1
Tiu luận
Lễ hội truyền thống ba
miền Việt Nam
2
I.Khái qt vlễ hội của người Việt Nam nói chung:
- Lhội còn được gọi là Hi Hè Đình Đám có nghĩa là nhng cuộc vui
được tổ chức tại đình làng để người trong làng tham dự.
- Thông thường lễ hội được tổ chức vào ba tháng mùa xuân đặc biệt là
tháng giêng và khi mùa thu (khoảng tháng 8) tới đó là thời gian nông
nhàn ca người dân. Các lễ hội được tổ chức theo chu kỳ hàng năm. Đây
là theo sthuận lợi về thời tiết ở miền bắc, còn miền trung thì mùa thu
không có lễ hội vì a này là màu lũ lụt,về miền nam thì thường niên
nóng nên lễ hộ được tổ chức rải đều vào lúc nào rnh rỗi.
- Mc đích của lễ hi người việt nói chung, gồm:
+ Sau thời gian gieo cấy vào tháng chạp và tháng by thì người dân bày
ra để họ có thể nghỉ ngơi, mua vui.vì thế trong lễ hội có nhiều trò vui gọi
là bách hí.
+ Để dân làng bày tlòng thành kính biết ơn đối với thành hoàng làng
đã coi sóc che chở cho dân làng đưc yên bình, thịnh vượng.
+ Là dp để dân làng tìm hiểu nhau, làm nông nghiệp suốt ngày lo làm
việc họ ít có thời gian gặp gỡ thông cảm, cùng nhau giải quyết thắc mắc
trong mối quan hệ giữa người trong làng. Đây cũng là dịp để dân làng
được bày tỏ những ý nghĩ của mình cho những người đứng đầu làng và
ngược lại những người lãnh đạo làng cũng sẽ trình bày nhng việc đã làm
của mình để nhận được sự thông hiểu của dân làng.
+ Nhng trò chơi trong hội là dịp nhắc lại những thuần phong mĩ tục của
làng thường là liên quan đến thành hoàng làng như thi nghề (dệt vải, đúc
đồng, gốm,…) hay diễn tả lại gốc tích thành hoàng làng. Hoặc khuyến
khích những tục hay như rèn luyện sức khỏe, chăm học…
+ Lễ hội còn là dịp đtrai gái trong làng tìm hiểu nhau. Trong lễ giáo
nho gia phân cách nam n thì trong lhội khoảng cách này được nới
lỏng, trai gái được gần gũi nói chuyện, được bày tỏ tình yêu của mình.
+ Trong hi làng thường có những cuộc tiệc tùng ăn uống, là dịp cho
người dân được bồi duỡng bổ huyết cho thời gian ăn uống kham khổ do
điều kiện các chợ phiên, phương tiện đi lại, và văn hóa ẩm thực người
việt dùng nhiều rau hơn thịt.
II. Kết cấu một lễ hội nói chung:
Lễ hội sẽ có hai phần là phần lễ và phần hội
Phần lễ : phần quan trọng nhất của lễ hội, bao gồm các phần:
- Lrước nước: lễ rước lấy nước ở sông hoặc giếng về đền
3
- Lmộc dục: là l tắm cho thần vị, thực hiện vào ngày trước ngày nhp
tịch, dân làng làm lễ cáo yết thần linh để xin tắm thần vị, phải dùng khăn
đỏ để và phi dùng hai lần nước, lần đầu dùng nước giếng hoặcng, sau
đó dùng nước trầm hương hoặc ngũ vị hương
- Lgia quan: là l mặc quần áo cho thần tượng hoặc thần vị,quần áo này
là của vua ban nếu như được sắc phong, còn không thì là đồ bằng giấy
được được để ở hậu cung. Việc này ch có người cai kiệu và nhng chân
kiệu đã trai giới từ mấy hôm trước mới được tham dự, người tham dự
phải bịt miệng bằng một chiếc khăn để tránh trần khí xông tới thánh cung
mà mang tội bất kính. Sau khi mặc đồ xong thì làm tuần tế Gia Quan, tế
xong long kiệu vẫn đở miếu thờ chờ đến sáng hôm sau rước về đình.
- Lớc: được cử hành o sáng hôm sau, sau l gia quan. Đám rước
được cử hành bởi toàn xã nhưng có giới hạn là dân bản quán, tuổi từ 18
trlên chỉ có nam, trừ trường hợp có làng thờ nữ thần thì có nữ theo.
Đám rước có nghi trượng riêng hu như nghi trượng ở làng nào cũng
giống nhau. Trước khi khởi hành chiên trống nổi lên từ trong đền và dân
làng đốt một trang pháo. Bắt đầu rước đi thì kiệu đi sau những bộ tự khí
theo một nghi trượng là đi đầu là cờ Tiết, Mao sau đó là cờ ngũ hành tiếp
đến là cTứ Linh hoặc có khi là cờ Bát Quái sau đó đến trống cái, sau
nữa là chiêng, kế đến là đối ngựa hồng bạch song song hai bên. Sau ngựa
là hai chiếc Tán, sau Tán là người trong đoàn chp kích giống như những
quan dưới quyền mang theo sắc phong và đồ lỗ bộ (các thứ vũ khí, đồ
giáp, dùi đồng, cờ tiết mao nhỏ…). Tiếp theo là phường đồng văn có thể
hiểu những người này là đánh nhạc lễ rước, sau nhng người này là C
Vía, kế tiếp làn người cầm gươm hay kiếm lệnh, sau đóphường bát
âm, đến người cm trng khẩu, và đến vị trí quan trọng là Long Đình do
bốn chân kiệu khiêng có bày hương án, ngũ quả, đỉnh trầm sau đó là
Long Kiệu có thần vị hoặc thần tượng. long kiệu không có mái như Long
Đình nhưng tàn che, được tám chân kiệu khiêng. Đây là đám rước của
một làng nếu mà hai ba làng giao hiếu với nhau cung tổ chức thì chỉ có
Long Kiệu của làng đàn anh còn lại thì chỉ có long đình và phải sau Long
Đình của đàn anh, Long Kiu đi sau cùng.
- Đại tế: thn đã rước về đình làng thi dân làng sẽ mang đồ lễ tế. Đồ lễ tế
rất lớn đôi khi làng giết cả một con bò, tế xong cả làng sẽ cùng hưởng. Lễ
tế có ông chủ tế còn gọi là ông mạnh bái, ngoài ra còn có bi tế tức là p
tế, hai người đông xướng tây xướng hai người nội tán, từ mười đến mười
hai người chấp sự, về nghi thức thường là phải có đủ bốn giai đoạn:
+ nghinh thần,chủ lễ phải lễ bốn lễ chung hiến lễ. Sau sơ hiến lễ thì đọc
văn tế do một người có uy tín trong hội tư văn soạn ra.
+ Ẩm thúc và thụ hộ: chủ tế nhận lộc thần linh ban cho
+ Lễ tạ
4
- Ltúc trực: sau đại tế các quan viên chức sắc phải luôn túc trực tại đình
vì lúc này thần đang ở tại đình. Mi tối đều phải có lễ cúng, ban ngày có
thể có lễ cúng hoặc ớc thần đến những nơi thờ tự khác.
- Tuyên lời khánh chúc: được đọc sau cuộc đại tế, đây là mt i văn dài,
nội dung tả cảnh thanh bình của dân làng với tất cả những điều tốt đẹp
làng xóm được hưởng, nhắc tới danh lam thắng cảnh trong làng, đoạn
chính nói vcông đức của thành hoàng làng, đoạn kết là lời tạ ơn và cầu
xin ngài luôn phù h cho làng.
- Cui cùng l giã đám: phần này đánh đấu đã kết thúc lễ hội và có
nghi lễ cũng rất trang trọng và đy đ.
● Phần hội:
- Nhng trò gii trí trong việc tế tự như hèm tục, ca hát dân ca
- Nhng trò gii trí mang tính chất khuyến khích nghề nghiệp, nội trợ,
chăn nuôi như các cuộc thi nấu cơm, đan lát, dệt…
- Nhng trò gii trí thuần túy như đua thuyền, đánh vật, chọi gà…
● Những tiệc tùng sau lhội
III.Lễ hội truyền thống của ba miền:
Lễ hội Thánh Gióng ở Gia Lâm- Hà Ni. Lễ hội bà Ch Được ở Thăng
Bình – Quảng Nam. Lễ hội đua bò Bảy Núi – An Giang.
3.1.Lhội thánh gióng
Đây là một di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam, được công nhận
vào 16/11/2012.
Lễ hội bắt đầu vào ngày 6 tháng 4 âm lịch, tại làng Phù Đổng – Gia
Lâm – Hà Nội. Lễ hội được tổ chức 5 năm một lần, gọi là hội chính với
đủ các bước lễ, còn những năm còn lại gọi là hội lệ. Nơi thờ tự bao gồm
đền Thượng, đền Hạ, miếu Ban và chùa Kiến Sơ. Chuẩn bị lễ vào đầu
tháng 3, ngày 5 sẽ tổng duyệt và đến ngày 6 sẽ tổ chức .Ngày 6/4 người
dân tổ chức lễ rước nước từ đền Hạ về đền Thượng, rồi dùng nước ấy cọ
rửa binh khí, tượng trưng cho việc tôi luyện vũ khí trước khi đánh giặc.
Ngày 7/4 âm lịch rước cỗ chay (cơm cà ) lên đn Thượng. Buổi trưa
múa ri ở nhà Thủy Đình trước đền Thượng. Buổi chiều rước khám
đường (thăm dò đường đến trận địa), cờ lệnh được mang đến Đền. Ngày
8/4 âm lịch duyệt lại vai đóng tướng nữ. Ngày 9/4 - chính hội, có múa hát
thờ, có hội trận và lễ khao quân. Hát thờ diễn ra trước thủy đình phía
trước đền Thượng do phường hát Ải Lao - mt tục rất cổ và hội Tùng
Choặc biểu diễn (chủ yếu là hát dân ca). Hội trận không có gươm đao tất
ctái hiện bằng biểu tượng. mô tả lại cảnh Thánh Gng đánh giặc tại
cánh đồng rộng khoảng 3km gọi là Soi Bia. Những người có vai trò quan
trng trong din trận là ông Hiệu trông nom cờ lệnh, ông Hiệu chiêng
điều khiển chiêng, ông Hiếu trống điều khiển trống, ông Hiệu Trung quân
để phối hợp điều hòa sự tiến quân, và 2 ông cờ Hiệu tiểu cđể đi tiên
phong thám thính quân giặc, 28 cô gái mc tướng phục thật đp tượng
5
trưng cho 28 đạo quân của giặc, 80 phù giá lưng đeo túi dết, chân quấn xà
cạp là quân ta. Đi đầu đám rước là vài bé trai cầm roi rồng, mặc áo đỏ đi
dọn đường tượng trưng cho đạo quân mục đồng. Theo sau là ông Hổ từng
giúp Thánh p giặc. Trong đám rước còn có cả ông Trống, ông Chiêng
và 3 viên tiểu Cổ mặc áo xanh lĩnh xướng. Trong khi ông hiệu cờ đang
say sưa múa cờ, thì dân chúng xem hi đã tranh nhau nhng đtế lễ.
Đám rước đi đến tận Đổng Viên, đi đến đâu cờ quạt tưng bừng đến đấy.
Ngày 10/4, vãn hi có lễ duyệt quân tạ ơn Thánh. Ngày 11/4 làm lễ rửa
khí giới và ngày 12/4 lễ rước cờ báo tin thắng trận với trời đất. Trước
ngày hi, dân làng đã tổ chức nhiều trò chơi: Vật, chọi gà, đánh cờ, hát,
hát ải lao, tại Soi Bia còn có đánh cờ ngưi.
Lễ hội Thánh Gióng là mt di sản văn a phi vật thể thuộc lĩnh vực tín
ngưỡng và các sự kiện lễ hội, do đó lễ hội Thánh Gng cơ bản đáp ứng
được những tiêu chí mà UNESCO đưa ra về tiêu chuẩn của một di sản
văn hóa phi vật thể thuộc lĩnh vực này là:
- phải là di sn văn hóa phi vật thể;
- có kế hoạch bảo tồn;
- cộng đồng có vai trò to lớn trong việc nhận diện, bảo tồn;
- phản ánh sự đa dạng văn hóa toàn thế giới và là minh chng cho sự
sáng to của nhân loại;
- di sản này đã được kiểm kê theo hướng dẫn của UNESCO trong lãnh
thổ của quốc gia đệ trình hsơ.
Đối với điều kiện thứ nhất: bản thân lễ hội là một di sản văn hóa phi
vật thể vì là lễ hội liên quan tới tín ngưỡng thờ thần của người việt.
Giá trị văn hóa của nó không thể hiện rõ mà ta có thsờ nắm được. Mà
giá trị ở đây thông qua ý nghĩa củac vật thể biểu trưng như mũ, quần
áo, hóa trang, hành động, …
Đối với tiêu chí thhai: Nhiều biện pháp cụ thể, đa dạng đã được
cộng đồng và quc gia cam kết nhằm bảo tồn tư liệu a, chuyển giao,
công nhận, phát huy giá trị và tính liên tục của Hội Gióng. Việc làm đầu
tiên là đưa lên tầm di sản văn hóa thế giới, ng với đó là các kế hoạch đ
bo tồn di sản của bộ thể thao và du lịch. Cụ thể như tuyên truyền nâng
cao ý thức cho người dân về giá trị văn hóa phi vật thể của lễ hội, tiến
hành kim kê khoa học về lhội phụng thờ Thánh Gióng, lập danh sách
những người thực hiện lễ hội như ông Hổ, ông Hiệu cờ, ông Hiệu
trng,…
Đối với tiêu chí thứ ba này, vai trò ca cng đồng trong việc nhận
diện và bảo tồn la rất rõ ràng. Lễ hội đã được chú tâm phát triển ở thời
nhà Lý, khác với các lễ hội khác, lễ hội Gióng được tổ chức thường
xuyên ngay cả những năm kháng chiến, cộng đồng đã bảo vệ nguyên bn
của lễ hi cho đến ngày nay l hội này là mt trong ít lễ hội bị thương
mại hay nnước hóa. Lễ hội Thánh gióng còn mang nguyên vẹn các giá