
0
Tiểu luận
Thực tiễn thi hành án dân sự ở
Việt Nam

1
Mục lục
1. Phần mở đầu ............................................................ 1
2. Phần nội dung .......................................................... 2
2.1. Thực trạng ......................................................... 2
2.2. Nguyên nhân ..................................................... 9
2.3. Giải pháp ......................................................... 12
3. Kết luận ................................................................... 15

2
PHẦN MỞ ĐẦU
Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành nghiêm
chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật. Vì vậy, hoạt động
thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước,
củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp
được thực thi trên thực tế. Hiến pháp 1992 khẳng định: "Các bản án và quyết định của
Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người
và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành".
Thi hành án dân sự là một bước cuối cùng trong tố tụng dân sự . Và đây thật sự là một
giai đoạn không được chúng ta chú ý tới một cách đúng mực. Điều này có thể được lí
giải bởi rất nhiều người trong chúng ta đã nghĩ một cách đơn giản rẳng khó khăn chủ yếu
tập trung ở giai đoạn điều tra, xét xử còn thi hành án thì cứ theo bản án mà làm. Nhưng
thực tế không phải như vậy. Qua bài tiểu luận nhỏ này, tôi xin phép được trình bày một
vài vấn đề về thực tiễn thi hành án dân sự ở Việt Nam để chúng ta có một cái nhìn sâu
sắc hơn về thủ tục đặc biệt này.

3
PHẦN NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Khi một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và được đem ra thi hành thì hầu hết
các bản án đều phải thi hành về hình phạt tiền, tịch thu tài sản,truy thu tiền, tài sản bất
chính, xử lí vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình
sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính …Như vậy, công việc của cơ quan
thi hành án quả không phải ít. Mặt khác, thi hành án là công việc liên quan trực tiếp đến
quyền lợi và nghĩa vụ của công dân vể tài sản và những giấy tờ quan trọng khác. Do đó
sẽ vấp phải chống đối của người phải thi hành án. Điều này rất khó tránh khỏi.
Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác thi hành án, Đảng và Nhà nước ta đãn
cho ban hành nhiều quy phạm pháp luật điều chỉnh như Pháp lệnh thi hành án dân sự
2004 và sau này là luật thi hành án dân sự. Qua quá trình thực hiện, chúng ta đã cơ bản
hoàn thành nhiệm vụ. Theo thống kê của Bộ Tư Pháp năm 2009, các cơ quant hi hành án
dân sự thụ lý 662961 việc, đã thi hành xong 354490 việc, đạt 81,05% số việc có điều kiện
thi hành. Tuy nhiên, tồn tại lớn nhất trong công tác thi hành án dân sự những năm qua là
tình trạng án "tồn đọng" kéo dài, với số lượng lớn ngày càng tăng, song chưa có biện
pháp hữu hiệu để giải quyết. Theo một thống kê tại Hội nghị chuyên đề triển khai công
tác thi hành án dân sự năm 2010 khu vực phía Bắc do Bộ Tư pháp tổ chức mới đây, hiện
nay cả nước còn 270.925 án tồn đọng. Trong đó, 188.000 việc chưa có điều kiện thi hành
án; hơn 89.000 việc người phải thi hành án ốm nặng, chưa xác định được nơi cư trú,
người phải thi hành án không có tài sản; 98.754 án tồn đọng vì có kháng nghị; tuyên
không rõ ràng, không phù hợp với thực tế, tài sản kê biên chưa xử lý được hoặc có khiếu
nại.
Ngoài ra, thực tế thi hành pháp luật đang tồn đọng trên dưói 30 vạn vụ việc- một con
số nhức nhối đến khó tin, tồn tại suốt nhiều năm qua, bất chấp sự hô hào, chỉ đạo quyết
liệt từ các cơ quan nhà nước. Theo thống kê của các cơ quant hi hành án thì chưa đầy
50% bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành . Năm 2005 cả nước có 327.658 vụ tồn
đọng chiếm 58,38%, năm 2006 có 331.092 vụ tồn đọng chiếm 54,99% , năm 2007 có

4
331.433 vụ chiếm 48,04%, năm 2008 có 313.248 vụ , chuyển sang năm 2009 có 292.000
vụ việc tồn đọng .
Thanh tra Bộ Tư pháp vừa tiến hành thanh tra công tác thi hành án dân sự tại một số
địa phương. Kết quả cho thấy số án chưa có điều kiện thi hành còn nhiều, tỷ lệ hồ sơ
chưa có điều kiện thi hành trên tổng số hồ sơ còn phải thi hành ở mức cao.
Theo Quyết định 02 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, những việc chưa có điều kiện thi hành
gồm: Hoãn thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án , trả lại đơn yêu cầu thi hành án . Ngoài
ra, những việc mà bản án tuyên chưa rõ, chưa thống nhất ý kiến giữa các cơ quan liên
quan đến thi hành án , tài sản kê biên chưa xử lý được hoặc tài sản tạm dừng để giải
quyết khiếu nại cũng được xem là án chưa có điều kiện thi hành.
Số lượng không nhỏ án chưa thi hành được thuộc diện chủ động ra quyết định thi hành
án nhưng người phải thi hành án đi tù không có tài sản, không có người thân. Những hồ
sơ thuộc diện này được xếp vào dạng theo dõi riêng và sáu tháng xác minh một lần. Tuy
nhiên, việc xác minh này chỉ mang tính chiếu lệ chứ không hiệu quả thực chất vì không
thu được tiền. Khoản 2 Điều 44 Luật thi hành án qui định “Việc xác minh phải được lập
thành biên bản, có xác nhận của tổ trưởng dân phố, UBND, công an cấp xã hoặc cơ quan,
tổ chức nơi tiến hành xác minh”. Đáng nói, trong hàng nghìn vụ án tồn, không ít trường
hợp chưa thi hành được do cơ quan thi hành án chưa làm tốt việc xác minh điều kiện thi
hành án hay xác minh không đúng trình tự, thủ tục. Khi giải quyết hồ sơ người phải thi
hành án là doanh nghiệp nhưng đang làm thủ tục phá sản, giải thể, có chấp hành viên lại
chỉ dựa trên hồ sơ photo của doanh nghiệp cung cấp, mà không làm việc với cơ quan có
thẩm quyền giải quyết việc giải thể, phá sản. Có trường hợp địa phương cung cấp là
người phải thi hành án có nhà đất, nhưng chấp hành viên cho rằng, nhà đất quá lớn so
với nghĩa vụ phải thi hành án nên không xác minh tiếp nhà đất là của ai. Có trường hợp
người phải thi hành án làm nghề tự do, không có căn cứ xác định thu nhập nhưng chấp
hành viên không tiến hành xác minh phương tiện lao động mà người phải thi hành án
đang sở hữu là của ai (như người phải thi hành án là lái xe tự do, mà cơ quan thi hành án
không xác minh ôtô đó là của ai). Thậm chí, còn có trường hợp chấp hành viên không xác
minh trực tiếp tại địa phương, mà chỉ thông qua lời trình bày của người phải , thi hành án.
Qua thanh tra còn phát hiện một số hồ sơ thể hiện chậm xác minh điều kiện thi hành án
như xác minh lần đầu sau ba tháng, thậm chí sau một năm, kể từ ngày ra quyết định thi

