
1
Tiểu luận triết học: Triết học
phật giáo

2
Mục lục
I. Thế giới quan Phật giáo. ................................................................................ 3
1. Thuyết vô thường. ..................................................................................... 3
2. Thuyết vô ngã. ........................................................................................... 5
3. Thuyết Lý nhân duyên sinh. ...................................................................... 6
4. Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả. .................................... 8
II. Nhận thức luận Phật giáo. ...................................................................... 10
1. Bản chất, đối tượng của nhận thức luận. ................................................. 10
2. Quy trình, con đường và phương pháp nhận thức. ............................. 11
III. Nhân sinh quan Phật giáo. ..................................................................... 13
2. Những quan điểm về nhân sinh quan Phật giáo. ................................ 19
Chương II : ảnh hưởng của đạo phật đối với xây dựng đời sống con người
Việt Nam. ........................................................................................................ 22
I. Đạo phật với việc hình thành nhân cách con người Việt Nam. ................ 22
II. Đạo phật đối với việc phát triển nền văn hoá Việt Nam. ...................... 24
III. Đạo phật với chiến tranh và hoà bình ở Việt Nam. ............................... 25
IV. Đạo Phật với vấn đề chính trị. ............................................................... 27
V. Một số kiến nghị. ................................................................................... 28

3
Triết học phật giáo
I. Thế giới quan Phật giáo.
Thế giới quan Phật giáo chịu ảnh hưởng của hai luận điểm, thể hiện qua 4
luận thuyết cơ bản: thuyết vô thường, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả, thuyết
nhân duyên khởi.
1. Thuyết vô thường.
Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi. Luật vô thường chi
phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta. Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì là
thường trụ, bất biến. Với ngũ quan thô thiển của ta, ta lầm tưởng sự vật là yên
tĩnh, là bất động nhưng thật ra là nó luôn luôn ở thể động, nó chuyển biến
không ngừng. Sự chuyển biến ấy diễn ra dưới hai hình thức.
a) Một là Sátna( Kshana ) vô thường: là một sự chuyển biến rất nhanh,
trong một thời gian hết sức ngắn, ngắn hơn cả một nháy mắt, một hơi thở, một
niệm, một sự chuyển biến vừa khởi lên đã chấm dứt. Phật dùng danh từ Satna
để chỉ một khoảng thời gian hết sức ngắn.
b) Hai là: Nhất kỳ vô thường. Là sự chuyển biến trong từng giai đoạn. Sự
vô thường thứ nhất là trạng thái chuyển biến nhanh chóng, liên tiếp, ngắn
ngủi, thường là ta không nhận ra mà kết quả là gây ra sự vô thường thứ hai.
Nhất kỳ vô thường là trạng thái chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ,
chuyển sang một trạng thái mới. Vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo luật:
Thành - Trụ - Hoại - Không.
Vạn vật được cấu thành, trụ một thời gian, sau đó chuyển đến diệt, thành,
hoại, không.
Các sinh vật đều tuân theo luật: Sinh, trụ, di, diệt.
Một hành tinh, một ngôi sao có thời kỳ vũ trụ kéo dài hàng triệu năm, một cây
có thể trụ hàng ngàn năm, một sinh vật có thể trụ được hàng trăm năm, bông
hoa phù dung chỉ trụ trong một ngày - sớm nở, chiều tàn. Xung quanh ta sự

4
vật chuyển biến không ngừng. Theo luật vô thường, không phải khi sinh ra
mới gọi là sinh, khi vạn vật diệt mới gọi là diệt mà từng phút, từng dây, từng
Satna, vạn vật sống để mà chết và chết để mà sống. Sống, chết tiếp diễn liên
tục với nhau bất tận như một vòng tròn.
Không những thân ta chuyển biến không ngừng mà tâm ta cũng không ngừng
chuyển biến. Như dòng nước thác, như bọt bể, trong Satna này, trong tâm ta
nổi lên một ý niệm thiện, chỉ trong Satna sau, trong tâm ta đã có thể khơi lên
một ý niệm ác. Tâm ta luôn luôn chuyển biến như thế Phật gọi là tâm phan
duyên. Trong kinh Thủ năng Nghiệm quyển một Phật gọi cái tâm phan duyên
ấy là cái tâm biết cái này, nghĩ cái khác, cái tâm vọng động do duyên với tiền
trần mà có, theo cách trần mà luôn luôn thay đổi, chuyển biến mà không
Satna nào ngừng.
Không những tâm, thân ta chuyển biến mà các hình thái xã hội theo thời gian
cũng chuyển biến: Xã hội công xã nguyên thuỷ --> Xã hội chiếm hữu nô lệ --
> Xã hội phong kiến --> Xã hội tư bản --> Xã hội XHCN. Đó là quy luật xã
hội và cũng không phù hợp với thuyết vô thường của Đạo Phật.
Thuyết vô thường là một trong những thuyết cơ bản trong giáo lý Phật, là cơ
sở của lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của những con người
tu dưỡng theo giáo lý phật.
Trong thế gian có những người không biết lý vô thường của Phật, có những
nhận thức sai lầm về sự vật là thường còn, là không thay đổi, không chuyển
biến. Nhận thức sai lầm như thế phật giáo gọi là ảo giác hay huyễn giác. Vì
nhận thức thân ta là thường còn nên nảy ra ảo giác muốn kéo dài sự sống để
hưởng thụ, để thoả mãn mọi dục vọng. Khi luật vô thường tác động đến bản
thân thì sinh ra phiền não đau khổ.
Ngược lại, nếu thấu lý vô thường một cách nông cạn, cho chết là hết, đời
người ngắn ngủi, phải mau mau tận hưởng những thú vui vật chất, phải sống
gấp, sống vội. Cuộc sống như thế là sống trụy lạc, sa đọa trong vũng bùn của

5
ngũ dục, sống phiền não đau khổ trước sự chuyển biến của sự vật, trước sự
sinh- trụ, dị diệt, trước sự thành, trụ hoại không nó diễn ra hàng ngày.
2. Thuyết vô ngã.
Từ thuyết vô thường. Phật nói sang vô ngã. Vô ngã là không có cái ta. Thực
ra làm gì cũng có cái ta trường tồn, vĩnh cữu vì cái ta nó biến đổi không
ngừng, biến chuyển từng phút, từng giờ, từng Satna.
Một câu hỏi được đặt ra vậy cái ta ở giây phút nào là cái ta chân thực, cái ta
bất biến ? Cái ta mà Phật nói trong thuyết vô ngã gồm có hai phần:
Cái ta sinh tức thân.
Cái ta tâm lý tức tâm.
Theo kinh Trung Quốc Ahàm, cái ta sinh lý chỉ là kết hợp của bốn yếu tố của
bốn đại là: địa , thuỷ, hoả , phong.
Địa đại là cái đặc cứng như tóc, răng, móng chân, móng tay, da , thịt,
các cơ, xương, tủy, tim gan, thận,...
Thủy đại là những chất lỏng như mật ở trong gan, máu, mồ hôi, bạch
huyết, nước mắt,...
Hoả đại là những rung động của cơ thể như hơi thở, chất hơi ở trong dạ
dầy, ở ruột.
Những thứ đó không phải là ta, ta không phải là nhưng thứ đó, những thứ đó
không thuộc về ta.
Cái mà ta gọi là cái ta sinh lý chỉ là một khoảng không gian giới hạn bởi sự
kết hợp của da thịt, cũng như cái mà ta gọi là túp lều chỉ khoảng không gian
giới hạn bởi gỗ, tranh, bùn để trát vách mà thôi.
Tứ đại ( địa, thuỷ, hoả, phong) nêu trên thoáng là của ngoại cảnh, thoáng là
của ta. Vậy thực sự nó là của ai ? Vả lại khi bốn yếu tố này rời nhau trở về
thể của nó thì không có gì ở lại để có thể gọi là cái ta được nữa. Cho nên cái
mà ra gọi là cái ta sinh lý chỉ là một giả tưởng, một nhất hợp sinh lý mà thôi.
Còn cái ta tâm lý gồm : thụ, tưởng, hành, thức. Bốn ấm này cùng với sắc ấm
che lấp trí tuệ làm cho ta không nhận thấy được cái ta chân thực cái ta Phật

