
GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 3
Theo nghĩa rộng là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm: các nghĩa
vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân
hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách
nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước, và trong
trường hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay).
Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm: nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung
ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được
chính phủ bảo lãnh thanh toán.
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, khi chi tiêu của
Chính phủ lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được thì Chính phủ phải đi vay trong
hoặc ngoài nước với các phương thức khác nhau để trang trải cho các khoản
thâm hụt ngân sách. Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn,
Chính phủ sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp hoặc đi vay thêm một khoản khác
để trả các khoản nợ đáo hạn này. Ngoài ra, Chính phủ còn thực hiện việc đầu tư
của mình để có thể bù đắp lại phần nào các khoản thâm hụt ngân sách, thông qua
các doanh nghiệp quốc doanh.
2. NỢ CÔNG TRÊN GDP ? CON SỐ BIẾT NÓI ?
Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản
nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Vậy nợ công chưa đụng trần thì chưa cần lo ?
Chưa hẳn, vì tuy các con số về tỷ lệ nợ công trên GDP dù khác nhau nhưng
vẫn chỉ là một chỉ số về quy mô của nợ công chứ không phải là một thước đo tốt
về mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công. Bởi vì, nợ công khoảng 100% GDP
đủ để Hy Lạp rơi vào tình trạng phá sản, trong khi nợ công lên tới 200% GDP
của Nhật Bản vẫn được coi là an toàn. Nếu dùng con số 50% GDP để coi là mức
trần ở nước này thì ở nước khác người ta có thể sử dụng con số 80%. Như vậy,
mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ