1
Tiểu luận
Tóm ợt lý thuyết về mối quan h
giữa lạm phát mục tiêu và nợ công
2
I.Lời mđầu
Trước hết nhóm 26 xin cảm ơn thầy Trương Minh Tuấn đã hướng dẫn
nhóm chúng tôi thực hiện bài tiểu luận này.
Hiện nay vấn nạn nợ công đang là bài toán vô cùng nan giải của nhiều
quốc gia trong đó có Việt Nam.Nhóm chúng tôi đã chọn đề tài này nhằm tìm
hiểu về nợ công ,những tác động của nó đối với kinh tế,chính trị của một
quốc gia và chính sách lạm phát mục tiêu để tìm ra mối quan hệ giữa nợ
công lạm phát mục tiêu.
Lch scác nền kinh tế kinh nghiệm các ớc cho thấy việc tìm
kiếm một cơ chế điều hành chính sách tiền tệ tốt hơn dẫn đến việc áp dụng
hình điều hành chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu (Inflation
Targeting). Vì mục tiêu cuối cùng là duy trì tỷ llạm phát thấp một cách
thường xuyên nhằm tối đa hóa tốc độ phát triển kinh tế thực tế và khống chế
tỉ lệ nợ công mức an toàn.Tuy nhiên chính sách nào cũng có ưu thế và hạn
chế của nó.
Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu về nợ công ,chính sách lạm phát mục
tiêu mối quan hệ giữa chúng.Tuy nhiên do thời gian hạn hẹp cũng như
trình độ có phần hạn chế nên chúng tôi chỉ đi xoay quanh các đnh nghĩa về
lý thuyết chưa đi sâu vào cthể cách giải quyết vấn đề.Mong thầy các
bạn thông cảm.
Nhóm 26
3
II.Nội dung nghiên cứu
1. Lạm phát mục tiêu
1.1 Lạm phát mục tiêu gì?
Quỹ Tiền tquốc tế (IMF) cho rằng:Chính sách tiền tệ lạm phát mục
tiêu là một bản thông báo ra công chúng về chỉ tiêu trung hạn của lạm phát
cũng như uy tín của cơ quan thẩm quyền về tiền tệ để đạt mục tiêu này. Các
yếu tố khác bao gồm phổ biến thông tin về các kế hoạch và mục tiêu của nhà
hoạch định chính sách tiền tệ tới công chúng và th trường, cũng như trách
nhiệm giải trình của Ngân hàng Trung ương để đạt được các chỉ tiêu lạm
phát của mình. c quyết định về chính sách tiền tệ sẽ dựa trên độ lệch dự
báo lạm phát (một cách hoàn toàn hay rõ ràng) đóng vai trò là chỉ tiêu trung
gian của chính sách tiền tệ”.
Nói một cách dễ hiểu rằng chính sách lạm phát mục tiêu được hiểu là chính
sách mà ngân hàng trung ương sđưa ra mục tiêu lạm phát trong một thời
gian khá dài (thường là 5 năm) và được quyền chủ động sử dụng các công cụ
chính sách tiền tệ như nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất cơ bản, lãi suất tái
cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, tỷ giá .v.v để đạt mục tiêu đó. Một chính
sách lạm phát mục tiêu được coi là thành công nếu như trong quá trình thực
hiện lạm phát svận động xoay quanh mức mục tiêu đã đề ra.
Chính sách lạm phát mục tiêu được áp dụng nhiều bởi các nước phát triển và
các ớc mới nổi khi lãnh đạo các nước nhận định rằng, lạm phát hay nói
cách khác ổn định giá là mục tiêu chính của chính sách tiền tệ. Tùy từng thời
kỳ, mức lạm phát mục tiêu có thể có những điều chỉnh theo năm, tuy nhiên
mức điều chỉnh có thể không quá lớn so với định ớng dài hạn đã xác định
từ thời gian trước.
4
1.2. Điều kiện đ thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu.
c điều kiện cơ bản để một quốc gia có thể theo đuổi được khuôn
khổ lạm phát mục tiêu có thể được chia thành 4 nhóm chính.
(1)Nhóm điều kiện đầu tiên và có lẽ là quan trọng nhất đó là phải tăngcường
quyền hạn quản lý Nhà ớc về tiền tệ cho NHNN để có thể kiểm soát
điều tiết tất ccác kênh bơm/hút tiền cũng như nâng cao đủ mạnh tính độc
lập của NHNN trong việc xây dựng và thực thi CSTT và sự tín nhiệm để
theo đuổi lạm phát mục tiêu.
- NHNN phải có quyền đặc biệt để theo đuổi mục tiêu lạm phát và t
mình đặt ra các công cụ của chính sách tiền tệ.
- NHNN phải chủ động hoàn toàn trong việc sử dụng các công c
(CSTT). Vđiều hành, ít nhất NHNN cũng được quyền xác định, quyết định
và điều tiết lượng tiền cung ứng hàng năm trong từng thời điểm, đồng
thời được nhận và sử dụng công cụ lãi suất và các công cụ khác đểc động
vào mục tiêu lạm phát.
Ngoài ra, NHNN phải được xây dựng tương đối độc lập với chính phủ
( độc lập về chính sách tiền tệ). Gỉa định, khi NHNN đã độc lập trong điều
hành chính sách tiền tệ, song nếu NHNN chưa độc lập về hoạt động tài
chính thì sự độc lập ấy vẫn chịu áp lực nhất định từ phía Chính phủ. Do
hiện tại NHNN vẫn được xem là một cơ quan ngang Bcủa Chính phủ, nên
NHNN vẫn phụ thuộc vào tài chính của Chính phủ. Vì vậy, cách tốt nhất là
NHNN cần có một cơ chất đặc thù, phù hợp ở mức có thể được Chính
phủ cho phép, hạn chế sức ép phát sinh của Chính phủ và Btài chính đối
với hoạt động của NHNN
(2)Nhóm điều kiện thứ hai liên quan đến vấn đề đảm bảo mục tiêu lạm phát
là mục tiêu chính, không phải là mục tiêu hỗ trợ cho mục tiêu khác. Nhóm
này bao gồm các điều kiện:
5
- Chính sách tiền tệ không bị chi phối bởi các ưu tiên về ngân sách
Chính phủ; Chính phủ tăng ngân sách bằng việc huy động các nguồn vốn
trên thị trường tài chính và hạn chế tuyệt đối việc cấp tín dụng cho Chính
phủ.
- V thế bên ngoài đủ mạnh để đảm bảo cho chính sách tiền tệ theo đuổi
mục tiêu lạm phát là mục tiêu hàng đầu.
- Khi bắt đầu thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu thì lạm phát cần
mức thấp để đảm bảo cho sự điều chỉnh kiểm soát tiền tệ thích hợp.
(3) Nhóm điều kiện thứ 3 liên quan đến vấn đề phát triển và ổn định thị
trường tài chính đthực hiện khuôn khổ này. Nhóm này bao gồm các điều
kiện:
- Cần phải có thị trường tài chính ổn định để đảm bảo cho chính sách
tiền tệ theo đuổi các mục tiêu lạm phát và không bị tác động bởi các lo lắng
về sức khoẻ của thị trường tài chính.
- Th tờng tài chính cần phát triển ở mức nhất định để đảm bảo chính
sách tiền tệ được thực hiện bằng các công cụ thị trường tài chính và đảm bảo
việc thực hiện chính sách tiền tệ không gặp rắc rối do sự yếu kém của thị
trường tài chính.
(4)Nhóm điều kiện thứ 4 liên quan đến các công ccủa chính sách tiền tệ:
- NHTW phảivị thế tác động đến lạm phát thông qua các công c
chính sách cần thiết phải hiểu các mối quan liên kết giữa vị thế chính
sách và lạm phát.
- c mục tiêu về tỷ giá phải hỗ trợ cho mục tiêu lạm phát. Do đó,
NHTW nên cgắng làm sáng tỏ vấn đề can thiệp vào thị trường ngoại hối
các thay đổi về chính sách lãi suất để tác động đến tỷ giá chỉ nhằm mục đích
làm giảm nhẹ ảnh hưởng của các cú sốc tạm thời.
- Chính sách tài khoá và các hoạt động quản lý nợ công cộng nên hỗ trợ
cho mục tiêu lạm phát.