Luật Tố Tụng Hành Chính
KHÁI NIỆM TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH, SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM
I, Khái niệm
1, Tố tụng hành chính
a, Tố tụng hành chính là gì ?
- Tố tụng thường được hiểu thủ tục, cách giải quyết tranh chấp tại các
tòa án.
Như vậy, tố tụng hành chính là thủ tục, cách thức tiến hành hoạt động
của người khởi kiện, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng khác và các cơ quan nhà nước khác trong việc giải
quyết vụ án hành chính theo quy định của pháp luật TTHC.
- Các giai đoạn TTHC bao gồm:
(1) Khởi kiện và thụ lý vụ án
(2) Chuẩn bị xét xử
(3) Xét xử sơ thẩm
(4) Xét xử phúc thẩm
(5) Thủ tục giám đốc thẩm / tái thẩm
(6) Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao
(7) Thi hành án.
b, Nguyên tắc của Luật TTHC Việt Nam.
1. Nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tố tụng hành chính
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong Tố tụng hành chính một nguyên
tắc được hình thành dựa trên sở Hiến pháp cụ thể được xây dựng dựa
trên Hiến pháp năm 2013, như sau:
1. Nhà nước được tổ chức hoạt động theo Hiến pháp
pháp luật, quản hội bằng Hiến pháp pháp luật, thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.( Điều 8 )
2. “ Nhà nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam nhà
nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân” ( Điều 2 )
Căn cứ pháp định LTTHC 2015: Mọi hoạt động TTHC của
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng quan, tổ chức, nhân liên quan phải tuân theo quy
định của luật này” ( Điều 4 )
“Pháp chế XHCN” # “Pháp quyền XHCN”
(“ tuân thủ pháp luật”)
2.Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật
- Căn cứ hiến định: HP 2013
Luật TTHC là một lĩnh vực pháp luật (ngành luật) bao gồm tổng thể các
quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình giải quyết vụ án hành chính bằng phương pháp mệnh lệnh quyền
uy và phương pháp bình đẳng.
Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pl, nghiêm cấm
cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội
thẩm” ( Khoản 2 Điều 103)
- Căn cứ pháp định: LTTHC 2015: “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức,
cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
dưới bất kỳ hình thức nào.”
3. Nguyên tắc xét xử công khai vụ án hành chính
- Căn cứ hiến định: HP 2013
Tòa án nhân dân xét xử công khai . Trong trường hợp đặc biệt cần giữ
mật nhà nước, ật đờthuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người
chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo ycau chính đáng của đươg sự,
TAND có thể xét xử kín” (Khoản 3 Điều 103 )
- Căn cứ pháp định: LTTHC 2015: “Tòa án xét xử ckhai. Trường hợp đặc
biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bve người
chưa thành niên hoặc giữ yêu cầu nghề nghiệp mật kinh doanh, mật
cá nhân theo ycau chính đáng của đươg sự, TAND có thể xét xử kín”
4. Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm
- Nguyên tắc này được quy định tại Điều 11 Luật tố tụng hành chính năm
2015 và được quy định cụ thể với những nội dung như sau:
“Điều 11. Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm
1. Chế độ xét xử thẩm, phúc thẩm được bảo đảm, trừ
trường hợp xét xử vụ án hành chính đối với khiếu kiện danh
sách cử tri.
Bản án, quyết định thẩm của Tòa án thể bị kháng cáo,
kháng nghị theo quy định của Luật này.
Bản án, quyết định thẩm của Tòa án không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Luật
này quy định thì có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ
thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải
được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bản án, quyết định
phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà
phát hiện vi phạm pháp luật hoặc tình tiết mới theo
quy định của Luật này thì được xem xét lại theo thủ tục giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm”
Việc bảo đảm chế độ xét xử thẩm, phúc thẩm một nguyên tắc rất
quan trọng bởi các lý do sau:
- chế này nhằm bảo đảm việc xét xử hành chính luôn đúng pháp luật.
trên thực tiễn, chắc chắn không tránh khỏi những tình huống tòa
án cấp sơ thẩm, vì nhiều lý do khác nhau, có thể đưa ra quyết định sai lầm
hoặc chưa thực sự phù hợp với tình tiết của vụ án.
- Đây là một cơ chế hữu hiệu để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự - trong các trường hợp khẩn cấp Tòa án thẩm đưa ra bản án
hay quyết định sai lầm, gây thiệt hại cho đương sự. Do đó Luật tố tụng
hành chính đưa ra các quy định về quyền kháng cáo để xử vụ án theo
thủ tục phúc thẩm chính hội còn lại pháp luật dành cho các
đương sự - sau khi vụ án hành đã được xét xử ở cấpthẩm để tự bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
5. Nguyên tắc bảo đảm sự tư, khách quan trong tố tụng hành
chính
Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 14 Luật tố tụng hành chính
năm 2015, cụ thể với những nội dung cơ bản sau:
- Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư
Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên,
người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đồng định giá không
được tiến hành, tham gia tố tụng nếu căn cứ cho rằng họ thể không
vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
- Việc phân công người tiến hành tố tụng phải bảo đảm để họ tư,
khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
6. Nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp
Nguyên tắc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp chế
bảo đảm hữu hiệu nhất cho các quyền công dân được ghi nhận trong Hiến
pháp pháp luật. Trong các trường hợp sự vi phạm dẫn đến quyền,
lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án – thiết chế
xét xử chuyên nghiệp quyền phán quyết cuối cùng đứng ra để bảo
vệ các quyền lợi ích của mình. Nếu như Luật t tụng hành chính
không đặt ra vấn đề này tviệc ghi nhận các quyền lợi ích hợp pháp
của công dân sẽ không có nhiều giá trị trên thực tiễn.
Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong tố tụng hành
chính thể hiện dưới các gốc độ sau:
- nhân, tổ chức nếu quyền lợi ích bị phạm đều quyền yêu
cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
- Để đảm bảo quyền yêu cầu Tòa án đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp
của mình, Điều 117 Luật t tụng hành chính quy định: nhân năng
lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ t thể tự mình hoặc nhờ người
khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án hành chính;...