
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
-------------------------------
BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ - THẢO LUẬN NHÓM
Đặc điểm chế độ thành bang Aten

I.Chế độ thành bang.
Thế kỉ VIII-VII TCN nhà nước của người Hi-lạp đã ra đời.Quốc gia
– thành thị của người Hi-lạp xuất hiện trong lòng xã hội thị tộc.Trong thời
đại Hô-me, các bộ lạc hoặc sống biệt lập, hoặc sống liên kết với các bộ lạc
khác có quan hệ họ hàng với mình, xây đắp thành lũy tự vệ chung .Sau khi
xây xong, thành trì phát triển thành trung tâm nhà nước chiếm hữu nô lệ.
Trung tâm đó không ngừng mở rộng ảnh hưởng của mình ra vùng ngoại ô ,
dần kết hợp với vùng nông thôn phụ cận để hình thành mọt quốc gia- thành
thị hay thành bang (polis).
Chế độ thành bang là một dạng tổ chức quản lý phổ biến, là một thể
thống nhất về chính trị, kinh tế,văn hóa sinh ra từ xã hội sớm nhất của nhân
loại-công xã nguyên thủy. Nhưng những tổ chức thành bang thường có thời
gian tồn tại ngắn ngủi và nhanh chóng hướng đến một tổ chức quốc gia quá
độ có tính thống nhất với quy mô lớn hơn.Tuy nhiên các thành bang Hy Lạp
lại tồn tại và không ngừng phát triển trong một khoảng thời gian dài.
Aristote khi nghiên cứu chính trị thành bang đã phải khảo sát qua hơn
150 thành bang và kết luận rằng:”bất luận trong loại thành bang nào,quyền
lực cao nhất của nó vẫn được ủy thác vào tập thể công dân, tập thể công dân
thực ra chính là chế độ thành bang”.
Aten là mẫu mực cho kiểu thành bang này.
II.Chế độ thành bang Aten.
II.1. Hoàn cảnh ra đời
1.Điều kiện địa lý đặc biệt.
Aten là quốc gia thành thị xuất hiện trên vùng bán đảo attich thuộc
trung Hy Lạp, gần Địa Trung Hải. Đó là một vùng đồng bằng hẹp,đất đai
không phì nhiêu, nhiều đồi núi, khi hậu khô hạn. Thiên nhiên không thuân
lợi cho phát triển nông nghiệp nhưng ở đây lại có nhiều mỏ khoáng sản quý,
ngoài ra dựa vào thế gần biển mà có thể trực tiếp thông thương với bên
ngoài nhằm duy trì và phát triển kinh tế.Đây chính là điều kiện vật chất tất
yếu cho sự tồn tại lâu dài của thành bang.
2. Điều kiện kinh tế xã hội.

Do sự phát triển của các ngành kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp
và đặc biệt là thương nghiệp, nhiều thành thị ra đời ở Hi Lạp và Tiểu Á.
Aten là một thành bang gồm 4 bộ lạc chung sống với nhau trên vùng
đồng bằng Attic.
- Ban đầu nhà nước Aten cũng được tổ chức theo chính thể Cộng hoà
Quý tộc Chủ nô, quyền lực tập trung vào tay giai cấp quý tộc thị tộc (quý tộc
ruộng đất).
- Khi kinh tế phát triển, đặc biệt là kinh tế công thương nghiệp dần
dần chiếm vai trò chủ đạo thì thế lực của quý tộc chủ nô công thương cũng
dần phát triển theo. Quan hệ sản xuất hàng hóa đã phát triển trên cơ sở
chiếm hữu nô lệ, nhưng phát triển một cách đặc biệt nhanh chóng, do đó
đánh đổ từng bước quyền thống trị của giai cấp quí tộc. Họ liên kết với
nông dân tự do đấu tranh với giai cấp quý tộc thị tộc để nắm quyền lực chính
trị.
- Giai cấp quý tộc thị tộc buộc phải nhượng bộ, chấp nhận một vài đại
diện của quý tộc công thương được đứng trong hàng ngũ quan lại. Thông
qua cải cách xã hội, các vị quan chấp chính này dần dần chuyển nền cộng
hòa quý tộc chủ nô thành nền cộng hoà dân chủ chủ nô.
- Thêm vào đó, những thiên tài trí tuệ của HiLạp thời kì này như
Solo, Pericles…đã dủng cảm cải cách đổi mới, đóng vai trò quan trọng , thể
hiện rõ tính tích cực của cá nhân trong lịch sử.
Với những đặc điểm trên, Hy Lạp không thể giống như các quốc
gia phương Đông: chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển bằng cách nô lệ hóa cả
dân tộc tự do, tập trung quyền vào một người; Hy Lạp trái lại theo hướng
chống hình thức độc đoán.Đây chính là cơ sở ra đời cho hình thức và nội
dung quản lý của một khuynh hướng khác so với phương đông.
II.2 Đặc điểm của chế độ thành bang Aten
Chế độ thành bang Aten đã trải qua hàng loạt các cuộc cải cách:cải
cách Xôlông, clixten,Pericles…Các cuộc cải cách được tóm lược như sau:
Cải cách của Xôlông:
Năm 594 TCN, Xôlông, một đại biểu của tầng lớp quý tộc công
thương nghiệp được bầu vào chức quan chấp chính. Trong thời gian đương

nhiệm, ông thựa hiện cải cách mang lại dân chủ cho rộng rãi dân chúng, xoá
bỏ đặc quyền của quý tộc thị tộc:
Bãi bỏ nợ nần cho dân chúng, nhổ hết các thể cầm cố ruộng đất, trả
ruộng đất cho nông dân tự do, cấm việc biến dân tự do thành nô lệ vì nợ.
Điều này làm cho lực lượng của dân tự do đông hơn và củng cố được địa vị
của mình, do đó, sau này dân tự do là lực lượng ủng hộ cho quý tộc mới thực
hiện các cuộc cải cách sau này.
Thành lập Hội đồng 400 người. Mỗi bộ lạc được cử 100 người thuộc
đẳng cấp 1,2,3 tham gia vào hội đồng này. Hội đồng này có quyền tư vấn
cho Quan chấp chính, soạn thảo những nghị quyết trước khi đưa ra bàn bạc,
quyết định tại Hội nghị công dân; giải quyết các công việc thường ngày khi
Hội nghị công dân không họp.
Căn cứ theo tài sản, Xôlông chia dân cư thành 4 đẳng cấp. Người dân
được hưởng quyền chính trị tương ứng với đẳng cấp của mình (xoá bỏ đặc
quyền của quý tộc thị tộc):
Đẳng cấp 1: gồm những người có thu nhập hàng năm từ 500
mêđim thóc trở lên (1 mêđim = 52,5 lít). Đẳng cấp này được hưởng đầy đủ
quyền chính trị, được ứng cử vào các chức quan cao cấp (quan chấp chính,
thành viên hội đồng trưởng lão…)và có nghĩa vụ cung cấp tiền của cho nhà
nước để xây dựng các hạm đội, các công trình công cộng,…
Đẳng cấp 2: thu nhập hàng năm từ 300 đến 500 mêđim thóc
Đẳng cấp 3: thu nhập hàng năm từ 200 đến 300 mêđim thóc.
Đẳng cấp 2 và 3 được quyền ứng cử vào hội đồng 400 người.
Đẳng cấp 4: có ít hoặc không có ruộng đất, đẳng cấp này chỉ
được quyền tham gia vào hội nghị công dân, không được quyền tham gia
vào các cơ quan khác
Thành lập toà án công dân. Tại toà án này, mọi công dân đếu được
quyền bào chữa và kháng án.
Cải cách của clixten:
Bỏ 4 bộ lạc cũ và chia dân cư theo 3 khu vực. Mỗi khu vực chia
thành 10 phân khu, và cứ 3 phân khu hợp lại thành một liên khu. Như vậy, ở
aten lúc bấy giờ có tất cả là 10 liên khu.

Vì 4 bộ lạc trước kia không còn nữa , do đó hội đồng 400 người
cũng bị huỷ bỏ theo. Thay vào đó, clixten thành lập hội đồng 500 người.
Mỗi một liên khu sẽ cử 50 người tham gia, không kể thuộc đẳng cấp nào.
Thành lập Hội đồng 10 tướng lĩnh
Để bảo vệ nền Cộng hoà Dân chủ và chống lại âm mưu thiết lập
nền độc tài nên Clixten cón đặt ra luật bỏ phiếu bằng vỏ sò. Theo đó, nếu ai
bị ghi tên trên hơn 6000 vỏ sò, tức bị hơn 6000 ý kiến cho là có âm mưu
thiết lập nền độc tài thì sẽ bị trục xuất ra khỏi Hy Lạp trong vòng 10 năm.
Bên cạnh đó, ông còn khuyến khích mọi người tham gia bảo vệ
chế độ dân chủ bằng cách khen thưởng hoặc sẽ giải phóng thân phận cho nô
lệ thành kiều dân hoặc từ kiều dân được công nhận là công dân Aten.
Cải cách của Pêriclet:
Trả lương cho những người tham gia vào cơ quan nhà nước.
Điều này tạo điều kiện cho dân nghèo có thể tham gia quản lý nhà nước.
Thay chế độ bầu bằng chế độ bóc thăm để chọn ra nhân viên
nhà nước.
Nhìn một cách tổng thể ở góc độ khoa học quản lý chúng ta có thể
nhận thấy các cuộc cải cách trên đề cập đến những vấn đề sau của hoạt
động quản lý xã hội:
1.Xây dựng tổ chức(bộ máy nhà nước)
2.Quyền hạn và trách nhiệm chủ thể quản lý và đối tượng quản
lý.
3.Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý
4.Phương pháp quản lý
Trải qua các cuộc cải cách mô hình quản lý của Aten ngày càng hoàn
thiện.Cơ cấu tổ chức của Aten cơ bản như sau:
*Hội nghị công dân:
+ Thành viên: toàn thể công dân nam người Aten (có cha và mẹ đều là
người aten) từ 18 tuổi trở lên.

