
Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV
Bài giảng Luật Lao động GV: Nguyễn Thị Hà
1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG Á
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI GIẢNG
LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN: THS.NGUYỄN THỊ HÀ
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 1 năm 2013

Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV
Bài giảng Luật Lao động GV: Nguyễn Thị Hà
2
LỜI NÓI ĐẦU
Luật Lao động là môn học cung cấp cho người học về những kiến thức cơ bản
về những vấn đề lao động như: Hợp đồng lao động, tiền lương, kỷ luật lao động, bảo
hiểm xã hội và giải quyết tranh chấp lao động. Đây là những lĩnh vực mang tính ứng
dụng rất cao, cần thiết đối với sinh viên sau khi ra trường.
Cùng với việc xác định nền kinh tế của nước ta là kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nhiều doanh nghiệp ra đời
gắn với sự đa dạng và phong phú của thị trường lao động, hợp đồng lao động là hình
thức được sử dụng rộng rãi để tuyển dụng lao động nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn
lực lao động trong các loại hình doanh nghiệp; Cùng với sự ra đời của Luật bảo hiểm
xã hội đã làm thay đổi rất nhiều nội dung liên quan đến môn học này.
Trên cơ sở giáo trình Luật lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội, giảng
viên đã biên soạn bài giảng này nhưng đã có sự cập nhật những nội dung cũng như
những văn bản mới nhất để đáp ứng cho việc giảng dạy, học tập của sinh viên.
Mặc dù có rất nhiều cố gắng nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu
sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các sinh viên
để bài giảng ngày càng hoàn thiện hơn.
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 1 năm 2013
Tác giả

Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV
Bài giảng Luật Lao động GV: Nguyễn Thị Hà
3
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LUẬT LAO ĐỘNG
1.1. KHÁI NIỆM, ĐỐI TƢỢNG ĐIỀU CHỈNH, PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU
CHỈNH
1.1.1. Khái niệm
Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng với sự tham gia của nhiều thành phần
kinh tế, để đảm bảo sự bình đẳng và tự do cạnh tranh lành mạnh của các chủ thể, pháp
luật quy định và ghi nhận quyền đƣợc tự do kinh doanh, tự chủ sản xuất trong đó có tự
chủ trong lĩnh vực sử dụng lao động theo nhu cầu và tự nguyện của mỗi ngƣời. Từ đó
đã hình thành các quan hệ lao động mới, các quan hệ này ngày càng trở nên đa dạng và
phức tạp , đan xen lẫn nhau. Nhiệm vụ của nhà nƣớc bằng pháp luật- công cụ quản lý
xã hội của mình điều tiết các mối quan hệ xã hội đảm bảo lợi ích của của các bên và lợi
ích chung của xã hội.
Tuy nhiên, do có sự khác nhau về mục đích sử dụng lao động, các quan hệ lao
động lại hình thành giữa các chủ thể khác nhau và tồn tại trong các thành phần kinh tế
nên chúng do nhiều ngành luật điều chỉnh và bằng những phƣơng pháp khác nhau.
Luật lao động là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm
tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh quan hệ lao động
giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động hình thành trên cơ
sở hợp đồng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động.
1.1.2. Đối tượng điều chỉnh của luật Lao động
Đối tƣợng điều chỉnh của Luật lao động là những quan hệ giữa ngƣời lao động
với ngƣời sử dụng lao động và những quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ
lao động. Nhƣ vậy, đối tƣợng điều chỉnh của Luật lao động bao gồm:
- Quan hệ lao động;
- Các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động.

Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV
Bài giảng Luật Lao động GV: Nguyễn Thị Hà
4
* Quan hệ lao động:
Lao động giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử xã hội loài ngƣời. Trong quá
trình lao động, con ngƣời tác động trực tiếp vào thế giới xung quanh, nhờ có lao động
mà con ngƣời có thể tách mình ra khỏi thế giới động vật, đồng thời biết vận dụng quy
luật thiên nhiên để chinh phục nó. Lao động tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần
cho xã hội. Lao động có năng suất, chất lƣợng, hiệu quả là nhân tố quyết định sự phát
triển của đất nƣớc. Trong lao động, con ngƣời không chỉ có quan hệ với thiên nhiên mà
còn có quan hệ giữa con ngƣời với nhau. Quan hệ lao động là biểu hiện một mặt của
quan hệ sản xuất và chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu. Chính vì thế, trong các chế độ
xã hội khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của các quan hệ sở hữu thống trị mà
có những phƣơng thức tổ chức lao động phù hợp. Ở đâu có tổ chức lao động, có hợp
tác và phân công lao động thì ở đó có tồn tại quan hệ lao động.
Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động giữa ngƣời lao động làm
công ăn lƣơng với ngƣời sử dụng lao động thuộc mọi thành phần kinh tế. Đây là loại
quan hệ lao động tiêu biểu và cũng là hình thức sử dụng lao động chủ yếu, phổ biến
trong nền kinh tế thị trƣờng, tức là Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động
đƣợc xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động. Các chủ thể khi tham gia hợp đồng lao
động hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng thỏa thuận với nhau về các vấn đề liên quan đến
quá trình lao động, phù hợp với pháp luật và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Nhƣ vậy, có thể hiểu đối với các quan hệ lao động hình thành trên cơ sở hợp
đồng lao động, nhà nƣớc thông qua các quy định của pháp luật, tạo hành lang pháp lý
để các chủ thể tự do thƣơng lƣợng với nhau trên nguyên tắc cùng có lợi và không trái
với pháp luật.
Khác với quan hệ lao động làm công ăn lƣơng do Luật lao động điều chỉnh,
quan hệ lao động của những ngƣời làm việc trong bộ máy nhà nƣớc có những nét đặc

Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV
Bài giảng Luật Lao động GV: Nguyễn Thị Hà
5
trƣng khác biệt. Vì thế, quan hệ lao động của cán bộ công chức trong bộ máy nhà nƣớc
do ngành Luật hành chính điều chỉnh.
Tuy nhiên, xét về một phƣơng diện nào đó thì cán bộ công chức nhà nƣớc cũng
thuộc giới những ngƣời lao động trong xã hội. Nhà nƣớc cũng sử dụng sức lao động
của họ để thực hiện các công vụ, các chức năng của mình nên quan hệ giữa họ với nhà
nƣớc, thông qua cơ quan nhà nƣớc cũng là quan hệ giữa ngƣời lao động và ngƣời sử
dụng lao động. Giữa các bên mặt dù không có sự thỏa thuận nhƣng nhà nƣớc vẫn căn
cứ vào sự tiêu hao sức lao động của các công chức trong từng công việc để quyết định
tiền lƣơng, thời gian làm việc cho phù hợp. Họ cũng đƣợc đảm bảo điều kiện an toàn
lao động, vệ sinh lao động và đƣợc tham gia bảo hiểm xã hội. Dƣới góc độ là quan hệ
sử dụng lao động, Luật lao động cũng điều chỉnh các quan hệ lao động của cán bộ công
chức trong phạm vi phù hợp. Điều 4 Bộ luật lao động quy đinh: “Chế độ lao động đối
với công chức, viên chức Nhà nƣớc, ngƣời giữ các chức vụ đƣợc bầu, cử hoặc bổ
nhiệm, ngƣời thuộc lực lƣợng quân đội nhân dân, công an nhân dân, ngƣời thuộc các
đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội khác và xã viên hợp tác xã do các văn
bản pháp luật khác quy định nhƣng tùy đối tƣợng mà đƣợc áp dụng một số quy định
trong Bộ luật này”
* Các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động:
- Quan hệ việc làm: Đối với ngƣời lao động, việc làm là cái quan tâm đầu tiên.
Việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả, việc làm đƣợc tự do lựa chọn, ba vấn đề đã
đƣợc Tổ chức lao động quốc tế đặt ra và mong muốn các quốc gia phải có những nỗ
lực để đảm bảo. Quan hệ việc làm là quan hệ đƣợc xác lập để đảm bảo việc làm cho
ngƣời lao động. Quan hệ này vừa có tính chất tạo cơ hội, vừa có tác dụng nâng cao khả
năng tham gia làm việc ổn định của ngƣời lao động đồng thời để nâng cao chất lƣợng
của việc làm. Quan hệ việc làm thể hiện ở 3 loại chủ yếu: Quan hệ việc làm giữa nhà
nƣớc với ngƣời lao động, quan hệ việc làm giữa đơn vị sử dụng lao động với ngƣời lao
động, quan hệ việc làm giữa các trung tâm dịch vụ việc làm với ngƣời lao động.

