
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
CHÂU VĂN ĐÔN
TÓM TẮT LUẬN ÁN
TÍCH HỢP CÁC HOẠT ĐỘNG ĐA TRÍ TUỆ
ĐỂ DẠY KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH
CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGỮ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC BỘ MÔN TIẾNG ANH
HUẾ, 2019

Luận án này được hoàn thành tại Trường Đại học Ngoại ngữ Huế
Người hướng dẫn:
PGS.TS. TRƯƠNG VIÊN
Phản biện 1: ......................................................
......................................................
Phản biện 2: ......................................................
......................................................
Phản biện 3: ......................................................
......................................................
Luận án này được bảo vệ tại
Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế
Vào lúc …… …… ngày …… tháng …… năm 2019
Luận án được lưu tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế

1
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm khảo nghiệm ảnh hưởng của việc tích hợp các hoạt động đa trí
tuệ để phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên chuyên ngữ. Qua đó, phân tích ý kiến
phản hồi của người học đối với quá trình tích hợp các hoạt động đa trí tuệ như đã nêu. Do
vậy, để đạt được hai mục tiêu đề ra cho nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên
cứu tổng hợp, trong đó phương pháp nghiên cứu định lượng với thiết kế giả thực nghiệm để
chứng minh hiệu quả của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói.
Đối tượng nghiên cứu gồm 60 sinh viên năm thứ hai đang theo học chương trình Sư phạm
Tiếng Anh tại địa điểm thực hiện nghiên cứu, lựa chọn ngẫu nhiên trên cơ sở tình nguyện
tham gia nghiên cứu và được chia thành Nhóm Thực nghiệm và Nhóm Đối chứng. Ảnh
hưởng của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói tiếng Anh thực
nghiệm được đo lường và thống kê qua 02 công cụ nghiên cứu chính là bài kiểm tra trước
và sau tác động, cùng với các bảng câu hỏi khảo sát người học trước và sau nghiên cứu đối
với nhóm thực nghiệm. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu định tính, nhằm tìm hiểu và cung
cấp thêm minh chứng liên quan đến ý kiến phản hồi của người học cũng được thực hiện
thông qua quá trình thu thập và xử lý dữ liệu từ các phiếu phản hồi thông tin của 30 sinh
viên thực nghiệm, cũng như các cuộc phỏng vấn chuyên sâu đối với 06 sinh viên thực
nghiệm được lựa chọn ngẫu nhiên theo kết quả điểm kiểm tra sau tác động ở các mức cao
nhất (02 sinh viên), trung bình (02) và thấp nhất (02).
Kết quả từ các bài kiểm tra trước và sau tác động cho thấy nhiều sự khác biệt thống
kê có ý nghĩa giữa kết quả kiểm tra đánh giá kỹ năng nói của sinh viên trước và sau khi
tham gia thực nghiệm. Kết quả phân tích dữ liệu kết quả kiểm tra cho thấy có sự khác biệt
có ý nghĩa (M = .43) nghiêng về phía bài kiểm tra sau tác động. Sự cải thiện đáng kể như
vậy về giá trị trung bình của bài kiểm tra sau tác động cho thấy chương trình thực nghiệm
thật sự đã có ảnh hưởng tích cực cải thiện kỹ năng nói, cũng như tăng cường hứng thú học
tập của sinh viên. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy đa số các sinh viên tham gia thực
nghiệm đều ủng hộ và đánh giá tích cực quan điểm tích hợp các hoạt động đa trí tuệ. Các
thông số ủng hộ được thống kê từ các dữ liệu liên quan đến mức độ nhận thức ngày càng
cao của sinh viên đối với hồ sơ trí tuệ của bản thân, nhìn nhận những lợi ích của các hoạt
động đa trí tuệ trong hỗ trợ kỹ năng nói, tăng cường hứng thú học tập, và tham gia tốt hơn
vào các hoạt động thảo luận và tương tác trong chương trình luyện nói thực nghiệm.

2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Bối cảnh nghiên cứu
Mục tiêu chủ yếu của việc học ngoại ngữ, theo Brown (2001), là năng lực thực hiện
các hoạt động giao tiếp, thông qua đó sử dụng ngôn ngữ đích. Các phương pháp dạy và học
ngôn ngữ truyền thống, mặc dù đã có rất nhiều cải tiến và chuyển biến đáng kể, vẫn còn
nhiều hạn chế để tạo lập một môi trường luyện nói hoàn toàn phù hợp với mọi sở thích và
năng lực sở trường của người học. Dorgham (2011) xác lập rằng đa phần mọi người học đều
sở hữu nhiều kiểu và nhiều mức độ trí tuệ khác nhau và khai thác những năng lực này theo
cách riêng của mỗi người học. Sự thay đổi từ quan niệm người dạy làm trung tâm sang
đường hướng người học làm trung tâm của quá trình dạy học thể hiện tinh thần giản lược
vai trò áp chế của người thầy trong lớp học, đồng nghĩa với việc gia tăng tính chủ động và
sáng tạo ngày càng cao của người học (Jones, 2007; Geven & Attard, 2012; Crumly, 2014;
và Hoidn, 2016). Gardner (1983) đề xuất rằng mỗi cá nhân người học sở hữu ít nhất 08 kiểu
trí tuệ khác nhau: trí tuệ sử dụng ngôn ngữ, trí tuệ lô gíc toán học, trí tuệ vận động cơ thể, trí
tuệ giao tiếp hướng ngoại, trí tuệ hướng nội, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ thị giác không gian, và
trí tuệ yêu mến thiên nhiên.
1.2. Lý do nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để khám phá hiệu quả áp dụng Thuyết Đa trí tuệ
phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ nói chung (Armstrong, 1993; Christison, 1996 &
1999; Younas & Subhani, 2015; và một số tác giả khác). Tuy nhiên, chỉ có tương đối ít
nghiên cứu khảo nghiệm hiệu quả ứng dụng Thuyết đa trí tuệ để phát triển kỹ năng nói tiếng
Anh cho người học tiếng Anh như một ngoại ngữ (Boonma & Phaiboonnugulkij, 2014;
Orhan & Hasan, 2015).
Kỹ năng nói, sử dụng ngôn ngữ đích có tầm quan trọng rất lớn trong quá trình lịch sử
dạy và học ngôn ngữ (Brown, 2001 và Nunan, 1991). Ngày nay, kỹ năng nói đã phát triển
thành một lĩnh vực dạy, học và kiểm tra đánh giá riêng biệt. Tuy vậy, Nunan (1991) và
Samira (2014) cũng đã chỉ ra việc thiếu quan tâm đầy đủ của các nhà ngôn ngữ học trong
lĩnh vực nghiên cứu các hoạt động phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ nói.
Người học ngoại ngữ ở Việt Nam thường gặp nhiều khó khăn khi học tiếng Anh như
là một ngoại ngữ, đặc biệt là lĩnh vực phát triển kỹ năng nói tiếng Anh. Thực tế này được
phản ánh ở kết quả kiểm tra và thi cử ở các cấp học. Kết quả khảo sát điểm kiểm tra kết thúc

3
học phần Tiếng Anh tổng hợp của 62 sinh viên chuyên ngữ năm nhất ở đơn vị thực hiện
nghiên cứu này vào thời điểm thực nghiệm (năm 2016) cho thấy điểm kiểm tra của của các
sinh viên đa số là ở mức tương đối thấp, dao động bình quân từ 5 đến 6 điểm ở các kỹ năng
Nghe, Nói, Đọc và Viết, đặc biệt là ở môn Nói. Kết quả thống kê từ các cuộc phỏng vấn đối
với các giảng viên năm học trước có tham gia dạy các học phần Tiếng Anh tổng hợp của lớp
này cho thấy đa số các sinh viên nói trên thường cảm thấy miễn cưỡng tham gia vào các
hoạt động luyện nói trên lớp, xuất phát từ nhiều lý do như vốn từ vựng hạn chế, thiếu tự tin,
trang thiết bị học tập không phù hợp, hạn chế sử dụng các nguồn dụng cụ trực quan, phương
pháp luyện nói chưa khuyến khích đúng mực hứng thú học tập của sinh viên...
Nhằm mục đích phát triển kỹ năng nói tốt hơn cho sinh viên chuyên ngữ, nghiên cứu
này được áp dụng với mô hình tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói
thực nghiệm. Từ đó, trên cơ sở các kết quả thu được liên quan đến các các mức độ ảnh
hưởng có khả năng xảy ra từ việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ, nghiên cứu sẽ khảo sát
thông tin phản hồi của sinh viên đối với việc áp dụng chương trình thực nghiệm như vậy.
1.3. Mục đích nghiên cứu:
- Khảo nghiệm tính hiệu quả của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình
thực nghiệm phát triển kỹ năng nói cho sinh viên.
- Tìm hiểu mức độ đánh giá của sinh viên đối với việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào
chương trình thực nghiệm.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
1. Việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ có những ảnh hưởng gì đến việc phát triển kỹ
năng nói của sinh viên chuyên ngữ?
2. Sinh viên chuyên ngữ đánh giá như thế nào về việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
vào chương trình thực nghiệm?
1.5. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào hai lĩnh vực chính: ảnh hưởng của việc tích hợp các
hoạt động đa trí tuệ phát triển kỹ năng nói cho sinh viên và đánh giá của sinh viên đối với
quá trình tích hợp các hoạt động đa trí tuệ nêu trên. Nghiên cứu này mô phỏng và áp dụng
Thuyết Đa trí tuệ của Gardner’s (1983, 1996); hướng dẫn thực hiện các hoạt động đa trí tuệ
của Armstrong (1993); khung đánh giá và phát triển năng lực đa trí tuệ (MIDAS) của
Shearer (2001).

