
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐỊA LÝ
VĂN HÓA DU LỊCH
Xung đột văn hóa truyền
thống và hiện đại
1. Nguyễn Thị Mỹ Châu MSSV: 0956080011
2. Bùi Đức Chuyên MSSV: 0956080016
3. Nguyễn Trường Giang MSSV: 0956080034
4. Nguyễn Trần Hoàng Phương MSSV: 0956080128
5. Nguyễn Hải Thảo MSSV: 0956080156
6. Nguyễn Thị Hoàng Uyên MSSV: 0956080208
TP.Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 11 năm 201

2
Lời nói đầu
Truyền thống và hiện đại là hai mặt luôn hiện diện trong đời sống của mỗi quốc
gia, dân tộc, trên mọi lĩnh vực của quá trình phát triển. Trong đó, bao gồm cả lĩnh vực
văn hóa- vốn được xem là nền tảng tinh thần của xã hội. Tuy là hai mặt khác nhau, nhưng
truyền thống và hiện đại không tồn tại một cách tĩnh tại, độc lập mà luôn có sự liên hệ,
tác động lẫn nhau, vừa thống nhất lại vừa mâu thuẫn, có sự vận động, phát triển và dẫn
đến sự hình thành diện mạo văn hóa của một dân tộc. Chính vì vậy mà mối liên hệ giữa
truyền thống và hiện đại trong văn hóa đã trở thành vấn đề hàng đầu của mỗi quốc gia.
Điều đó càng trở nên đăc biệt quan trọng ở những quốc gia đang phát triển, vốn đã mang
trong mình những giá trị văn hóa tích lũy qua suốt chiều dài lịch sử, nay lại đang đứng
trước sự nghiệp hiện đại hóa. Nếu không xác định đúng và đầy đủ sự thống nhất và mâu
thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong sự phát triển văn hóa, chúng ta sẽ không thể
phát huy được vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội. Giải quyết tốt mối
quan hệ giữa truyền thống và hiện đại là phát huy tối đa sức mạnh nội lực của dân tộc,
vừa tiến lên văn minh, hiện đại, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, tạo lập con đường phát
triển ổn định và bền vững cho đất nước.
I. Những vấn đề chung về văn hóa Việt Nam
1. Văn hóa là gì?
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với
môi trường tự nhiên và xã hội. ” (Trần Ngọc Thêm- Cơ sở văn hóa Việt Nam).
Các đặc trưng và chức năng của văn hóa:

3
- Văn hóa trước hết phải có tính hệ thống. Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với
tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ
chức xã hội.
- Văn hóa có tính giá trị. Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực
hiện được chức năng quan trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội
duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những
biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển
của xã hội.
- Văn hóa có tính nhân sinh. Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một
hiện tượng xã hội với các giá trị tự nhiên. Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi
dây nối liền con người với con người , nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng
liên kết họ lại với nhau. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung
của nó.
- Văn hóa còn có tính lịch sử. Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của
một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng,
chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn. Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống
văn hóa. Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục. Chức năng giáo dục là chức năng
quan trọng thứ tư của văn hóa. Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là
đảm bảo tính kế tục của lịch sử.
2. Đặc điểm của văn hóa Việt Nam
- Đặc trưng thứ nhất: Nước ta có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất
cả các khía cạnh. Người dân Việt Nam với 54 dân tộc anh em đã có những phong
tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội mang nhiều ý nghĩa trong sinh hoạt cộng
đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý
khác nhau của các tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ,
từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật.
- Đặc trưng thứ hai: Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc,
dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. Từ cái

4
nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn
hóa làng xã và văn minh lúa nước đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi
tại Tây bắc và Đông bắc; từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc
Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung Bộ; từ
những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người
Khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên.
- Đặc trưng thứ ba: Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với
những hội tụ về sau của các dân tộc khác; từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ
thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong trong hàng nghìn năm nay cộng
với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc, Đông Nam Á; những ảnh hưởng
của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21, Việt
Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi
nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện
đại.
3. Các khía cạnh của văn hóa Việt Nam
- Phong tục:
Theo nghĩa Hán-Việt, Phong là nền nếp đã lan truyền rộng rãi và Tục là thói quen
lâu đời. Phong tục ở Việt Nam có truyền thống lâu đời hàng ngàn năm nay, nó đã trở
thành luật tục, sâu đậm và gắn chặt trong người dân, có sức mạnh hơn cả những đạo luật.
Theo sự thăng trầm của lịch sử của dân tộc, phong tục của người Việt Nam cũng không
ngừng biến đổi theo trào lưu biến đổi văn hoá xã hội. Có những phong tục mất đi và cũng
có những phong tục khẳng định được tính đúng đắn, cái hay, cái đẹp của nó qua việc
những phong tục đó còn hiện hữu trong cuộc sống ngày nay của người Việt Nam.
Phong tục sớm nhất trong lịch sử Việt Nam là tục ăn trầu, có từ thời Hùng Vương.
Trải qua hàng nghìn năm, người Việt và một số dân tộc khác vẫn giữ được phong tục này
trong cuộc sống hàng ngày. Sự bắt đầu của tục ăn trầu được giải thích qua “Sự tích Trầu

5
Cau”, và từ đó, tục ăn trầu trở thành biểu tượng cho tình anh em, vợ chồng. Theo thời
gian ý nghĩa của tục ăn trầu được mở rộng sang việc giao hiếu, kết thân của người Việt
Nam. Miếng trầu gồm 4 thứ nguyên liệu: cau (vị ngọt), lá trầu không(vị cay), rễ (vị
đắng) và vôi (vị nồng). Món trầu thể hiện nếp sinh hoạt mang đậm tính dân tộc độc đáo
của Việt Nam.
Miếng trầu, làm cho người ta gần gũi, cởi mở với nhau hơn. Miếng trầu nhân lên
niềm vui, khách đến được mời trầu, “miếng trầu là đầu câu chuyện”; tiệc cưới có đĩa trầu
để chia vui; ngày lễ, tết, ngày hội miếng trầu với người lạ để làm quen, kết bạn; với người
quen miếng trầu là tri âm tri kỷ. Miếng trầu cũng làm người ta ấm lên trong những ngày
đông lạnh giá, làm nguôi vợi bớt nỗi buồn khi nhà có tang, có buồn được sẻ chia cảm
thông bởi họ hàng bạn bè làng xóm. Miếng trầu còn là sự thể hiện lòng thành kính của
thế hệ sau với các thế hệ trước nên trên mâm cỗ thờ cúng gia tiên của người Việt thường
có trầu cau.
Cũng ra đời từ xa xưa cùng với tục ăn trầu là phong tục đón năm mới hay Tết. Vừa
là phong tục, Tết cũng vừa là một tín ngưỡng, vừa một lễ hội của người dân Việt Nam.
Một số dân tộc khác đón năm mới trong thời gian khác với tên gọi đặc trưng của dân tộc
mình như Chol Chnam Thmay (khoảng tháng 4) của người Khmer, Katê (khoảng tháng
10) của người Chăm Bàlamôm,… Từ Tết Nguyên Đán đón năm mới, theo thời gian với
những ảnh hưởng từ Trung Quốc, người Việt Nam bổ sung thêm vào những phong tục
Tết khác như Tết Nguyên tiêu, Tết Đoan ngọ, Tết Trung thu, Tết Thanh minh,…
Không thấy nhắc đến sớm trong sử sách nhưng các phong tục như hôn nhân, sinh
đẻ, tang lễ,… cũng đã song hành với người Việt Nam từ xa xưa và đến nay vẫn là những
phong tục gắn liền với đời sống người Việt Nam.
Ẩm thực và trang phục gắn liền với đời sống thường nhật của người Việt Nam.
Trải qua hàng nghìn năm, những nét phong tục này đã bị biến đổi đi rất nhiều. Tuy nhiên,
qua những gì sử sách và dã sử để lại, ta cũng thấy một sự tinh tế trong ẩm thực, trang
phục của người Việt Nam từ xưa đến nay.

