
Tuyển tập Hội nghị Khoa học thường niên năm 2024. ISBN: 978-604-82-8175-5
401
QUY ĐỊNH VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU PHI TRUYỀN THỐNG
TRONG CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT
NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Đỗ Thị Hạnh
Trường Đại học Thủy lợi, email: dothihanh@tlu.edu.vn
1. GIỚI THIỆU CHUNG
Trong nền kinh tế thị trường với sự phong
phú và đa dạng các sản phẩm thì nhãn hiệu
với chức năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch
vụ sẽ giúp người tiêu dùng đưa ra những
quyết định mua sắm một cách nhanh chóng.
Hiện nay, nhãn hiệu có xu hướng mở rộng
vượt ngoài phạm vi các dấu hiệu truyền
thống như hình ảnh, chữ số, chữ cái mà đã
xuất hiện các nhãn hiệu phi truyền thống như
âm thanh, mùi vị, ánh sáng. Chính vì vậy,
việc tìm hiểu các quy định về bảo hộ nhãn
hiệu phi truyền thống theo các Điều ước quốc
tế là rất quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu hội
nhập cũng như có thể đưa ra các đề xuất để
hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích -
tổng hợp, so sánh, phương pháp liệt kê.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Quy định về bảo hộ nhãn hiệu phi
truyền thống trong các Điều ước quốc tế
3.1.1. Nhãn hiệu phi truyền thống
Từ cuối thế kỷ 20, tại các hội nghị của Tổ
chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và Hiệp
hội thương hiệu quốc tế (INTA) đã bắt đầu
đưa các vấn đề về bảo hộ nhãn hiệu phi truyền
thống ra thảo luận. Cụm từ “new types of
marks” lần đầu tiên được nhắc đến trong Văn
kiện của Ủy ban thường trực về nhãn hiệu
kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý
(SCT) 16-2 tại hội nghị năm 2006 của WIPO
và sau đó tại các hội nghị tiếp theo thì thuật
ngữ “non-traditional marks/ non-conventional
marks” được sử dụng thay thế. Theo đó nếu
như coi nhãn hiệu truyền thống được cấu
thành từ những dấu hiệu quen thuộc từ trước
tới nay bao gồm chữ số, chữ cái, hình vẽ thì
ngược lại, “nhãn hiệu phi truyền thống” là
những nhãn hiệu mà người tiêu dùng còn xa lạ
bao gồm đa dạng các dấu hiệu khác nhau và
vẫn mang đầy đủ tính chất và chức năng của
một nhãn hiệu màu sắc, nhãn hiệu chuyển
động. Theo đó, nhãn hiệu phi truyền thống
được chia thành hai loại: nhãn hiệu nhìn thấy
được như hình ảnh ba chiều, hình ảnh động và
nhãn hiệu không nhìn thấy được như nhãn
hiệu âm thanh, mùi vị, mùi hương, ánh sáng.
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, việc bảo hộ
nhãn hiệu phi truyền thống đã được thực hiện
từ lâu như tại Hoa Kỳ âm thanh “yahoo” với
giọng người đang hát từ âm trầm ngân lên âm
cao của chủ sở hữu là Yahoo!,Inc; mùi anh
đào sử dụng cho sản phẩm dầu nhờn tổng hợp
cho xe phân khối lớn và xe dã ngoại, mùi nho
sử dụng cho sản phẩm dầu nhờn và nhiên liệu
động cơ cho phương tiện mặt đất.
3.1.2. Quy định về bảo hộ nhãn hiệu phi
truyền thống theo một số điều ước quốc tế
* Hiệp định TRIPs:
Hiệp định TRIPs - Hiệp định thương mại
về Quyền sở hữu trí tuệ ra đời năm 1994 là
một phụ lục (1C) của Thỏa thuận thiết lập tổ
chức WTO (Tổ chức thương mại thế giới).

Tuyển tập Hội nghị Khoa học thường niên năm 2024. ISBN: 978-604-82-8175-5
402
Năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập
WTO đồng nghĩa với việc trở thành thành
viên của Hiệp định TRIPs. Đây là văn bản đầu
tiên đề cập đến nhãn hiệu và bảo hộ nhãn
hiệu. Theo đó, Hiệp định TRIPS quy định bất
kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu, bao
gồm dấu hiệu nhìn thấy được (như các chữ
cái, các chữ số, các yếu tố hình họa) và dấu
hiệu không nhìn thấy được (như âm thanh,
mùi, vị) có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc
dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa
hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều
có thể được đăng ký làm nhãn hiệu (Điều
15.1). Tuy nhiên Hiệp định TRIPs không yêu
cầu bắt buộc các quốc gia thành viên phải bảo
hộ tất cả các dấu hiệu trên mà chỉ quy định
mang tính khuyến khích, tùy thuộc vào quy
định mỗi nước “Các Thành viên có thể quy
định rằng điều kiện để được đăng ký là các
dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được.”
* Hiệp ước Luật nhãn hiệu (TLT:
Trademark Law Treaty) của WIPO có hiệu
lực từ ngày 1/8/1998:
Theo Hiệp ước thì các nhãn hiệu ba chiều
cũng được áp dụng Hiệp ước. Tuy nhiên Luật
nhãn hiệu lại quy định phạm vi áp dụng là
các dấu hiệu nhìn thấy được đồng nghĩa với
việc loại trừ các nhãn hiệu mùi vị, âm thanh
mùi hương ra khỏi phạm vi điều chỉnh của
Hiệp ước.
Tuy nhiên Hiệp ước Singapore về Luật
nhãn hiệu năm 2006 của WIPO trên cơ sở
tổng kết thực tiễn thực hiện Luật nhãn hiệu
đồng thời xem xét đến tác động của thị
trường thì hiệp ước đã áp dụng cho tất cả các
loại nhãn hiệu trong đó có các nhãn hiệu
không nhận biết được bằng thị giác.
* Hiệp định song phương Việt Nam -
Hoa Kỳ:
Hiệp định song phương Việt Nam - Hoa Kỳ
được ký chính thức vào ngày 14/7/2000 là một
trong nhưng điều ước quan trọng mà Việt Nam
là thành viên có liên quan nhiều đến sở hữu trí
tuệ. Nội dung liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu
thì Hiệp định cũng xác định phạm vi bảo hộ
bao gồm cả các nhãn hiệu phi truyền thống.
* Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương (CPTPP):
Ngày 12/11/2018, Quốc hội đã ban hành
Nghị quyết số 72/2018/QH14 phê chuẩn
Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên
Thái Bình Dương (CPTPP) cùng các văn
kiện liên quan.
Hiệp định CPTPP yêu cầu: “Không bên nào
được quy định rằng dấu hiệu phải được nhìn
thấy bằng mắt như một điều kiện để đăng ký,
cũng không được từ chối việc đăng ký nhãn
hiệu là một âm thanh đơn thuần. Ngoài ra,
mỗi bên phải nỗ lực để cho phép đăng ký
nhãn hiệu mùi hương” (Điều 18.8). Đây là
Hiệp định thương mại tự do liên quan đến các
vấn đề về thương mại với tiêu chuẩn cao, độ
cam kết sâu rộng. Chính vì vậy, Việt Nam với
tư cách là một quốc gia thành viên để tham gia
vào hiệp định này phải có những điều chỉnh
tương thích trong đó có các quy định về bảo
hộ nhãn hiệu phi truyền thống. Đây vừa là
thách thức và vừa là cơ hội để Việt Nam đặt
nền móng cơ sở pháp lý cho việc hoàn thiện
pháp luật trong việc bảo hộ nhãn hiệu này.
3.2. Quy định pháp luật Việt Nam về
bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống
Tại Việt Nam, hiện nay vẫn chưa có văn
bản pháp luật nào quy định chi tiết, cụ thể về
việc xem xét và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu
phi truyền thống. Khoản 16 Điều 4 Luật Sở
hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều năm 2009 và 2019 quy
định: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân
biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá
nhân khác nhau”. Mặc dù đã bổ sung
thêm “dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới
dạng đồ họa” là một trong những dấu hiệu có
thể được xem xét bảo hộ nhãn hiệu. Thế
nhưng nhìn chung, điều kiện đối với nhãn
hiệu được bảo hộ tại Việt Nam quy định vẫn
bao gồm 2 tiêu chí: (i) dấu hiệu nhìn thấy
được; (ii) có khả năng phân biệt. Vì vậy các
nhãn hiệu như nhãn hiệu ba chiều, màu sắc
kết hợp vẫn có thể đăng ký bảo hộ còn các
nhãn hiệu khác mà không được nhận biết
bằng thị giác chưa được chấp nhận bảo hộ.

Tuyển tập Hội nghị Khoa học thường niên năm 2024. ISBN: 978-604-82-8175-5
403
Theo thống kê, hiện nay Cục sở hữu và trí
tuệ Việt nam đã chấp nhận bảo hộ một số loại
nhãn hiệu phi truyền thống trong đó chủ yếu
là các nhãn hiệu đáp ứng tiêu chí “nhìn thấy
được” như nhãn hiệu ba chiều và bài trí
thương mại ví dụ như bài trí mặt trước siêu
thị Hapro của Tổng công ty thương mại Việt
Nam, nhãn hiệu ba chiều của Bravia NV,
nhãn hiệu chiếc cốc đỏ của hãng cà phê
Nestle. Tuy nhiên hầu hết các nhãn hiệu phi
truyền thống không đáp ứng dấu hiệu “nhìn
thấy được” như nhãn hiệu âm thanh và mùi
hương thực tế chưa được bảo hộ.
Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống ở Việt
Nam hiện nay còn khá mới mẻ và nhiều thách
thức. Một số nguyên nhân chủ yếu là vì:
Thứ nhất, Việt Nam vẫn chưa có quy chế
thẩm định nhãn hiệu đối với những loại nhãn
hiệu phi truyền thống. Ngoài ra các thông tin
hướng dẫn chi tiết đặc biệt là các thông tin,
hướng dẫn liên quan đến quy tắc thẩm định
chưa có dẫn đến người thẩm định cũng như
cá nhân, tổ chức sở hữu nhãn hiệu cũng gặp
khó khăn.
Thứ hai, các điều kiện để phục vụ thẩm
định, tra cứu còn hạn chế. Một là, cơ sở dữ
liệu cũng như hệ thống tiêu chuẩn đầy đủ để
đăng ký và tra cứu chưa hoàn thiện. Hai là,
việc xem xét các nhãn hiệu chủ yếu phụ
thuộc vào thẩm định viên nên việc khác nhau
về quan điểm giữa các thẩm định viên nên vô
hình chung còn định tính trong khi chất
lượng chuyên gia chưa đồng đều. Ba là, nhận
thức của người dân còn hạn chế nên thực tế
các đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu phi truyền
thống còn chưa nhiều.
Thứ ba, các công trình khoa học nghiên
cứu còn ít, chưa có nhiều nghiên cứu mang
tính toàn diện, hệ thống để làm cơ sở lý luận
và cơ sở thực tiễn trong việc hoàn thiện các
quy định của Việt Nam.
3.3. Một số đề xuất hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu phi
truyền thống
Thứ nhất, pháp luật Việt Nam cần sớm
hoàn thiện các quy định liên quan đến bảo hộ
nhãn hiệu phi truyền thống nhằm đảm bảo sự
tương thích với các điều ước quốc tế đã ký
kết cũng như tạo nền tảng cho việc tham gia
các điều ước quốc tế trong tương lai và pháp
luật các quốc gia khác.
Thứ hai, đồng bộ các giải pháp để tạo điều
kiện cho việc hiện thực hóa việc bảo hộ nhãn
hiệu phi truyền thống bao gồm nhưng không
giới hạn ở việc nâng cấp hệ thống công nghệ
thông tin, đào tạo nguồn nhân lực thẩm định
nhãn hiệu, tăng cường các hoạt động tuyên
truyền nhằm nâng cao nhận thức của cá nhân
tổ chức.
Thứ ba, khuyến khích việc nghiên cứu tìm
hiểu các nhãn hiệu phi truyền thống cũng như
kinh nghiệm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của
các quốc gia trên thế giới. Theo đó những kết
quả nghiên cứu sẽ tạo cơ sở lý luận và cơ sở
thực tiễn quan trọng để hoàn thiện pháp luật
Việt Nam.
4. KẾT LUẬN
Tóm lại trước xu thế hội nhập như hiện
nay, vấn đề bảo hộ nhãn hiệu luôn là một
trong những mối quan tâm đặc biệt. Việc
hoàn thiện pháp luật cũng như đồng bộ các
giải pháp để có thể thực hiện bảo hộ nhãn
hiệu phi truyền thống tại Việt Nam là một
vấn đề cấp thiết cần đặt ra.
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đỗ Thị Diện, 2021. Bảo hộ nhãn hiệu phi
truyền thống theo quy định của điều ước
quốc tế, pháp luật Hoa Kỳ và Việt Nam”,
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp năm 2021, số
13, trang 57-64.
[2] Nguyễn Bích Thảo, 2017. “Hoàn thiện pháp
luật sở hữu trí tuệ trong bối cảnh Việt Nam
đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và tham
gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số
3/2017, tr. 45-55.
[3] Nhiệm vụ khoa học, 2019. “Nghiên cứu cơ
sở lý luận và thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu âm
thanh và mùi” Trung tâm Nghiên cứu, Đào
tạo và Hỗ trợ, Tư vấn - Cục sở hữu Trí tuệ
chủ trì thực hiện, 2019.

