuyện đã thực sự
chia tay bạn ấy. Dường như em đã cố gồng lên để thể hiện rằng em
không còn tình cảm với bạn. Nếu việc gọi là “anh - em” khiến em
không thoải mái thì nó có thể cũng không thoải mái với bạn khi
xung với em là “mày – tao”. Thực ra các em gọi nhau thế nào cũng
không quan trọng. Liệu em có thể giảm việc nhắn tin cho bạn để
tránh tiếp tục gây tổn thương cho em và bạn?
- Học sinh: Vâng, em cũng giảm dần việc nhắn tin rồi ạ. Em nghĩ nếu
người ta không muốn thì mình cũng không nên làm làm gì. Nhắn
nhiều, hỏi thăm nhiều rồi người ta lại nghĩ mình níu kéo mà không
hiểu mình chỉ quan tâm như một người bạn. Lẽ nào bạn bè ốm mà
không thể hỏi thăm nhau.
- Cán bộ tham vấn: Em đã nghĩ và làm đúng. Là người tự trọng nên
khi em nhận thấy bạn không có ý muốn em hỏi thăm, em đã dừng
lại việc nhắn tin mà theo em có thể làm bạn hiểu lầm và đồng thời
cũng làm em buồn.
- Học sinh: Em đã qua giai đoạn khủng hoảng, chỉ biết khóc nhớ bạn
mà không làm được gì. Giờ em tập trung vào việc học nhiều hơn nên
em cũng học khá hơn. Có nhiều bài ở trên lớp là khó em cũng có thể
xung phong làm. Em thấy vui vì điều đó. Cũng thi thoảng đang học
bài em lại nhớ tới bạn nhưng em tự nhủ thôi, cố quên đi và lại tập
trung vào học. Nói chung, lúc này em không bị phân tán nhiều như
ngày đầu nữa. Em nghĩ bây giờ cứ tập trung vào học còn hơn. quát bạn trước mặt người khác bằng cách im lặng chịu đựng. Tuy
nhiên, sau chuyện này em cũng rút kinh nghiệm trong cách cư xử
không chỉ với người yêu mà còn với bạn bè của mình. Không ai
muốn bị la mắng trước mặt người khác cả!
Theo em, việc bạn ấy chủ động muốn chấm dứt là do em cư xử chưa
đúng với bạn (như em nói) hay thực sự bạn ấy không còn yêu em
nữa?
- Học sinh: Vâng ạ. Giờ bạn ấy chỉ lảng tránh em thôi. Hôm trước
em nghe tin bạn ốm, em inbox cho bạn hỏi bạn ốm sao và nhắc
bạn uống thuốc nhưng bạn chỉ ậm ừ cho qua, kiểu như bạn không
muốn nói chuyện. Rồi bạn cũng bảo em đừng hỏi thăm bạn nhiều
nữa vì như thế làm phiền các bạn khác. Vì chúng em có một group
nói chuyện trên facebook nên khi em nhắn tin cho bạn thì các bạn
kia cũng đọc được. Chúng nó bảo em đã chia tay rồi mà cứ níu kéo
bạn ấy. Bạn ấy thì bảo làm phiền mọi người. Nhưng em nghĩ mình
chỉ hỏi thăm như bạn bè thôi thì có sao đâu. Có lẽ bạn ấy đã chán
em rồi chứ không phải do sự xử sự đỏng đảnh của em, vì em đã thay
đổi nhưng bạn không chấp nhận, có lẽ tình yêu của bạn với em đã
chấm dứt.
- Cán bộ tham vấn: Cô hiểu việc bạn tránh né em khiến em càng
cảm thấy tổn thương, bạn đã hiểu chưa đúng nỗi lo lắng em dành
cho bạn - đó là mối quan hệ bạn bè thuần túy. Là người biết quan
tâm đến bạn bè nên em không đành lòng làm ngơ khi biết bạn ấy
ốm. Có lẽ trong em đã rõ ràng việc coi người yêu cũ là bạn chứ không
có ý định níu kéo bạn quay lại với mình. Có thể với bạn ấy, việc chấm
dứt tình cảm với em cần rõ ràng, vì vậy bạn đã không đáp lại các tin
nhắn của em. Cô nhận thấy thật sự em đã rõ là bạn muốn dừng tình
cảm yêu đương với em.
- Học sinh: Vâng đúng vậy. Vì bạn ậm ừ thế nên em cũng không
nhắn tin hỏi thăm nữa. Em nghĩ bạn không muốn thì thôi vậy. Tuy
nhiên, em vẫn mong bạn đối diện với em, đừng lảng tránh em. Sự
lạnh lùng của bạn khiến em cảm thấy tủi thân.
- Cán bộ tham vấn: Là người chân thành trong tình cảm nên em mới
cảm thấy tủi thân đến vậy khi bạn né tránh em trong khi em muốn
chuyện chấm dứt tình yêu với bạn cần từ từ
- Học sinh: Dạ, đúng ạ.
- Cán bộ tham vấn: Một tháng chia tay là quãng thời gian không dài
để cho những người có rạn nứt tình cảm có thể tìm lại sự cân bằng.
Em biết đấy, dù người dứt khoát chia tay hay bị động chia tay thì cả hai 4/ Kết thúc - Học sinh: Em cảm ơn cô ạ. Em rất vui vì được nói chuyện với cô! Lâu
lắm rồi em mới được nói chuyện thoải mái đến thế. Bình thường em
nói với mẹ nhưng mẹ có những chuyện cũng không thể nói với mẹ
được, còn bạn bè thì nhiều khi cũng không hiểu em. Em cảm thấy cô
đã rất hiểu em ạ. Giờ em thấy thoải mái rồi và không có điều gì phải
hỏi nữa ạ.
- Cán bộ tham vấn: Cô cảm ơn em đã tin tưởng chia sẻ câu chuyện
của mình. Cô cũng rất vui khi nhìn thấy em vui và thoải mái sau cuộc
nói chuyện của chúng ta. Chúc em luôn vui vẻ thế này! Cô chào em.
- Học sinh: Em chào cô! Công việc của cán bộ tham vấn trong buổi làm việc tiếp theo với học sinh: Tiếp tục trò
chuyện nâng đỡ cảm xúc cho học sinh sau chia tay người yêu và thảo luận về kế hoạch học
tập của học sinh trong thời gian tới. CA SỐ 2 GIẢI TỎA TÂM TRẠNG Mục tiêu tham vấn: Giúp thân chủ nói ra được nỗi lòng trống trải của em. 1/ Giới thiệu,
làm quen,
xây dựng mối
quan hệ thân
thiện - Cán bộ tham vấn: Chào em, cô là cán bộ tham vấn tâm lí. Cô rất vui
vì hôm nay được gặp và nói chuyện với em như đã hẹn.
- Học sinh: Em chào cô, em tên là Hường, đang học lớp 8 của trường ạ.
- Cán bộ tham vấn: Em có thể nói với cô bất cứ chuyện gì em muốn liên
quan đến bạn bè, gia đình, sở thích… của em. Câu chuyện em kể sẽ là
bí mật giữa em và cô. Em có chuyện gì muốn chia sẻ cùng cô? 2/ Khai thác
thông tin, xác
định vấn đề
học sinh muốn
giải tỏa - Học sinh: Trước đây em học lớp 6 ở trường khác đến lớp 7 mới
chuyển về đây. Mới đầu về em chưa quen với nếp học ở trường do lớp
6 em học trường tư, các yêu cầu về việc học khác với ở đây. Do đó, ban
đầu em cũng hơi bỡ ngỡ và chưa quen, em mất 1 năm đầu tiên cảm
thấy rất khó để hòa nhập với cách học cũng như bạn bè ở đây.Nhưng
giờ thì em thấy ổn rồi ạ.
- Cán bộ tham vấn: Bây giờ em cảm thấy thế nào về việc thích nghi
học tập ở trường? - Cán bộ tham vấn: Quay trở lại câu chuyện ban đầu, lúc nãy em có
hỏi cô là làm thế nào để em không còn khóc mỗi khi nhớ về bạn. Vậy
giờ mình sẽ nói về chuyện này một chút. Hiện nay em đang gắng tập
trung vào việc học để giảm nỗi nhớ bạn và khóc khi nghĩ về kỉ niệm
cũ và sự cố gắng này khiến kết quả học của em khá lên. Vậy việc em
học là do em cảm thấy mình cần phải học hay vì em đang làm cho
bạn hài lòng, đáp ứng theo mong muốn của bạn là em cần lo cho
việc học?
- Học sinh: Cũng có một phần là vì bạn ạ. Bạn khuyên em hãy tập
trung vào học, em nghĩ việc em cố gắng và có kết quả tốt sẽ khiến
bạn thấy em đang nỗ lực như lời bạn nói. Chỉ có điều là khi em đã cố
gắng như lời bạn rồi mà bạn vẫn hay né tránh em, chẳng lẽ không
thể coi nhau là bạn bè được ạ.
- Cán bộ tham vấn: Trên thực tế, em khó có thể cố gắng làm việc gì đó
chỉ để làm vui lòng người khác. Em biết hiện giờ em khó nói chuyện với
bạn một cách bình thường vì bạn thường né tránh em và bạn không còn
dành tình cảm cho em nữa. Nhưng điều quan trọng hơn là em sẽ khó nói
chuyện với bạn bình thường khi chính em không bình thường, lòng em
vẫn còn những tủi thân, giận dỗi. Liệu mọi sự cố gắng hiện tại của em có
kèm theo hy vọng là bạn sẽ quay lại?
- Học sinh: Giờ em chỉ nghĩ là em sẽ chẳng thể yêu ai được nữa. Tuy
nhiên em biết mình còn rất trẻ. Mọi việc còn thay đổi nhiều. Chuyện
học của em giờ là trên hết, em cũng bắt đầu cảm thấy mình tập
trung vào chuyện học rồi. Nói chuyện với cô em cũng nhận ra được
nhiều điều.
- Cán bộ tham vấn: Phải là người dành tình cảm sâu sắc cho người
mình đã yêu nên em mới tưởng như sẽ chẳng thể có tình yêu nào
khác ngoài tình yêu này. Em mới chia tay bạn một tháng. Những dư
âm, cảm xúc của tình cảm với bạn vẫn còn trong em nên em chưa
sẵn lòng nghĩ tới một tình cảm nào khác là điều dễ hiểu. Nhưng em
còn trẻ, còn rất nhiều điều tốt đẹp đang chờ đợi em phía trước. Có
một tình yêu học trò đẹp thì tốt nhưng nếu không có hoặc không
duy trì được tình yêu đó thì em cũng xem như một kỉ niệm trong đời
học sinh của mình. Lớn thêm nữa em còn gặp được những người
khác. Không quan trọng người đó có tốt hơn hay xấu hơn so với
bạn em nhưng đó sẽ là người làm em hài lòng. Em đã rất nghị lực
khi gắng dẹp bỏ nỗi buồn riêng để tập trung vào việc học. Và thực
tế, đó cũng là một trong những cách giúp em khuây khỏa và quên
đi chuyện buồn. Cô hy vọng em sẽ sớm lấy lại tinh thần và có nhiều
niềm vui với em. - Học sinh: Nói chung là em thấy ổn, em có nhiều bạn bè, em đã quen
với môi trường học tập này. Nhìn chung là em khá hài lòng và không
có điều gì về học hành em thấy bận lòng cả. - Học sinh: Em chỉ mong mẹ bớt mệt mỏi và nhất là có thể tìm được
người nào đó làm chỗ dựa cho mẹ. Em biết có một bác cũng là bác
sỹ, rất thương mẹ em. Em mong ngày nào đó bác có thể chăm sóc
cho mẹ. - Cán bộ tham vấn: Vậy em muốn nói với cô về chuyện gì? - Cán bộ tham vấn: Từ sau khi bố mẹ em li hôn, mức độ em gặp bố
như thế nào? - Học sinh: Về gia đình thì em sống cùng mẹ và anh trai. Cha mẹ em
đã li hôn từ khi em mới 5 tuổi. Cũng lâu rồi nên giờ em cũng quen với
cuộc sống có 3 mẹ em. - Cán bộ tham vấn: Em có thể nói cụ thể hơn về gia đình mình! - Học sinh: Em cũng chỉ thỉnh thoảng gặp bố thôi. Nói về bố thì
thực ra bố cũng không quan tâm đến chúng em nhiều vì thế càng
đẩy mối quan hệ giữa bố và anh trai em xa thêm. Với lại chúng em
cũng không có mối liên hệ gì với gia đình nhà nội vì sau khi bố mẹ
li hôn, mỗi lần chúng em đến nhà ông bà nội thì các bác bên đó có
vẻ không tha thiết. Nhưng em cũng thấy bình thường vì vốn bố và
mẹ em ở hai hoàn cảnh xã hội khác hẳn nhau. Mẹ em ở trong gia
đình của bậc trí thức, ông bà ngoại và các bác bên nhà em đều là
bác sĩ, là những người có học. Trong khi đó bố em lại ở hoàn cảnh
khác, không được học hành nhiều và gia đình bố cũng không được
ổn lắm. Vì thế ngày mẹ em lấy bố, mọi người bên ngoại cứ nói là bố
lợi dụng mẹ em, gia đình bố cũng lợi dụng mẹ. Có lẽ vì thế mà khi
bố mẹ chia tay thì gia đình bố cũng không thiết tha gì anh em em.
Nhiều khi em thấy buồn nhưng tính em mạnh mẽ lắm, em không
bao giờ khóc trước mặt các bạn. - Học sinh: Thực ra thì bố mẹ em li hôn cũng khá lâu rồi nên em
không cảm thấy chuyện không ở cùng bố mẹ là điều quan trọng nữa.
Em với bố em thì quan hệ bình thường, em vẫn rất yêu bố nhưng anh
trai em không chấp nhận bố, anh ấy luôn cho rằng bố là người không
tốt. Khi li hôn, bố em lấy nửa căn nhà, mẹ em cũng đồng ý với việc đó
miễn là được nuôi cả hai anh em. Sau đó thì bố cũng ít khi liên lạc hay
gửi tiền nuôi dưỡng hai anh em nên mình mẹ em phải cáng đáng hết
mọi việc. Em biết mẹ em buồn, mà càng buồn thì mẹ càng lao vào
công việc. Nhưng mẹ em làm bác sỹ thì lương cũng chỉ 13 triệu một
tháng, vậy mà có tháng tiền học của hai anh em em đã là gần 20 triệu
rồi nên mẹ em phải cố gắng rất nhiều. Lúc nào mẹ cũng làm việc thôi.
Em biết mẹ em nhiều bệnh và mệt lắm nhưng cứ phải cố để nuôi anh
em em. - Cán bộ tham vấn: Việc không khóc trước mặt các bạn có ý nghĩa
như thế nào đối với em? - Cán bộ tham vấn: Nghe em nói, cô cảm nhận thấy em rất yêu và
thương mẹ mình. - Học sinh: Em không muốn người khác nhìn thấy em yếu đuối. Em ít
khóc lắm mà nếu có khóc thì cũng chỉ khóc một mình. Ngày trước em
buồn chuyện gia đình, nghĩ linh tinh, em đã cầm compa chọc vào tay
cho chảy máu. Giờ trên tay em vẫn còn vết sẹo dù nó cũng có mờ đi. - Học sinh: Vâng, mẹ em luôn có nhiều lo lắng trong lòng. Anh trai
em bị bệnh, sức khỏe không tốt nên hầu như chẳng làm được gì giúp
mẹ mà mẹ cũng luôn lo cho tình hình của anh. Giờ anh em đang học
Đại học năm đầu rồi nhưng mẹ vẫn phải lo lắng rất nhiều. Bản thân
mẹ em cũng bị bệnh nhưng luôn phải cố để làm việc. Em thương mẹ
lắm, em cũng muốn nói chuyện với mẹ nhưng mẹ bận nên thời gian
để hai mẹ em chia sẻ mọi chuyện là không nhiều. Em chỉ biết giúp mẹ
bằng những việc gia đình, cơm nước. Em chỉ muốn mẹ em được san
sẻ bớt gánh nặng. - Cán bộ tham vấn: Là cô gái chỉ muốn mang niềm vui đến cho các
bạn, không muốn các bạn và người xung quanh phải bận lòng đến
chuyện của mình nên em cho rằng việc không khóc hoặc chia sẻ nỗi
lòng mình với các bạn sẽ tốt hơn là nói ra. Có khi nào vì sự giữ kín
những câu chuyện cá nhân đã khiến em có lúc rơi vào bế tắc và việc
dùng compa làm đau mình chính là biểu hiện của sự bế tắc vì không
được chia sẻ đó? - Cán bộ tham vấn: Là người em có hiếu và rất yêu mẹ, em đã thể
hiện tình yêu thương đó bằng việc chăm lo công việc gia đình. Ở tuổi
của em, không phải bạn nào cũng biết lo việc trong nhà như em. 3/ Kết thúc - Cán bộ tham vấn: Bây giờ Em còn điều gì muốn tiếp tục chia sẻ với
cô? - Học sinh: Dạ không, em thấy rất vui vì được nói chuyện với cô. Lâu
lắm rồi em mới được nói chuyện như vậy vì mẹ em bận quá nên hai mẹ
con chỉ thi thoảng mới có dịp trò chuyện, các bạn thì quá trẻ em nên
không thể chia sẻ được. Em cảm ơn cô đã nghe em. - Cán bộ tham vấn: Cảm ơn em đã tin tưởng và chia sẻ. Cô cũng rất vui
vì được nói chuyện với em. Cô chúc em có nhiều niềm vui trong cuộc
sống và đạt được những điều em mơ ước. Cô chào em. - Học sinh: Vâng, ngày đó em buồn quá mà không biết làm sao nên
mới lấy compa chọc vào tay. Lúc đó khi mẹ em phát hiện ra, mẹ đánh
em một trận rất đau, mẹ khóc và bảo là trốn tránh mọi chuyện thì dễ
lắm nhưng đối diện với nó mới khó. Sau chuyện đó, em cũng tỉnh ra
và nghĩ rằng mẹ đã khổ rồi, em làm thế chỉ khiến mẹ khổ hơn nên
từ ngày đó đến giờ em không làm vậy nữa. Cũng hơn một năm rồi,
vết sẹo đã mờ đi. Với lại có lần hai mẹ em đang đi trên đường thì em
chứng kiến một vụ tự tử, người ta nhảy từ trên xuống và chết ngay tại
chỗ. Em bị ám ảnh bởi chuyện đó quá và thấy sợ nên sau đó em cũng
không làm đau mình nữa. - Cán bộ tham vấn: Hiện tại, em mong muốn điều gì? Công việc của cán bộ tham vấn học đường trong buổi làm việc tiếp theo với học sinh: 1/ Trò chuyện làm rõ những vấn đề cụ thể nào trong gia đình gây xáo trộn, lo lắng thực
sự đến cuộc sống hiện tại của học sinh: Thiếu vắng người bố trong gia đình do bố mẹ
li hôn? Việc chuyển trường của học sinh? Mẹ bị bệnh, anh bị bệnh? Mẹ có người mới,
anh sắp đi học nước ngoài? Bản thân học sinh từng có hành vi tự xâm kích? - Học sinh: Em mong mẹ em được khỏe và vui, anh trai em cũng
khỏe. Mẹ em muốn cho anh đi du học nhưng hiện tại một năm học
ở nước ngoài cũng mất mấy trăm triệu và nếu anh đi học như vậy thì
mẹ em phải vay mượn thêm họ hàng, bạn bè. Em thì em đang phân
vân giữa việc thi vào trường Y ở Việt Nam hay ra nước ngoài học. Mẹ
vẫn muốn anh em em được học ở nước ngoài. Em sợ là học Y ở trong
nước thì không tốt như ở nước ngoài. 2/ Học sinh có bối rối, lo lắng trong việc xác định bản sắc cá nhân: Mình là ai? Tương lai
của mình thế nào? Cán bộ tham vấn cần chỉ rõ những giá trị tiêu cực nào của học
sinh thông qua mở rộng vấn đề thứ nhất. Với mục tiêu này, cán bộ tham vấn giúp học sinh nhận diện được vấn đề đang xảy ra với
mình; cung cấp thông tin giúp học sinh nâng cao hiểu biết về bản thân và giúp học sinh
xác định vấn đề quan trọng trước mắt của các em là gì. Các kỹ năng tham vấn được sử
dụng nhiều hơn, đó là: kỹ năng hỏi và kỹ năng cung cấp thông tin. - Cán bộ tham vấn: Dường như thời điểm này còn hơi sớm để em lựa
chọn giữa việc học ở trong nước hay ở nước ngoài. Nghe em nói cô
hiểu em muốn theo nghề của gia đình bên mẹ em. Em cũng biết đấy,
trường Đại học Y luôn lấy điểm vào rất cao, thường là 28, 29 điểm mới
đỗ được. Nếu em dự định theo ngành này, dù là học ở Việt Nam hay
nước ngoài thì việc trước mắt của em là phải tập trung vào những
môn thi của ngành này để có thể tự tin dự thi được. Xa hơn nữa, trong
khoảng thời gian 4 đến 5 năm, mẹ em và em sẽ biết được điều kiện
của gia đình em có thể cho em học ở nước ngoài hay không. Về phía
em thì sự chuẩn bị quan trọng nhất chính là kiến thức. - Học sinh: Vâng ạ. - Cán bộ tham vấn: Chúng ta đã nói chuyện với nhau được gần một
tiếng. Cô hiểu hôm nay em tình nguyện đến đây là mong muốn được
cô giúp đỡ. Trước khi kết thúc, cô muốn hỏi em là trong câu chuyện
em kể, có rất nhiều sự kiện, tuy nhiên cô vẫn muốn quay lại hỏi em là
thực sự em muốn cô giúp gì cho em? - Học sinh: Thực ra em chỉ muốn ngồi nói chuyện với cô. Em chỉ cần
có ai đó trò chuyện thôi ạ. CA SỐ 3 Tăng cường khả năng nhận biết về bản thân Mục tiêu tham vấn: Giúp học sinh nâng cao hiểu biết về “bản sắc” cá nhân khi em
không rõ mình là ai và nghề nghiệp tương lai của mình sẽ thế nào 1/ Giới thiệu,
làm quen, xây
dựng mối quan
hệ thân thiện - Cán bộ tham vấn: Chào Thắng. Lúc nãy cô đã gặp em. Vậy là em đã
đợi cô hơn một giờ cho cuộc trò chuyện này (Cán bộ tham vấn tình
cờ trước đó đã gặp em ở phòng tham vấn, trò chuyện chút ít, sau đó cô
làm việc với một học sinh khác).
- Học sinh: Vâng! Em quay lên lớp học ạ.
(Sau vài câu giới thiệu với học sinh, nói về tính bí mật, hoan nghênh
học sinh quy lại phòng tham vấn, cán bộ tham vấn bắt đầu câu chuyện
của em luôn). 2/ Khai thác
thông tin, xác
định vấn đề của
học sinh vài người trong một quần thể đông người. Người ta rất khó có
thể đưa một người vừa học xong đại học lên làm quản lý, dù đó là
ngành Quản lí xã hội. Vậy làm nhà quản lí trong ngành luật theo em
có nghĩa là gì?...
(cả học sinh và cán bộ tham vấn cùng im lặng trong giây lát) ...
- Học sinh: Theo cô em có nên tìm cho mình một tình yêu cấp ba
hay cứ để tự nhiên nó đến.
- Cán bộ tham vấn: Còn tùy theo quan điểm của mỗi người. Theo
em, tình yêu sẽ đến một cách tự nhiên hay em sẽ đặt ra kế hoạch
để đạt được tình yêu?
- Học sinh: Em nghĩ nên để nó đến tự nhiên, mình sẽ đón nhận, em
không muốn yêu nửa vời, tốn tiền, mất sức, thời gian.
- Cán bộ tham vấn: Vậy là, về lí trí em muốn tình yêu sẽ đến một
cách tự nhiên, vậy về tình cảm em có thật sự thấy cần thiết phải tìm
tình yêu ở những năm tuổi học trò?
- Học sinh: Em sợ thời gian trôi đi mà tình yêu đẹp tuổi học trò lại
chưa được trải qua, chưa được kiểm nghiệm thì thật là tiếc, nhưng
chỉ yêu đơn phương thì rất khó.
- Cán bộ tham vấn: Em đang muốn trải nghiệm về tình yêu tuổi học
trò. Liệu có người nào em thích nhưng bạn đó không để ý đến em
và ngược lại?
- Học sinh: Có như vậy, nhiều bạn thích em nhưng em không thích.
Có bạn em thích, em làm bài thơ tặng bạn. Em muốn chắc chắn mới
ngỏ lời, nhưng em chưa kịp đọc thơ cho bạn thì bạn đã đi với người
khác. Em không muốn bị thất bại nếu không theo đuổi bạn ấy. Em
sẽ giữ tình cảm ở mức đẹp nhất, không cần thiết phải đắm sâu vào
nó. Em đọc cho cô nghe bài thơ em vừa sáng tác nhé (học sinh đọc
bài thơ tình yêu cho cán bộ tham vấn nghe, giọng tự nhiên, tự tin).
- Cán bộ tham vấn: Để có được tình yêu, người ta có nhiều cách lựa
chọn. Cố gắng quan tâm và bày tỏ với bạn tình cảm của mình khi
họ không biết về tình cảm của mình, hoặc bắt đầu với bạn thích
mình. Các bạn nữ cũng có những phép thử để nhận ra một người
nào đó không đủ tình cảm, sự kiên trì với tình yêu mình muốn có và
vì vậy các bạn ấy nhận thấy người đó không xứng đáng với tình yêu
của họ. Liệu em có nghĩ về điều này? - Cán bộ tham vấn: Cô muốn được nghe câu chuyện của em.
- Học sinh: Bản thân em muốn trở thành một chính khách. Em là
cung sử nữ, cầu toàn, muốn vươn cao, làm tới cùng (nói bằng giọng
rất tự tin).
- Cán bộ tham vấn: Ý em nói chính khách là gì?
- Học sinh: Tức là em muốn làm quan chức. Cần quan hệ tốt. Làm
quan chức thì mới có quyền hành. Quan trọng nhất là con người
mình, tốt thì đi vững.
- Cán bộ tham vấn: Em đang học lớp 12, em muốn trở thành một
chính khách, quan chức. Vậy làm thế nào để mình đạt được điều
mong muốn này?
- Học sinh: Em chưa biết.
- Cán bộ tham vấn: Vậy theo em nghề gì sau này sẽ giúp em trở
thành quan chức? Ý cô hỏi là ngành nghề em sắp chọn ấy.
- Học sinh: (Lưỡng lự không trả lời ngay học ngành/nghề nào) Là
em muốn học luật sư, nhưng không muốn làm luật sư mà làm nhà
quản lý.
- Cán bộ tham vấn: À, vậy là em muốn nói đến việc làm lãnh đạo.
Một người luôn làm tốt công việc của mình và có khả năng lãnh
đạo thì sau một số năm, nếu may mắn sẽ được đẩy dần lên các vị trí
lãnh đạo, và có thể còn giữ chức vụ trong xã hội. Tuy nhiên số người
làm lãnh đạo thì không nhiều, vì làm lãnh đạo thì chỉ có - Học sinh: Có rất nhiều đường để đi, nhưng để đủ hiểu về một
người, có được họ suốt đời thì họ phải có đủ điều kiện. Em chỉ yêu
theo cảm xúc, trải nghiệm những cung bậc cảm xúc thôi. Thật sự
em cũng không quan tâm lắm về chuyện yêu đương bây giờ.
- Cán bộ tham vấn: Vậy là em chưa thực sự gắn tình cảm của mình
với một bạn nào trong trường theo kiểu tình yêu tuổi học trò.
- Học sinh: Vâng em chưa để ý đến bạn nào một cách thật hết lòng.
(học sinh im lặng)
- Cán bộ tham vấn: Thật sự em có vấn đề gì muốn chia sẻ với cô
lúc này?
(cán bộ tham vấn cố gắng bám vào mục tiêu tham vấn như em đăng
kí)
- Học sinh: Bố mẹ em lấy nhau không có tình yêu, mẹ em cãi vã với
ông bà nội, quan hệ bạn bè của mẹ có lời ra tiếng vào. Mẹ em rất
trẻ. Em đi với mẹ cứ như hai chị em. Bố mẹ em chia tay, em ở với bố.
Ngay sau đó mẹ em có em bé trong bụng. Lúc đó mẹ cũng hỏi là
em có phiền không nếu có thêm một em bé. Em thì không có vấn
đề gì... (học sinh trầm ngâm im lặng)
Mới đây khi em đi làm biển số xe, đợi cả ngày không được. Sau đó
tình cờ bố gọi điện cho một chú quen, thế là giải quyết được ngay.
Vậy cần phải có oai thì mới giải quyết được việc. Em nhận ra trong
xã hội, mình chẳng là gì. Bố em quen mấy người làm to, em hi vọng
được giúp đỡ. Có một bác đặc công ngầm đã đặt câu hỏi cho chính
bác là: “Hi sinh nhiều cho Tổ quốc nhưng cuối cùng mình là ai?” Em
cũng tự hỏi: “Mình là ai?”
- Cán bộ tham vấn: Vậy em là ai?
- Học sinh: Bố luôn nghĩ em thiếu tầm nhìn, vớ vẩn, chưa sâu sắc.
- Cán bộ tham vấn: Trong mắt em bố là người thế nào?
- Học sinh: Bố non so với tuổi, ở nhà bố không được quyền quyết
gì hết. Cái gì ông bà cũng quyết. Mới đây bố mới được giao quyền
quản lý, tiếp quản khách sạn gia đình, nhưng bố cũng chẳng làm
được gì.
- Cán bộ tham vấn: Vậy là hai bố con em đều đánh giá chưa cao về
nhau. Theo em, bố chưa đánh giá hết giá trị của em, chưa nhận ra
hết các điểm tốt hơn mà em có. Và em muốn có nghề nghiệp tốt
hơn bố bằng cách làm chính trị, làm quan chức để chứng minh cho
bố thấy em không tầm thường... - Học sinh: Vâng! Đúng thế ạ.
- Cán bộ tham vấn: Em là người có cá tính, em muốn được quyết
định nhiều hơn cho bản thân mình. Vậy ở lớp các bạn đánh giá em
là người như thế nào?
- Học sinh: Có hai trường phái cô ạ: một là đánh giá cao do em sống
thật, nhiệt tình, khí phách; một nửa bảo em hâm, dở hơi, thái quá,
cứng nhắc. Em thấy chưa hài lòng khi rắn với bạn, nhưng vẫn phải
làm vì em lãnh đạo các bạn, em không muốn biến đổi theo ý mọi
người. Em sẽ vẫn sống như vậy, các bạn cho em là cứng nhắc thì các
bạn cần phải tự hiểu ra.
- Cán bộ tham vấn: Dường như em đang phân vân giữa 2 luồng
đánh giá trái ngược nhau, nhưng em vẫn nghiêng về cách đánh giá
theo hướng tích cực của các bạn. Tính cứng nhắc và quyết đoán có
sự khác nhau. Cứng nhắc có cái lợi là cứ làm theo điều đã quyết,
không cần suy nghĩ nhiều, làm theo một khuôn mẫu đã có sẵn.
Nhưng khả năng mềm dẻo thích nghi lại không có. Trong khi người
quyết đoán thì thường làm theo mục tiêu đặt ra. Người quyết đoán
vẫn có thể thay đổi mục tiêu hay niềm tin khi sự việc, điều kiện thay
đổi. Vì vậy họ luôn phải phán đoán, suy nghĩ theo thực tế. Nhưng
người bảo thủ thì không thay đổi, họ chỉ làm theo ý mình muốn
mình đã định, họ cứ tưởng thế là mình có uy. Vậy câu hỏi đặt ra
là kiên trì, lắng nghe và dung hòa nếu cần để cùng làm, hay làm
theo ý định ban đầu và đôi khi phải làm một mình mà kết quả chưa
chắc đã tốt? Khi làm lãnh đạo không thể cậy mình có quyền, như
kiểu mình là tổng thống mình thích thì dùng bom hạt nhân để giải
quyết mọi việc theo quyền của mình. Điều này tạo cho mình cảm
giác là mình mạnh, mình có quyền lức, mình có thể át được người
khác. Làm người lãnh đạo mình cần biết lắng nghe, cân nhắc mọi
phía trước khi quyết mà không phải lúc nào cũng dùng quyền để
quyết.
(Học sinh ngồi im lặng)
- Học sinh: Vậy theo cô, em là ai?
- Cán bộ tham vấn: Cô nhận thấy trong con người em có nhiều
tiềm năng. Em là người rất chân thành, mạnh mẽ. Cô thực sự vẫn
chưa rõ em muốn nói chuyện tập trung vào vấn đề gì hôm nay, vì cô
trò mình nói đủ chuyện, nào là muốn làm là chính khách, làm lãnh
đạo nhưng mình chưa thực sự rõ sẽ học và làm nghề gì. Em muốn
có tình yêu tuổi học trò nhưng em chưa sẵn sàng dành tình cảm
cho một bạn nữ nào. Em nói về gia đình nhưng em lại chưa CA SỐ 4 TRĂN TRỞ CỦA HỌC SINH VỀ HỌC MÔN TOÁN Mục tiêu tham vấn: Giúp học sinh nâng cao hiểu biết về bản thân và cách nhìn
nhận của học sinh liên quan đến học môn toán - Cán bộ tham vấn: Chào em, cô là cán bộ tham vấn tâm lí. Cô rất vui
vì hôm nay được gặp và nói chuyện với em. - Học sinh: Em chào cô, em là học sinh lớp 9A1, em tên là Thanh. sẵn lòng nói về cuộc sống hiện tại của mình, mối quan hệ với bố
mẹ. Mỗi chuyện mình lại tạt qua một chút. Cô đặt ra câu hỏi để em
suy nghĩ thêm: Liệu có phải vào lúc này, khi chỉ còn ít thời gian nữa
là các em sẽ rời trường phổ thông, đôi lúc em cảm thấy mình mạnh
mẽ, tự tin, có lúc em lại thấy mình bé nhỏ trước một tương lai quá
lớn. Thực sự có phải em đang loay hoay tự hỏi: Mình là ai? Mình sẽ
là người như thế nào? Tương lai của mình sẽ ra sao? v.v... và trước
mắt em lúc này, việc chọn trường/ngành học là em chưa xác định
được rõ ràng?
- Học sinh: (Ngồi trầm ngâm, im lặng một lúc) Có lẽ thế ạ. 1/ Chào hỏi,
làm quen,
xây dựng mối
quan hệ thân
thiện 3/ Kết thúc - Cán bộ tham vấn: Cảm ơn Thanh đã tin tưởng tìm đến cô. Những gì
em chia sẻ sẽ là bí mật giữa cô và em. Bây giờ em nói về chuyện của
mình nhé. 2/ Khai thác
thông tin
và cung cấp
thông tin cho
học sinh - Cán bộ tham vấn: Ở tuổi của em, đây là những câu hỏi rất quan
trọng mà em muốn rõ về bản thân và các mối quan hệ về gia đình,
bạn bè, tình yêu, nghề nghiệp của mình sau này... Bây giờ cô trò
mình sẽ dừng câu chuyện tại đây. Trước khi chia tay, em cảm thấy
thế nào về cuộc nói chuyện này?
- Học sinh: Em nghĩ cuộc trò chuyện rất ý nghĩa, nó mở ra cho em
nhiều điều... Em sẽ vẫn phải suy nghĩ thêm, nhưng em sẽ nhớ mãi
cuộc nói chuyện này.
- Cán bộ tham vấn: Chúc em luôn giữ được vẻ hồn nhiên, vui vẻ. Cô
hy vọng mọi điều tốt đẹp đang chờ đón em phía trước. - Học sinh: Em muốn cô giúp em cải thiện việc học tập, đặc biệt là kết
quả học môn Toán ạ.
- Cán bộ tham vấn: Trước khi chúng ta nói về việc em muốn cải thiện
kết quả môn toán, chúng ta nói chuyện một chút về tình hình học
môn toán nói chung của em nhé.
- Học sinh: Vâng. Em là học sinh có sức học bình thường, có thể nói là
đuối về môn Toán. Điều này làm em buồn. Em đã cố gắng rất nhiều
nhưng không cải thiện được tình hình. Cô giáo nói với em là em học
kém, không nên vào đội tuyển toán, em không biết nên làm thế nào.
Đội tuyển của em có 10 bạn nhưng em đứng cuối cùng. Các bạn em
thi đều được giải nhưng em thì chưa. Bố mẹ em thì muốn em có giải
và thi đỗ trường chuyên nào đó ở Hà Nội. Nhưng so với các bạn thì
em không bằng.
- Cán bộ tham vấn: Cô cảm thấy em đang buồn vì cho rằng em học
chưa tốt môn Toán, do em được ở trong đội tuyển nhưng em không
được giải như các bạn. Cô giáo có thể vì mong em đạt thành tích cao
hơn nên đã nói là em học kém Toán. Nhưng thực tế, em không hề học
dốt như em nghĩ, bằng chứng là em được chọn vào đội tuyển của
trường. Chỉ là những gì em đạt được chưa thực sự đúng với kì vọng
của em mà thôi.
- Học sinh: Vâng. So với các bạn đội tuyển thì em không giữ được
nhịp học, lúc em học được lúc không học được. Một phần do em hơi
lơ đễnh trong khi học, một phần do kiến thức của lớp 9 nhiều, hơi rối
do nhiều dạng nhiều kiểu bài em không nhớ được ngay. Nhận xét và công việc tiếp theo của các cán bộ tham vấn:
Thật sự học sinh không có vấn đề tâm lí cụ thể cần phải hỗ trợ, can thiệp. Cuộc trò chuyện
này đã giúp học sinh nâng cao hiểu biết về bản thân.
Khi một học sinh tìm đến cán bộ tham vấn, điều này không có nghĩa là các em phải có vấn
đề cụ thể về căng thẳng tâm lí cần được giúp đỡ. Đối với học sinh lớp trung học, đặc biệt ở
nhóm học sinh lớp 11, 12, những câu chuyện không có chủ đề rõ ràng, tưởng như “vớ vẩn”
những lại có ý nghĩa lớn với các em trong việc sắc định “bản sắc” của mình. Vì vậy cán bộ
tham vấn cần tôn trọng đi theo suy nghĩ và cảm xúc của các em, mặc dù vẫn phải khéo léo
“kiểm tra lại” mục tiêu tham vấn ban đầu của học sinh để đảm bảo rằng cuộc trò chuyện
luôn đáp ứng nhu cầu, mong muốn thực sự của các em.
Việc cán bộ tham vấn học đường giúp Thắng lựa chọn được ngành/nghề phù hợp để em
theo học là mục tiêu tham vấn của buổi tiếp theo. Cán bộ tham vấn cần giúp em (có thể
tham vấn theo nhóm) và các bạn định hướng được ngành nghề sắp tới mà các em sẽ đăng
kí: Giúp các em hiểu rõ về bản thân (năng lực, xu hướng, hướng thú, tính cách, khí chất của
mình), các đặc điểm yêu cầu của nghề các em muốn chọn và thị trường lao động trong
thời gian tới ... để Thắng và các bạn có sự chuẩn bị tâm lí tốt khi đăng kí về ngành/nghề
cũng như việc theo đuổi ngành/nghề trong tương lai. - Học sinh: Em nói rồi ạ nhưng bố nói rằng phải tự mình nghiên cứu,
không học gia sư cũng không máy tính gì hết. Nên em mong cô chỉ
cho em cách để học Toán tốt hơn.
- Cán bộ tham vấn: Cô rất tiếc phải nói với em rằng, cô không phải
là giáo viên dạy Toán nên cô không biết làm cách nào để giúp em
học Toán tốt hơn. Nhưng cô có thể giúp em về mặt tâm lý liên quan
đến việc học của em. Em còn nhỏ tuổi nhưng cũng nhận ra rằng điều
quan trọng của việc học là tập trung cho kiến thức của mình chứ
không nhất thiết phải có giải thưởng. Em đang trăn trở giữa những
đánh giá trái chiều: Về phía cô giáo, em nói, cô cho rằng em học dốt
toán và em ít nhiều tin điều này. Có thể so với những bạn trong đội
tuyển thì em có phần đuối hơn. Vì vậy cô giáo yêu cầu em học nhiều
hơn để có giải. Còn với bố, em là niềm tự hào của bố nên bố cũng kì
vọng vào việc em được giải. Thực ra cả cô em và bố em đều mong em
học giải toán, và trong sâu xa bản thân em cũng muốn đạt được như
thế. Vì vậy, có thể điều này gây áp lực cho em, làm cho em lúc học
được lúc không học được, như em nói.
Cô nhận thấy dường như em đang đấu tranh giữa việc có tiếp tục theo
đội tuyển toán. Em biết rõ dù không được giải nhưng em vẫn được
tăng cường kiến thức cho sau này. Mặt khác, nếu dừng lại, không theo
đội tuyển, em sẽ thấy thoải mái không bị áp lực học tập nhưng em bị
hạn chế kiến thức đi và làm như vậy có thể khiến bố mẹ không vui.
- Học sinh: Vâng, em biết khả năng để em được giải là khó nhưng em
vẫn muốn theo học đội tuyển vì em sẽ có cơ hội được học nhiều bài
tập hơn và như thế nó cũng giúp em tăng cường kiến thức của mình
ạ. Chỉ có điều bố em mong muốn em được giải mà em thì chưa biết
cách nào để em có thể học tốt hơn nên em mới học cô.
- Cán bộ tham vấn: Liệu em có nghĩ đến việc chia sẻ với bố tất cả điều
em đã nói với cô những áp lực em đang cảm thấy để hai bố con tìm
ra cách học giỏi toán hơn?
- Học sinh: Vâng ạ, em nghĩ là em cũng cần nói với bố là giải thưởng
thì không quan trọng bằng việc thi đỗ trường cấp 3 chuyên ở Hà Nội
như bố mong muốn. 3. Kết luận - Cán bộ tham vấn: Em nói đúng, đã được chọn vào đội truyển của
trường thì mức đòi hỏi học sinh phải có lòng quyết tâm là rất cao và
ý chí mạnh mới có thể tập trung giải được các bài toán khó. Vậy một
ngày em dành bao nhiêu thời gian để học toán?
- Học sinh: Em học khoảng 2 đến 2,5 tiếng. Bố mua cho em rất nhiều
sách nâng cao nhưng trong sách có những bài dễ thì phải trình bày
dài, tốn nhiều thời gian để trình bày, còn bài ngắn thì lại khó, mất
nhiều thời gian để suy nghĩ và tìm lời giải.
- Cán bộ tham vấn: Với thời gian làm toán như vậy thì theo em, những
bài không làm được là do em không đủ thời gian để làm hay do khả
năng của em chưa đạt được?
- Học sinh: Có khi là không đủ thời gian, có lúc là em không có khả
năng làm vì có những bài nghĩ lâu thì cũng làm được, có bài em nghĩ
mãi chẳng ra. Em cũng nhờ bố giảng giúp nhưng bố em chỉ giúp sơ
qua thôi nên em không hiểu, do đó, có ngày em chỉ làm được 1,2 bài
thôi. Em lo lắng là tư duy học toán của em hạn hẹp, em tiếp thu bài
bình thường, học trong đội tuyển toán thì yếu. Em muốn cô tư vấn
cho em về phương pháp học tốt môn toán. Em muốn mình có tư duy
tốt hơn.
- Cán bộ tham vấn: Trước hết, cần phải thấy rằng em học toán không
kém vì em được xếp trong đội tuyển của lớp. Có thể em không giỏi
bằng các bạn trong đội tuyển nhưng chắc chắn là em làm toán tốt
hơn những bạn còn lại trong lớp. Tuy nhiên vì mục tiêu học tập, em
mong muốn kết quả toán của mình tốt hơn và cô hiểu rằng đối với
em, kết quả đó phải được thể hiện qua giải thưởng.
- Học sinh: Vâng, em muốn có giải thưởng vì bố mẹ yêu cầu em phải
thế, với lại nếu có giải thì cũng thuận lợi hơn khi thi vào một trường
chuyên nào đó ở Hà Nội. Nhưng em thì không quan trọng chuyện giải
thưởng, em nghĩ là cứ miễn học tốt và thi đỗ được cấp 3 chuyên như
mong muốn của mình là được rồi.
- Cán bộ tham vấn: Vậy việc học toán xuất phát từ ý muốn của em
hay của bố mẹ?
- Học sinh: Từ ý của bố em ạ. Bố em là kiến trúc sư và muốn em phải
học giỏi các môn tự nhiên, đầu tiên là môn toán. Em cũng thấy nếu
học giỏi các môn tự nhiên thì sẽ tốt hơn. Em còn muốn học gia sư
hoặc học trực tuyến, em muốn có máy tính riêng để học nhưng
không đủ thời gian học ạ.
- Cán bộ tham vấn: Em đã thảo luận với bố em về mong muốn này? - Cán bộ tham vấn: Về tâm lý, khi mình theo đội tuyển, mình phải có
quyết tâm học và quyết tâm dành giải. Nhưng khi nói chuyện cô nhận
thấy em không quan trọng về giải, điều này nói lên là đâu đó em đã
cố gắng hết sức và em biết em khó có thể đạt được giải. Nhưng đâu
đó nó có thể là em thấy quanh mình nhiều bạn giỏi quá nên em nản lòng và không nỗ lực hết mình. Trong toàn bộ câu chuyện, cô tin rằng
em đã cố gắng cho chuyện học toán của mình vì đích của em là đỗ
vào trường chuyên cấp 3 ở Hà Nội. Việc theo học đội tuyển có thể
không giúp em đoạt giải nhưng vẫn tăng cường năng lực toán cho
em và điều này giúp ích cho em khi em vào học ở cấp 3. Nếu thật sự
giải không quan trọng thì em cứ yên tâm học, không cần để tâm đến
ai cười, ai chê. Vì điều quan trọng là em đã được tăng cường kiến thức
cho mình. Còn về phương pháp học toán thế nào, em chỉ có thể nói
chuyện với bố em hay thầy dạy toán, vì những người này có chuyên
môn mới có thể chỉ cho em cách thức để học toán hiệu quả hơn. Cô
chúc em sẽ đạt được những kết quả như em mong muốn.
- Học sinh: Em cảm ơn cô đã dành thời gian nói chuyện ạ. Em chào cô.
Em đã nhận ra thực sự em cần gì rồi ạ. Công việc của nhà tham vấn trong buổi làm việc tiếp theo: 1/ Làm rõ những lo lắng của học sinh khi theo đội tuyển toán. 2/ Em đã nắm được cách thức giúp em nâng cao hơn nữa về kết quả học toán? CA SỐ 5 TĂNG CƯỜNG THẤU HIỂU VỀ ỨNG XỬ BẠN BÈ Mục tiêu tham vấn: Giúp học sinh nâng cao hiểu biết về cách ứng xử của bản thân
để duy trì được các mối quan hệ bạn bè. 1/ Chào hỏi
làm quen,
xây dựng mối
quan hệ thân
mật - Cán bộ tham vấn: Chào em, cô là cán bộ tham vấn tâm lí. Cô rất vui
vì được gặp và nói chuyện với em. Những chia sẻ của em sẽ là bí mật
giữa hai chúng ta.
- Học sinh: Em chào cô. Em tên là Vân, em đang học lớp 9. Em có
chuyện này muốn hỏi cô ạ. 2/ Khai thác
thông tin, xác
định vấn đề lớp. Em muốn cô nói giúp em làm thế nào để các bạn hiểu em hơn và
em có thể chơi với các bạn được?
- Cán bộ tham vấn: Vậy là em muốn cô giúp em, để em làm cho các
bạn hiểu mình và có thể hòa đồng với các bạn?
- Học sinh: Vâng ạ.
- Cán bộ tham vấn: Em có thể nói cụ thể hơn về câu chuyện của mình?
- Học sinh: Các bạn thường hay nói xấu em. Em không thích điều đó.
Rồi em không hiểu vì sao các bạn trong lớp thường nghe theo tin
đồn nói xấu của một hai bạn nữ trong lớp về em, gây hiểu nhầm em,
tưởng là em ghê gớm.
- Cán bộ tham vấn: Các bạn nói xấu em thế nào?
- Học sinh: Các bạn cứ nói là bố mẹ em li hôn rồi xì xèo bàn tán về
chuyện gia đình em. Em không muốn các bạn nói về chuyện đó.
- Cán bộ tham vấn: Chắc hẳn em đã rất buồn mỗi khi biết rằng các
bạn nói về chuyện bố mẹ em đã li hôn. Điều này động đến nỗi khổ
tâm của riêng em mà các bạn không ở trong hoàn cảnh của em
không thể hiểu được.
- Học sinh: Vâng ạ, những lúc như thế em buồn lắm. Bà em thì bảo
thôi kệ, dần dần các bạn sẽ không nói nữa nhưng mà em vẫn buồn.
Có lúc em kể với bố thì bố chẳng thèm nghe. Các bạn em thì vẫn cứ
thỉnh thoảng nhắc đến chuyện đó. Em cũng không hiểu sao các bạn
thích nói xấu em như vậy.
- Cán bộ tham vấn: Cô hiểu em không muốn các bạn nhắc lại những
chuyện không vui trong gia đình em. Trên thực tế, các bạn không nói
xấu em mà bạn nói về một sự thật là bố mẹ em li hôn. Tuy nhiên, sự
thật ấy khiến em đau lòng. Vậy mỗi khi nghe các bạn nói về chuyện
của bố mẹ, em thường phản ứng như thế nào?
- Học sinh: Có lúc em tức, em nói với bạn đừng có nhắc đến chuyện
đó, em không thích. Nhưng thường các bạn sẽ không nhận, các bạn
cứ bảo tớ không nói. Nhưng em biết là câu chuyện đó các bạn vẫn
nói. Điều đó khiến em khó chịu.
- Cán bộ tham vấn: Theo em, có cách nào để làm các bạn thôi không
nói về chuyện của bố mẹ em nữa?
- Học sinh: Cũng có khi em giận dỗi và lỡ nói nặng lời với các bạn.
Nhưng rồi sau đó cũng chẳng giải quyết được gì mà lại khiến em xa
cách với các bạn hơn. - Cán bộ tham vấn: Câu chuyện của em là gì?
- Học sinh: Em học lớp 9. Em đang sống cùng bà nội do bố mẹ em
li hôn từ nhiều năm rồi. Hàng ngày thì em vẫn đi học bình thường
nhưng em ít có bạn trên lớp. Em thường không chơi được với các bạn.
Em cảm thấy khó khăn trong việc giao tiếp với các bạn ở trên - Cán bộ tham vấn: Vậy khi giận dỗi bạn em thường xử sự với bạn thế
nào?
- Học sinh: Có một lần em không ở trong lớp giờ ra chơi, khi về đến
lớp, em thấy cặp sách của em nằm ở trên sàn. Các bạn nói rằng là
do bạn nữ mà được nhiều bạn trong lớp nghe theo ấy ném cặp em
xuống đất. Mà sự thật là em không làm gì bạn cả, em không hiểu vì
sao bạn lại đối xử với em như thế, sự thật thì chính bạn là người ghê
gớm chứ không phải em. Lúc đó em đã lấy cặp sách của bạn rồi em
dốc hết sách vở, bút chì thước kẻ của bạn từ tầng 2 xuống sân trường,
rồi em ném luôn cả cặp của bạn xuống sân trường nữa. Sau đó, em
chạy đi gửi cặp của em sang cho bạn lớp khác vì em sợ bạn ấy trả thù.
Trong lúc em đi gửi cặp thì bạn ấy về lớp và biết chuyện, bạn ấy đã hét
ầm lên trước lớp là em là người ghê gớm. Đến khi em về lớp, các bạn
trong lớp cũng hiểu em không gây sự với bạn mà là bạn đã gây sự với
em trước nên cũng không ai nói gì em.
- Cán bộ tham vấn: Liệu có khi nào ai đó vô tình hay cố ý nói xấu em,
làm điều em không thích nhưng em có thể một lần hoặc nhiều lần
bỏ qua hoặc em có thể hỏi cả lớp xem ai đã làm rơi cặp của mình và
lẳng lặng cất cặp đi. Điều quan trọng không hẳn ở việc ai gây sự với ai
trước mà là cách chúng ta đáp trả lại những phiền muộn người khác
gây cho mình bằng việc gây cho họ những phiền muộn lớn hơn và
vì thế vô tình chúng ta sẽ khiến người xung quanh tưởng mình ghê
gớm thật. Mà đó lại là điều em không mong muốn.
- Học sinh: Vâng ạ, thực ra em cũng chỉ mong các bạn có thể hiểu là
em không ghê gớm như thế và chơi với em bình thường, và các bạn
không nói về chuyện của bố mẹ em nữa thôi.
- Cán bộ tham vấn: Là người trân trọng tình cảm bạn bè, em không
muốn mâu thuẫn với các bạn vì những câu chuyện liên quan đến bố
mẹ mình. Một số người ở trong hoàn cảnh của em, họ đã tìm cách
chia sẻ chân thành với các bạn hoặc với một người bạn thân. Liệu em
có thể tâm sự với các bạn về cảm giác em đau lòng như thế nào khi
bố mẹ chia tay, và nhất là khi chuyện của bố mẹ cứ bị các bạn đưa ra
nói. Việc các bạn lúc này hay lúc khác nói đến chuyện gia đình em có
thể vì các bạn không ở trong hoàn cảnh của em nên không hiểu em
đã buồn như thế nào. Vậy nếu em chủ động gặp các bạn và chia sẻ
nỗi lòng của mình và hỏi các bạn xem liệu các bạn có thể không nói
đến chuyện của bố mẹ em mỗi khi nói chuyện về em có được không? - Học sinh: Thực ra em không có bạn thân nên muốn chia sẻ ra cũng
khó ạ. Trước đây em học lớp 6, em có thân với một bạn. Nhưng rồi
đến lớp 7, nhất là từ khi vào đầu lớp 8, bạn ấy thay đổi rất nhiều. Bạn
ít chơi với em mà chỉ trò chuyện mỗi khi chúng em có bài tập chung
ở lớp. Rồi bạn hùa theo những đứa bạn khác để nói xấu em. Lớp 7
cũng thế, em thân với một bạn khác nhưng hiện giờ chúng em cũng
không còn thân nhau. Em cũng không biết vì sao em không duy trì
được tình bạn thân. Giờ thì em không có người bạn thân nào ạ.
- Cán bộ tham vấn: Khi em đến đây, cô nhận ra em rất muốn thay đổi
gì đó hoặc em muốn có người ngoài khách quan nhìn xem có chuyện
gì xảy ra với em. Về việc năm nào em cũng có một người bạn thân
nhưng không duy trì được mối quan hệ thân thiết, đó là câu hỏi rất
hay và cô thích cách chia sẻ chân thành của em. Vì nó thể hiện rằng
chính em nhận thấy hình như em có gì đó chưa ổn, vì người khác có
thể duy trì một tình bạn lâu dài còn em thì không. Vậy điều gì khiến
em không thể chơi thân với hai bạn đó nữa?
- Học sinh: Các bạn tin theo một bạn nữ trong lớp. Em không hiểu vì
sao bạn nữ ấy rất được các bạn tin, kể cả các bạn nam trong lớp cũng
nghe theo bạn ấy nữa. Nhưng em và bạn ấy không ưa nhau. Do đó,
bạn hay đi nói xấu em và vì có nhiều người theo bạn nên các bạn
trong lớp tin lời bạn nói về em.
- Cán bộ tham vấn: Bạn nói xấu em chuyện gì?
- Học sinh: Em cũng không biết chuyện cụ thể gì. Có khi bạn mà em
thân hồi lớp 6 ấy, tự nhiên đến và nói với em rằng chúng nó nói xấu
mày nhưng khi em hỏi nói xấu chuyện gì thì bạn ấy không kể nữa. Với
lại ngồi trong lớp, thi thoảng em quay xuống thì bắt gặp ánh mắt của
bạn nữ kia và mấy bạn ngồi cạnh đang hướng về phía em. Em tin là
các bạn đang nói xấu mình.
- Cán bộ tham vấn: Dường như em đang lo lắng và luôn tin rằng các
bạn nói xấu em. Nhưng niềm tin đó chưa có căn cứ. Người bạn thân
cũ của em chỉ cho em thông điệp là mọi người nói xấu em mà không
chỉ ra cụ thể là chuyện gì. Em nghĩ sao nếu lần sau bạn còn nói như
vậy, em sẽ nói với bạn rằng em không quan tâm đến điều đó và bạn
không cần phải nói với em những chuyện đó không có đầu đuôi rõ
ràng. Còn em, ánh mắt các bạn nhìn mình cũng làm em tin rằng các
bạn đang nói xấu. Những điều này dày vò và làm khổ tâm em. Em
thấy liệu có đáng để mình cứ chạy theo những niềm tin vô căn cứ như
vậy và làm khổ mình trước tiên. Với mục tiêu này, ca tham vấn chỉ kết thúc khi học sinh (với sự giúp đỡ của cán bộ tham
vấn) đưa ra được những phương án giải quyết vấn đề thông qua việc phân tích những
khó khăn, thuận lợi, sàng lọc hậu quả của mỗi quyết định được đưa ra và sự thay thế các
giải pháp để tìm ra được các giải pháp hiệu quả. - Học sinh: Vâng. Em cũng không biết nữa.
- Cán bộ tham vấn: Đôi khi để người khác hiểu mình, mình cũng cần
bày tỏ ý muốn chấp nhận các bạn. Một lần, hai lần, ba lần em lẳng
lặng thu xếp đồ đạc của mình khi các bạn vô tình hoặc cố ý làm rơi
mà không than trách hay tìm cách trả đũa lại các bạn, thì liệu dần dần
các bạn có hiểu sự chân thành của em?
- Học sinh: (im lặng).... Vâng ạ. CA SỐ 6 CHIA SẺ CHUYỆN GIA ĐÌNH VÀ HỌC TẬP Ở TRƯỜNG 3/ Kết thúc Mục tiêu tham vấn: Giúp học sinh giải tỏa cảm xúc tiêu cực về gia đình, nâng cao
khả năng nhận biết ra bản thân và đưa ra cách thức nâng cao kết quả học tập 1/ Làm quen,
giới thiệu bản
thân, tạo mối
quan hệ thân
thiện - Cán bộ tham vấn: Chào em, hôm nay cô về trường làm việc với cô
thầy của em. Cô là cán bộ tham vấn tâm lí, cô đang làm việc tại trường
X. Theo lịch đăng kí xin tham vấn, em tên là Hồng, học sinh lớp 12
của trường, em đã hẹn xin nói chuyện với cô hôm nay. Trước khi trò
chuyện, em muốn cô xưng hô với em thế nào cho tiện?
- Học sinh: Vâng! Cô gọi thế nào cũng được ạ.
- Cán bộ tham vấn: Vậy tốt rồi. Như em đã đăng kí là muốn nói về
chuyện gia đình và học tập của mình. Cô rất mong được nghe em nói
về những điều em đang quan tâm, suy nghĩ. Những gì em nói sẽ là bí
mật giữa cô và em, trừ khi vấn đề đó có liên quan đến vi phạm pháp
luật hoặc học đường. Những điều đó thì cô trò mình khó có thể giữ
được bí mật. Chúng ta sẽ nói chuyện trong vòng 60 phút nhé. - Cán bộ tham vấn: Chúng ta đã nói chuyện với nhau gần một giờ
rồi. Chúng ta sắp phải dừng cuộc trò chuyện này. Có thể thấy, trong
suốt câu chuyện em chia sẻ với cô, có hai vấn đề lớn khiến em bận
tâm. Thứ nhât, em cho rằng các bạn hay nói về việc bố mẹ em li hôn
và đối xử không tốt với em. Một số người trong hoàn cảnh của em
dù họ không có bạn thân nhưng họ vẫn có thể tìm đến giáo viên
chủ nhiệm để xin giúp đỡ, hoặc tìm đến một bạn có uy tín trong lớp
để chia sẻ nỗi khổ tâm của mình, qua đó các bạn trong lớp hiểu em
hơn và có thể các bạn không đem chuyện của bố mẹ em ra bàn tán
nữa. Chuyện thứ hai, em mong muốn gần gũi với các bạn hơn, không
bị các bạn nghĩ là em ghê gớm. Nhiều người khi bị hiểu nhầm, đặc
biệt bị hiểu nhầm là người ghê gớm họ đã chọn cách im lặng và vẫn
chơi bình thường cới các bạn. cách ứng xử này có thể dần dần cũng
làm mọi người hiểu về con người mình hơn. Em về nhà suy nghĩ xem
những cách chúng ta đã trao đổi với nhau, cách nào phù hợp với em.
Cô hy vọng em sẽ có buổi trò chuyện lần tới với cán bộ tham vấn để
cô giúp em đưa ra được cách ứng xử phù hợp với mình.
- Học sinh: Vâng ạ. Em cảm ơn cô!
- Cán bộ tham vấn: Cô chúc em sẽ sớm có được mối quan hệ bạn bè
như ý. Cảm ơn em đã chia sẻ. Chào em. 2/ Khai thác
thông tin, xác
định vấn đề Công việc của nhà tham vấn học đường trong buổi tiếp theo:
1/ Tham vấn cá nhân về cách thức học sinh ứng xử với các bạn khi có xích mích.
2/ Tham vấn nhóm về việc các bạn đàm tiếu những chuyện không hay về cha mẹ của
nhau, thảo luận những nguy cơ gây tổn thương tâm lí cho bạn và làm ảnh hưởng xấu
tới bầu không khí lớp. - Học sinh: Khi em mới bắt đầu năm học cấp 3, bố mẹ em li hôn. Điều
này đã ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý, giao tiếp cũng như việc học tập và
sinh hoạt của bản thân em. Những cảm nhận trong em về người cha
là những hình ảnh rất xấu. Khi chia tay, bố đã bỏ qua lời cầu xin của
các con là để lại ngôi nhà cho ba mẹ con sinh sống. Khi em cầu xin, bố
đã nói: “Tao phải bán cái nhà này để còn lấy vợ mới, đẻ con khác”. Lời nói
này khiến em luôn bị tổn thương. Bố đồng thời cũng bỏ rơi và không
có bất cứ trách nhiệm nào trong việc nuôi dạy con cái. Đồng thời gia
đình bên nội cũng quay lưng với hai anh em em. Em rất thương mẹ,
phải nuôi 4 người: 2 vợ chồng anh trai, em và mẹ. Anh em không có
việc làm, sức khỏe yếu. Mẹ không ổn định, tâm lý mẹ luôn buồn chán.
Mà em thì không thể làm gì giúp Mẹ.
- Cán bộ tham vấn: Em là người con rất có hiếu, thương mẹ, lo cho anh
trai và giận bố. Vậy cuộc sống của bố hiện nay thế nào? xuôi... (học sinh ngừng nói)... Anh trai em vẫn chẳng làm gì. Anh trai có
tính giống bố, luôn ỷ lại. Vợ anh cũng mệt mỏi...
- Cán bộ tham vấn: Anh trai em đã trưởng thành, anh có gia đình, anh
ấy phải tự chịu trách nhiệm với bản thân và cuộc đời của mình. Em
mới 17 tuổi, em không thể gánh được những việc làm không tốt của
anh và chìm đắm vào những nỗi lo nghĩ mà người lớn đôi khi cũng
đau đầu hay bế tắc về những chuyện này... Khi em suy nghĩ về tương
lai của anh mình và có chút lo lắng về anh là tự nhiên, chỉ có những
người em yêu thương anh mới có những lo lắng như vậy. Tuy nhiên,
em không thể để tương lai của anh trai tạo nên áp lực cho mình, khiến
mình buồn phiền lo âu. Không thể đưa cuộc sống bế tắc của anh,
như em nói, nhập vào cuộc sống của em. Cuộc sống của em chỉ mới
bắt đầu, đang hé mở với nhiều điều tốt đẹp trước mắt. Hãy nhìn vào
những điểm tích cực của mình. Chỉ có em mới có thể làm cho cuộc
sống của mình tốt hơn. Em là cô gái quá tốt, đừng để cuộc sống hiện
tại đánh mất tương lai của mình...
- Học sinh: Vâng. Em cám ơn cô đã nhắc em. 3/ Lựa chọn
giải pháp và
lên kế hoạch
cho học tập - Cán bộ tham vấn: Như em nói lúc đầu, buổi trò chuyện hôm nay tập
trung vào chuyện gia đình và học tập của em. Chúng ta đã nói qua về
chuyện gia đình của em. Bây giờ chúng ta sẽ nói về chuyện học tập
nhé. Học tập của em hiện nay thế nào?
- Học sinh: Trước kia, em rất chăm học, từ nhỏ em tự học, em luôn duy
trì trạng thái học tốt. Sau chuyện bố mẹ, em không tập trung, em học
sa sút... Em tự trách mình nhiều, nhưng em thấy học hành mờ mịt quá.
Em thích thi khối D, nhưng em chưa biết bắt đầu học từ đâu. Lúc nào
cũng chữ đại học cũng rất to trong đầu nhưng em vẫn chưa biết chọn
ngành nào, chỉ biết là thi khối D thôi.
- Cán bộ tham vấn: Em là cô gái có trách nhiệm với cuộc đời mình, vì
vậy em lo về chuyện học hành cho công việc ổn định trong tương lai.
Em có hướng thi khối D. Vậy trong 3 môn: toán, anh, văn, môn nào em
cho là yếu nhất?
- Học sinh: Vâng em rất lo cho việc đỗ vào đại học. Môn toán em không
chắc, em học toán yếu, xếp thứ 30-40 trong lớp. Môn văn em có thể
tự học được. Còn môn Anh, em giúp mẹ kinh doanh nhà hàng ăn, có
nhiều khách nước ngoài đến ăn nên em thường luyện nói tiếng Anh.
Môn Anh em tự tin hơn cả.
- Cán bộ tham vấn: Vậy là em có khả năng xác định được điểm yếu,
điểm mạnh của mình cho mỗi môn học. Môn văn em tự học, môn - Học sinh: Tòa tuyên bố phải đóng góp nuôi chúng em, nhưng bố
không đóng góp gì cả. Mẹ lúc đó thất nghiệp. Sau này mẹ chuyển
sang kinh doanh, có tiền, nhưng nhà em ở là nhà đi thuê. Bố hay gọi
điện mắng em là em chỉ nghe mẹ, không quan tâm đến bố. Em nghĩ
bố phải quan tâm đến các con, như thế chúng em mới quan tâm đến
bố được. Bây giờ bố vẫn ở một mình. Chúng em cũng không còn quan
tâm tới bố.
- Cán bộ tham vấn: Như vậy là, sau khi bố mẹ li hôn, em hi vọng là bố
sẽ quan tâm tới các con. Liệu có xảy ra trường hợp có thể là bố cũng
chờ đợi sự quan tâm về tinh thần từ hai đứa con, rằng ông cũng bị tổn
thương khi nghĩ là con cái không còn quan tâm tới mình, mình sống
một mình, còn 3 người kia vẫn có nhau?
- Học sinh: (Học sinh khóc, cán bộ tham vấn rót nước, đưa khăn giấy cho
học sinh và nắm tay em)... Mẹ luôn nhắc lại vết thương nhiều lần trong
hơn 2 năm qua. Vừa rồi mẹ nói bố chung tiền để mua lại nhà cho các
con, không hiểu vì sao bố không nghe. Anh trai em rất hiền, sau khi bố
mẹ li hôn anh học hành sa sút, bị kỷ luật, rồi yêu đương, bị sa ngã vào
vấn đề khác... Ngôi nhà em luôn trống vắng.
- Cán bộ tham vấn: Em duy trì sự tổn thương trong lòng khi nghĩ rằng
nếu bố mẹ không li hôn thì anh trai đã có tương lai khác. Cô đang cố
gắng hiểu, thực sự em thấy bị tổn thương về gia đình do li hôn của bố
mẹ hay em thấy từ cuộc hôn nhân đổ vỡ của bố mẹ mà tương lai của
em và anh em bị mờ mịt?
- Học sinh: Anh trai đã có vợ, một con, trở thành người khác trước đây
rất nhiều. Ngày càng thụt lùi. Em cảm thấy thất vọng. Em không muốn
vì câu chuyện ngày xưa ảnh hưởng tới hiện tại. Em muốn thành công,
sau này nếu có điều kiện chăm sóc bố mẹ. Bố em bây giờ rất yếu, thi
thoảng lại ngã và nhiều bệnh...
- Cán bộ tham vấn: Em đã có những suy nghĩ bao dung và bao bọc
người thân của mình. Em muốn xóa những vết đau cho anh khi tin
rằng anh thế này là do cha mẹ bỏ nhau, em thấy mình có trách nhiệm
với anh mình, muốn điều tốt cho anh trai, muốn anh mạnh mẽ... Em
lo cho bố, mẹ, anh trai ngay cả khi em không hài lòng với họ. Cách em
nói cho thấy em suy nghĩ chính chắn. Cuộc sống thực tế thế nào cũng
không dễ đánh gục được em. Em là người rất có trách nhiệm với bản
thân và gia đình...
- Học sinh: Em luôn cảm ơn mẹ đã hi sinh vì con, có trách nhiệm với
chồng con. Cái đau lòng nhất hiện nay là em chấp nhận bố, nhưng có
thể anh trai thì không, em muốn anh trưởng thành và không buông việc phụ giúp mẹ bán hàng, thương yêu anh chị. Stress gia đình đã có
thể gây tổn thương cho em, nhưng cũng giúp em trưởng thành và có
trách nhiệm. Cô thấy em có nụ cười rất đẹp, mặt em sáng ngời khi em
cười. Đừng quá suy nghĩ chìm về quá khứ, buồn rầu sẽ làm ảnh hưởng
đến cuộc sống, làm phát triển trứng cá trên mặt đấy...
- Học sinh: (cười) Vâng cô, em xin ghi nhớ. 4/ Kết thúc - Cán bộ tham vấn: Như vậy là mình đã nói chuyện với nhau về gia
đình em và việc học tập của em (Cán bộ tham vấn tóm tắt nhanh 2 vấn
đề học sinh vừa chia sẻ)... Bây giờ cô nói qua về cách mình làm chủ cảm
xúc... (Cán bộ tham vấn hướng dẫn học sinh cách hít thở sâu, giữa cân
bằng với mặt đất khi căng thẳng, thở chậm, nghĩ chậm lại, uống nước
ấm từ từ...). Cô rất tiếc phải dừng cuộc nói chuyện ở đây trong ít phút nữa vì
bạn em đang ở bên ngoài đợi cô. Bây giờ em cảm thấy thế nào về cuộc
nói chuyện này? - Học sinh: Cảm ơn cô rất nhiều, em đã trải hết lòng mình, thể hiện con
người thật, nói ra mọi suy nghĩ trong khi những điều này em đã che
dấu tất cả mọi người từ trước tới nay. Em đã tự xây bức tường an toàn,
che dấu cảm xúc. Em cám ơn cô. Cán bộ tham vấn của trường thực hiện tham vấn tiếp theo cho học sinh:
1/ Nói chuyện về kế hoạch tìm gia sư học thêm của học sinh về môn toán. Cách sắp xếp thời gian cho các môn học và việc lao động phụ giúp mẹ ở quán ăn. 2/ Tư vấn chọn ngành/nghề cùng học sinh. Anh em tự luyện, còn môn toán phải tăng tốc trong thời gian còn lại 8
tháng cho thi Đại học... Chúng ta xem từng môn học nhé. Ví dụ, môn
văn em tự học thế nào?
- Học sinh: Em nghĩ môn này cần chăm. Em có thể tự học được. Mua
sách là làm theo hướng dẫn thôi. Em trước đây rất chăm học. Em nghĩ
nếu em quyết tâm em có thể ngồi học mà không cần gia sư.
- Cán bộ tham vấn: Vậy thì tốt rồi. Em nghĩ thế nào về một gia sư, nữ
sinh viên chẳng hạn, họ đủ kinh nghiệm để có thể chỉ ra những kiến
thức hổng, thiếu của em về môn toán để em có thể thi đạt điểm cao
môn toán?
- Học sinh: Môn toán em sẽ học gia sư. Em sẽ chọn một anh chị năm 4
sinh viên đã từng đi dạy.
- Cán bộ tham vấn: Em sẽ chọn hay em đã chọn gia sư cho mình rồi?
- Học sinh: Em đã nhờ hỏi một chị sinh viên, chị cũng đồng ý rồi. Em
biết bản thân em yếu tâm lý khi làm bài thi, chân tay hsy bủn rủn khi
sắp hết giờ thi.
- Cán bộ tham vấn: về chuyện này, em có nghĩ là sẽ nói cho gia sư biết
để chị ấy giúp em?
- Học sinh: Dạ vâng, em sẽ nói.
- Cán bộ tham vấn: Vậy chuyện học tập của em thực ra không có gì
đáng thật lo ngại. Vấn đề chính của em là buồn phiền chuyện gia đình,
cụ thể là chuyện của anh em nên có ít nhiều ảnh hưởng tới sự toàn
tâm cho học tập của em. Những điều này có thể được cải thiện khi em
nghĩ đến chuyện nhờ gia sư giúp, nói cho gia sư biết để họ giúp em
trấn tĩnh khi làm bài nữa.
- Học sinh: Vâng, thực sự là vậy. Em cảm thấy nản lòng khi nghĩ về mẹ
và anh trai em.
- Cán bộ tham vấn: Qua những điều em chia sẻ gần 60 phút vừa rồi
cô nhận thấy ở tuổi em, nhiều bạn có thể tự hào về những giá trị, mà
những cái đó chưa chắc đã là do họ tạo nên. Ví dụ như họ tự hào là bố
mẹ làm to, con nhà giàu, được gia đình cưng chiều, bố mẹ hòa thuận,
v.v... Vì vậy, đôi khi họ cũng chả cần quan tâm tới ai xung quanh mình,
thậm trí cả người thân của họ. Nhưng em lại khác. Có thể em nghĩ
mình không còn giá trị khi bố mẹ li hôn, anh trai không có việc, làm
làm em buồn... Cô thấy em có suy nghĩ của người trưởng thành dù
tuổi còn nhỏ. Ví dụ, em có trách nhiệm với gia đình trong CA SỐ 7 KHÔNG HÀI LÒNG VỀ SỰ TRÊU CHỌC CỦA MỘT SỐ BẠN 2/ Khai thác
thông tin, xác
định vấn đề Mục tiêu tham vấn: Giúp học sinh học cách ứng xử phù hợp để chơi cùng các bạn và
không bị các bạn trêu chọc 1/ Giới thiệu,
làm quen,
xây dựng mối
quan hệ thân
thiết - Cán bộ tham vấn: Chào em, cô là cán bộ tham vấn tâm lý. Cảm ơn
em đã tin tưởng và tìm đến cô cho buổi tham vấn này.
- Học sinh: Em chào cô, em tên là Hà, học sinh lớp 9 của trường ạ. Cô
giáo bảo em đến nói chuyện với cô. Cô muốn em nói chuyện gì ạ?
- Cán bộ tham vấn: Vậy em có muốn nói chuyện gì đó với cô?
- Học sinh: Vâng, cũng được ạ.
- Cán bộ tham vấn: Vậy thì em có thể nói bất cứ chuyện gì em muốn,
như việc học, quan hệ với các bạn, chuyện gia đình. Những gì em nói
là bí mật giữa chúng ta.
- Học sinh: Nhưng theo em biết khoa học đã chứng minh là phụ nữ
không bao giờ giữ bí mật được.
- Cán bộ tham vấn: Cô hiểu lần đầu em gặp cô nên có thể em còn
đang e ngại và cân nhắc xem có nên chia sẻ với cô hay không. Tuy
nhiên, nguyên tắc của cô trong làm việc là giữ bí mật những điều
học sinh chia sẻ với mình. Do đó, em có thể tin rằng câu chuyện của
em sẽ là bí mật của chúng ta. Em nói khoa học đã chứng minh là phụ
nữ không bao giờ giữ bí mật, đó có thể là nói chung thôi, cô tin khi
nghề nghiệp của em không cho phép em được làm lộ bí mật thì em
sẽ là người biết giữ bí mật.
- Học sinh: Vâng ạ, em đồng ý. - Cán bộ tham vấn: Em có chuyện gì muốn chia sẻ cùng cô?
- Học sinh: Chuyện của em thì nói chung chỉ có học tập, yêu đương
thì em chưa yêu ai, gia đình em thì đang có tin vui vì mẹ em sắp có
em trai.
- Cán bộ tham vấn: Việc mẹ có em trai có ý nghĩa như thế nào với em?
- Học sinh: Ngày trước lúc mẹ mang thai em bé, mẹ siêu âm thì tưởng
em là em trai nhưng rồi lại đẻ ra em gái. Nên giờ mẹ sắp có thêm em
trai thì em thấy vui. Em thấy thật may mắn vì có gia đình như thế. - Cán bộ tham vấn: Cụ thể gia đình em như thế nào?
- Học sinh: Em may mắn vì gia đình có điều kiện, mẹ em tốt tính, chu
đáo. Nhiều bạn của em không được vậy.
- Cán bộ tham vấn: Nghe em nói, cô cảm thấy em rất hài lòng về gia
đình mình. Ngoài chuyện vui về gia đình, em có điều gì cần cô giúp
đỡ?
- Học sinh: Em có khả năng học toán, hiểu nhanh, em đã đạt rất nhiều
giải toán và giải tiếng Anh cấp quận khi còn là học sinh tiểu học. Hiện
giờ em đang học lớp toán nâng cao, toán khó. Nhưng em thấy em
giống người ngoài hành tinh.
- Cán bộ tham vấn: Người ngoài hành tinh nghĩa là sao?
- Học sinh: Vì các bạn học không bằng em, các bạn ngại đối đầu với
em nhưng em thấy mình có vấn đề trong giao tiếp.
- Cán bộ tham vấn: Cụ thể vấn đề của em là gì?
- Học sinh: Các bạn rất ngại đối đầu với những thành tích của em vì
chúng nó khó mà vượt qua em được, nhưng cơ thể em quá béo, em
cần phải giảm cân. Em cũng giảm ăn và tập gym, bố em bảo em phải
giảm cân nếu không sẽ béo phì. Đợt hè vừa rồi em đã tập và giảm
được 10 kg, giờ em còn 60 kg.
- Cán bộ tham vấn: Và đó có phải là nguyên nhân khiến em cảm thấy
em có vấn đề trong giao tiếp với các bạn?
- Học sinh: Em muốn nói đến thân hình ngoại cỡ của em. Em thường
bị bạn bè trêu chọc. Chúng nó gọi em là đô vật, là sâu.
- Cán bộ tham vấn: Em cảm thấy thế nào khi các bạn gọi em thế?
- Học sinh: Em thấy bình thường. Cũng có lúc các bạn trêu làm em
bực, có khi em đuổi theo chúng nó để đánh. Nhưng em không hiểu
sao bạn bè cứ nhìn em mỗi khi em đuổi theo bạn. Có lẽ em là người
nổi tiếng ở trong trường, đứa nào cũng biết em vì thành tích học toán
của em. Mẹ em cũng rất tự hào về thành tích đó còn bố mẹ các bạn
hay lấy em ra làm gương. Nhưng các bạn cứ trêu em khiến em có vấn
đề trong giao tiếp.
- Cán bộ tham vấn: Cô cũng tin là với thành tích học toán mà em đã
đạt được, em và gia đình có quyền tự hào. Vậy vấn đề trong giao tiếp
của em được thể như thế nào?
- Học sinh: Em thường ít nói, em ngại chia sẻ và em có sở thích kì cục là
xem phim hoạt hình. Vì xem phim em đỡ phải nói với các bạn. Những
điều em nói khiến các bạn cụt hứng - Cán bộ tham vấn: Em nói điều gì mà các bạn cụt hứng?
- Học sinh: Em nói về chuyện giải toán. Dù là bài khó em vẫn là người
tìm ra đáp án trước, chúng nó chẳng kịp theo em được. Với lại toán
khó nên em nói chúng nó cũng không hiểu, thành ra là cụt hứng.
Nhưng ngoài toán ra, em không biết nói chuyện gì với chúng nó cả.
Có lúc chúng nó trêu em, em đã đuổi theo và ném phấn vào chúng
nó. Mà em không hiểu vì sao, em làm cái gì cũng bị chúng nó chú ý, có
khi chỉ là trong lớp học, em mỏi người quá thì vặn người cũng khiến
chúng nó để ý đến và trêu chọc em.
- Cán bộ tham vấn: Và việc em đuổi theo các bạn có khiến các bạn
thôi trêu chọc em?
- Học sinh: Cũng có ạ. Nhưng mà cách đó cũng chỉ khiến chúng nó
cũng giảm bớt đi nhưng rồi được vài hôm lại trêu em. Rồi em thấy
chẳng cần phản kháng. Em thấy bình thường. Thực ra bọn nó cứ trêu
vì em béo nhưng mà em học toán thì giỏi hơn các bạn, không đứa nào
chọi với em được. - Cán bộ tham vấn: Vậy mục đích em đến gặp cô là để được giúp về
cách chơi cùng các bạn, không bị các bạn trêu chọc? 3/ Đưa ra các
quyết định - Học sinh: Vâng ạ. Em muốn các bạn không trêu em nữa. Em không
muốn mọi người cứ chú ý đến em rồi trêu chọc em. - Cán bộ tham vấn: Cô hiểu là không ai muốn bị người khác mang ra
trêu đùa, và chắc hẳn em phải rất khổ tâm mỗi khi các bạn trêu chọc vì
ngoại hình của em, các bạn gọi em là “đô vật”, là “sâu”. Điều này khiến
em cảm thấy xa cách với các bạn và có những lúc em phản ứng lại
bằng việc chạy đuổi theo, ném phấn vào các bạn. Tuy nhiên, việc em
cáu lên chỉ là giải pháp tạm thời và có lúc lại càng làm các bạn trêu em
nhiều hơn. Một số người khi bị người khác trêu đùa rất sẵn sàng ngồi
lại nói chuyện thẳng thắn với người trêu mình. Có người đã nói với
những người trêu họ rằng nếu mọi người có chuyện căng thẳng, cần
trêu chọc tớ để xả stress thì các cậu cứ trêu nhưng nếu các cậu lấy tớ
ra làm trò đùa và chế nhạo vì ngoại hình của tớ thì các cậu nên nhìn lại
bản thân mình vì người nào cũng có nỗi khổ tâm của mình. Em nghĩ
thế nào về các giải pháp của họ? - Học sinh: Em chưa khi nào nghĩ vè các giải pháp này. Em sẽ nghĩ xem
có thể nói chuyện với các bạn theo kiểu đó không. - Cán bộ tham vấn: Một vấn đề chúng ta luôn có nhiều cách giải
quyết. Một số người khác ở trong hoàn cảnh của em, họ đã sẵn sàng
trêu chọc lại các bạn bằng cách tìm ra những điểm yếu của các bạn, ví
dụ như có bạn học kém, có bạn xấu, có bạn thấp, có bạn nói ngọng...
Tuy nhiên, cách này thì chúng ta làm người trêu mình bị đau, giống
như khi họ làm đau mình. Em cũng có thể tìm cách khác nữa.
- Học sinh: Em không thích mang điểm yếu của người khác ra trêu họ.
- Cán bộ tham vấn: Cô hiểu em là người chân thành, vui vẻ và tôn
trọng mọi người, do đó, em không muốn động đến điểm yếu của các
bạn để làm các bạn khổ tâm. Và em không nhất thiết phải theo cách
đó. Cũng có người trong hoàn cảnh của em thì họ tìm cách nói chuyện
thẳng thắn về cảm xúc của mình. Liệu em có thể nói rằng em rất buồn
khi bị các bạn trêu chọc, rằng em cũng buồn về ngoại hình của mình,
em cũng muốn có được cơ thể gọn như các bạn và đã cố gắng nhưng
hiện tại em chưa đạt được?
- Học sinh: Vâng ạ.
- Cán bộ tham vấn: Lúc nãy em có nói rằng nhờ tập gym trong đợt hè
mà em giảm 10 kg. Vậy em cũng cứ duy trì việc tập gym như vậy vì nó
không chỉ giúp em giảm cân mà điều quan trọng hơn cả là nó nâng
cao sức khỏe cho em và giúp em tránh những bệnh mà một người có
cân nặng cao có nguy cơ gặp phải.
- Học sinh: Vâng, em cũng nghĩ là cần giảm cân tiếp dù thực ra em
cũng khá hài lòng về cơ thể của mình. Tuy nhiên, em sẽ vẫn duy trì tập
gym vì bố em cũng muốn thế, với lại giảm cân đi thì chắc chúng nó
cũng đỡ trêu em.
- Cán bộ tham vấn: Bên cạnh đó, cô nhận thấy em là cô gái rất niềm nở,
thích chia sẻ, từ nãy đến giờ em đã nói rất nhiều chuyện về nhiều chủ
đề khác nhau. Em không nhút nhát và ngại giao tiếp như em tưởng.
Vậy em cũng cứ giữ sự hồn nhiên như thế khi nói chuyện với các bạn.
- Học sinh: Cũng được ạ.
- Cán bộ tham vấn: Như vậy là trước khi chúng tay em đã hình dung
ra những cách thức nào để em có thể duy trì giao tiếp vui vẻ với các
bạn và giảm cân cho mình?
- Học sinh: Vâng em cũng nghĩ ra một vài cách: 1/ Một là nói với các
bạn em cảm thấy thế nào khi bị các bạn giễu cợt về ngoại hình.2/ Hai
là tiếp tục duy trì tập gym để giảm cân. CA SỐ 8 HỌC SINH BỊ ÁM ẢNH ĐIỂM SỐ, KHÔNG HÀI LÒNG VỀ BẢN THÂN Mục tiêu tham vấn: Giúp học sinh nhận ra niềm tin phi lí trong học tập của bản thân
và giúp em thay đổi nhận thức tiêu cực về kết quả học của mình - Cán bộ tham vấn: Việc tiếp tục tập gym em có thể duy trì được với
lòng quyết tâm của mình và sự hỗ trợ của gia đình em. Bản thân em
cũng nhận ra là cần tiếp tục giảm cân rồi. Còn việc em sẽ nói với các
bạn để ngăn các bạn giễu cợt về ngoại hình thì em định nói với các
bạn thế nào?
- Học sinh: Em cần nghĩ về việc này và những kinh nghiệm cô đưa ra. 4. Kết thúc Dưới đây chỉ là một phần của một ca nói về việc vận dụng kỹ thuật 5 bước nhằm thay
đổi nhận thức. Thực tế ở ca này, cán bộ tham vấn nói chuyện nhiều với học sinh. Vì thế
nội dung tham vấn nhiều hơn và rộng hơn. Trong ca này, chúng tôi chỉ trích lược một
số đoạn để làm bật cách tham vấn theo quan điểm 5 bước thay đổi nhận thức của học
sinh). Bước 1: Cho học sinh
thấy em đang
có những ý
nghĩ không
hợp lý, niềm
tin phi lí - Cán bộ tham vấn: Rồi, chúng ta sẽ nói cụ thể về chuyện này sau.
Như vậy, qua câu chuyện vừa rồi, có thể thấy em là học sinh có năng
lực học toán rất giỏi và đã đạt được nhiều thành tích về môn toán. Em
thường hay bị bạn bè trêu chọc vì em cho rằng mình có thân hình to
và em không biết cách nói chuyện với các bạn. Thời gian tới, em vẫn
duy trì tập gym và suy nghĩ, lựa chọn một trong số các cách thức mà
chúng ta đã nói lúc nãy mỗi khi em bị các bạn trêu đùa. Là một học
sinh thông minh, cô tin rằng em sẽ sớm giúp các bạn hiểu được nỗi
lòng em và không còn trêu chọc em nữa.
- Học sinh: Vâng, được nói chuyện như này em cảm thấy tốt lắm rồi,
lâu rồi em chưa có buổi nào được nói nhiều như vậy. Em chỉ cần có
người nói chuyện cùng thôi. Em cảm ơn cô. Em chào cô!
- Cán bộ tham vấn: Chào em. Cô hi vọng có dịp gặp lại em và thấy
được điều mong muốn của em đã trở thành hiện thực. Công việc của cán bộ tham vấn ở buổi làm việc tiếp theo: Trò chuyện với học sinh về cách thức học sinh đã lựa chọn sử dụng mỗi khi bị các bạn trêu
chọc. Khích lệ tinh thần để học sinh duy trì được sự thay đổi qua giao tiếp tích cực với bạn
và luyện tập hình thể để giảm cân. (Sau khi đã chào hỏi, giới thiệu bản thân, nói về tính bí mật và trách
nhiệm thay đổi bản thân của học sinh)
- Học sinh: Em có chuyện bức xúc muốn chia sẻ với cô. Chuyện này
làm em trăn trở khá lâu, em giận bản thân mình. Em nói ra sợ các bạn
nói em trảnh, dỗi hơi, nhưng đối với em nó lại là vấn đề làm em bị bức
bối, em bị ám ảnh về nó. (Học sinh bỗng im lặng)
- Cán bộ tham vấn: (Cán bộ tham vấn cũng im lặng chờ đợi) Cô đang
nghe em nói đây, vậy vấn đề của em là gì?
- Học sinh: Cách đây 3 tháng, em bị một điểm 5 rất vớ vẩn. Bây giờ cứ
nhìn vào bảng điểm em tự giận bản thân.
(Câu chuyện tiếp tục về sự cố gắng học tập của học sinh, về niềm vui khi
chiêm ngưỡng kết quả học tập của các anh chị em học hàng về niềm vui
trước kết quả học tập của học sinh – trước khi có điểm 5 môn toán...).
- Cán bộ tham vấn: Trong câu chuyện về học tập của em cô nhận
thấy em đã trách móc bản thân nhiều. Hầu như đích điểm tối đa luôn
mở cửa đón em. Vì vậy khi em không nhận được điểm 9, 10 cho mỗi
môn mà em nghĩ là sẽ đạt được thì em cảm thấy giận bản thân. Quay
lại với một điểm 5 môn toán, em lại trăn trở bản thân đã 3 tháng rồi.
câu chuyện của em cho thấy em là người luôn phấn đấu đến sự hoàn
hảo. Điều này cần thiết. Tuy nhiên sự hoàn hảo luôn có điều kiện
hoàn hảo đi kèm. Liệu em có cho phép mình nghĩ theo một cách
khác, rằng đôi khi chúng ta không đạt được sự hoàn hảo vì không
phải lúc nào chúng ta cũng kiểm soát được các điều kiện xung quanh
và cả bản thân mình nữa. Quan trọng là mình đã cố gắng. Liệu có
phải lúc nào tâm trí mình cũng sáng xuốt cho làm bài thi hay một
công việc nào đó? Bước 2: Làm
sáng tỏ cách
thức học sinh
duy trì những
suy nghĩ
không hợp lý
đó. Bước 4: Giúp
học sinh nhận
biết con đường
duy trì các
niềm tin phi lý
về học tập của
em. - Cán bộ tham vấn: Điều gì khiến em tin rằng điểm 5 đó là không thể
chấp nhận được?
- Học sinh: Thì cô xem bảng điểm cả cấp 3 của em không có một con
6 nào, thế mà em lại bị một con 5 ở môn toán, môn em trội hơn cả,
mà cũng bài này, hầu hết cả lớp đều được điểm giỏi, mình em lại bị
thấp tẹt thế mới đau chứ cô. Cũng không phải vì các bạn được điểm
cao môn đó mà em giận bản thân. Vấn đề là bảng điểm này không
đáng có con 5. Em đã không cố gắng. Em nộp bài sớm. Đáng lẽ em
nên dọc lại thì đã phát hiện ra.
- Cán bộ tham vấn: Thực ra em khó chịu về điểm 5 hay em trách mình
không cẩn thận.
- Học sinh: Em cũng không biết nữa, chắc cả 2.
- Cán bộ tham vấn: Là một học sinh chỉn chu trong học tập, em đã
luôn cố gắng đến mức có thể. Việc em không cho phép mình có chút
sai sót đã khiến em giận bản thân. Vấn đề không phải là điểm 5, mà
là em nghĩ về điểm 5 với sự không hài lòng về bản thân. Em có thấy
chỉ vì một điểm 5 mà em đã tốn quá nhiều sức lực và thời gian để bận
tâm về nó, để dằn vặt bản thân.
- Học sinh: Vâng, em cũng biết là không hay nhưng em không thoát
được khỏi trong đầu chuyện này. Đúng là em chỉ giận bản thân em
thôi. - Cán bộ tham vấn: Người thân trong gia đình em nói gì về điểm 5
này của em?
- Học sinh: Tất nhiên là mẹ em không vui rồi, dù mẹ em cũng không
nhắc nhiều về chuyện này. Trong dòng họ nhà em, cậu em, bác em
và bố em đều học rất giỏi, họ là những người kế tiếp niềm tự hào của
dòng họ. Năm nào cũng vậy, ông nội em khi làm lễ dâng hương tổ,
ông thường tự hào về con cháu.
- Cán bộ tham vấn: Nói chuyện với em thật thú vị, phải là những
người coi trọng chuyện học hành mới thấy được hết những khao
khát muốn được kế tục thành đạt học hành trong em. Bố mẹ, ông bà
em chắc rất tự hào về người con chăm học như em.
- Học sinh: Cũng không hoàn toàn thế ạ, nhà nội em vẫn có một
chú, chú ấy không học gì cao về khoản học hành thì gia đình chú ấy
không bằng các anh em bên bố em.
- Cán bộ tham vấn: Theo em mọi người trong họ hàng nhà em, cả
ông em đánh giá thế nào về chú ấy.
- Học sinh: Không ai đánh giá gì chú ấy cả , chú ấy rất tốt. Mọi người
rất quý chú ấy. Chú đang sống với ông nội em. Ông em rất thích ở
với chú ấy, chỉ có cô chú ấy mới có thời giờ để trông nom ông em. Ai
cũng nói nhờ có cô chú ấy mà ông em khỏe mạnh. Tuy nhiên mẹ em
cũng không hoàn toàn ưa chú ấy về khoản này. Mẹ em nói chú ấy làm
gương xấu về học hành cho con.
- Cán bộ tham vấn: Vậy bản thân em có thấy chú làm gương xấu về
học hành cho con chú ấy không?
- Học sinh: Em không nghĩ về chuyện này, có lẽ cũng không hẳn thế.
Anh lớn năm đầu trượt đại học, thi lần 3 mới đỗ. Nhưng bây giờ anh
ấy lại kiếm tiền giỏi nhất nhà. Anh ấy làm ở tập đoàn FLC, lương 45
triệu một tháng cơ mà. Bước 3: Giúp
học sinh đưa
ra cách thách
thức những
niềm tin
không hợp lý
của mình Bước 5: Giúp
học sinh chủ
động phát
triển những
cách sống hợp
lý hơn, có ý
nghĩa hơn. - Cán bộ tham vấn: Có vẻ như về khoản ý chí thì anh ấy với em khá
giống nhau. Còn chú em, một người học thấp nhất, nhưng lại được
các cô bác họ hàng đều quý chú ấy. Theo em mọi người yêu quý chú
ấy vì những điểm nào?
- Học sinh: Thì chú em hay giúp đỡ mọi người này, các con chú ấy chú
ấy ai cũng ngoan này... Chắc còn nhiều thứ mà em chưa nhớ ra thôi.
- Cán bộ tham vấn: Vậy quay lại điểm 5 môn toán của em, bây giờ em
cảm thấy thế nào với điểm 5 này? - Cán bộ tham vấn: Em đã giận bản thân chỉ vì điểm 5. Vậy một điểm
5 thì đã sao?
- Học sinh: Nó cũng không làm sao, nhưng nhìn thấy nó cũng rất
ngứa mắt. Là em chưa cố gắng hết, nếu em cẩn thận một chút thì đã
khác rồi.
- Cán bộ tham vấn: Để có được một kết quả học hiện nay, cô biết là
em đã cố gắng rất nhiều. Dù em có điểm 5 hay không thì bạn bè và
các thầy cô đều biết em là người thế nào, ai cũng tôn trọng và quý
mến em dù em có điểm 5 hay không. Còn em đối với bản thân mình,
xem nào, cô đang tự hỏi chả nhẽ vì điểm 5 này mà hòa bình thế giới
trong em lại xụp đổ ư?
- Học sinh: Im lặng.
- Cán bộ tham vấn: Ngoài cảm giác khó chịu, điểm 5 này ảnh hưởng
thế nào tới cuộc sống và học tập của em?
- Học sinh: Không! Thực ra nó cũng không ảnh hưởng tới em hay tới ai. CA SỐ 9 TRÒ CHUYỆN VỀ NỖI ĐAU BUỒN TRONG QUÁ KHỨ Mục tiêu tham vấn: Giúp học sinh giải tỏa cảm xúc, nâng cao hiểu biết về bàn thân,
đưa ra được các cách thức giải quyết những vướng mắc của mình và thay đổi hành
vi (cả 4 mục tiêu học sinh đều cần được hỗ trợ). Buổi đầu tiên: Giúp học sinh giải tỏa cảm xúc đau buồn trong quá khứ và nâng cao
hiểu biết về bản thân. 1/ Chào hỏi,
làm quen,
xây dựng
mối quan hệ
thân thiện - Học sinh: Nói chuyện với cô em đã nhận ra là mình thật vớ vẩn. Em
nghĩ con người ta còn nhiều chuyện phải làm hơn là lo lắng về một
vấn để nhỏ lẻ này. Thực ra em vẫn biết là một điểm 5 này không hề
kéo tổng điểm cả năm của em. Có lẽ em đòi hỏi quá cao về mình. Nói
chuyện với cô em thấy thoải mái trong người rồi.
- Cán bộ tham vấn: Qua câu chuyện vừa rồi, cô nhận thấy em là một
học sinh rất nghiêm túc và có ý chí. Khi em muốn gì là cố gắng để làm
tốt nhất. Là người thông minh nên em nhìn mọi chuyện xung quanh
khá mạch lạc, rất thiện chí. Cô trò mình bây giờ gác lại điểm 5 ở đây,
cho nó vào thùng rác nhé. Ném này! (Cán bộ tham vấn làm động tác
ném rác, học sinh cười). Vì em đang là lớp trưởng của lớp chuyên nên
cô muốn nói một chút về chuyện học tập của các bạn em trong lớp,
Em có muốn nói về chuyện này?
- Học sinh: Vâng thưa cô! ...
Câu chuyện chuyển chủ đề sang việc học tập của lớp, cán bộ tham
vấn giúp học sinh ý thức về trách nhiệm của mình với tư cách là
lớp trưởng, có kết quả học xuất sắc với việc giúp các bạn học yếu
trong lớp. Cán bộ tham vấn tiếp tục giúp học sinh chủ động phát triển những
cách sống hợp lý hơn thông qua việc khích lệ em tham gia vào các hoạt
động công ích, hoạt động trợ giúp cho các bạn học yếu kém. Công việc của buổi tham vấn tiếp theo: Học sinh nữ lớp 12, nhỏ bé đi vào phòng tham vấn học đường của trường,
trời nóng bức, em mặc áo dài tay, kín cổ, đeo một balô to sau lưng, chào
cô và lúng túng nhìn vào 2 ghế để bên cạnh cán bộ tham vấn.
- Cán bộ tham vấn: Chào em, em có thể ngồi vào chỗ nào cũng được
(đưa cốc nước cho học sinh). Em uống nước đi. Em có biết mình đến
phòng tham vấn để làm gì không?
- Học sinh: Dạ có, em có đăng kí xin gặp cô để nói chuyện, em tên
là Xuân (học sinh ngồi xuống ghế, chuyển cái balo to sau lưng ra trước
bụng, ôm khư khư, cán bộ tham vấn muốn nhắc học sinh để cái balo
to ra ghế bên cạnh cho đỡ vướng, đỡ nóng và để cuộc trò chuyện được
thoải mái, nhưng lại nói gì vì linh cảm về sự phòng vệ của học sinh).
- Cán bộ tham vấn: Vậy thì đúng rồi, cô cũng đến để nói chuyện với em
đây. Cô tên là Hạnh, cô là giáo viên dạy khoa tâm lí học. Em muốn chia
sẻ về điều gì với cô? Nhà tham vấn cùng học sinh đưa ra lớp bàn về các cách thức giúp các bạn có kết quả học
tập yếu và phát động lớp tăng cường chia sẻ kiến thức trong các hoạt động ngoại khóa
(Nhà tham vấn - hình thức tham vấn nhóm). 2/ Khai thác
thông tin,
xác định vấn
đề đau buồn
trong quá
khứ của học
sinh - Học sinh: Hồi em học lớp 5, bảy năm trước em đi học về nhà, em ra
khỏi trường có một người đàn ông đội mũ bảo hiểm chặn đường hỏi
em học lớp mấy mà xinh thế, sau đó nắm tay kéo lên xe máy. Em la hét
và mọi người không đến cứu. Lúc đó có nhiều phụ huynh, và các bạn
đứng đó nhưng không ai giúp. Em đã tự giãy đạp, chạy về nhà. Xã hội
quá vô cảm khi người ta không bảo vệ trẻ em. Em thấy mọi người thật
tồi tệ (học sinh bắt đầu khóc). Chuyện này cho đến bây giờ không ai biết.
Em cũng chỉ nói với bố mẹ mãi sau này. Em không dám nói với bạn bè,
sợ các bạn tò mò về câu chuyện của em mà chắc không phải để không
cảm với em...
- Cán bộ tham vấn: (phản hồi lại) Hồi em học lớp 5, em đi học về thì có
người đàn ông hỏi em và định kéo em lên xe, em nghi ngờ người đó - Cán bộ tham vấn: Có điều gì em muốn nói ra mà vẫn chưa nói ra
được?
- Học sinh: (im lặng một lúc) Vì em là lớp trưởng nên cac bạn hay tâm
sự với em. Vừa rồi có bạn kể câu chuyện bị bạn bè cô lập vì không thích
giao tiếp với người khác, em thấy thương mình hơn. Hồi lớp 6, em
nghiêm khắc với mình nên ít người chơi với em. Em không có ai làm
bạn cả.
- Cán bộ tham vấn: Khi bạn kể câu chuyện tương tự giống em, điều gì
làm em có cảm xúc nhiều nhất?
- Học sinh: Em cảm thấy thương bạn
- Cán bộ tham vấn: Thật sự em khóc do em tự thương cho mình, hay
em thương cho bạn?
- Học sinh: Em cảm thấy thương cho mình hơn
- Cán bộ tham vấn: Cô hiểu em đã bị tổn thương thé nào khi câu chuyện
của bạn có thể nhập sâu vào mình và 4em đã khóc thương cho mình,
cho bạn. Em có nhận thấy là khi trong trường em có chuyện gì đó xảy
ra, như bị bắt nạp, bị áp bức và khi em chứng kiến nó lại làm em liên
tưởng đến chuyện cũ của mình?
- Học sinh: Hồi lớp 8 em lại bị lạm dụng. Buổi tối em đi học về một mình,
nhà em ở cuối ngõ. Khi em vào nhà ngồi trên ghế cởi giầy thì có một
người thanh niên cũng đi theo em vào phòng khách. Vì bố em hay có
khách nên em tưởng khách của bố em, em ngẩng lên chào thì người
đó xông vào em do tưởng có một mình em ở trong nhà. Em kêu lên, lúc
đó mẹ em đang nấu ăn trong bếp, mẹ ngó qua khe cửa, mẹ cầm con
dao chạy ra thì người đó chạy mất. (học sinh tiếp tục khóc) Sau đó bố mẹ
em bắt đầu đưa đón em đi học. Em nhớ cả mùa đông năm đó, khi em
đi một mình trong gió, lúc nào em cũng một mình, không một ai chơi
với em. Đã có lần em định mua thuốc ngủ, em muốn chết, không có ai
muốn chơi với em. Bố mẹ không hiểu em...
- Cán bộ tham vấn: Cô nghe nói em là lớp trưởng, điều gì khiến em
tham gia hoạt động ở các lớp trên?
(Cán bộ tham vấn nhận thấy nếu tiếp tục câu chuyện về quá khứ sẽ không
giúp cho học sinh đưa ra được các giải pháp thực tế cho câu chuyện hiện
tại và không giúp cho học sinh nhận ra được các giá trị thực của em, trong
khi thời gian tham vấn không còn nhiều. Vì vậy cán bộ tham vấn xoay chủ
để để tránh vô tình làm tái tổn thương học sinh, mục tiêu là tập trung tìm
kiếm nội lực trong em). không tốt, em đã vùng ra, em đã kêu cứu, nhưng không ai đến giúp đỡ
em. Điều gì khiến em lại muốn nói vềh cuyện này chuyện với cô hôm
nay?
- Học sinh: Vừa rồi em nghe câu chuyện của một bạn ở lớp kể ra, về
chuyện của bạn í và câu chuyện lại sống lại trong em. Em nghe cô giáo
nói có chuyên gia tham vấn muốn giúp đỡ cho học sinh nên em đăng
kí xin chuyên gia tham vấn.
- Cán bộ tham vấn: Em đã làm đúng. Cám ơn em đã tin tưởng cô. Bây
giờ mình sẽ nhớ lại tình hưống xảy ra trước đây một chút nhé: Từ lúc
người đàn ông đó nắm tay em và em kéo, em đạp ra, kêu lên, tất cả xảy
ra mất khoảng bao nhiêu thời gian?
- Học sinh: Khoảng mấy phút thôi.
- Cán bộ tham vấn: Theo em vài phút lúc đó liệu có đủ thời gian để các
phụ huynh xung quanh đang đợi đón con và các bạn của em quanh đó
hiểu rõ được có chuyện gì xấu đang xảy ra với một em bé, để chạy đến
để bảo vệ?
- Học sinh: (im lặng, vẫn thút thít)
- Cán bộ tham vấn: Em đã rất giận những người xung quanh, đó là
những phụ huynh và các bạn cùng lớp vì đã không bảo vệ em khi em
gặp nguy hiểm. Nếu như vậy thì họ thật đáng trách. Bây giờ mình thử
giả định ngược lại nhé. Nếu người ta nhìn một kẻ hung hăng cầm dao
đe dọa người khác, có thể có nhiều người không dám đến cứu nạn
nhân (học sinh gật đầu). Còn em, là một cô bé xinh xắn lớp 5, bị một
người đàn ông trạc tuổi bố, năm tay em định lừa lôi em lên xe ở cạnh
trường, để làm chuyện xấu. Nếu người ta nhận ra được, liệu họ sẽ đứng
yên hay chạy đến cứu đứa trẻ? Em có tin rằng các phụ huynh đó đã
quá lạnh lùng nên không bảo vệ một trẻ nhỏ như con họ, hay thực sự
họ không nhận ra được có chuyện người lớn bắt nạt trẻ con ở cạnh
trường? (học sinh yên lặng, sau đó lại tiếp tục khóc. Cán bộ tham vấn cũng
yên lặng trong giây lát)
- Cán bộ tham vấn: Cô tưởng tượng một đứa trẻ mới lớp 5 mà tự bảo
vệ được mình trước một người lớn có ý đồ xấu, không phải ai cũng có
thể xử lý được như em lúc đó. Cô nghĩ nếu cô trong hoàn cảnh của em
chưa chắc cô đã định hình được chuyện gì,vì nó diễn ra quá nhanh quá.
Câu chuyện này chắc em đã chôn chặt ở trong lòng cho đến nay (học
sinh gật đầu). Cô cảm ơn em đã chia sẻ với cô, em bé nhỏ nhưng thật
dũng cảm.
- Học sinh: (Học sinh vẫn tiếp tục khóc) - Học sinh: Em rất thích vẽ, khi có chuyện gì xảy ra em thường kể chuyện
qua hình vẽ. Tình cờ họ biết em có tập tranh tự em vẽ về câu chuyện trẻ
em bị lạm dụng nên họ mời em lên tivi tham gia vào câu chuyện về tình
trạng trẻ em bị bắt nạt, lạm dụng. Lúc đó bố em ở nhà xem tivi nhận ra
em nên gọi cả nhà cùng xem. Sau đó em quyết định thay đổi bản thân,
em tham gia nhiều vào các hoạt động của trường. Bây giờ em đã thay
đổi rất nhiều từ tính cách đến ngoại hình. Tuy nhiên, cuộc sống cá nhân
của em vẫn thế, rất buồn.
- Cán bộ tham vấn: Ở nhà em có hay trò chuyện với mọi người?
- Học sinh: Bố mẹ em bận, không có thời giờ nói chuyện với con. Em
cũng không thích nói chuyện với bố mẹ. Chị gái em đang học đại học,
tính chị ấy không giống em, chị ấy luôn vui vẻ. Em chỉ nghe chị ấy kể
chuyện ở trường thôi, chắc chị ấy cũng không muốn nghe câu chuyện
buồn của em, nên em cũng ít khi tâm sự với chị.
- Cán bộ tham vấn: Em đang học lớp 12, bạn bè của em thế nào?
- Học sinh: Không, em chỉ có một bạn học cũ ngày trước, nhưng bạn
học ở trường khác. Ở lớp có mấy bạn cũng chơi cùng em, nhưng cũng
không thân nhau. Em tham gia các hoạt động ở lớp, em chỉ lắng nghe
các bạn tâm sự thôi. Em nghĩ các bạn cần em để nói ra, vì em hay lắng
nghe các bạn.
- Cán bộ tham vấn: Điều gì khiến em không thể chia sẻ với bất cứ một
người bạn nào của mình, trong khi các bạn lại luôn tìm em để chia sẻ?
Học sinh: Em sợ các bạn tò mò chuyện của em, họ xì xào. Em sợ rằng
em kể chuyện các bạn không muốn lắng nghe nên em không kể. Bởi
các bạn không có sự đồng cảm, họ chị muốn nói về bản thân mình chứ
không muốn nghe. Các bạn chỉ quan tâm đến chuyện của mình thôi.
Với lại em làm lãnh đạo lớp, em không nên kể câu chuyện của mình, em
cần vững vàng. Nhiều lúc em vẫn thấy mình bị cô lập.
Cán bộ tham vấn: Em cho rằng, mình là người đã từng bị tổn thương
nên em muốn giúp các bạn. Nhưng em lại không tin các bạn, em cho
rằng không có bạn nào có thể hiểu câu chuyện của em, giống như em
có thể hiểu được câu chuyện của bạn. Em đã giữ câu chuyện buồn cho
riêng mình, vì vậy em luôn cảm thấy buồn. Cô đang tự hỏi bản thân là
không biết em cảm thấy mình bị cô lập hay em tự cô lập mình?
Học sinh: Chắc tự em thôi (học sinh dừng khóc).
Cán bộ tham vấn: Em có nhận thấy mình đang bó lại những cảm xúc
không vui trong lòng, mình không muốn nhắc lại vì muốn quên đi,
nhưng thực tế mình vẫn đắm chìm vào nỗi đau, nỗi sợ hãi mỗi khi có ai nhắc tới câu chuyện của họ tương tự như câu chuyện của mình. Câu
chuyện của em đã xảy ra 5-7 năm rồi, bây giờ nói lại em vẫn đầy xúc
động, em vẫn khóc vì thương cho bản thân mình. Em có nhận thấy
mình nuôi nỗi buồn trong người vì nghĩ rằng câu chuyện của mình
người khác không hiểu, trong khi em nghĩ rằng mình có thể hiểu được
hết câu chuyện của các bạn?
- Học sinh: Em không thể cầm được nước mắt khi nghĩ về câu chuyện
cũ, em cũng không thể nói ra được.
- Cán bộ tham vấn: Câu chuyện của mình em lại kìm nén để ngâm nỗi
buồn, để rồi thương thân. Đôi khi người ta cũng kể ra một chút gì đó
về bản thân để được giải tỏa. Không có lẽ cả 40 bạn trong lớp không ai
muốn lắng nghe bất cứ thứ gì về em. Thực ra, ai cũng có những bí mật
của mình. Có những bí mật ta chôn chặt trong người cho đến lúc chết,
nhưng có những chuyện không nhất thiết em phải giữ mãi trong lòng. Ví
dụ, câu chuyện khi em nhỏ xíu, học lớp 5 em đã không để người xấu lừa
em. Chuyện này đáng tự hào lắm chứ. Đã bao giờ kể chuyện của mình
đâu mà em biết các bạn không muốn nghe?
- Học sinh: Vâng! Em cũng thấy có vô lí.
- Cán bộ tham vấn: Bây giờ mình nói một chút về học tập của em nhé.
- Học sinh: Vâng, năm tới em định thi vào trường Mĩ thuật vì em có
năng khiếu hội họa. Tiếng Anh của em tốt, các môn toán văn của em
đều tốt. Học tập thì không có vấn đề gì.
- Cán bộ tham vấn: Qua toàn bộ câu chuyện vừa rồi cô nhận thấy em là
một cô gái chín chắn. Câu chuyện của em là cả một nội tâm làm em làm
em dằn vặt. Tuy nhiên em không kể cho ai vì em chưa tin ở người xung
quanh mình, ngay cả với chị gái hay bố mẹ mình. Nhìn em lúc này, khi em
cười, cô gái đau khổ lúc nãy biến đâu mất rồi. Em có khuôn mặt trái soan
và mắt to rất đẹp. Em học giỏi khiến nhiều người mơ ước. Em tham gia
vào nhiều hoạt động công ích. Có phải ai cũng được các bạn đề cử làm
lãnh đạo như em. Em có khả năng lắng nghe nên các bạn thích tâm sự.
Em vẽ giỏi. Chừng đó cũng đủ cho thấy em là một cô gái có quá nhieuf
ưu điểm, có nhiều thuận lợi cho một hành trang vào đời. Cô thật ngưỡng
mộ khi được em tin tưởng để trò chuyện cùng em. Với bao nhiêu giá trị
tốt như vậy, điều gì khiến em không tự hào về bản thân mà cứ khoét sâu
vào quá khứ không do mình gây ra.
Cô muốn em suy nghĩ về điều này: Giả sử có một người bán bánh mì
kẹp thịt, họ phải công bố thành phần thịt của bánh, theo em họ sẽ
quảng cáo bánh của họ có 70% thịt nạc hay họ sẽ quảng cáo bánh có
30% mỡ? Ca tham vấn: Đây là một ca tham vấn về xâm hại đã xảy ra trong quá khứ nên cán bộ tham vấn đã phải
cân nhắc hướng tiếp cận với học sinh về vấn đề của em. Việc cán bộ tham vấn làm rõ các tình tiết câu chuyện trong quá khứ, như hỏi sâu cụ thể
câu chuyện xảy ra là gì? Tại sao xảy ra? Sau đó thế nào? v.v...có lẽ không phù hợp. Thực
ra, nếu cán bộ tham vấn biết được được cụ thể tình tiết câu chuyện của học sinh thì
cũng tốt. Tuy nhiên những điều này không quan trọng bằng cách cán bộ tham vấn để
học sinh tự kể theo khả năng đương đầu với quá khứ của học sinh. Cán bộ tham vấn
học đường cần tập trung giúp học sinh tự nhận thức về bản thân, làm rõ những niềm
tin tiêu cực của học sinh về bản thân, người thân, bạn bè; hướng học sinh vào những ưu
điểm của bản thân để những chuyện bị xâm hại trong quá khứ không còn là mối bận
tâm duy nhất của học sinh. Vì vậy, tiếp cận theo quan điểm nhận thức hành vi có lẽ là
cách tiếp cận phù hợp hơn cả khi làm việc với học sinh. Thông thường các ca tham vấn có rối nhiễu tâm lí, cán bộ tham vấn tại trường học cần
thực hiện tối thiểu có 4, 5 buổi tham vấn cho học sinh (tham vấn ngắn hạn). Với ca của em Trang như đã trình bày ở trên: Buổi 1: Xác định thực sự học sinh có vấn đề gì và nâng cao sự hiểu biết về bản thân cho
học sinh?. Công việc ở các buổi tiếp theo của cán bộ tham vấn học đường là: Buổi 2: Làm rõ các mối quan hệ giữa sự kiện dẫn đến nhận thức, cảm xúc và hệ quả
hành vi, chỉ ra những niềm tin tiêu cực trong học sinh yyyLàm rõ suy nghĩ, lòng tin của học sinh và hành vi hiện tại của em trong các mối - Học sinh: (bật cười và nói ngay) Chắc chắn là họ phải nói về 70% nạc
rồi.
- Cán bộ tham vấn: Vậy thì đối với em, em sẽ sống và tự hào với 70%
phần giá trị đích thực của mình hay cứ chìm vào 30% thứ không phải
của mình để tự thương bản thân, tự trách móc mình, mà thực tế nó đâu
có đến 30% !
- Học sinh: (cười, im lặng)
- Cán bộ tham vấn: Em có rất nhiều điểm ưu, vậy điều gì khiến em
không tự hào về mình?
- Học sinh: (vẫn cười, im lặng)
- Cán bộ tham vấn: Khi em duy trì niềm tin rằng không ai quan tâm tới
mình thì có thể em sẽ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bạn bè sau này.
Đã đến lúc em phải mở lòng và học cách tin tưởng người khác. Điều gì
xảy ra nếu ở trường đại học hay nơi làm việc mình cũng không thể tìm
được người đáng tin tưởng để chia sẻ nỗi niềm của mình. Cũng không
nhất thiết mình phải kể về câu chuyện đau lòng của mình. Tuy nhiên
mình phải có lòng tin vào ai đó. Cô nghĩ, cuộc sống này còn rất nhiều
người tốt – cả nam và nữ. Cô tin là có nhiều người cũng giống em, họ
tôn trọng câu chuyện người khác và họ cũng có những tổn thương của
mình. Cuộc sống thì vẫn tiến lên phía trước. Cô hi vọng sau câu chuyện
của cô trò mình em đã tĩnh tâm được chút ít để suy nghĩ về lòng tin của
mình vào người khác và về sự giúp đỡ người khác dựa trên sự tin tưởng
của mình vào họ. quan hệ, sự kiện, vấn đề. 3/ Kết thúc yyyGiúp học sinh hiểu rõ: không phải sự kiện quá khứ gây ra đau buồn, sợ hãi ở hiện
tại mà chính sự duy trì suy nghĩ, niềm tin tiêu cực của em về các sự kiện mới là
cái gây ra rối loạn ám ảnh sợ trong em. yyyGiúp học sinh thách thức các niềm tin tiêu cực và thay đổi niềm tin tiêu cực
về con người và thế giới xung quanh (cán bộ tham vấn cùng em xác định
những niềm tin tiêu cực cụ thể của em, thực hiện các bước theo trị liệu nhận
thức hành vi). Buổi 3: Thảo luận về các hoạt động nâng cao sức khỏe tâm trí và thể lực cho học sinh yyyKhuyến khích học sinh tham gia các hoạt động công ích ở trường (học sinh là lớp - Học sinh: (hai tay duỗi ra, người cử động nhẹ nhàng, im lặng trầm ngâm,
em đã bỏ cái balo to ôm khư khư trước bụng từ lúc nào).
- Cán bộ tham vấn: Bây giờ em cảm thấy thế nào?
- Học sinh: Em cám ơn cô, chưa bao giờ em cảm thấy nhẹ như lúc này.
Lần đầu tiên em cảm thấy sướng cái lỗ tai.
(Đưa tay chỉ vào tai, cười. Cán bộ tham vấn đã đưa số điện thoại của
mình cho học sinh và dặn em có thể gọi điện bất cứ lúc nào em muốn,
mấy hôm sau em đến chỗ cán bộ tham vấn xin tài liệu về tham vấn và
phân tích tranh vẽ để đọc). trưởng, học giỏi toàn diện, có khả năng lắng nghe các bạn chia sẻ). yyTrò chuyện về niềm đam mê hội họa - vẽ (học sinh sẽ thi vào ngành này). yyGiúp học sinh thực hiện một số bài tập thư giãn khi em có căng thẳng. yy Yêu cầu học sinh thực hiện các bài tập đánh giá tâm trạng trước các hoạt động
quan trọng, tập trung vào các hoạt động giao tiếp để thảo luận trước mỗi buổi
tham vấn tiếp theo. Buổi 4: Thảo luận về các nguy cơ, sự tái phát lo âu yyThảo luận về những kết quả đã đạt được, những tồn tại cần tiếp tục thay đổi. yyyTăng cường hiểu biết cho học sinh về sự tái hiện những ám ảnh sợ trong cuộc sống sau này, khi em mở rộng các mối quan hệ ở đại học. yyyHướng dẫn em duy trì mối liên hệ với nhà tham vấn chuyên nghiệp để nhận được sự hỗ trợ khi cần. (Các học sinh đều đồng ý và bắt đầu giới thiệu tên, học ở trường trung học
cơ sở nào và nhà ở đâu).
- Học sinh B: Cô và em ạ!
- Học sinh C: Thế nào cũng được ạ.
- Cán bộ tham vấn: Vậy thì chúng ta cứ xưng là cô và em nhé. Cô biết
các em mới nhập lớp được một tuần. Các em cũng chưa thật sự quen
nhau. Vậy, các em hãy giới thiệu về mình cho các bạn còn lại biết nhé.
Cô muốn nói để các em biết là câu chuyện chúng ta chia sẻ ở đây là bí
mật riêng của chúng ta. Điểm nữa là các em sẽ chủ động chia sẻ suy
nghĩ, tình cảm của mình về những vấn đề liên quan đến những trăn
trở của các em. CA SỐ 10 HỌC SINH CÓ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC HÒA NHẬP VỚI CÁC BẠN MỚI 2. Khai thác
thông tin,
làm rõ từng
mục tiêu VÀ KHÓ KHĂN TRONG ĐIỀU HÀNH LỚP HỌC. Mục tiêu tham vấn: Giúp học sinh nâng cao hiểu biết và chấp nhận môi trường học
mới, nắm được cách thức chủ động giao tiếp với bạn và có thể điều hành các bạn
trong lớp. (Nhóm tham vấn là 3 học sinh mới vào học lớp 10 được một tuần) 1. Chào hỏi
làm quen tạo
mối liên hệ
thân thiện,
xác định mục
tiêu tham
vấn nhóm
và cam kết
theo gia thảo
luận. - Học sinh A: Em mới chuyển môi trường học tập lên cấp 3 này nên
bỡ ngỡ trong cách học, giao tiếp và sinh hoạt, đến lớp nhưng em thấy
buồn vì cô đơn. Em buồn lắm (học sinh hai tay ôm mặt, mắt rớm lệ).
- Học sinh B: Vấn đề của em là mới vào trường nên chưa biết nên hòa
nhập như thế nào vì em là lớp trưởng. Em cảm thấy lúng túng và chưa
biết cách xử lý các tình huống trong lớp.
- Học sinh C: Em cũng giống như các bạn, em muốn hòa đồng trong
môi trường mới làm sao cho dễ dàng!
- Cán bộ tham vấn: Điều gì khiến cho các em nghĩ là phải hòa đồng
trong lớp?
- Học sinh C: Hòa đồng để dễ sinh hoạt, học tập.
- Học sinh B: Em là lớp trưởng nên cần phải biết cách hòa đồng để
điều hành các bạn trong lớp.
- Học sinh A: Em đã mong ước về cuộc sống mầu hồng nhưng thực tế lại
không phải như vậy, làm em thất vọng. Ở lớp chả ai quan tâm đến ai. Em
thấy buồn lắm (ôm mặt khóc, cán bộ tham vấn cầm tay em). Các bạn cấp
2 của em rất thân nhau, chúng em làm gì cũng có nhau. Vào lớp này em
thấy nhộn nhạo quá, chẳng bạn nào quan tâm tới nhau.
- Cán bộ tham vấn: Cô hiểu em là một học sinh chuộng tình cảm bạn
bè nên em cảm thấy buồn và lạc lõng khi chưa tìm được bạn mới,
trong khi các bạn cũ của em không có aivào học cùng lớp với em, để
các em cùng chia sẻ với nhau. Một số bạn trong hoàn cảnh của em
cũng có nỗi lòng trống trải giống em. Vậy bạn lớp trưởng, em có để ý
thấy bạn A ở lớp đang buồn phiền vì cô đơn? (cán bộ tham vấn chỉ vào
bạn lớp trưởng) - Cán bộ tham vấn: Chào các em, ba bạn đã có mặt ở đây rồi. Vậy
chúng ta sẽ trò chuyện cùng nhau nhé. Tên cô là Minh, công việc của
cô là tham vấn cho các em học sinh phổ thông, nhằm hỗ trợ các em về
những vấn đề trong học tập, giúp các em phát triển những năng lực cá
nhân và năng lực xã hội, cũng như định hướng nghề nghiệp.
Như lịch đã hẹn với trường, hôm nay cô trò mình sẽ cùng nhau chia
sẻ về những khó khăn trong giao tiếp ứng xử Các em đã đăng kí, các
em muốn chia sẻ 2 điều: 1/ Làm thế nào để các em có thể hòa đồng
với nhau khi các em vừa mới chuyển lên trường trung học phổ thông
và thứ 2/ Làm thế nào điều hành được các bạn để các bạn cùng tham
gia vào công việc chung và hòa đồng chung vào lớp. Hai vấn đề này
có mối liên hệ với nhau: Đó là làm thế nào để mỗi cá nhân có thể hòa
nhập với các bạn trong lớp và vai trò của lớp trưởng trong việc điều
hành lớp để tạo nên sức mạnh của tập thể.
Trước khi chúng ta thảo luận, cô muốn hỏi: các em muốn cô xưng hô
với các em thế nào cho tiện? với người hợp với mình. Nếu mình chỉ đợi các bạn hỏi mình trước khi
sẽ khó khăn trong việc hòa đồng với các bạn hơn.
- Cán bộ tham vấn: Mới có một tuần để chúng ta làm quen ngôi
trường mới. Một môi trường đáng mơ ước của nhiều người. Mình vào
được trường tốp đầu, mình là niềm tự hào của bố mẹ. Vậy, mình nên
tự hào vì mình là số ít các bạn lọt được vào trường có điểm thi cao.
Việc các em chuyển từ môi trường học ở cấp 2 sang cấp 3 là có một sự
khác biệt lớn trong học tập và quan hệ bạn bè. Đặc biệt các em vào
trường càng lớn thì mỗi cá nhân càng cần phải có sự chủ động cao để
hòa nhập.
- Học sinh A: Vì em có quá ít bạn từ trường cũ nên cảm thấy cô đơn.
- Cán bộ tham vấn: Đúng rồi, trong lớp chắc cũng có một số bạn ở
hoàn cảnh như em, có thể các bạn cũng có cảm xúc như vậy. Bạn B, là
lớp trưởng, em có cách gì để lôi kéo các bạn thành khối thống nhất?
- Học sinh B: Em nghĩ là nên nêu một vấn đề cụ thể ra trước lớp, lấy ý
kiến của các bạn, thảo luận rồi cùng chọn phương án mới, như vậy sẽ
lối kéo được các bạn cùng tham gia.
- Cán bộ tham vấn: Cách em làm rất đúng. Em đã biết đề ra các quy
tắc, lấy ý kiến chung để các bạn cùng bàn luận và thực hiện khi tập
thể đã đồng thuận, kể cả các hình thức duy trì kỷ luật và thưởng phạt
nữa, tất cả đều cần thảo luận với nhau dựa trên quy định chung của
trường, lớp.
- Học sinh C: Vâng, khi cả nhóm đều tán đồng thì dễ thực hiện ạ.
- Cán bộ tham vấn: Các em đang bàn về phương thức hòa đồng. Điều
này chỉ xảy ra khi có sự tự ý thức của mỗi người đối với việc hòa đồng
của lớp. Ngoài ra cán bộ lớp cũng chủ động hòa đồng với các bạn. Về
mặt cá nhân, bạn A trước đây có hay chủ động trò chuyện với các bạn
của mình?
- Học sinh A: Không, ở cấp 2 em rất trầm dù làm lớp phó.
- Học sinh B: Cấp 2 chúng em hay chơi theo nhóm nên lên cấp 3 không
tự chủ động làm quen với các bạn khác. Bây giờ em làm lớp trưởng,
em thấy nếu bạn nào phi phạm, em không nhắc, không ghi sổ thì các
bạn lại trách em không làm tròn trách nhiệm, nhưng nếu làm vậy thì
các bạn sẽ phản ứng với em, nói em này nọ. Em không muốn lớp có sự
mâu thuẫn khi em không ghi tên các bạn có lỗi vào sổ. - Học sinh B: Dạ, em bây giờ mới biết ạ. Em cũng thấy bạn ý cứ ngồi
một chỗ không chơi với ai, có vài lần em cũng định đến hỏi chuyện
bạn nhưng rồi em lại không làm gì, em có mấy người bạn cũ cùng đỗ
vào trường nên bọn em chỉ nói chuyện với nhau thôi.
- Cán bộ tham vấn: Còn 2 em, các em có biết bạn lớp trưởng của lớp
mình đến từ trường nào không nhỉ?
- Học sinh C: Chúng em chưa biết nhau ạ.
- Cán bộ tham vấn: Đúng rồi, các em mới nhập học nên chưa thể có
đủ thời giờ để làm quen với nhau. Vậy bạn B, em có thể giới thiệu thêm
về mình?
- Học sinh B: Em xung phong làm lớp trưởng, ở cấp 2 em là tổ trưởng,
lớp phó học tập, nhưng bây giờ các bạn đến từ nhiều trường, em cảm
thấy không biết phải điều hành các bạn thế nào, em cũng lo ạ, dù em
rất vui, em thích học trường này.
- Cán bộ tham vấn: Còn bạn A, em có gì để chia sẻ nhỉ?
- Học sinh A: (xúc động vừa khóc vừa nói) Em ôn thi vất vả, thi cử xong
vào trường mới thấy thực tế môi trường không như mình tưởng tượng,
nó lạnh lùng lắm. Em chả quen bạn nào cả. Tất cả các bạn em đều học
trường khác, mình em học ở đây, chả ai hỏi gì em. Hôm nào đến lớp
em cũng chỉ ngồi một mình.
- Cán bộ tham vấn: Như vậy là em đã có một sự hình dung khác về
ngôi trường mà em phấn đấu để đỗ được vào. Các bạn khác đã hình
dung như thế nào về ngôi trường mình sẽ vào?
- Học sinh C: Nhà em ở gần đây, ở sau trường này, hồi nhỏ em vẫn vào
trường này chơi, vì vậy khi đỗ vào trường này em thấy bình thường.
Lúc thi vào cấp 3, em muốn thi trường trung bình, nhưng bố mẹ muốn
em thi trường tốt nên cảm thấy áp lực lớn. Bây giờ đỗ rồi em thấy hòa
nhập với mọi người cũng không dễ vì ai cũng chỉ quan tâm đến mình
và bạn cũ của mình thôi.
- Học sinh B: Em nghĩ về việc hòa nhập cần có thời gian vì có nhiều
bạn cùng vào môi trường mới do đó việc hòa đồng cần phải từ từ.
- Cán bộ tham vấn: Các em nói rất đúng, mình sẽ có thời gian cho việc
kết bạn với nhau. Em là lớp trưởng, em đã biết về ngôi trường này, em
có thể cho bạn một lời khuyên?
(Cán bộ tham vấn chỉ bạn lớp trưởng, chuyển sang mục tiêu 2
- Học sinh B: Theo em, mình cần cởi mở, chủ động giao tiếp thì sẽ nhìn
thấy những người cùng quan điểm, cách sống, lúc đó sẽ chơi 3. Kết thúc
ca tham vấn
nhóm - Cán bộ tham vấn: Như vậy, chúng ta đã có 50 phút trò chuyện về
việc làm thế nào để có sự hòa đồng trong lớp và làm thế nào để có thể
lãnh đạo các bạn có hiểu quả. Các em đã nói về sự chủ động làm quen,
hay thất vọng khi chưa tìm được bạn trong lớp. Thực tế các em mới
có một tuần làm quen với nhau, quen môi trường mới và làm quen
với vài thầy cô. Sẽ là vội vàng khi chúng ta cho rằng môi trường học
này không đáng với mình chỉ vì nó làm cho mình buồn, mình cô đơn,
trong khi các em biết rất rõ là để đỗ được vào đây là không hề dễ dàng
và các em cũng tự hào về bản thân mình và ngôi trường của mình...
Bây giờ chúng ta dừng cuộc nói chuyện tại đây. Vậy, các em cảm thấy
thế nào sau buổi nói chuyện này?
- Học sinh A: Em hài lòng về cuộc trò chuyện này.
- Học sinh B: Em sẽ thử thực hiện phương án gợi ý của cô.
- Cán bộ tham vấn: Cô chào các em! Các em cứ thực hiện những điều
các em vừa nói và khi có vấn đề gì thì mình lại trao đổi tiếp nhé! Có ai
cần số điện thoại của cô không nhỉ?
- Cả 3 học sinh: Có ạ!
Kết thúc tham vấn, mỗi em đã tự tìm cách thức giải quyết cho nhu cầu
tham vấn của mình. Cả 3 em đều xin số điện thoại để tiếp tục tham
vấn nếu gặp khó khăn. Nhận xét ca tham vấn nhóm:
Trong ca tham vấn nhóm này, thực tế chỉ có một học sinh (học sinh A) là có vấn đề tâm
lí thật sự. Em có nhu cầu tham vấn do em bị căng thẳng khi khó hòa nhập vào một môi
trường to lớn và “lạnh lùng”– theo cách em nghĩ. Điều này là do em chưa được chuẩn bị
tâm thế để nhập trường lớn.
Hai học sinh còn lại các em xung phong tham gia buổi tham vấn nhóm có lẽ vì các em
muốn có thêm thông tin về điều hành quản lí lớp học và cách thức ứng xử với các bạn mới
sao cho thuận lợi nhất.
Công việc tiếp theo của cá bộ tha vấn: cán bộ tham vấn cần có một buổi tham vấn cá
nhân với học sinh A để giúp em đương đầu tốt hơn với môi trường mới, học cách chủ động
làm quen với các bạn mới cũng như phương thức học tập mới để em nhanh chóng thích
nghi với ngôi trường mới. - Học sinh C: Cần phải chủ động thì các bạn mới hiểu mình. Em sẽ biểu
hiện qua việc học và kết quả trên lớp thì các bạn sẽ hiểu em thôi.
- Cán bộ tham vấn: Các em nói là không biết làm thế nào để hòa đồng
với các bạn, nhưng cô lại thấy ở các em, mỗi người đều có sự sẵn sàng
cho việc thích ứng với môi trường mới, bạn mới. Ngay cả bạn A, em
cảm thấy thất vọng và cô đơn trong môi trường mới. Tuy nhiên em
cũng đã từng làm lớp phó ở cấp 2, cô hi vọng em sẽ sử dụng kinh
nghiệm điều hành lớp của mình để giúp bạn lớp trưởng điều hành
lớp. Vậy là lớp trưởng, em sẽ làm gì để các bạn hòa đồng và giảm xung
đột trong lớp?
- Học sinh A: (Cười im lặng)
- Học sinh B: Bây giờ em biết bạn A có tâm trạng rồi, em sẽ chủ động
trò chuyện với bạn.
- Học sinh C: Em cũng sẽ chủ động trò chuyện với bạn.
- Cán bộ tham vấn: Các em nghĩ thế nào về việc phân cấp quản lý
trong công việc chung của lớp, trường?
- Học sinh C: Em chưa hiểu phân cấp quản lí là gì ạ
- Học sinh A: Có phải là lớp trưởng thì làm việc với các bạn tổ trưởng tổ
phó, còn tổ trưởng tổ phó thì quản lí các tổ của mình?
- Cán bộ tham vấn: Em nói đúng, đó là sự phân cấp trong quản lí,
điều hành nhóm theo vị trí quản lí. Các bạn tổ trưởng cũng có nhiệm
vụ của mình, tổ phó cũng vậy. Nếu lớp trưởng lại ôm hết việc của tổ
trưởng thì lớp chăc không cần đến các tổ trưởng. Mặt khác, khi bạn
lớp trưởng phải quản lí cả lớp như vậy thì cô không biết hiệu quả công
việc sẽ thế nào.
- Học sinh B: Vâng, em hiểu rồi ạ. Em chỉ nên quản lý người sát mình
thôi. Em cũng sẽ nói chuyện với cô chủ nhiệm về chuyện này.
- Học sinh A: Em cũng nghĩ nên làm như vậy ạ.
- Cán bộ tham vấn: Mỗi bạn ở đây đều góp những ý kiến khác nhau
về việc giúp nhau làm rõ mong muốn của mỗi người về sự hòa đồng.
(Chỉ vào 2 bạn nữ) Các em có thấy lóe lên ý tưởng gì để tăng cường
hòa nhập với các bạn sau cuộc trò chuyện này?
- Học sinh A: Em sẽ cố gắng chủ động hòa nhập với các bạn và với
công việc của tập thể. Chắc khi phải cùng học thêm hay có nhiệm vụ
chung cùng làm thì việc hòa đồng mới thật sự gắn kết.
- Học sinh B: Còn em thì sẽ thử làm việc với phương thức điều hành mới.
- Học sinh C: Em sẽ cố gắng hòa đồng với các bạn trong lớp để hiểu
nhau hơn và tìm bạn tin tưởng mình để trò chuyện. CA SỐ 11 TÌNH YÊU TUỔI HỌC TRÒ VÀ SỰ NGĂN CẢN Mục tiêu tham vấn: Giúp học sinh nhận biết rõ ràng hơn về tình yêu tuổi học trò;
giúp các em làm cách nào để duy trì tình yêu và kết quả học. (8 học sinh, một cán bộ tham vấn và giáo viên hỗ trợ ghi chép ca) 1. Chào hỏi
làm quen tạo
mối liên hệ
thân thiện,
xác định mục
tiêu tham vấn
nhóm và cam
kết theo gia
thảo luận. - Cán bộ tham vấn: Chào các em. Chào mừng các bạn lớp 11 đã đến
buổi tham vấn nhóm. Chúng ta đã quen biết nhau và các em cũng
biết hôm nay chúng ta gặp nhau để nói về tình yêu tuổi học trò và làm
sao để duy trì được tình yêu này nhé.
Trước khi thảo luận, chúng ta thống nhất với nhau là những gì chúng
ta chia sẻ ở đây sẽ là bí mật của nhóm. Vì vậy, không ai trong số chúng
ta tiết lộ chuyện này...
(Cán bộ tham vấn đã thực hiện các yêu cầu của buổi tham vấn đầu tiên:
lí do gặp gỡ, mục tiêu tham vấn nhóm, thảo luận nguyên tắc làm việc và
cam kết tham gia thảo luận tích cực).
- Các học sinh: Chúng em đồng ý, đồng ý ạ. 2. Khai thác
thông tin qua
thảo luận
từng mục tiêu - Học sinh: Chúng em đều nghĩ như các bạn thôi.
- Cán bộ tham vấn: Như vậy là các em đều ủng hộ việc duy trì tình yêu
tuổi học trò, vì các em cho đó là tình yêu trong sáng đáng dduwwocj
trải nghiệm. Vậy trong tất cả các em ở đây, các em đang nghĩ đến tình
yêu tuổi học trò hay thực tế các em đã hoặc đang có tình yêu tuổi học
trò?
- Học sinh A: Em chưa yêu nhưng em ủng hộ tình yêu tuổi học trò.
- Học sinh C: Em thì đang có, bạn cũng ngồi ở đây (cười, nhìn vào một
bạn nữ).
- Học sinh H: Em có người yêu nhưng bố mẹ em cấm nên em tạm giả
vờ cắti để bố mẹ đỡ lo lắng.
- Học sinh D: Em thì đã từng có, nhưng chúng em đã chia tay vì bạn
hay ghen, giận dỗi nên bọn em thỏa thuận tạm thời không gặp nhau
nữa.
- Cán bộ tham vấn: Các bạn khác thì sao nhỉ?
- Học sinh E: Tất cả chúng em đều đã hoặc đang có bạn, trừ bạn A thôi.
- Cán bộ tham vấn: Vậy theo các em, tình yêu học trò có tác động như
thế nào đến kết quả học tập của mình?
- Học sinh E: Em nghĩ là tình yêu học trò sẽ khiến các bạn có thể giúp
đỡ nhau trong học tập, cùng nhìn vào nhau để cố gắng.
- Cán bộ tham vấn: Ý kiến của D thế nào nhỉ?
- Học sinh D: Em cho rằng việc có tình yêu tuổi học trò có thể giúp cả
hai người có động lực cho nhau cùng cố gắng. Có khó khăn về bài vở
hay học tập cũng có thể chia sẻ với nhau được ạ.
- Học sinh A: Em cũng nghĩ là yêu chung trường, chung lớp sẽ giúp hai
người có thể động viên nhau, cùng cố gắng học tập và cũng có cơ hội
để chia sẻ các vấn đề khác nữa.
- Học sinh H: Em cũng nghĩ thế. Tình yêu tuổi học trò, hai người cùng
lứa tuổi, cùng môi trường, dễ cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ nhau học
tập hơn.
- Cán bộ tham vấn: Như vậy, thuận lợi mà các bạn chỉ ra là tình yêu
học trò giúp các bạn có thêm động lực để học và dễ cảm thông chia
sẻ với nhau. Vậy liệu có khi nào tình yêu tuổi học trò làm ảnh hưởng
không tốt đến kết quả học và khiến cho cha mẹ, thầy cô phiền lòng? - Cán bộ tham vấn: Bây giờ các em muốn bàn đến điều cụ thể nào
xoay quanh tình yêu tuổi học trò?
- Học sinh A: Làm cách nào để duy trì tình yêu tuổi học trò ạ.
- Các học sinh khác: Vâng, làm sao để duy trì tình yêu tuổi học trò, để
tình yêu đó không bị người lớn cản trở.
- Cán bộ tham vấn: Như vậy, trước khì chúng ta sẽ tập trung bàn
chuyện làm thế nào để duy trì tình yêu học trò mà không bị người lớn
cản trở. Chúng ta cùng xem mình hiểu tuổi học trò nhé. Vậy theo các
em tình yêu tuổi học trò là gì?
- Học sinh A: Thì em nghĩ tuổi học trò có những rung động tình cảm
khác giới. Đấy là một tình yêu trong sáng.
- Học sinh C: Đó là tình yêu đầu đời không vụ lợi, không tính toán.
- Học sinh H: Em cũng nghĩ như vậy. Tình yêu học trò có sự lãng mạn,
các tiểu thuyết nói rất hay, nên em cũng muốn thử xem sao.
- Học sinh B: Tình yêu tuổi học trò luôn là một kỉ niệm đẹp. Nếu sau
này không thành thì vẫn là những câu chuyện để nhớ. Vì vậy, nên cần
trải nghiệm tình yêu đầu đời.
- Cán bộ tham vấn: Có ai có ý kiến khác nào? - Học sinh A: Vâng, em cũng cảm thấy như bạn B chia sẻ. Chính vì bố
mẹ và cô giáo cứ cấm đoán và nói nhiều quá nên cuối cùng chúng em
đã giữ kín, không công khai như trước nữa. Nhưng em vẫn duy trì tình
cảm với bạn vì thực sự em rất thích bạn.
- Học sinh C: Em cũng thế đấy. Khi cô giáo hỏi, em có kể với cô. Sau đó,
cô lại nói với bố mẹ em. Kết quả là em suốt ngày bị mắng, bố mẹ cứ
bảo phải thế này thế kia, là em yêu đương nhăng nhít.
- Cán bộ tham vấn: Như vậy là một số bạn trong chúng ta cho rằng
điều quan trọng nhất để tránh những giận dỗi là hai người phải tin
tưởng lẫn nhau. Vậy chẳng may chuyện giận dỗi là không thể tránh
khỏi thì các em làm thế nào để giải quyết ổn thỏa, để tránh làm ảnh
hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến kết quả học?
- Học sinh: Em biết có bạn khi giận dỗi người yêu thì đã chủ động tìm
cách nói chuyện để người yêu mình hiểu ra vấn đề, và nếu có sai thì
họ tìm cách sửa sai để không gây hiểu nhầm cho người yêu. Điều này
cũng làm tăng sự tin tưởng ở người yêu. Phần đông các bạn ở đây đều
không được bố mẹ ủng hộ, khi họ biết chúng em yêu.
- Cán bộ tham vấn: Vậy các em sẽ làm gì khi biết bố mẹ không đồng ý
các em duy trì tình yêu phổ thông, trong khi các em lại muốn bàn về
việc làm thế nào đề duy trì tình yêu này?
- Học sinh C: Em nghĩ mình cũng có thể thuyết phục được cha mẹ và
thầy cô nếu chứng tỏ cho mọi người thấy tình yêu đó là trong sáng và
làm mình tốt lên. Ví dụ, mình phải kiên trì và cố gắng trong học tập để
kết quả học tập tốt hơn thì mới không lo gia đình cấm cản. Chứ nếu
kết quả học kém đi thì bố mẹ sẽ lo lắng và lại cấm đoán chuyện yêu
đương thôi.
- Học sinh D: Em thì nghĩ là cần có thời gian để cho người lớn hiểu
rằng chuyện yêu là nghiêm túc và bản thân mỗi người phải cố gắng
trong chuyện học để không bị ảnh hưởng.
- Học sinh A: Em cũng nghĩ thế, chúng ta phải học tập tốt và không vi
phạm nội quy trường lớp.
- Học sinh F: Ngoài ra giữa hai bạn yêu nhau cũng cần tăng lòng tin và
tôn trọng lẫn nhau, biết giúp nhau trong học tập và cuộc sống, có thế
thì người lớn sẽ yên tâm.
- Học sinh G: Như câu chuyện của em thì bố mẹ em và bố mẹ bạn ấy
không ngăn cản mà còn rất vui vẻ khi chúng em đến nhà nhau chơi.
Bởi vì từ ngày yêu nhau, em giúp cho bạn ấy học tốt hơn, bớt chơi
game đi nên bố mẹ bạn ấy vui lắm. Còn bố mẹ em thì cũng thấy - Học sinh B: Cũng có ạ. Trước đây, khi em chưa bày tỏ tình cảm với
bạn ấy thì lúc nào em cũng thấy lo lắng, thiếu tự tin, không tập trung
vào học. Còn giờ khi chúng em đã công khai mối quan hệ rồi thì lại
gặp phải sự cản trở từ phía bố mẹ và thầy cô vì người lớn cho rằng
chuyện yêu đương làm ảnh hưởng đến việc học tập.
- Các học sinh: Vì người lớn cứ sợ là tình yêu ấy làm ảnh hưởng đến
việc học tập, là nếu đã yêu vào rồi thì mình sa đà vào chuyện yêu và
kết quả học sẽ kém ạ.
- Học sinh D: Người lớn lúc nào cũng nói tao qua tuổi đấy rồi tao biết
rồi, yêu đương vớ vẩn, lo mà học đi.
- Cán bộ tham vấn: Cảm ơn em, bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục nghe ý
kiến của C, sau đó là ý kiến của F nhé.
- Học sinh C: Thực ra, tình yêu là động lực cho cả hai cùng cố gắng
nhưng cũng không tránh khỏi những lúc giận hờn vô cớ làm cho
mình không tập trung vào học được.
- Học sinh F: Trước khi yêu và trong quá trình yêu, đôi lúc cũng không
tin tưởng vào người mình yêu nên không tập trung vào học mà hay
nghĩ ngợi.
- Cán bộ tham vấn: Cảm ơn các em, vậy ý kiến của những bạn còn lại
thế nào?
- Các học sinh khác: Chúng em cũng có những khó khăn tương tự,
đặc biệt là việc khi giận dỗi thì không tập trung học được.
- Cán bộ tham vấn: Đúng là thật khó tránh việc giận dỗi trong tình
yêu. Và khi chúng ta giận dỗi người yêu thì việc học tập cũng ít nhiều
bị ảnh hưởng. Vậy các em thường làm gì để chuyện giận dỗi không
ảnh hưởng tới học tập?
- Học sinh B: Em nghĩ điều quan trọng là phải tin tưởng nhau.
- Học sinh E: Em cho rằng có thể hạn chế bớt việc nghi ngờ bằng cách
yêu bạn cùng trường, cùng lớp. Như vậy mình vừa có nhiều thời gian
bên nhau để giúp đỡ nhau học tập lại vừa có thể giảm bớt những lo
lắng không đáng có.
- Học sinh G: Nhưng không phải ai cũng có thể yêu người cùng lớp,
cùng trường. Nếu đã lỡ yêu người khác trường rồi thì đúng là chỉ còn
cách là phải tin tưởng lẫn nhau thôi.
- Học sinh B: Với lại, yêu người cùng trường cũng phải lúc nào cũng
tốt. Vì học cùng nhau nên dễ bị phát hiện. Khi đó, bố mẹ cấm đoán, cô
chủ nhiệm thuyết phục không nên yêu mà nên tập trung cho việc học
làm em nhiều lúc cũng thấy rối. 1. yên tâm khi thấy bạn ấy ngoan, lễ phép. Em nghĩ chỉ có cách như các
bạn vừa chia sẻ là phải giúp nhau học tốt hơn thì người lớn mới không
ngăn cản chuyện yêu đương ạ. Carl Rogers (1992), Tiến trình thành nhân, Tô Thị Ánh và Vũ Trọng Ứng dịch, NXB
TP.HCM 2. 3. Kết thúc Charles J. Vander Kolk (1985), Introduction to Group Counseling and Psychotherapy,
Charles E. Merrill Publishing Compan A Bell & Howell Company. 3. Corey.G (1991), Theory and Practice of Counseling & Phsychotherapy, Books/Cole
Publishing Company 4. Nguyễn Ngọc Diệp và Nguyễn Tùng Lâm (2012), Thực hành tâm lí học đường: mô
hình nào cho trường Việt nam? Kỉ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế lần 2 về tâm lí
học đường ở Việt nam, thúc đẩy và thực hành tâm lí học đường tại Việt nam, NXB
Đại học Huế, 2011 5. Trần Thị Minh Đức (2016 tái bản lần 2), Giáo trình tham vấn tâm lí, NXBĐHQGHN 6. Dot Kontak, LCSW, School Social Worker's Role. http://www.sswaa.org/?page=721 7. Godefroid Jo, Những con đường tâm lí học tập 3, NXB Pierre Mardage Liege –
Bruxelles, 1987, Trung tâm nghiên cứu Tâm lí trẻ em, tủ sách NT 1998. 8. Kathryn Geldard và David Geldard, Công tác tham vấn trẻ em, tập 1, sơ đồ trang
75, Đại học mở, thành phố Hồ Chí Minh, 2000 9. Trần Đình Tuấn, Tham vấn tâm lí cá nhân và gia đình (2013), trang 42, NXBĐHQGHN 10. Tài liệu Khóa đào tạo về Tâm lí trường học, Giảng viên viên đại học Saint Jonh, Mĩ 11. https://www.schoolcounselor.org/school-counselors-members/careers-roles/
why-middle-school-counselors 12. role.html, The Role of the wvde.state.wv.us/counselors/links/counselors/
professional school counselor - Cán bộ tham vấn: Như vậy, chúng ta xoay câu chuyện quanh chủ
đề tình yêu tuổi học trò. Hầu hết các em ngồi đây đều đã từng hoặc
đang yêu và có thể đã đối diện với sự không tán thành của cha mẹ,
thầy cô về chuyện yêu đương của các em. Điều này gây khó khăn cho
việc duy trì tình cảm của các em và có thể ảnh hưởng tới chuyện học
tập của các em.
Là những người trân trọng tình cảm tuổi học trò, các em muốn nỗ lực
tìm cách để có thể duy trì tình yêu của mình mà không làm ảnh hưởng
đến kết quả học tập và cũng không làm cha mẹ phiền lòng. Các em
đều thống nhất rằng cách tốt nhất là những bạn đang yêu cần chia sẻ
với nhau, giúp đỡ nhau trong học tập, cố gắng để việc học vẫn được
ưu tiên và dành kết quả tốt, từ đó các em tạo được sự an tâm nơi cha
mẹ. Bây giờ chúng ta sẽ dừng cuộc thảo luận tại đây. Các em cảm thấy
thế nào về buổi trò chuyện hôm nay?
- Học sinh A: chúng em cảm thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc
bảo duy trì tình cảm bạn bè và học tập.
- Cán bộ tham vấn: Các bạn khác thế nào?
- Vài học sinh: Chúng em cũng vậy, cũng vậy ạ.
- Cán bộ tham vấn: Xin cảm ơn sự tham gia tích cực của tất cả các em.
Chúc các em gìn giữ được tình yêu trong sáng tuổi học trò của mình
và có những kết quả học tập tốt nhất để vào được những trường như
các em mong muốn và để cha mẹ không lo lắng vì mình.
Xin chào các em! 13. http://www.innerbody.com/careers-in-health/how-to-become-school-counselor.
html, 14. Công việc của cán bộ tham vấn học đường ở buổi làm việc tiếp theo:
1/ Thảo luận với nhóm về mục tiêu học tập và những nỗ lực cụ thể của từng học sinh.
2/ Trò chuyện về khía cạnh giới tính và tình dục tuổi vị thành niên. https://www.nasponline.org/about-school-psychology/who-are-school-
psychologists 15. http://kidshealth.org/en/kids/school-counselors.html 16. wvde.state.wv.us/counselors/links/counselors/role.html 17. https://c.ymcdn.com/sites/sswaa.site-ym.com/resource/resmgr/Articles/JOINT
teaming_statement FINA. pdf 18. www.cacrep.org/ Council for Accreditation of Counseling and Related Educational
Programs (CACREP, 2001) 19. https://www.schoolcounselor.org/asca/media/asca/home/WhoAreSchoolCounselors.pdf 20. http://www.innerbody.com/careers-in-health/how-to-become-school-counselor.
html 21. http://www.baomoi.com/can-nhan-rong-mo-hinh-phong-tham-van-tam-ly-hoc-
duong/c/17801180.epi 22. https://en.wikipedia.org/wiki/School_counselor 22. https://en.wikipedia.org/wiki/School_counselor THANG LO ÂU ZUNG (SAS) 23. và tên: ……………………………………….Tuổi:…… Giới:……. http://www.innerbody.com/careers-in-health/how-to-become-school-counselor.
html Họ
Nghề:……..…………… Neukrug (1999), The world of the Counselors, Books/ Cole Publishing Company Địa chỉ:………………………………………Chẩn đoán:…………...Ngày làm:…….......…... 24. https://www.schoolcounselor.org/school-counselors-members/careers-roles/
why-middle-school-counselors 25. School Counselors Dưới đây là 20 câu phát biểu mô tả một số triệu chứng của cơ thể. Ở mỗi câu, hãy chọn
một mức độ phù hợp nhất với tình trạng mà bạn cảm thấy trong vòng một tuần vừa qua.
Đánh dấu "X" vào mức độ mà bạn lựa chọn. Không bỏ sót đề mục nào! http://www.educationworld.com/a_curr/curr198.shtml,
Reflective On What Makes Them, Effective 1 - Không có 2 - Đôi khi 26. 3 – Phần lớn thời gian 4 – Hầu hết thời gian http://www.careerigniter.com/questions/what-are-the-characteristics-of-an-
effective-counselor/ 27. http://www.psychotherapynetworker.org/component/content/article/81-2007-
marchapril/898-ten-most-influential-therapists STT Nội dung 1 2 3 4 28. http://psychcentral.com/lib/rational-emotive-behavior-therapy/ 1 Tôi cảm thấy nóng nảy và lo âu hơn thường lệ 29. Michael P. Nichols (2009), The Essentials of Family therapy, Pearson 2 Tôi cảm thấy sợ vô cớ 3 Tôi dễ bối rối và cảm thấy hoảng sợ 4 Tôi cảm thấy như bị ngã và vỡ ra từng mảnh 5 Tôi cảm thấy mọi thứ đều tốt và không có điều gì xấu sẽ
xảy ra 6 Tay và chân tôi lắc lư, run lên 7 Tôi đang khó chịu vì đau đầu, đau cổ, đau lưng. 8 Tôi cảm thấy yếu và dễ mệt mỏi. 9 Tôi cảm thấy bình tĩnh và có thể ngồi yên một cách dễ dàng 10 Tôi cảm thấy tim mình đập nhanh 11 Tôi đang khó chịu vì cơn hoa mắt chóng mặt 12 Tôi bị ngất và có lúc cảm thấy gần như thế 13 Tôi có thể thở ra, hít vào một cách dễ dàng 14 Tôi cảm thấy tê buốt, như có kiến bò ở đầu ngón tay,
ngón chân THANG ĐÁNH GIÁ TRẦM CẢM BECK (BDI) và tên: ……………………………………….Tuổi:…… Giới:……. Tôi đang khó chịu vì đau dạ dày và đầy bụng. 15 Họ
Nghề:……..…………… Tôi luôn cần phải đi đái 16 Địa chỉ:………………………………………Chẩn đoán:…………...Ngày làm:…….......…... Bàn tay tôi thường khô và ấm 17 18 Mặt tôi thường nóng và đỏ Tôi ngủ dễ dàng và luôn có một giấc ngủ tốt 19 Trong bảng này gồm 21 đề mục được đánh số từ 1 đến 21, ở mỗi đề mục có ghi 4 câu.
Trong mỗi đề mục hãy chọn ra một câu mô tả gần giống nhất tình trạng mà bạn cảm thấy
trong 1 tuần trở lại đây, kể cả hôm nay. Khoanh tròn vào con số trước câu phát biểu mà
bạn đã chọn. Hãy đừng bỏ sót đề mục nào! Tôi thường có ác mộng 20 Thang đánh giá bao gồm 20 mục được xây dựng để đo lường mức độ lo âu, dựa trên việc
cho điểm trong 4 nhóm biểu hiện: nhận thức, tự tại (tự trị), động cơ và các triệu chứng
thần kinh trung ương. Cách tính điểm: 1 điểm - Không có 2 điểm - Đôi khi 3 điểm – Phần lớn thời gian 4 điểm – Hầu hết thời gian Tổng điểm số nằm trong khoảng từ 20-80 điểm 0 Tôi không cảm thấy buồn.
1 Nhiều lúc tôi cảm thấy buồn.
2 Lúc nào tôi cũng cảm thấy buồn.
3 Tôi rất buồn hoặc rất bất hạnh đến mức không thể chịu được.
0 Tôi không nản lòng về tương lai.
1 Tôi cảm thấy nản lòng về tương lai hơn trước.
2 Tôi cảm thấy mình chẳng có gì mong đợi ở tương lai cả.
3 Tôi cảm thấy tương lai tuyệt vọng và tình hình chỉ có thể tiếp tục xấu đi. - Bình thường: 20-44 điểm - Lo âu nhẹ: 45-59 điểm - Lo âu nặng: 60-74 điểm - Lo âu cực nặng: 75-80 điểm Lưu ý: Với các câu: 5, 9, 13, 17, 19 khi tính phải đổi điểm ngược lại 1 Tôi thấy mình thất bại nhiều hơn những người khác.
2 Nhìn lại cuộc đời, tôi thấy mình đã có quá nhiều thất bại.
3 Tôi cảm thấy mình là một người hoàn toàn thất bại.
0 Tôi còn thích thú với những điều mà trước đây tôi vẫn thường thích.
1 Tôi ít thấy thích những điều mà trước đây tôi vẫn thường ưa thích.
2 Tôi còn rất ít thích thú về những điều trước đây tôi vẫn thường thích.
3 Tôi không còn chút thích thú nào nữa. Câu1.
Câu 2.
Câu 3. 0 Tôi không cảm thấy như bị thất bại.
Câu 4.
Câu 5. 0 Tôi hoàn toàn không cảm thấy có tội lỗi gì ghê gớm cả.
Câu 6. 1 Phần nhiều những việc tôi đã làm tôi đều cảm thấy có tội.
2 Phần lớn thời gian tôi cảm thấy mình có tội.
3 Lúc nào tôi cũng cảm thấy mình có tội.
0 Tôi không cảm thấy đang bị trừng phạt.
1 Tôi cảm thấy có lẽ mình đang bị trừng phạt.
2 Tôi mong chờ bị trừng phạt.
3 Tôi cảm thấy mình đang bị trừng phạt. 2 Tôi không đủ sức lực để làm được nhiều việc nữa.
3 Tôi không đủ sức lực để làm được bất cứ việc gì nữa. 0 Tôi thấy bản thân mình vẫn như trước kia.
1 Tôi không còn tin tưởng vào bản thân.
2 Tôi thất vọng với bản thân.
3 Tôi ghét bản thân mình. 1a Tôi ngủ hơi nhiều hơn trước.
1b Tôi ngủ hơi ít hơn trước.
2a Tôi ngủ nhiều hơn trước.
2b Tôi ngủ ít hơn trước.
3a Tôi ngủ hầu như suốt cả ngày.
3b Tôi thức dậy 1-2 giờ sớm hơn trước và không thể ngủ lại được. 1 Tôi dễ cáu kỉnh và bực bội hơn trước.
2 Tôi dễ cáu kỉnh và bực bội hơn trước rất nhiều.
3 Lúc nào tôi cũng dễ cáu kỉnh và bực bội. 1 Tôi hay khóc nhiều hơn trước.
2 Tôi thường khóc vì những điều nhỏ nhặt.
3 Tôi thấy muốn khóc nhưng không thể khóc được. 1 Tôi ít quan tâm đến mọi người, mọi việc xung quanh hơn trước.
2 Tôi mất hầu hết sự quan tâm đến mọi người, mọi việc xung quanh.
3 Tôi không còn quan tâm đến bất kỳ điều gì nữa. 1 Tôi không thể tập trung chú ý được như trước.
2 Tôi thấy khó tập trung chú ý lâu được vào bất kỳ điều gì.
3 Tôi thấy mình không thể tập trung chú ý được vào bất kỳ điều gì nữa.
0 Tôi không mệt mỏi hơn trước.
1 Tôi dễ mệt mỏi hơn trước.
2 Hầu như làm bất kỳ việc gì tôi cũng thấy mệt mỏi.
3 Tôi quá mệt mỏi khi làm bất kỳ việc gì. 1 Tôi ít hứng thú với tình dục hơn trước.
2 Hiện nay tôi rất ít hứng thú với tình dục. 1 Tôi không cho rằng mình có giá trị và có ích như trước kia.
2 Tôi cảm thấy mình vô dụng hơn so với những người xung quanh.
3 Tôi thấy mình là người hoàn toàn vô dụng. 3 Tôi hoàn toàn mất hứng thú tình dục. Câu 16. 0 Không thấy có chút thay đổi gì trong giấc ngủ của tôi.
Câu 17. 0 Tôi không dễ cáu kỉnh và bực bội hơn trước.
Câu 18. 0 Tôi ăn vẫn ngon miệng như trước.
1a Tôi ăn kém ngon miệng hơn trước.
1b Tôi ăn ngon miệng hơn trước.
2a Tôi ăn kém ngon miệng hơn trước rất nhiều.
2b Tôi ăn ngon miệng hơn trước rất nhiều.
3a Tôi không thấy ngon miệng một chút nào cả.
3b Lúc nào tôi cũng thấy thèm ăn.
Câu 19. 0 Tôi có thể tập trung chú ý tốt như trước.
Câu 20.
Câu 21. 0 Tôi không thấy có thay đổi gì trong hứng thú tình dục.
…………………………………………………………………………….. Câu 7.
Câu 8. 0 Tôi không phê phán hoặc đổ lỗi cho bản thân hơn trước kia.
1 Tôi phê phán bản thân mình nhiều hơn trước kia.
2 Tôi phê phán bản thân về tất cả những lỗi lầm của mình.
3 Tôi đổ lỗi cho bản thân về tất cả mọi điều tồi tệ xảy ra.
0 Tôi không có ý nghĩ tự sát.
Câu 9.
1 Tôi có ý nghĩ tự sát nhưng không thực hiện.
2 Tôi muốn tự sát.
3 Nếu có cơ hội tôi sẽ tự sát.
Câu 10. 0 Tôi không khóc nhiều hơn trước kia.
Câu 11. 0 Tôi không dễ bồn chồn và căng thẳng hơn thường lệ.
1 Tôi cảm thấy dễ bồn chồn và căng thẳng hơn thường lệ.
2 Tôi cảm thấy bồn chồn và căng thẳng đến mức khó có thể ngồi yên được.
3 Tôi thấy rất bồn chồn và kích động đến mức phải đi lại liên tục hoặc làm gì đó.
Câu 12. 0 Tôi không mất quan tâm đến những người xung quanh hoặc các hoạt động khác.
Câu 13. 0 Tôi quyết định mọi việc cũng tốt như trước.
1 Tôi thấy khó quyết định mọi việc hơn trước.
2 Tôi thấy khó quyết định mọi việc hơn trước rất nhiều.
3 Tôi chẳng còn có thể quyết định được việc gì nữa.
Câu 14. 0 Tôi không cảm thấy mình là người vô dụng.
Câu 15. 0 Tôi thấy mình vẫn tràn đầy sức lực như trước đây. 1 Sức lực của tôi kém hơn trước. 3/ Cách tính điểm: y Không có trầm cảm: Điểm tổng cộng từ 0 đến13 điểm y Trầm cảm nhẹ: Điểm tổng cộng từ 14-19 điểm y Trầm cảm vừa: Điểm tổng cộng từ 20-29 điểm y Trầm cảm nặng: Điểm tổng cộng từ 30 điểm trở lên Thang đánh giá trầm cảm của Beck là một công cụ đánh giá chủ quan rối loạn trầm cảm
được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu lâm sàng Tâm lí học, tâm thần học và dược lý,
cũng như trong lĩnh vực đa khoa và cả trong dịch tễ học, mang lại những dữ liệu sâu sắc
về tình trạng trầm cảm. Có thể nói đây là một công cụ được các thân chủ chấp nhận tốt và
sử dụng dễ dàng, vì nó ngắn ngọn.
1/ Giải thích thang trầm cảm của BECK
Trong tập hợp những triệu chứng trên đây, Beck mô tả các triệu chứng về sự ức chế toàn
diện các mặt hoạt động tâm thần: cảm xúc, tư duy, hoạt động, v.v. gồm các mục: Như vậy, ngưỡng điểm tổng cộng của thang Beck là 14 được nhiều tác giả chấp thuận, để
xác định bệnh nhân có biểu hiện bệnh lý rối loạn trầm cảm. - Từ 1 đến 15: Các mục này phản ánh những nhận xét tiêu cực về bản thân, về thế giới bên ngoài và về tương lại. - Từ 16 đến 21: Các mục có liên quan tới các triệu chứng cơ thể: tình trạng ức chế, chậm chạp, mệt mỏi, khó tập trung, rối loạn giấc ngủ. 2/ Cách đánh giá
Thang Beck là thang tự đánh giá. Nhà tham vấn yêu cầu đối tượng điền vào một bản câu
hỏi, bằng cách khoanh tròn những con số tương ứng với câu trả lời có sẵn do mình tự lựa
chọn. Đối tượng có thể khoanh tròn nhiều con số nếu có nhiều câu trả lời có sẵn thích hợp
với mình.
Mỗi câu được cấu tạo nên bởi từ 4 đến 6 ý trả lời tương ứng với từ 4 đến 6 mức cường độ
triệu chứng nặng hơn dần: từ mức 0 đến mức 3.
Ví dụ, đề mục 15 - lao động khó khăn: 0. Tôi có thể làm việc tốt như trước 1a. Tôi phải đặc biệt cố gắng để có thể khởi động làm một việc gì. 1b. Tôi không làm việc tốt như trước 2. Tôi phải cố gắng hết sức để làm một việc gì 3. Toàn hoàn toàn không thể làm một việc gì cả Đề mục 16 - rối loạn giấc ngủ: 0. Tôi không thể ngủ tốt như trước 1. Tôi ngủ dậy buổi sáng mệt hơn trước 2. Tôi thức dậy 1 -2 giờ sớm hơn trước và thấy khó ngủ lại. 3. Hàng ngày tôi dậy sớm và không thể ngủ hơn 5 tiếng. Khi tính điểm, phải giữ lại điểm cao nhất được chọn trong mỗi loạt câu trả lời.
Cộng những điểm cho tất cả 21 đề mục, thì sẽ đạt được điểm tổng cộng cho từng trường
hợp. Khoảng cách của thang đánh giá rộng từ 0 đến 39 điểm. Điểm tổng cộng càng cao
thì đối tượng càng bị rối loạn trầm cảm nặng hơn. Tiêu chí Mục tiêu Công cụ đánh giá Thông qua sổ ghi chép
các ca tham vấn, hệ thống
giám sát chính thức và phi
chính thức, phiếu phản hồi
dịch vụ tham vấn của học
sinh, cha mẹ và thầy cô Tiêu chí Mục tiêu Công cụ đánh giá Phòng tham vấn Đảm bảo các em học sinh
tham gia vào quá trình
tham vấn và có cơ hội chia
sẻ, phản hồi với cán bộ
tham vấn và chất lượng của
hoạt động tham vấn đối với
các em thông qua việc trao
đổi trong thời gian tham
vấn Giúp cho học sinh phát
triển tính trách nhiệm cho
bản thân các em, các lựa
chọn trong cuộc sống của
các em. Cho phép cán bộ
tham vấn nhận các phản
hồi từ học sinh và đảm bảo
chất lượng của hoạt động
tham vấn đám ứng được
nhu cầu và phù hợp với
mỗi một học sinh Phản hồi của cán bộ tham
vấn và của học sinh về tính
phù hợp của phòng tham
vấn, đảm bảo các tiêu chí
đã đưa ra Đảm bảo là các em học
sinh có thể sử dụng thời
gian tham vấn để chia sẻ
khó khăn và vượt qua khó
khăn mà không lo sợ bị
chen ngang, bị lộ bí mật. Thúc đẩy nguyên tắc với
thay đổi tích cực có thể
ảnh hưởng đến các lựa
chọn mỗi cá nhân Hỗ trợ một phòng tham
vấn an toàn, thân thiện,
riêng tư để đảm bảo cho
học sinh được thoải mái
khi trò chuyện cùng cán bộ
tham vấn về các khó khăn
mà các em đang phải đối
mặt Thông qua sổ ghi chép
các ca tham vấn, hệ thống
giám sát chính thức và phi
chính thức, phiếu phản hồi
dịch vụ tham vấn của học
sinh, cha mẹ và thầy cô Tiến hành tham vấn Giúp học sinh hiểu được
bản thân các em và quá
trình thay đổi của cá nhân
và xã hội đã có ảnh hưởng
như thế nào đến chất
lượng cuộc sống của các
em và khuyến khích các em
các trách nhiệm với cuộc
sống của mình và tôn trọng
người khác Tham vấn trực tiếp cho học
sinh, miễn phí và đảm bảo
bí mật, an toàn Đảm bảo hoạt động tham
vấn có hiệu quả với học
sinh, cho phép các em có
được các cơ hội giải quyết
các khó khăn của mình
thông qua trò chuyện với
cán bộ tham vấn Hỗ trợ kết nối học sinh
với các tổ chức hoặc các
chuyên gia để nhận được
sự hỗ trợ chuyên sâu hơn Báo cáo giám sát thống
kê được số học sinh được
tham vấn. Phản hồi của
học sinh, giáo viên, cha
mẹ về các thay đổi mà hoạt
động tham vấn đã mang
lại cho học sinh trong học
tập hoặc cuộc sống của
các em Thông qua sổ ghi chép
các ca tham vấn, hệ thống
giám sát chính thức và phi
chính thức, phiếu phản hồi
dịch vụ tham vấn của học
sinh, cha mẹ và thầy cô Trao quyền cho học sinh
để các em ra quyết định
trong việc tìm kiếm các
sự hỗ trợ khác và giúp các
em hiểu phạm vi hỗ trợ
của phòng tham vấn và
các em cần được tiếp cận
với các hỗ trợ khác để khó
khăn của các em được giải
quyết triệt để Giúp học sinh phát triển
được tính tự chủ, sự tự tin
và các cách đối đầu với khó
khăn hoặc khủng hoảng
mà các em gặp phải. Thông qua sổ ghi chép
các ca tham vấn, hệ thống
giám sát chính thức và phi
chính thức, phiếu phản hồi
dịch vụ tham vấn của học
sinh, cha mẹ và thầy cô 1. Phần Phụ lục II là kết quả Dự án ở giai đoạn một do Tổ chức Plan cung cấp. Thông qua báo cáo thống
kê số học sinh được tham
vấn (độ tuổi, giới tính…) Thúc đẩy việc thiết lập và
phát triên sự tự nhận thức
và các kỹ năng đối đầu
của học sinh, trang bị cho
học sinh khả năng đối đầu
với các thay đổi, thách
thức trong cuộc sống và
thúc đẩy một cuộc sống
tinh thần tốt Đảm bảo tất cả các em
học sinh được tiếp cận
với phòng tham vấn học
đường Thúc đẩy cơ hội bình đẳng
cho tất cả các em học sinh
khi tiếp cận phòng tham
vấn Tiêu chí Mục tiêu Công cụ đánh giá Phản hồi/chia sẻ từ cán bộ
tham vấn Đảm bảo các cán bộ tham
vấn được hỗ trợ kịp thời
khi họ gặp các vấn đề cá
nhân Nâng cao nhận thức cho
học sinh về quyền và trách
nhiệm của học sinh Thông qua sổ ghi chép
các ca tham vấn, hệ thống
giám sát chính thức và phi
chính thức, phiếu phản hồi
dịch vụ tham vấn của học
sinh, cha mẹ và thầy cô Đảm bảo có cơ chế chia sẻ
thông tin để biết được cán
bộ tham vấn đang gặp các
khó khăn và các khó khăn
đó cần được giải quyết để
không làm ảnh hưởng đến
chất lượng tham vấn cho
học sinh Đảm bảo là các em học
sinh được biết đến quyền
và trách nhiệm của mình
và điều này giúp các em có
thông tin đầy đủ cho các
quyết định liên quan đến
cuộc sống của các em Tài liệu hướng dẫn Định hướng công việc cho
cán bộ tham vấn một cách
rõ ràng Đảm bảo các cán bộ tham
vấn được tuyển dụng hiểu
rõ các quy định, quy trình
phải thực hiện trong quá
trình thực hiện hoạt động
tham vấn Thông qua sổ ghi chép
các ca tham vấn, hệ thống
giám sát chính thức và phi
chính thức, phiếu phản hồi
dịch vụ tham vấn của học
sinh, cha mẹ và thầy cô Nâng cao nhận thức cho
mọi người về hiệu quả của
công tác tham vấn học
đường và đảm bảo việc kết
nối dịch vụ hỗ trợ học sinh
sau tham vấn Nâng cao nhận thức về
hoạt động của phòng tham
vấn học đường và thay đổi
các quan niệm, các hiểu sai
về mục đích và bản chất
hoạt động của phòng tham
vấn Họp định kỳ/báo cáo
phòng tư vấn Tuyển cán bộ tham vấn Hỗ trợ cán bộ tham vấn
tham gia các hoạt động
giám sát Giúp cán bộ tham vấn có
cơ hội thảo luận các mối
quan ngại, các vấn đề liên
quan đến dịch vụ tư vấn
trong trường… Giám sát và đánh giá Thông qua bằng cấp,
chứng chỉ và kết quả của
các khóa đào tạo cán bộ
tham vấn Đảm bảo cán bộ tham vấn
được lựa chọn là người
được đào tạo về nghiệp vụ
tham vấn học sinh Đảm bảo chất lượng và
tính chuyên nghiệp của
dịch vụ tham vấn và cán
bộ được đào tạo phù hợp
với yêu cầu công việc Sổ ghi chép tổng hợp công
tác tham vấn Hoạt động hỗ trợ định kỳ/
đào tạo cho cán bộ tham
vấn Nhằm có được các thông
tin để củng cố chất lượng
dịch vụ và đảm bảo hiệu
quả của hoạt động với học
sinh Hỗ trợ nâng cao năng lực
cán bộ tham vấn để đảm
bảo chất lượng cao nhất
của hoạt động tham vấn Đảm bảo các cán bộ tham
vấn ghi chép đầy đủ các ca
tham vấn, bao gồm cả các
thông tin họ cung cấp cho
học sinh và các thông tin
học sinh cung cấp và ghi
chép lại các thay đổi của
học sinh sau khi được tham
vấn Đảm bảo các các bộ tham
vấn được giám sát định kỳ
giúp họ duy trì các chuẩn
mực đạo đức của công tác
tham vấn và để giám sát
chất lượng tham vấn cũng
như cung cấp các hỗ trợ kỹ
thuật kịp thời Giám sát và ghi lại các quan
điểm của học sinh về hoạt
động tham vấn Nhằm có được các thông
tin để củng cố chất lượng
dịch vụ và đảm bảo hiệu
quả của hoạt động với học
sinh Thông qua sổ ghi chép
các ca tham vấn, hệ thống
giám sát chính thức và phi
chính thức, phiếu phản hồi
dịch vụ tham vấn của học
sinh, cha mẹ và thầy cô Trả lời Thông qua kênh thông tin
trực tiếp, gián tiếp, các buổi
họp, các buổi giám sát Câu hỏi Ghi chép và trả lời các ý
kiến của cán bộ tham vấn
và các khuyến nghị về cải
thiện dịch vụ tham vấn Có Chưa có 1 Nhằm có được các thông
tin để củng cố chất lượng
dịch vụ và tận dụng các
kiến thức, kinh nghiệm
thực tế của cán bộ tham
vấn để có các điều chỉnh
phù hợp Liệu các nhà quản lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh đã
biết được việc thành lập phòng Tham vấn học đường chưa? 2 Việc đào tạo cho cán bộ tham vấn đã được tiến hành chưa? 3 Đảm bảo học sinh và cán
bộ tham vấn hiểu được
mục đích của hoạt động
đánh gía Đã có thông tin giới thiệu về hoạt động của phòng tham vấn
cho giáo viên, phụ huynh và học sinh chưa? Thông qua sổ ghi chép
các ca tham vấn, hệ thống
giám sát chính thức và phi
chính thức, phiếu phản hồi
dịch vụ tham vấn của học
sinh, cha mẹ và thầy cô 4 Liệu phòng tham vấn có được xem là một phần của can
thiệp tổng thể trong trường học nhằm giúp can thiệp vấn
đề sức khỏe tinh thần và sự phát triển của học sinh chưa? Đảm bảo học sinh và cán
bộ tham vấn tham gia vào
hoạt động giám sát hiểu là
các ý kiến của họ sẽ được
ghi nhận. Cần tận dụng tiến
trình giám sát đánh giá để
thúc đẩy chất lượng hoạt
động tham vấn đáp ứng
nhu cầu của học sinh và
mục tiêu của chương trình. 5 Liệu hoạt động của phòng tham vấn có đóng được vai trò
độc lập cũng như là một phần của trường học không? 6 Đã có đủ nguồn lực cho việc hình thành và duy trì hoạt động
của phòng tham vấn chưa? 7 Đã tuyển được cán bộ tham vấn đáp ứng yêu cầu công việc
chưa? 8 Đã có hoạt động định hướng và giới thiệu công việc cho cán
bộ tham vấn chưa? 9 Vai trò trách nhiệm của các giáo viên trong việc kết nối học
sinh với phòng tham vấn đã được làm rõ chưa? 10 Đã có cơ chế giám sát chất lượng của hoạt động tham vấn
chưa? 11 Các em học sinh đã tham gia đóng góp vào chức năng và
nhiệm vụ của phòng tham vấn chưa? 12 cán bộ tham vấn đã được học và hiểu rõ chính sách bảo vệ
trẻ em và các chính sách hỗ trợ liên quan cho học sinh chưa? Trả lời Câu hỏi Có Chưa có 13 Cơ chế khiếu nại cho các trường hợp được tham vấn đã có
chưa? Là nơi trợ giúp cho các em học sinh vượt qua các khó khăn trong các lĩnh vực sau: y Khó khăn trong học tập: Sợ đến trường, kết quả học tập sa sút… 14 Đã có cơ chế phối hợp giữa các bên để giải quyết/hỗ trợ các
ca bạo lực học sinh trong trường chưa? y Khó khăn trong mối quan hệ với bạn bè, thầy cô, cha mẹ… y Khó khăn tâm lý: lo lắng, sợ hãi… 15 Đã có có chế giám sát, đánh giá và báo cáo hoạt động của
phòng tham vấn chưa? y Bị ảnh hưởng bởi các hành vi bạo lực tại trường học, trên đường đến trường, trên mạng xã hội... Và là nơi kết nối các em đến các dịch vụ trợ giúp chuyên nghiệp sẵn có tại Hà Nội. Tôn chỉ hoạt động của phòng tham vấn: y Tôn trọng học sinh, chấp nhận và không phán xét y Sẵn sàng lắng nghe và chia sẻ y Đảm bảo bí mật y Hỗ trợ ở mức tối đa có thể Các hoạt động của phòng tham vấn: y Tham vấn trực tiếp cá nhân hoặc nhóm học sinh tại phòng tham vấn y Tham vấn qua điện thoại cho học sinh y Tham vấn qua hòm thư điện tử y Tham vấn cho giáo viên, phụ huynh về các vấn đề của học sinh y Kết nối học sinh, cha mẹ học sinh với các dịch vụ trợ giúp chuyên nghiệp Thời gian hoạt động y Hàng ngày từ thứ 2 đến thứ 6 y Sáng: 7h30 đến 12h y Chiều: 13.30 đến 17h =====o0o===== =====o0o===== Hà nội, ngày …. tháng … năm …. Hà nội, ngày …. tháng … năm …. 1. Chuyên viên tâm lý/ cán bộ tham vấn thực hiện đúng các qui định về đạo đức nghề. 1. 2. Cán bộ tham vấn chỉ tham gia vào các thực hành nghề nghiệp duy trì phẩm giá của
tất cả các cá nhân. Trong lời nói và hành động của mình, cán bộ tham vấn thể hiện sự
tôn trọng quyền tự chủ và quyền tự quyết của học sinh, tôn trọng sự riêng tư, bảo mật
thông tin và cam kết hỗ trợ đúng đắn và công bằng cho tất cả Học sinh. Khi cho học sinh làm trắc nghiệm cần điền đầy đủ thông tin vào các phiếu đánh giá
cho mỗi em (ngày làm trắc nghiệm, họ tên, lớp….). Kết quả xử lý trắc nghiệm và kết
quả tham vấn/ tư vấn cần in ra (trừ hồ sơ viết tay của các ca tham vấn cá nhân) và đính
kèm với bản trả lời của học sinh, sau đó lưu vào các hồ sơ của phòng theo thứ tự thời
gian. 2. 3. Cần lưu ý khi tham vấn/ tư vấn nhóm hoặc cá nhân phải khép cửa để đảm bảo tính bí
mật và sự an toàn cho ca tham vấn/ tư vấn. Cán bộ tham vấn thực hành nghề nghiệp để mang lại lợi ích cho học sinh, trong
phạm vi năng lực của mình, sử dụng kiến thức khoa học về Tâm lý - Giáo dục để giúp
học sinh và những người khác đưa ra các lựa chọn có hiểu biết và chấp nhận trách
nhiệm về lựa chọn của họ. 4. 3. Cán bộ tham vấn có thể xem thông tin tham vấn/ tư vấn lưu trong tủ đựng hồ sơ,
song không copy hoặc chia sẻ những thông tin này cho bất cứ ai khi chưa được sự
đồng ý của học sinh và cán bộ tham vấn. 5. Để tạo dựng và duy trì sự tin tưởng, cán bộ tham vấn phải trung thực với sự thật và
tuân thủ những lời hứa nghề nghiệp của mình. Cán bộ tham vấn cần thẳng thắn về
trình độ, năng lực và vai trò của mình; làm việc trong sự hợp tác với các bộ phận,
phòng ban, khối cấp, tổ hỗ trợ học sinh để đáp ứng nhu cầu của Học sinh và gia đình;
tránh các mối quan hệ đa chiều làm giảm hiệu quả chuyên môn. 4. Cán bộ tham vấn lưu ý khi học sinh vào tham vấn/ tư vấn cần kiểm tra xem thời gian
đó có vi phạm vào tiết học nào không; trừ trường hợp vấn đề của học sinh rất nghiêm
trọng thì học sinh cần phải xin phép nghỉ tiết học hoặc cán bộ tham vấn phải báo với
giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo viên bộ môn của em để ca tham vấn/ tư vấn được tiếp
tục. Cán bộ tham vấn thúc đẩy môi trường trường học lành mạnh, thân thiện và an toàn.
Duy trì sự tin tưởng của mọi người bằng cách tôn trọng pháp luật, nội quy nhà trường
và khuyến khích hành vi đạo đức. 6. Hồ sơ mỗi trường hợp tham vấn/ tư vấn cá nhân được lưu vào một tập riêng. Các buổi
tham vấn/ tư vấn cá nhân có thể ghi chép vào giấy A4 (hoặc đánh máy), sau đó lưu
vào hồ sơ cá nhân. PHÒNG TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG 7. Cán bộ tham vấn đảm bảo trực đúng thời gian và không tiếp khách (bạn bè, người
nhà…) trong Phòng tâm lý học đường. 8. Cán bộ tham vấn, giáo viên, cán bộ, học sinh mượn và trả sách theo hồ sơ lưu giữ sách
của phòng. 9. Cán bộ tham vấn chỉ sử dụng tài sản của Phòng tâm lý học đường vào mục đích
chung của phòng. 10. Đầu mỗi ca tham vấn/ tư vấn các cán bộ kiểm tra tư liệu và tài sản chung của cả
phòng, nếu có mất mát xin báo lại ngay cho cán bộ tham vấn trực ca trước đó và
Phòng hành chính quản trị. 2. Quy trình giới thiệu và can thiệp của Tổ hỗ trợ học sinh (Tham khảo): =====o0o===== Hà nội, ngày …. tháng … năm …. Nếu HS có những hành vi nguy
hiểm đến cá nhân mình hay
người khác Giáoviên/phụ huynh học sinh/
cán bộ nhân viêntrường có băn
khoăn, lo lắng về các vấn đề học
tập, cảm xúc, hành vi... của HS 1. Sơ đồ chia sẻ/báo cáo vấn đề của học sinh Khi gặp khó khăn học sinh có thể chia sẻ và báo với người mà em cảm thấy phù hợp, an
toàn và tin tưởng. Người này có thể là bất cứ ai trong nhà trường: - Làm việc trực tiếp với học sinh.
- Tìm hiểu thông tin về học sinh từ giáo
viên, bạn bè, phụ huynh học sinh.
- Chẩn đoán, đánh giá sơ bộ vấn đề của
học sinh. BGH/ Tổ giám thị Giáo viên chủ
nhiệm/GV
BM,… Kết thúc quy trình Nếu vấn đề của HS cần
sự hỗ trợ ở mức toàn diện - Cán bộ tham vấn làm việc
trực tiếp với HS (tham vấn/ tư
vấn...).
- Có thể trao đổi với GVCN,
PHHS về khó khăn của HS. - Phân tích vấn đề của HS.
- Phân tích điểm mạnh/ yếu của HS.
- Xây dựng các biện pháp can thiệp.
- Xây dựng kế hoạch hỗ trợ HS.
- Thực hiện và giám sát việc thực hiện
kế hoạch hỗ trợ HS. Học sinh Trưởng khối cấp Chuyên viên
tâm lý (CVTL) Đánh giá kết quả và kết thúc quy trình Trường ……….. Vấn đề đó bắt nguồn từ khi nào? Mã số Phòng tham vấn tâm lý Mô tả vắn tắt vấn đề em muốn thảo
luận với CVTL: --------***-------- Em mong đợi đạt được gì qua tham vấn/ tư vấn? và tên:……………………… Ngày…………… Chuyên viên tâm Họ
lý...…………………… Ngày sinh: ……………………….. Giới tính: Nữ £ Nam £ NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU Lớp …………………………Quê quán: ………………………………………………….
.... yCảm xúc yHành vi tại:………………………………………. Điện thoại di động £ Cô đơn £ Thiếu động lực £ Vấn đề về giấc ngủ Địa chỉ hiện
…………………… £ Không hạnh phúc £ Mất kiểm soát £ Vấn đề về ăn uống thoại cố định: …………………Email Điện
…………………………………………………… £ Sợ hãi £ Gây hấn £ Khó tập trung £ Tức giận £ Tránh tiếp xúc xã hội £ Thu mình Tuổi bố …….. Nếu đã mất, lúc đó em bao nhiêu ............................ £ Chán nản £ Chần chừ £ Cố gắng tự tử Tuổi mẹ ……. ..Nếu đã mất, lúc đó em bao nhiêu tuổi? .................... £ Tự ti £ Bỏ học £ Tự làm đau mình Tuổi anh/ chị/ em ............................................................................... £ Khó khăn khi biểu lộ cảm xúc Lịch sử
gia đình £ Khó khăn khi đưa ra quyết định Mô tả vắn tắt mối quan hệ giữa bố mẹ em £ Cảm thấy tội lỗi £ Khác …………………………………………… ………………………………………………………………………… £ Lo lắng ………………………………………………………………………… yThể chất £ Hoảng sợ ………………………………………………………………………… £ Không hài lòng với vẻ ngoài của mình £ Ganh tị ………………………………………………………………………… £ Đau đầu £ Không hài lòng với bản thân £ Đau dạ dày £ Đau khổ sau sang chấn Ai chuyển em đến phòng tâm lý: £ Thầy cô £ Bố mẹ £ Em bè £ Cảm thấy mệt mỏi £ Buồn bã £ Tự mình £ Khác …………… £ Thay đổi cân nặng £ Tuyệt vọng Em đã từng đi tham vấn/ tư vấn tâm lý trước đây chưa? Rồi £ Chưa £ £ Căng cứng ở vai £ Thất thường £ Ốm/ bệnh Khác ………………………….. £ Khác …………………………………………… Trường ……….. yỞ trường yMối quan hệ Mã số Phòng tham vấn tâm lý £ Khó khăn khi cân bằng các £ Vấn đề gia đình --------***-------- trách nhiệm £ Quan hệ với em bè £ Khó khăn tài chính £ Quan hệ với thầy cô £ Sự chần chừ, trì hoãn £ Quan hệ với em cùng phòng £ Vấn đề về thích nghi £ Mất đi người thân £ Lo lắng thi cử £ Vấn đề về giới tính, sức khỏe sinh sản Phòng tham vấn tâm lý cung cấp dịch vụ tham vấn tâm lý cho tất cả học sinh, giáo viên,
cán bộ nhân viên hiện đang học tập, công tác tại trường, không phân biệt tuổi tác, giới
tính, dân tộc, tôn giáo. Dịch vụ này hoàn toàn miễn phí. £ Vấn đề quản lý thời gian £ Vấn đề lạm dụng £ Động lực học tập £ Vấn đề kết em £ Khó tập trung chú ý £ Vấn đề xác định giới tính £ Vấn đề với điểm số/ công việc ở £ Khác …………………………………………… Tham vấn là quá trình tương tác giữa cán bộ tham vấn và học sinh (thân chủ), trong đó,
cán bộ tham vấn - bằng những kiến thức và kỹ năng của mình – khơi dậy tiềm năng, nâng
cao năng lực của học sinh, để học sinh tự mình giải quyết vấn đề một cách tốt nhất. Để
quá trình này có hiệu quả, vai trò chủ động và tích cực của chính em là điều không thể
thiếu. trường Khác £
……………………………… Phòng tham vấn tâm lý cung cấp dịch vụ tham vấn ngắn hạn, từ 1 đến 12 buổi, mỗi buổi
trung bình 50 phút. Xin vui lòng đến đúng hẹn, và thông báo với cán bộ tham vấn sớm
nhất có thể trong trường hợp em muốn hủy hẹn hay hẹn lại. Bất kỳ điều gì em muốn chúng tôi biết thêm về em: Về nguyên tắc Giữ bí mật: Mọi thông tin em chia sẻ sẽ được giữ kín, chỉ tiết lộ nếu có sự
đồng ý của em; trong trường hợp có nguy cơ gây nguy hiểm tới em và người xung quanh
thì cán bộ tham vấn có quyền tiết lộ thông tin với những người liên quan để đảm bảo an
toàn cho em và người xung quanh. Trong trường hợp khẩn cấp, xin vui lòng liên hệ số điện thoại ……………………. để
chúng tôi có thể hỗ trợ em kịp thời. Xin vui lòng ký tên nếu em đã hiểu và đồng ý với những thông tin vừa nêu. Hà Nội, ngày tháng năm Chữ ký học sinh Chữ ký nhà tham vấn --------------------------------- ------------------------------------ Trường ……….. Trường THPT……….. Mã số Mã số Phòng tham vấn tâm lý Phòng tham vấn tâm lý --------***-------- --------***-------- Ngày Buổi Trang (Dành cho học sinh) Thân chủ ……………………………… Chuyên viên tâm lý……………………………….... ……………………………..Thời gian …………………… Phòng tham vấn tâm lý trường ............................. hỗ trợ tâm lý cho tất cả học sinh hiện đang
học tại trường. Nếu em biết bạn học sinh nào muốn chia sẻ với cán bộ tham vấn của
chúng tôi, xin vui lòng giới thiệu/ chuyển học sinh đó tới phòng tâm lý. Liên hệ tại phòng
để đặt lịch hẹn. Buổi
………………………………… Tên học sinh:………………………………………………………………. Ghi chép tham vấn Phân tích/ đánh giá Lớp: ……………………………………………………………………….. Lý do giới thiệu/ chuyển xuống phòng: Bài tập về nhà (nếu có): Đánh giá (Chẩn đoán/xác định vấn đề): Hướng tham vấn/ Mục tiêu tham vấn lần tới Ngày Tháng Năm Người giới thiệu Ngày hẹn tiếp theo: Trường THPT……….. Trường ……….. Mã số Mã số Phòng tham vấn tâm lý Phòng tham vấn tâm lý --------***-------- --------***-------- (Dành cho giáo viên, cán bộ nhân viên) Chuyển tới: (Tên trung tâm/ tổ chức) Địa chỉ: ………………………………………………………………………………………
… Phòng tham vấn tâm lý trường ................. hỗ trợ tâm lý cho tất cả học sinh hiện đang học tại
trường. Nếu thầy/cô biết học sinh nào muốn chia sẻ với cán bộ phòng tham vấn, xin vui
lòng giới thiệu/ chuyển học sinh đó tới phòng tâm lý. Liên hệ tại phòng để đặt lịch hẹn. Tên học sinh được chuyển:…………………………………………Nam/ nữ ………………. Tên học sinh:…………………………………………………………. Lớp……............. Trường THPT ………………………………………………………………… Lớp: ………………………………………………………………….. Đánh giá sơ bộ: Lý do giới thiệu/ chuyển xuống phòng: Lý do chuyển: Ngày Tháng Năm Người giới thiệu Ngày Tháng Năm Người giới thiệu Trường TH……….. Mã số Phòng tham vấn tâm lý 11. Sự hỗ trợ từ cán bộ tham vấn hoặc Tổ
hỗ trợ Học sinh giúp em có những thay
đổi --------***-------- 12. Nhìn chung, em đánh giá hoạt động
hỗ trợ của Phòng tâm lý học đường 13. Em có ý định quay trở lại tìm kiếm sự hỗ trợ của Phòng tâm lý học đường tại trường
nữa không? Mong các em vui lòng hoàn thành những câu hỏi sau để giúp Phòng tâm lý học đường
hoạt động ngày một tốt hơn. Chúng tôi hy vọng sẽ đem đến cho các em những hoạt động
hỗ trợ tốt nhất tại trường………... ……………………………..……………………………….………………………………… ……………………………..……………………………….………………………………… ……………………………..……………………………….………………………………… Tốt Nội dung Trung
bình Không
tốt Rất
kém Rất
tốt ……………………………..……………………………….………………………………… 1. Lịch hẹn gặp Lý do: ……………………………..……………………………….………………………………… 2. Vị trí nơi làm việc ……………………………..……………………………….………………………………… ……………………………..……………………………….………………………………… 3. Tác phong và thái độ làm việc của cán
bộ tham vấn ……………………………..……………………………….………………………………… 4. Phòng làm việc của cán bộ tham vấn 14. Em có ý định giới thiệu những người bạn của em đến Phòng tâm lý học đường của
trường hay không? 5. Cán bộ tham vấn cung cấp cho em
những thông tin và tài liệu cần thiết ……………………………..……………………………….………………………………… 6. Em thấy thoải mái với cán bộ tham vấn ……………………………..……………………………….………………………………… ……………………………..……………………………….………………………………… 7. Cán bộ tham vấn có kiến thức và có sự
chuẩn bị cho buổi làm việc với em ……………………………..……………………………….………………………………… Lý do: 8. Cán bộ tham vấn hiểu những khó khăn,
vấn đề của em ……………………………..……………………………….………………………………… ……………………………..……………………………….………………………………… ……………………………..……………………………….………………………………… 9. Cán bộ tham vấn và em hiểu nhau và
thống nhất về mục tiêu, kế hoạch làm
việc ……………………………..……………………………….………………………………… 10. Trợ giúp của cán bộ tham vấn mang lại
ích lợi cho em 15. Liệt kê những mong muốn của em đối với Phòng tâm lý học đường của trường mà
chưa được đáp ứng: ……………………………..……………………………….………………………………… ……………………………..……………………………….………………………………… ……………………………..……………………………….………………………………… ……………………………..……………………………….………………………………… 16. Liệt kê những vấn đề gì làm em chưa hài lòng khi tiếp nhận sự hỗ trợ tâm lý của trường
(ví dụ như khoảng cách, giờ hẹn, bảo mật thông tin cá nhân, v.v.) ……………………………..……………………………….………………………………… TRƯỜNG …………………………………………………. ……………………………..……………………………….………………………………… PHÒNG THAM VẤN TÂM LÝ ……………………………..……………………………….………………………………… ……………………………..……………………………….………………………………… 17. Những ý kiến góp ý của em cho hoạt động hỗ trợ tâm lý của Phòng: ……………………………..……………………………….………………………………… ……………………………..……………………………….………………………………… ……………………………..……………………………….………………………………… NĂM HỌC ……. – …….. ……………………………..……………………………….………………………………… Ngày…… tháng …… năm .….. Cảm ơn sự hợp tác của em! (Mẫu 1) 2
2
2 Tháng….. năm 201… Thành phần Giới tính (Mẫu 2) STT Mã hồ
sơ Kết quả
sơ bộ Nam Nữ Vấn đề
thân chủ
gặp phải Tên
thân
chủ Tham
vấn lần
(Lần 1; lần
2, lần 3…) Thời gian
(ghi cụ
thể ngày,
giờ) Phụ
huynh
(con lớp
nào) Học
sinh
(ghi rõ
lớp) Giáo
viên (ghi
rõ chủ
nhiệm/
bộ môn) Số lượng Đối tượng nhận Hình thức Tham
vấn tham vấn Mã
số Kết quả STT Trực
tiếp Gián
tiếp Số lượng
Học sinh Số lượng
Giáo viên Số lượng
Phụ
huynh Nội dung tham vấn
(Bạo lực thân thể, Bạo
lực tinh thần/ tình cảm,
tâm lý; Xâm hại/quấy
rối tình dục; Bắt nạt
Khó khăn trong học
tập; Mối quan hệ với
bạn bè; Mối quan hệ
với thầy cô; Mối quan
hệ với bố mẹ; Khác) 2
2
3 Nam Nữ Nam Nữ Bố Mẹ Tổng
cộng Trường THCS/THPT…………………………………………..…… Phòng tham vấn tâm lý (dành cho các em học sinh) --------&-------- Các em học sinh thân mến, để hoạt động hỗ trợ Tâm lý học đường dành cho các em phù
hợp và hiệu quả, mong các em vui lòng trả lời một số câu hỏi (theo hướng dẫn ở từng câu)
dưới đây. (Dành cho giáo viên chủ nhiệm và lớp trưởng các lớp) Hà Nội, ngày ..... tháng ..... năm 201… Bảng câu hỏi này là ẩn danh (các em không phải điền tên, lớp và các thông tin cá nhân khác).
Mọi thông tin trong bảng này do các em cung cấp chỉ sử dụng với mục đích chuyên môn. 1. Trong các nội dung dưới đây em muốn được tham vấn/tư vấn tâm lý những nội dung
nào; em hãy xếp thứ tự từ 1 (nhiều nhất) đến 11 (ít nhất). Họ và tên người đăng ký: ……………………… ……………………………………………… £ 1. Học tập £ 8. Bắt nạt Số điện thoại liên lạc: ………………………………………………….……………………….. £ 2. Phát triển tâm lý của bản thân Lớp: ………………………………Phòng học số: ……………………………… £ 9. Quan hệ với thầy cô giáo, cán bộ nhà
trường Trường: ……………………………………………………………………………………… £ 3. Phát triển cơ thể £ 10. Quan hệ với cha mẹ, người thân £ 4. Giới/Giới tính £ 11. Quan hệ xã hội Chủ đề đăng ký tham vấn/phòng ngừa cho lớp hoặc các nhóm nhỏ trong lớp (mỗi buổi
tham vấn nhóm/phòng ngừa cần thời gian từ 45 phút đến 90/120 phút) £ 5. Quan hệ với bạn bè £ 12. Tình bạn khác giới, tình yêu - Chủ đề đăng ký 1: …………………………………………………………………………… £ 6. Kỹ năng sống/Giao tiếp, ứng xử £ 13. Định hướng nghề nghiệp Số học sinh tham gia: ………………………………………………………………… £ 7. Bạo lực giới Dự tính làm vào thời gian: …………………………………………………………… £ 14. Những lĩnh vực khác: ……………………………………………………………… Địa điểm: …………………………………………………………………… ……… ……………………………………………………………………………….………. - Chủ đề đăng ký 2: …………………………………………………………………………… Số học sinh tham gia: ………………………………………………………………… Dự tính làm vào thời gian: …………………………………………………………… 2. Những khó khăn liên quan tới sự phát triển tâm lý của bản thân em là (em hãy đánh
dấu vào những ô phù hợp với mình): Địa điểm: ……………………………………………………………………..……… - Tâm trạng thay đổi £ - Khó kiềm chế, khó làm chủ bản thân £ - Hay lo lắng vẩn vơ £ - Hay suy nghĩ mông lung, triền miên về mọi Sau khi điền đầy đủ thông tin vào bản đăng ký này các thầy cô hoặc các bạn lớp trưởng vui
lòng gửi trực tiếp cho cán bộ tham vấn tâm lý trường học tại phòng …………. việc £ …………………………… hoặc gửi qua địa chỉ email trong thông báo. - Tính tình thất thường £ - Lơ đễnh, thiếu tập trung £ - Hay bối rối, khó chịu £ Xin chân thành cảm ơn! Phòng tham vấn tâm lý học đường - Những khó khăn khác em muốn được trợ giúp (mong em ghi rõ): - Những khó khăn khác em muốn được trợ giúp (mong em ghi rõ): ……………………… ……………………………………………………………………………….……………….. ……………………………………………………………………………….……………….. ……………………………………………………………………………….………………. ……………………………………………………………………………….………………. ……………………………………………………………………………….………………. Cảm ơn em rất nhiều! -------------------- 3. Những khó khăn liên quan tới sự phát triển cơ thể em là (em hãy đánh dấu vào những
ô phù hợp với mình): 1. Hãy khoanh tròn vào khối lớp của em. £ - Không hiểu những thay đổi về cơ thể 6 7 8 9 £ - Lo lắng, băn khoăn về sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể 10 11 12 £ - Không tự tin vì có sự thay đổi trong cơ thể £ - Không biết cách chăm sóc, vệ sinh thân thể £ - Xấu hổ về sự phát triển cơ thể £ - Thiếu tự tin trước người khác về hình thể của mình £ - Lo lắng về sức khỏe - Những khó khăn khác em muốn được trợ giúp (mong em ghi rõ):
……………………………………………………………………………….………………. ……………………………………………………………………………….………………. ……………………………………………………………………………….………………. 4. Những khó khăn liên quan tới kỹ năng sống của em là (em hãy đánh dấu vào những
ô phù hợp với mình): £ - Làm chủ cảm xúc của bản thân £ - Quản lý tức giận £ - Xác định giá trị sống £ - Hiểu và chấp nhận điểm mạnh và điểm yếu xủa bản thân £ - Sự tự tin £ - Kỹ năng ra quyết định và hành động £ - Kỹ năng giải quyết vấn đề 2
2
8 Chủ đề: (ví dụ: ứng phó với stress trong học tập và thi cử) (Chủ đề được xác định thông qua thực trạng nhu cầu cần trợ giúp tâm lý của Học sinh & phụ huynh, qua đánh giá & khảo sát, qua
báo cáo của GV/CBNV, qua dự báo của chuyên viên TL,...) 1. Mục tiêu & kết quả Kết quả của học sinh Mục tiêu của chuyên viên tâm lý học
đường Dẫn dắt, gợi mở…. Hiểu….. Thúc đẩy….. Hứng thú…. Tạo cơ hội…. Tích cực Khuyến khích….. Thực hiện được….. … ….. 2. Người thực hiện, đối tượng tham gia, thời gian & địa điểm thực hiện … Đối tượng tham gia: 35…..50…30... học sinh….… là những học sinh….. Nhóm thực hiện: Có thể bao gồm 2 chuyên viên tâm lý (CVTL) & một số Học sinh tham gia trực tiếp hoặc điều phối/hỗ
trợ… Thời gian & địa điểm: (45 phút/60 phút/120 phút…?) 3. Nội dung và kế hoạch chi tiết STT Tên hoạt động Mục đích của hoạt
động Cách thực hiện/cách
tiến hành hoạt động Công cụ trợ
giúp Thời
gian Người thực
hiện Trò chơi tập thể… Nhạc Khởi động 10’ ? 1 Một vài Học
sinh Tạo cảm giác thoải
mái, gần gũi, tập
trung…. … Tìm hiểu về stress 2 Cùng chia sẻ hoặc
cùng hồi tưởng Tài liệu phát
tay CVTL & một
vài Học sinh Hiểu & nhận diện
dấu hệu, biểu hiện
stress có hại trong
học tập & thi cử Cùng khám phá &
trải nghiệm tình
huống …..? Các bài báo về
stress có lợi và
có hại… 3 CVTL & một
vài Học sinh Nhạc 4 Trải nghiệm tình
huống… Giấy A0 Động não… Clip Hiểu và có thể chọn
áp dụng một vài
cách phù hợp với
bản thân Khám phá cách
ứng phó với stress
trong học tập và
thi cử Thảo luận…. … Hoặc đóng kịch…. Tổng kết .. 2
2
9 Cán bộ tham
vấn & một vài
học sinh 4. Tài liệu tham khảo xây dựng chương trình 2
3
0 • Bản tổng hợp kết quả điều tra/khảo sát thực tế • Tài liệu đã tập huấn cho giáo viên các trường thuộc dự án • Các ca tham vấn trực tiếp trên học sinh tại 20 trường thuộc dự án • Các nguồn tài liệu sử dụng trong phần Tài liệu tham khảo của sách Tham vấn học đường Dự án “Trường học An toàn Thân thiện và Bình
đẳng” đóng góp vào mục tiêu 1,2 và 4 của Chiến
dịch “Cùng hiệp lực phòng chống bạo lực với Phụ
nữ” do Tổng Thư ký LHQ khởi xướng và chiến dịch
toàn cầu của Plan International “Vì em là con gái”. Với sự tài trợ của Quỹ ủy thác của LHQ nhằm chấm
dứt bạo lực với phụ nữ, Tổ chức Plan International
và Phần Lan, Tổ chức Plan International Việt Nam
hợp tác với Sở GD-ĐT Hà Nội, Trung tâm Nghiên
cứu Ứng dụng Khoa học Giới, Gia đình, Phụ nữ
và Vị thành niên (CSAGA), Trung tâm Nghiên cứu
Quốc tế về Phụ nữ (ICRW) triển khai dự án trong 3
năm từ 2013-2016. Dự án thúc đẩy việc xây dựng áp dụng Nội quy
trường học trong do có các nguyên tắc cơ bản
cho các quan hệ đối xử giữa giáo viên và học
sinh. Nội quy trường học cũng qui định một hệ
thống ứng phó với BLG trong trường học nhằm
hỗ trợ các nạn nhân và người giám hộ, bao gồm
cha mẹ và thầy cô, báo cáo các vụ việc bạo lực
do học sinh và giáo viên gây ra. Dự án thí diểm tại 20 trường THCS và THPT
sẽ được tài liệu hóa toàn bộ quy trình và áp
dụng các phương pháp đánh giá và giám sát
chưa từng được triển khai trong lĩnh vực BLG
nhằm có được bằng chứng về sự vận hành
thành công và hiệu quả nhằm vận động cho
việc nhân rộng mô hình đến 766 trường học và
529.116 học sinh trên toàn thành phố Hà Nội.40
41
3. THUYẾT PHÂN TÂM HỌC
42
43
X Cấu trúc của nhân cách
44
45
PHÂN TÍCH TRƯỜNG HỢP
Em Huy, học sinh giỏi lớp 11 được đề nghị trợ giúp tâm lí vì em đã có hành vi huỷ
hoại bản thân - tự tử. Trong quá trình trò chuyện (sau 3 phiên tham vấn đầu
tiên) và sâu chuỗi các sự kiện, dấu hiệu, cán bộ tham vấn đưa ra nhận định về lí
do tự hủy hoại bản thân của học sinh có liên quan đến niềm tin tiêu cực của em
về bản thân và cuộc sống: Đó là lối tư duy tiêu cực, những niềm tin có tính hủy
hoại trong em do Huy sống trong gia đình có người bố luôn luôn giễu cợt, coi
khinh và thách thức con cái theo hướng tiêu cực, ông chỉ quan tâm tới vật chất,
còn người mẹ thì quá kì vọng vào kết quả học tập của con. Vì vậy áp lực thành
tích học tập trong em rất cao để chống lại những thách đố của bố mẹ. Trong
các buổi tham vấn, em thường nói: ”Không biết, không giỏi điều gì thì đừng có
thể hiện ra, người ta khinh cho”; rằng:”Mình không thể để cho người khác coi
thường được”, hoặc: ”Điểm số không ra gì thì thật nhục nhã”,v.v... Những suy
nghĩ tiêu cực đã dẫn đến cảm giác sợ hãi, thất vọng trong em mỗi khi em làm
gì đó không đạt được kết quả như phụ huynh mong muốn.
Hành vi tự tử của em xảy ra sau khi em thi học sinh giỏi khoảng một tuần. Trò
chuyện với cán bộ tham vấn, em nói rằng:”Đề khi khó quá, em chả hiểu họ hỏi
gì, em không làm được bài, chắc chỉ đạt 7/20 điểm”. Em nhận định:”Một kết quả
như vậy thì thật nhục nhã”. Hành vi tự hủy hoải bản thân của em thực chất chỉ
là dọa bố mẹ: Ngăn một cách vô thức những biểu hiện khinh thường con cái
ở người bố và giảm nỗi thất vọng về điểm số ở người mẹ - khi họ biết kết quả
thi kém của em (thực ra sau đó trường công bố điểm, em được:13/20 điểm, đạt
giải 3 cấp trường).
Cán bộ tham vấn đã giúp học sinh nhận ra những niềm tin có tính hủy hoại
trong em. Thông qua một loạt các bài tập trải nghiệm và thay đổi những nhận
thức tiêu cực; các bài tập trải nghiệm và tấn công cảm xúc xấu hổ; thực hiện
thang đánh giá tâm trạng sau mỗi hoạt động ở nhà (các hoạt động có trách
nhiệm trong gia đình) Với cố gắng của bản thân và sự nâng đỡ của người mẹ
em đã cách nhìn nhận theo hướng tích cực, có giá trị về bản thân và tự chịu
trách nhiệm nhiều hơn về các hành vi của mình.
46
47
48
49
50
51
52
53
X Một số kỹ thuật trị liệu phân tâm
54
55
4. THUYẾT HÀNH VI
56
57
X Một số kỹ thuật phổ biến trong tham vấn hành vi
X Thực hành kỹ thuật làm mòn cảm xúc tiêu cực
58
59
60
61
62
63
X Thực hành thư giãn 5 bước thay đổi cảm giác cơ thể
X Một số kỹ thuật thư giãn
64
65
66
67
5. THUYẾT NHẬN THỨC
68
69
70
71
A
Sự kiện hoặc
nghịch cảnh
kích hoạt
C
Hậu quả
cảm xúc và
hành vi
B
Niềm tin phi
lý về sự kiện,
nghịch cảnh
E
Cảm xúc và
hành vi mới
về A
D
Tranh luận
thách thức
niềm tin phi lý
72
73
6. THUYẾT NHÂN VĂN
74
75
76
77
Tiếp cận
Nhà tham vấn
Tiếp cận
Phân tâm
diễn giải
Nhận thức
Nhà tham vấn
KIỂU THAM VẤN
Nhà tham vấn
không diễn giải
HỢP TÁC
hướng dẫn
Tiếp cận
Tiếp cận
Thân chủ diễn giải
Nhân văn
Hành vi
và tự khám phá
78
79
1. KỸ NĂNG LẮNG NGHE
Chương 3
X Hoà nhập với ngôn ngữ, cơ thể của học sinh
CÁC KỸ NĂNG
THAM VẤN CƠ BẢN
X Đáp ứng tối thiếu
X Phản hồi ngắn
81
X Tóm lược vấn đề
X Lưu ý
BIỂU HIỆN KỸ NĂNG LẮNG NGHE
(trích một đoạn trong câu chuyện giữa cán bộ tham vấn và học sinh)
82
83
2. KỸ NĂNG HỎI
X Câu hỏi mở và câu hỏi đóng
84
85
X Các dạng câu hỏi tập trung vào giải pháp
Câu hỏi khám phá ngoại lệ
86
87
Câu hỏi mở rộng
Câu hỏi ứng phó
X Những điều cần tránh và hạn chế khi đặt câu hỏi
Tránh đặt câu hỏi chất vấn “Tại sao?”
88
89
Tránh đặt câu hỏi kép
Tránh đặt câu hỏi dẫn dắt, suy luận, chất vấn
X Phản hồi lặp lại (phản hồi nhắc lại)
X Phản hồi cảm xúc (phản hồi tâm tình)
3. KỸ NĂNG PHẢN HỒI
90
91
4. KỸ NĂNG THẤU CẢM (THẤU HIỂU)
X Phản hồi soi sáng
X Những dấu hiệu thể hiện sự thấu cảm
X Các mức độ thể hiện thấu cảm
92
93
X Thực hành tình huống thấu cảm
X Các thành tố của kỹ năng thấu cảm
94
95
5. KỸ NĂNG CUNG CẤP THÔNG TIN
X Một số biểu hiện của kỹ năng cung cấp thông tin
96
97
6. KỸ NĂNG HÓA GIẢI IM LẶNG
X Các nguyên nhân học sinh im lặng
98
99
X Các thành tố của kỹ năng hóa giải im lặng
X Áp dụng kỹ năng hóa giải im lặng
100
101
7. KỸ NĂNG ĐỐI ĐẦU (KỸ NĂNG THÁCH THỨC)
X Các cách biểu hiện của kỹ năng đối đầu
X Thực hành các tình huống sử dụng những cách thức đối đầu
102
103
Chương 4
QUY TRÌNH THAM VẤN
HỌC ĐƯỜNG
104
X Các giai đoạn của quá trình tham vấn
106
107
108
109
110
111
112
113
Chương 5
THAM VẤN nhóm
114
1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA THAM VẤN NHÓM
X Các câu hỏi trước khi lập nhóm tham vấn
X Ưu điểm và nhược điểm của tham vấn nhóm
X Trách nhiệm của các bên
116
117
X Hiểu biết của cán bộ tham vấn về tâm lí nhóm
X Yêu cầu chung trong tham vấn nhóm
118
119
X Kỹ năng quan sát nhóm
X Kỹ năng đặt câu hỏi xoay vòng trong nhóm
2. CÁC KỸ NĂNG CƠ BẢN TRONG THAM VẤN NHÓM
120
121
X Cách thức ngăn cản hành vi bất ổn
X Kỹ năng ngăn cản hành vi bất ổn
3. CÁC BƯỚC ĐIỀU HÀNH NHÓM VÀ TỔ CHỨC SINH
HOẠT NHÓM
X Các thủ tục chuẩn bị cho tham vấn nhóm
122
123
X Buổi tham vấn nhóm tiếp theo
X Quy trình thực hiện buổi tham vấn nhóm đầu tiên
124
125
4. PHÂN TÍCH CA THAM VẤN NHÓM
126
127
128
129
Chương 6
PHÚC TRÌNH CÁC CA
THAM VẤN
130
131
1. GIỚI THIỆU CHUNG CÁC CA THAM VẤN ĐÃ THỰC HIỆN
2. CÁC CA THAM VẤN CÁ NHÂN
X Giúp học sinh giải tỏa cảm xúc tiêu cực
132
133
134
135
136
137
138
139
140
141
X Giúp học sinh tăng thêm hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của
mình
142
143
144
145
146
147
148
149
150
151
152
153
154
155
X Giúp học sinh đưa ra các quyết định lành mạnh, hữu ích
156
157
158
159
160
161
162
163
164
165
166
167
168
169
170
171
172
173
174
175
176
177
3. CÁC CA THAM VẤN NHÓM
178
179
180
181
182
183
184
185
186
187
TÀI LIỆU THAM KHẢO
188
189
PHỤ LỤC I
MỘT SỐ TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ
RỐI NHIỄU TÂM LÍ Ở HỌC SINH
1. Trắc nghiệm đánh giá lo âu
190
191
2. Trắc nghiệm đánh giá trầm cảm
192
193
194
195
196
197
PHỤ LỤC II
NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG
THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG1
1.Các tiêu chí quản lý chất lượng hoạt động tham vấn
198
199
200
201
Bảng kiểm cho việc thành lập phòng Tham vấn học đường
202
203
Dự án “Trường học An toàn, Thân thiện và Bình đẳng”
Trường THCS/THPT ……………….
PHÒNG THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG
204
205
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TRƯỜNG ….
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TRƯỜNG ….
……………
==========
……………
==========
MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA PHÒNG TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG
MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ
CỦA CHUYÊN VIÊN THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG
206
207
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TRƯỜNG ….
Tổ hỗ trợ
……………
==========
học sinh
QUY TRÌNH GIỚI THIỆU VÀ CAN THIỆP CỦA TỔ HỖ TRỢ HỌC SINH
Những can thiệp của cán bộ
tham vấn
KHÔNG CHỜ ĐỢI
Trực tiếp báo cáo BGH để có hành
động tức thời và phù hợp.
Có thể tham khảo ý kiến của:
- Tổ hỗ trợ học sinh- Công an.
- Các dịch vụ bảo vệ trẻ em
HS có thể tự giải quyết vấn
đề của mình
Học sinh cần hỗ trợ
Họp Tổ hỗ trợ HS lần 1:
Họp Tổ hỗ trợ HS lần 2:
- Đánh giá tiến bộ của HS theo các mục tiêu đã đề ra.
- Xây dựng các mục tiêu mới, điều chỉnh các mục tiêu cũ.
- Xây dựng thêm các biện pháp can thiệp
208
209
PHIẾU THÔNG TIN CÁ NHÂN
210
211
THỎA THUẬN THAM VẤN
212
213
PHIẾU GIỚI THIỆU THAM VẤN
GHI CHÉP THAM VẤN
214
215
PHIẾU GIỚI THIỆU THAM VẤN
PHIẾU CHUYỂN DỊCH VỤ
216
217
THANG ĐO MỨC ĐỘ THỎA MÃN CỦA HỌC SINH
218
219
SỔ NHẬT KÝ THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG
220
221
BẢNG KHẢO SÁT NHU CẦU HỖ TRỢ TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG
PHIẾU ĐĂNG KÝ THAM VẤN/CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG NGỪA
224
225
226
227
CHƯƠNG TRÌNH THAM VẤN NHÓM PHÒNG NGỪA DÀNH CHO HỌC SINH THCS/THPT
CÙNG CHUNG TAY XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC
AN TOÀN, THÂN THIỆN VÀ BÌNH ĐẲNG
Để giải quyết nhu cầu gia tăng trong việc hỗ
trợ cho các nạn nhân về BLG, dự án sẽ hỗ trợ
thiết lập phòng tham vấn trường học, tập huấn
cán bộ để cung cấp các dịch vụ tham vấn tâm lý
học đường, chuyển ca tham vấn đến các dịch vụ
trợ giúp chuyên sâu.
Dự án được xây dựng nhằm giải quyết một cách
hệ thống các nguyên nhân cốt lõi của bất bình
đẳng giới và bạo lực. Dự án thúc đẩy các trường
học tạo ra một môi trường học tập an toàn, sẵn
sàng ứng phó với vấn đề bạo lực giới và không
có sự phân biệt đối xử giữa học sinh nam và nữ.
Để xây dựng hẹ thống hỗ trợ rộng hơn và việc
hiểu biết tăng cường hiểu biết về BLGTH cho
cha mẹ và các cơ quan truyền thông, dự án đưa
nội dung liên quan vào cuộc họp phụ huynh định
kỳ trong năm học, cung cấp cho cha mẹ các tài
liệu truyền thông về BĐG và BLG cũng như tăng
cường sự tham gia của cha mẹ trong quá trình lập
kế hoạch và triển khai dự án. Dự án cũng tổ chức
các khóa tập huấn cho các cơ quan truyền thông
và kết nối họ với dự án thông qua việc cung cấp
các tài liệu cũng như tạo điều kiện để phóng viên
tham dự các sự kiện và hỗ trợ đăng tải tin bài.
Để thúc đẩy học sinh và giáo viên nhận ra và
thách thức các khuôn mẫu/định kiến về giới
và hành vi bạo lực giới trong cuộc sống hàng
ngày, dự án cung cấp kiến thức và kỹ năng cho
giáo viên chủ nhiệm của các khối lớp để giáo viên
truyền tải và huy động sự tham gia của học sinh
nam, nữ vào quá trình thay đổi. Dự án sẽ tạo ra
môi trường an toàn cho học sinh thảo luận (nhằm
thách thức các hành vi quen thuộc cũng như các
niềm tin đã ăn sâu vào mỗi học sinh). Các nhóm
học sinh tích cực sẽ đóng vai trò chủ chốt trong
việc huy động sự tham gia của học sinh toàn
trường, thực hiện các sáng kiến truyền thông để
nâng cao nhận thức về vấn đề BLG trong trường
học và sẽ phản đối các hành vi bạo lực, báo cáo
các vụ việc về bạo lực.