intTypePromotion=1
ADSENSE

Tìm hiểu về lịch sử của vùng đất Huế: Phần 2

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:576

31
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nối tiếp phần 1 của cuốn sách, phần 2 ebook "700 năm Thuận Hóa – Phú Xuân – Huế" sẽ giới thiệu khái quát về triều Nguyễn xưa, về văn hóa - giáo dục, văn học nghệ thuật và danh nhân của vùng đất Huế. Sách được viết theo dạng rất dễ tiếp cận là hỏi đáp, được chia ra thành nhiều chủ đề như: địa lý, lịch sử sự kiện, triều Nguyễn xưa… Tuy tựa sách là về Huế nhưng những kiến thức còn được liên kết với các sự kiện lịch sử và nhiều đề tài liên quan đến Hà Nội, Thanh Hóa, Bình Định, Phú Yên và cả vùng đất Nam Bộ. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tìm hiểu về lịch sử của vùng đất Huế: Phần 2

  1. TRI U NGU N ƯA
  2. NGUYỄN ĐẮC XUÂN 402
  3. Có mấy đời chúa Nguyễn, sự nghiệp của mỗi ông thế nào? Có 9 đời chúa Nguyễn. Trong 9 đời chúa ấy, chúa Tiên Nguyễn Hoàng, chúa thứ nhất, làm chúa lâu nhất (55 năm) và chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (Trăn), chúa thứ năm, làm chúa ngắn nhất (4 năm). Nhưng sự đóng góp của mỗi đời chúa vào lịch sử nước nhà không căn cứ trên thời gian trị vì mà căn cứ trên những sự kiện chính trị đã diễn ra trong đời các chúa. Những sự kiện nổi bật và được người dân xứ Đàng Trong nhớ nhất về chín đời chúa là: 1. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613): Đóng dinh ở Ái Tử, sau chuyển qua Trà Bát (1570) thuộc đất Quảng Trị ngày nay, là người đầu tiên ly khai với chúa Trịnh ở miền Bắc, đặt nền móng xây dựng cơ đồ cát cứ phương Nam để lập nên xứ Đàng Trong. Năm 1601, chúa Tiên đã cho xây dựng chùa Thiên Mụ còn tồn tại cho đến ngày nay. 2. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635): Người đầu tiên có chữ lót là Phúc, dời thủ phủ vào Phước Yên (1626) thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay và bắt đầu đánh nhau với quân Trịnh. Chúa Sãi đánh hai trận vào các năm 1627, 1630. Ngay sau đó Chúa cho đắp lũy Trường Dục (1630), lũy Thầy (1631), cho lập sở đúc súng và mở trường bắn để huấn luyện quân sĩ sẵn sàng đương đầu với các cuộc tấn công mới của quân Trịnh. Để giữ hòa hiếu với các nước ở phương Nam, chúa Sãi gả công nữ Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp và công nữ Ngọc Khoa cho vua Chăm. 3. Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) dời thủ phủ vào Kim Long (Huế). Mở rộng cửa Hội An, cho phép người ngoại quốc vào buôn bán. Tiếp tục đương đầu với quân Trịnh để giữ vững xứ Đàng Trong. Chúa Thượng đánh nhau với quân Trịnh hai trận vào các năm 1635 và 1648. Năm 1644, chúa cho con là Nguyễn Phúc Tần cầm quân đánh bại hải thuyền Hà Lan ở cửa 700 NĂM THUẬN HÓA - PHÚ XUÂN - HUẾ 403
  4. Eo (Thuận An). 4. Hiền vương Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) xây dựng phủ Dương Xuân để tránh lũ lụt (1680). Từ năm 1655 đến 1672, Hiền vương thắng quân Trịnh ba lần vào các năm 1655, 1661, 1672 và chấm dứt chiến tranh vào năm 1772. Về phía Nam, cương vực của xứ Đàng Trong đã vào đến Khánh Hòa, Bình Thuận; cho người Minh vào khai khẩn miền đang tranh chấp ở Thủy Chân Lạp. 5. Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái (Trăn) (1687-1691) làm chúa 4 năm; dời thủ phủ từ Kim Long về Phú Xuân; dẹp yên các cuộc nổi loạn ở miền Nam, chuẩn bị cho việc thiết lập chính quyền ở vùng đất mới sau này. 6. Chúa Quốc Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) làm chúa 34 năm; sửa chữa phủ Dương Xuân, đổi tên là Phủ Ấn, mộ đạo Phật, đại trùng tu chùa Thiền Lâm, mời nhà sư Thích Đại Sán bên Trung Quốc sang Huế rao giảng đạo Phật, cử Nguyễn Hữu Cảnh vào chia đất Đông Phố, lấy Lộc Dã làm huyện Phước Long, lập dinh Nhà nghiên cứu Nguyễn Đ c uân trước lăng Trưởng Cơ của chúa Nguyễn Hoàng Ảnh: NĐ chụp năm 2 0 0 0 NGUYỄN ĐẮC XUÂN 404
  5. iáo sư Tôn Th t Hanh Chủ tịch Hội đồng Nguyễn Phúc tộc trước lăng Trường Hưng nơi an táng chúa Nguyễn Phúc Tần Ảnh: NĐ Trấn Biên, lấy Sài Côn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn (Gia Định) (1698). Mạc Cửu đem 7 xã Hà Tiên qui thuận. Đúc ấn “Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bửu”; bỏ phủ Phú Xuân ra lập phủ mới ở Bác Vọng (huyện Quảng Điền). 7. Ninh vương Nguyễn Phúc Thụ (Chú, Trú) (1725-1738). Lập dinh Điều Khiển chỉ huy các lực lượng quân đội ở miền Nam; mở rộng đất Định Tường (1731) và Vĩnh Long (1732). 8. Võ vương Nguyễn Phúc Hoạt (Khoát) (1738-1765) làm chúa 27 năm; dời thủ phủ ở Bác Vọng về bên trái phủ cũ ở Phú Xuân, đổi thành Đô thành Phú Xuân, đúc ấn quốc vương; đánh dẹp loạn do người Tàu cầm đầu ở Trấn Biên (1747); đặt Rạch Giá làm đạo Kiên Giang, Cà Mau làm đạo Long Xuyên (1757) hoàn thành việc mở mang miền Nam. 9. Định vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) làm chúa 12 năm. Bù nhìn của tên bạo chúa Trương Phúc Loan. Xứ Đàng Trong 700 NĂM THUẬN HÓA - PHÚ XUÂN - HUẾ 405
  6. loạn lạc, phía Bắc quân Trịnh kéo vào chiếm Thuận Hóa, phía Nam phong trào Tây Sơn nổi dậy. Định Vương chứng kiến sự nghiệp chín đời chúa Nguyễn sụp đổ. Có mấy đời vua Nguyễn, ai làm vua lâu nhất và ai làm vua ngắn nhất, ai sống thọ nhất và ai chết trẻ nhất? Có 13 đời vua Nguyễn nối tiếp nhau trị vì theo thời gian như sau: 1. Gia Long (1802-1819) 2. Minh Mạng (1820-1840) 3. Thiệu Trị (1840-1847) 4. Tự Đức (1848-1883, làm vua 36 năm) Vua Tự Đức NGUYỄN ĐẮC XUÂN 406
  7. Vua Hàm Nghi 5. Dục Đức (17-7-1883 - 20-7-1883, làm vua 3 ngày) 6. Hiệp Hòa (từ tháng 7 đến tháng 11-1883) 7. Kiến Phước (12-1883 - 7-1884) 8. Hàm Nghi (8-1884 - 7-1885) 9. Đồng Khánh (8-1885 - 1889) 10. Thành Thái (1889-1907) 11. Duy Tân (1907-1916) 12. Khải Định (1916-1925) 13. Bảo Đại (1926-1945) 700 NĂM THUẬN HÓA - PHÚ XUÂN - HUẾ 407
  8. Theo thời gian trị vì của 13 đời vua Nguyễn kể trên, ta thấy vua Tự Đức ngồi trên ngai vàng lâu nhất với 36 năm (1848-1883) và con nuôi của vua Tự Đức là Dục Đức chỉ mới thực hiện theo di chúc làm vua được 3 ngày thì bị hai quyền thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phế truất rồi giam vào ngục thất cho đến chết. Ông vua sống thọ nhất là vua Bảo Đại (1913 - 1997), 84 tuổi. Ông vua chết trẻ nhất là vua Kiến Phước (1869-1884), 15 tuổi. Trong 9 đời chúa, 13 đời vua Nguyễn những vị nào đã ra đời ở Nam bộ, sống lâu ở Nam bộ và chết ở Nam bộ. Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm (về sau là vua Minh Mạng) sinh năm 1791 tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định; Hoàng tôn Nguyễn Ánh (sau này là vua Gia Long) đã sống ở Nam bộ lâu nhất (từ năm 1775 đến đầu thế kỷ XIX, hơn 25 năm) Chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) - vị chúa thứ chín - bị quân Tây Sơn bắt ở Long Xuyên và giết tại Sài Gòn vào năm 1777. Làm sao phân biệt những dòng họ mang quốc tính, công tính và bá tính? Cách đặt tên và chữ lót của con cháu dòng họ các vua Nguyễn ra sao? Dòng họ của người Việt Nam dưới thời Nguyễn được chia làm 3 loại: Quốc tính, công tính và bá tính. Quốc tính là dòng họ các vua triều Nguyễn tức là họ (tính) Nguyễn Phúc(1). Công tính là dòng họ được nhà Nguyễn xác nhận là có công. Bá tính (hay bách tính) là trăm họ, nói chung tất cả các dòng họ khác trong xã hội. 1 Tiếng miền Trung trở vào trong Nam gọi Phúc là Phước vì vậy cũng còn gọi là họ Nguyễn Phước NGUYỄN ĐẮC XUÂN 408
  9. Quốc tính và công tính có một quá trình hình thành tương đối dài và cách thể hiện rất phức tạp, chúng tôi xin tóm lược như sau: Dòng họ Nguyễn Phúc làm chúa, làm vua trong một thời gian khá lâu (từ 1558 đến 1945), con cháu rất đông. Để khỏi nhầm lẫn về thế, thứ, thân, sơ và người trong họ, các chúa và các vua Nguyễn đã đặt ra những nguyên tắc đặt tên và tên đệm cho con cháu trong dòng họ mình. Nhiều người, ngay cả người trong hoàng tộc, cũng lúng túng trong việc nhìn nhận vai vế trong tộc mình. Việc đặt tên đệm do vua Minh Mạng chủ trương để áp dụng cho 20 đời tính từ vua Thiệu Trị về sau. Theo lời văn khắc trên đồng sách (bài ngự chế tự) thì việc này làm theo ý vua Gia Long. Vua Minh Mạng 700 NĂM THUẬN HÓA - PHÚ XUÂN - HUẾ 409
  10. I. Những con cháu thuộc các thế hệ t vua Minh Mạng trở về trư c Gồm con cháu 9 đời chúa, anh em vua Gia Long và anh em vua Minh Mạng. Chúa Tiên (1558-1613) từ ngoài Bắc vào mang họ Nguyễn, tức Nguyễn Hoàng. Tương truyền rằng, khi bà vợ ông nằm mơ thấy thần nhân cho tờ giấy viết đầy cả chữ Phúc. Nhiều người đề nghị lấy chữ Phúc đặt tên cho con thì bà cho rằng: “Nếu đặt tên cho con thì chỉ một người được hưởng phúc, chi bằng lấy chữ Phúc đặt làm tên đệm thì mọi người đều được hưởng”. Bởi vậy bà đặt tên cho con là Nguyễn Phúc Nguyên, nhánh họ Nguyễn vào Nam làm chúa đổi thành Nguyễn Phúc bắt đầu từ đó. Từ Nguyễn Phúc Nguyên xuống đến vua Minh Mạng đều mang họ Nguyễn Phúc (vua Minh Mạng là Nguyễn Phúc Đảm). Những người này cùng họ với vua Minh Mạng được nhà vua đặt là Tôn Thất. Con gái của Tôn Thất là Tôn Nữ. II. Những con cháu của vua Minh Mạng Vua Minh Mạng cho làm riêng cho con cháu mình bài Đế hệ thi 20 chữ dành cho 20 đời: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh Bảo Quí Định Long Trường Hiền Năng Kham Kế Thuật Thế Thụy Quốc Gia Xương Như vậy con vua Minh Mạng có tên đệm là Miên như Miên Tông (vua Thiệu Trị), Miên Thẩm (Tùng Thiện vương), Miên Trinh (Tuy Lý vương). Cháu nội vua Minh Mạng có tên đệm là Hường như Hường Nhậm (vua Tự Đức). Chắt nội tên đệm là Ưng như Ưng Chân (vua Dục Đức). Chỉ có những người trong đế hệ thì mới được làm vua: Miên Tông (Thiệu Trị), Hồng Nhậm (Tự Đức), Ưng Chân (Dục Đức), Bửu Lân NGUYỄN ĐẮC XUÂN 410
  11. (Thành Thái), Bửu Đảo (Khải Định) Vĩnh San (Duy Tân), Vĩnh Thụy (Bảo Đại). Cách đặt chữ lót của con gái, cháu gái của vua Minh Mạng theo nguyên tắc sau đây: Con gái của vua là hoàng nữ, khi được sắc phong thì trở thành công chúa và có tên hiệu riêng. Ví dụ hoàng nữ Trinh Thận (em ruột Miên Thẩm) được phong là Lại Đức công chúa. Công chúa về sau có anh hay em làm vua thì được gọi là trưởng công chúa (để phân biệt với công chúa con vua đang trị vì), có cháu làm vua (vua gọi bằng cô) thì được gọi là thái trưởng công chúa (tức là cô của vua tại vì). Tuy L vương Miên Trinh 700 NĂM THUẬN HÓA - PHÚ XUÂN - HUẾ 411
  12. Con, cháu gái các hoàng tử tức cháu nội của các vua thì phải căn cứ vào thứ bậc của anh hoặc em trai mà đặt. Con trai của hoàng tử là công tử, con gái của công tử (đời thứ 2) là công nữ, cháu nội gái của hoàng tử là công tôn nữ (đời thứ 3, tôn đây có nghĩa là cháu), chắt nội gái công tử là công tằng tôn nữ (đời thứ tư), xuống một bậc nữa (đời thứ năm) là công huyền tôn nữ, xuống nữa (đời thứ sáu) là công lai tôn nữ... Nhưng để đơn giản, các đời kế tiếp chỉ gọi là tôn nữ với ý nghĩa là cháu gái. III. Những con cháu của anh và em vua Minh Mạng Vua Minh Mạng có 1 người anh (hoàng tử Cảnh) và 9 người em trai có con cháu. Những người này là phên dậu gần gũi nhà vua. Để phân biệt với các tôn thất khác (con cháu 9 đời Chúa Nguyễn), vua Minh Mạng cho làm 10 bài Phiên hệ thi, mỗi bài có 20 chữ dùng làm chữ lót sau chữ Tôn Thất cho 20 đời (thế) con cháu của anh và em ông. Bài 1 dành cho con cháu hoàng tử Cảnh, anh cả của vua Minh Mạng. Từ bài 2 đến bài 10 dành cho con cháu 9 người em của vua Minh Mạng. Bài I: ANH DUỆ Mỹ Duệ Anh Cường Tráng Liên Huy Phát Bội Hương Lệnh Nghi Tàm Tốn Thuận Vị Vọng Biểu Khôn Quang Dòng này đến đời thứ tư có một người rất nổi tiếng là ông Cường Để (Kỳ Ngoại hầu) giữ cương vị minh chủ của Việt Nam quang phục hội do nhà cách mạng Phan Bội Châu sáng lập. Bài II: KI N AN Lương Kiến Ninh Hòa Thuận Du Hành Suất Nghĩa Phương Dưỡng Di Tương Thức Hảo Cao Túc Thể Vi Tường NGUYỄN ĐẮC XUÂN 412
  13. B I III: ỊNH VI N Tĩnh Hoài Chiêm Viễn Ái nh Ngưỡng Mậu Thanh Kha Nghiễm Cách Do Trung Đạt Liên Trung Tập Cách Đa Bài IV: DIÊN KH NH Diên Hội Phong Hanh Hợp Trọng Phùng Tuấn Lăng Nghi Hậu Lưu Thành Tú Diệu Diễn Khánh Thích Phương Huy Bài V: IÊN B N Tín Diện Tư Duy Chánh Thành Tín Lợi Thỏa Trinh Túc Cung Thừa Hữu Nghị Vinh Hiển Tập Khanh Danh Bài VI: THIÊU HÓA Thiện Thiệu Kỳ Tuấn Lý Văn Tri Tại Mẫn Du Ngưng Lân Tài Chí Lạc Địch Đạo Doãn Phu Hưu Bài VII: QUẢNG OAI(1) Phụng Phù Trưng Khải Quảng Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ Điển Học Kỳ Giai Chí Đôn Di Khắc Tự Trì 1 Quảng ai là cháu ngoại vua Lê, con bà Lê Thị Ngọc Bình 700 NĂM THUẬN HÓA - PHÚ XUÂN - HUẾ 413
  14. Bi đình lăng Minh Mạng vị vua đ lập ra uy định về việc đ t tên đệm cho hoàng tộc nhà Nguyễn Ảnh: Hoài Hương Bài VIII: THƯ NG T N (em ruột Quảng ai) Thường Các Tuân Gia Huấn Lâm Trang Túy Thạnh Cung Thận Tu Di Tấn Đức Thọ ch Mậu Tân Công Bài I : AN KH NH Khâm Tùng Xưng Phạm Nhã Chánh Thủy Hoằng Qui Khải Để Đằng Cần Dự Quyển Ninh Cọng Tập Hy Bài :T SƠN Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm Phu Văn Ái Diệu Dương NGUYỄN ĐẮC XUÂN 414
  15. Bách Chi Quân Phụ Dực Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương (Nhà sử học Dương Kỵ và nhà sử học Quỳnh Trân hiện nay là hậu duệ của hoàng tử Từ Sơn) IV. Họ của một số con cháu công thần (Công tính) Năm 1593, Nguyễn Hoàng đem các con ra Bắc giúp vua Lê chúa Trịnh, khi trở vào Nam, để lấy lòng tin của chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng đã để công tử Hải (thứ 5) và các cháu nội (con của Hán và Hải) ở lại trên đất Bắc. Con cháu những người này về sau lấy chữ lót là Hựu (Nguyễn Hựu). Riêng con cháu của công tử Hiệp và công tử Trạch can vào quốc sự, con cháu hai công tử này về sau đổi ra họ Nguyễn Thuận. Buổi đầu vào Thuận Hóa, trong số các danh thần đi theo Nguyễn Hoàng có Mạc Cảnh Huống. Về sau con trai của Mạc Cảnh Huống là Phó tướng Vinh lấy bà công nữ Ngọc Liên, con gái chúa Sãi, được chúa cho cải họ thành Nguyễn Hữu. Con gái Nguyễn Hoàng là bà Ngọc Tú lấy Trịnh Tráng. Thấy chúa Trịnh không có tâm giữ phận bề tôi, bà rất buồn phiền. Bà đã nhờ Nguyễn Kiều ở Đông Đô giúp đưa thư và bảo ấn vào Nam cho chúa Sãi. Nguyễn Kiều giả làm người đi chọi gà thoát ra khỏi Đông Đô vào đến xứ Đàng Trong. Kiều được chúa Sãi trọng đãi và gả công nữ Ngọc Đỉnh (công nữ thứ ba) cho. Về sau ông lập được nhiều công trạng, con cháu ông có nhiều người nổi tiếng. Năm Minh Mạng thứ nhất (1820) vua Minh Mạng cho dòng họ ông đổi thành họ Nguyễn Cửu. Mấy họ Nguyễn Hựu, Nguyễn Hữu và Nguyễn Cửu nói trên được nhà vua xem là công tính. Con cháu của các công tính hiện nay rất đông. Chế độ quân chủ ở nước ta đã cáo chung cách đây hơn 60 năm, dòng họ Nguyễn Phúc gồm con cháu các chúa, các vua không còn phân biệt thân sơ nữa, tất cả đều bình đẳng trước dòng họ mình nên xu thế hiện nay nhiều người tôn thất lấy lại họ Nguyễn Phúc, những người có chữ 700 NĂM THUẬN HÓA - PHÚ XUÂN - HUẾ 415
  16. lót theo Phiên hệ thi và Đế hệ thi đặt sau Nguyễn Phúc một chữ lót theo thế thứ của mình. Đọc thế phả họ Nguyễn Phước của nhà Nguyễn thấy có nhiều từ như tiền hệ, chính hệ, đế hệ, phiên hệ rất phức tạp. Cho biết ý nghĩa của những từ ấy và nguyên văn cùng ý tưởng từng chữ trong bài Đế hệ thi 20 chữ của vua Minh Mạng? Khi vua Minh Mạng lên ngôi, đất nước thái bình, giàu mạnh, con cháu và người trong hoàng gia đông đúc, nhà vua cho lập Tôn Nhân phủ để chăm sóc, quản lý người trong họ, lập Ngọc phả để ghi tên người thân thuộc. Tiền hệ hay gọi tắt là hệ dùng để chỉ con cháu 9 đời chúa Nguyễn (Có 9 hệ, từ hệ nhất đến hệ chín). Chính hệ là con cháu từ vua Gia Long trở về sau, có 6 chánh hệ (1). Trong chính hệ lại chia làm hai: Đế hệ (con cháu của vua Minh Mạng) và Phiên hệ (phiên là hàng rào, để chỉ con cháu của anh và em vua Minh Mạng). Tên Đế hệ có nghĩa hệ làm vua. Vì thế tất cả các vua Nguyễn sau Minh Mạng (từ Thiệu Trị đến Bảo Đại) đều nằm trong đế hệ. Nguyên văn bài Đế hệ thi dùng làm chữ lót cho hai mươi đời con cháu vua Minh Mạng và ý nghĩa của từng chữ như sau: Miên Hường ng Bửu Vĩnh Bảo Quý Định Long Trường Hiền Năng Kham Kế Thuật Thế Thoại Quốc Gia Xương 1) MI N, trường cửu phước duyên trên hết 2) HƯỜNG, oai hùng đúc kết thế gia 1 Hệ chánh con cháu vua Gia Long Hệ Nhị Chánh con cháu vua Minh Mạng. Hệ Tam Chánh, con cháu vua Thiệu Trị. Hệ Tứ Chánh, con cháu vua Dục Đức. Hệ Ngũ Chánh, con cháu vua Kiến Phước, vua Hàm Nghi. Hệ Lục Chánh vua Đồng Khánh,Khải Định,Bảo Đại. NGUYỄN ĐẮC XUÂN 416
  17. Nhà uan Tôn Nhơn Lịnh - người đứng đầu Phủ Tôn Nhơn Ảnh tư liệu do NĐ sưu tầm 3) ƯNG, nên danh xây dựng sơn hà 4) BỬU, buôn bán lợi tha quần chúng 5) V NH, bền chí hùng anh ca tụng 6) BẢO, ôm lòng khí dũng bình sanh 7) QUÍ, cao sang vinh hạnh công thành 8) ĐỊNH, tiên quyết thi hành oanh liệt 9) LONG, vương tướng rồng tiên nối nghiệp 10) TRƯỜNG, vĩnh cửu nối tiếp giống nòi 11) HIỀN, tài đức, phúc ấm sáng soi 12) NĂNG, gương nơi khuôn phép bờ cõi 13) KHAM, đảm đương mọi cơ cấu giỏi 700 NĂM THUẬN HÓA - PHÚ XUÂN - HUẾ 417
  18. 14) K , hoạch sách mây khói cân phân 15) THUẬT, biên chéo lời đúng ý dân 16) TH , mãi thọ cận thân gia tộc 17) THO i, ngọc quý tha hồ phước lộc 18) QU C, dân phục năm góc giang sơn 19) GIA, muôn nhà Nguyễn vẫn huy hoàng 20) XƯ NG, phồn thịnh bình an thiên hạ. (Theo Nguyen Phuc Bao Vang, Le Destin Tragique de Prince Vinh San, L’Harmattan Azalèes Éditions, 4.2001, tr.46). Đọc thế phả Nguyễn Phúc tộc và chuyện cũ của các ông hoàng bà chúa triều Nguyễn, chúng tôi hay gặp những chức tước nghe rất uy nghi nhưng không hiểu những người ấy làm gì mà ai cũng có chức tước và các chức tước ấy theo thứ bậc trên dưới như thế nào, có giá trị trong đời sống hay không? Thời quân chủ, quan lại có cửu phẩm, các bà vợ vua có cửu giai, các con cháu trai của vua (dù không giữ chức vụ gì trong chính quyền) cũng phải được sắp xếp theo trên dưới, gần xa, trình độ học vấn cao thấp, đạo đức tốt xấu, tư cách cao khiết hay bần tiện để phát bổng lộc và khuyến khích sự phấn đấu của mỗi người. Không những họ được hưởng trong đời họ mà con cháu nhiều đời sau được tập ấm hưởng tiếp (xuống một đời thấp hơn một bậc). Công việc đó nhà Nguyễn gọi là phong tôn tước và tập ấm. Lúc vào chầu vua, các thân vương phải căn cứ trên thứ bậc của mình mà đứng gần hay đứng xa vua. Triều đình căn cứ vào thứ bậc ấy mà phát tiền và gạo hàng năm cho các thân vương. Ví dụ theo bảng kê bên ta có thể biết thời Minh Mạng (1840), các thân vương được phát tiền gạo hàng năm như thế nào. Các bậc Tôn tước theo bảng này, không những được hưởng lộc vua trong đời họ mà nhiều đời (từ 3 đến 5 đời) con cháu của họ cũng được hưởng theo chế độ ấm tập của triều Nguyễn như đã viết ở trên. Người NGUYỄN ĐẮC XUÂN 418
  19. được ấm tập là con trưởng hay cháu đích tôn của các bậc thân vương. Thế thứ ấm tập trong hoàng tộc như sau: 1. Các Thân vương và Quận vương: Con tập tước Quận công Cháu tập tước Hương công Thế thứ ba tập tước Kỳ Ngoại hầu Thế thứ tư tập tước Tả quốc khanh Thế thứ năm tập tước Phùng quốc công (5 đời) 2. Các Thân công: Con tập tước Huyện công Cháu tập tước Huyện hầu Thế thứ ba tập tước Tả quốc khanh Thế thứ tư tập tước Trợ quốc uý Thế thứ năm tập tước Phùng quốc lang (5 đời) 3. Các Quốc công: Con tập tước Hương hầu Cháu tập tước Trợ quốc khanh Thế thứ ba tập tước Tá quốc uý Thế thứ tư tập tước Tá Quốc Lang (4 đời) 4. Các Quận công: Con tập tước Kỳ Ngoại hầu (Kỳ Ngoại hầu Cường Để) Cháu tập tước Tá quốc khanh Thế thứ ba tập tước Trợ quốc lang (3 đời) Để biết giá trị bổng lộc của con cháu các vua đầu triều Nguyễn (thời kỳ ổn định nhất) hàng năm như thế nào, ta thử qui tiền qua vàng và tính số lượng thóc tương đương bằng lít của hai người ở đầu và cuối bảng nêu trên xem sao. Thời Minh Mạng: 700 NĂM THUẬN HÓA - PHÚ XUÂN - HUẾ 419
  20. NGUYỄN ĐẮC XUÂN 420
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2