intTypePromotion=1

Tính linh hoạt của vạt da cân thượng đòn trong tạo hình khuyết phần mềm vùng cổ

Chia sẻ: Ketap Ketap | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
18
lượt xem
0
download

Tính linh hoạt của vạt da cân thượng đòn trong tạo hình khuyết phần mềm vùng cổ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Vạt da cân thượng đòn lần đầu tiên được Lamberty mô tả năm 1979 và được ứng dụng lâm sàng rộng rãi nhờ có nhiều ưu điểm. Nghiên cứu nhằm mô tả tính linh hoạt của vạt da cân thượng đòn trong tạo hình các dạng khuyết phần mềm vùng cổ, được thực hiện trên 36 bệnh nhân (17 nam và 19 nữ) từ 4 đến 65 tuổi với 41 vạt da cân thượng đòn. Các bệnh nhân này được phẫu thuật từ năm 2001 đến 2012. Đặc điểm tổn thương, cách sử dụng vạt da cân thượng đòn như kích thước, góc xoay, khả năng che phủ của vạt được phân tích và đánh giá. Kết quả trong 41 vạt da cân thượng đòn của nghiên cứu này có 37 vạt sống hoàn toàn, 2 vạt bị hoại từ 1 phần và 2 vạt hoại tử hoàn toàn. Kích thước vạt lớn nhất là 21x16cm. 88% vạt sử dụng ở dạng đảo được xoay góc 180º. 90% vạt được sử dụng để che phủ trực tiếp khuyết vùng cổ. Vạt da cân thượng đòn là một chất liệu tạo hình lý tưởng, với độ an toàn cao do cuống mạch hằng định, khả năng sử dụng linh hoạt đặc biệt cho các khuyết phần mềm vùng cổ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tính linh hoạt của vạt da cân thượng đòn trong tạo hình khuyết phần mềm vùng cổ

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> TÍNH LINH HOẠT CỦA VẠT DA CÂN THƯỢNG ĐÒN<br /> TRONG TẠO HÌNH KHUYẾT PHẦN MỀM VÙNG CỔ<br /> Trần Thiết Sơn, Dương Mạnh Chiến<br /> Trường Đại học Y Hà Nội<br /> <br /> Vạt da cân thượng đòn lần đầu tiên được Lamberty mô tả năm 1979 và được ứng dụng lâm sàng rộng rãi<br /> nhờ có nhiều ưu điểm. Nghiên cứu nhằm mô tả tính linh hoạt của vạt da cân thượng đòn trong tạo hình các<br /> dạng khuyết phần mềm vùng cổ, được thực hiện trên 36 bệnh nhân (17 nam và 19 nữ) từ 4 đến 65 tuổi với<br /> 41 vạt da cân thượng đòn. Các bệnh nhân này được phẫu thuật từ năm 2001 đến 2012. Đặc điểm tổn<br /> thương, cách sử dụng vạt da cân thượng đòn như kích thước, góc xoay, khả năng che phủ của vạt được<br /> phân tích và đánh giá. Kết quả trong 41 vạt da cân thượng đòn của nghiên cứu này có 37 vạt sống hoàn<br /> toàn, 2 vạt bị hoại từ 1 phần và 2 vạt hoại tử hoàn toàn. Kích thước vạt lớn nhất là 21x16cm. 88% vạt sử<br /> dụng ở dạng đảo được xoay góc 180º. 90% vạt được sử dụng để che phủ trực tiếp khuyết vùng cổ. Vạt da<br /> cân thượng đòn là một chất liệu tạo hình lý tưởng, với độ an toàn cao do cuống mạch hằng định, khả năng<br /> sử dụng linh hoạt đặc biệt cho các khuyết phần mềm vùng cổ.<br /> <br /> Từ khóa: vạt da cân thượng đòn, khuyết phần mềm vùng cổ, phẫu thuật tạo hình<br /> <br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> những tổn thương vùng cổ đòi hỏi cao cả về<br /> Lamberty (1979) lần đầu tiên mô tả vạt da<br /> chất liệu tạo hình cũng như kỹ thuật tạo hình.<br /> cân thượng đòn [1]. Năm 1983 Baudet và<br /> Cho đến nay vạt da cân thượng đòn được<br /> Martin đã sử dụng vạt da cân thượng đòn ở<br /> xem là một chất liệu tạo hình lý tưởng cho tạo<br /> dạng vạt tự do cho các tổn khuyết vùng chi<br /> hình vùng cổ nhờ những ưu điểm nổi trội như<br /> thể [2]. Vạt da cân thượng đòn được cấp máu<br /> độ mỏng, diện tích và khả năng huy động của<br /> bởi nhánh thượng đòn của động mạch cổ<br /> vạt này [5; 6]. Đã có nhiều công trình nghiên<br /> ngang nông, giải phẫu của cuống mạch tương<br /> cứu về việc sử dụng vạt da cân thượng đòn<br /> đối hằng định, chính vì vậy vạt được áp dụng<br /> trong tạo hình vùng cổ tuy nhiên chưa có công<br /> rộng rãi trong tạo hình. Đến nay, vạt này đã<br /> trình nào nghiên cứu về khả năng và phạm vi<br /> được sử dụng dưới nhiều dạng khác nhau<br /> sử dụng vạt này trong từng loại khuyết phần<br /> như vạt đảo, bán đảo, vạt giãn, vạt có cuống<br /> mềm vùng cổ. Vì vậy chúng tôi tiến hành<br /> mạch nuôi hay vạt tự do, và vạt được sử dụng<br /> nghiên cứu này với mục tiêu: mô tả tính linh<br /> chủ yếu cho mục đích tạo hình che phủ các<br /> hoạt của vạt da cân thượng đòn trong tạo hình<br /> khuyết phần mềm trên cơ thể nói chung, đặc<br /> các dạng khuyết phần mềm vùng cổ.<br /> biệt các tổn thương vùng cổ [3; 4; 5]. Các<br /> khuyết phần mềm vùng cổ do bỏng là một II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> dạng tổn thương đa dạng, việc tạo hình<br /> 1. Đối tượng<br /> Từ năm 2001 đến năm 2012 chúng tôi tiến<br /> Địa chỉ liên hệ: Trần Thiết Sơn, bộ môn Phẫu thuật Tạo hành phẫu thuật cho 36 bệnh nhân (17 nam<br /> hình, trường Đại học Y Hà Nội.<br /> và 19 nữ), từ 4 đến 65 tuổi với 41 vạt da cân<br /> Email: drtranthiets@yahoo.fr<br /> Ngày nhận: 27/9/2013 thượng đòn. Có 2 bệnh nhân được sử dụng 2<br /> Ngày được chấp thuận: 17/2/2014 vạt cùng một thì phẫu thuật, 3 bệnh nhân<br /> <br /> <br /> 44 TCNCYH 86 (1) - 2014<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> được sử dụng 2 vạt trong 2 lần phẫu thuật. - Dùng siêu âm doppler cầm tay và siêu<br /> Nguyên nhân tổn thương khuyết phần mềm âm doppler màu để xác định nguyên ủy,<br /> vùng cổ chủ yếu do bỏng (35 bệnh nhân) và đường kính mạch, đường đi, điểm xuyên qua<br /> do dị dạng mao mạch (1 bệnh nhân). Theo cân của động mạch thượng đòn. Từ đó thiết<br /> phân loại Vandenbussche về định khu phần kế vạt da cân thượng đòn dựa theo trục mạch<br /> mềm vùng cổ, các tổn thương phân bố đều và dựa trên đặc điểm của khuyết phần mềm<br /> trên các vùng của cổ: vùng cổ phải (M1) vùng cổ. Vạt da cân thượng đòn được thiết kế<br /> chiếm 28,7%, vùng cổ giữa (M2) chiếm 33,6% để che phủ khuyết phần mềm nguyên phát<br /> và vùng cổ trái (M3) chiếm 37,7%. Đặc điểm sau cắt bỏ tổn thương hoặc che phủ khuyết<br /> tổn thương vùng cổ cần tạo hình bao gồm sẹo<br /> phần mềm thứ phát sau khi chuyển một vạt tại<br /> co kéo (73,2%), sẹo quá phát (34,1%) và<br /> chỗ. Các vạt tại chỗ được thiết kế dựa trên<br /> khuyết phần mềm thứ phát sau cắt u máu<br /> phần da lành của vùng cổ trong cùng một lần<br /> vùng cổ (7,3%).<br /> thiết kế với vạt da cân thượng đòn.<br /> <br /> 2.2. Qui trình phẫu thuật<br /> <br /> - Dưới vô cảm toàn thân, tiến hành cắt bỏ<br /> tổn thương sẹo vùng cổ, giải phóng sẹo co<br /> kéo nếu có. Xác định kích thước thực của<br /> khuyết phần mềm.<br /> - Phẫu thuật bóc vạt: vạt được phẫu tích từ<br /> đầu xa tới đầu gần và bờ trước tới bờ sau.<br /> Lớp bóc tách nằm dưới cân cổ nông vì trục<br /> Hình 1. Phân vùng da cổ theo Vandenbussche mạch thượng đòn nằm trong cân. Tại đầu xa<br /> của vạt cắt bỏ các nhánh nối với các nhánh<br /> 2. Phương pháp<br /> cấp máu cho da của động mạch mũ cánh tay<br /> 2.1. Đánh giá tổn thương vùng cổ trước sâu. Khi đã bóc đến đầu gần cuống mạch của<br /> mổ và lập kế hoạch phẫu thuật vạt cân bảo tồn các nhánh thần kinh thượng<br /> - Bệnh nhân được đánh giá đầy đủ đặc đòn. Phẫu tích bằng kéo, tránh dùng dao điện<br /> điểm của tổn thương như tính chất tổn để khỏi tổn thương trục mạch. Thận trọng<br /> thương, kích thước tổn thương theo chiều cao phẫu tích khi bóc vạt đến sát bờ ngoài cơ vai<br /> và chiều rộng cổ, kích thước lý thuyết của móng vì đây là điểm đi ra nông của động<br /> vùng cổ, phân bố tổn thương theo vị trí định mạch thượng đòn. Không nhất thiết bộc lộ<br /> khu của Vandenbussche, các loại tổn thương toàn bộ cuống mạch, để lại một phần mô xung<br /> phối hợp, đánh giá vùng da lành ở cổ và vùng quanh cuống mạch, dùng siêu âm doppler<br /> thượng đòn. Trên cơ sở các số liệu về kích cầm tay khẳng định lại cuống mạch nuôi. Lúc<br /> thước và vị trí tổn thương, xác định kích này vạt được dùng dạng đảo hay bán đảo tùy<br /> thước và diện tích khuyết phần mềm cần phải vào việc cắt rời vạt ra khỏi nơi cho hay không.<br /> che phủ, từ đó lập kế hoạch và thiết kế vạt da Vạt được xoay từ 90 đến 180 độ để che phủ<br /> cân thượng đòn đáp ứng được các yêu cầu cho các khuyết tổn vùng cổ. Vạt được khâu cố<br /> của tạo hình che phủ. định vào lớp cân sâu bằng chỉ tự tiêu, đặc biệt<br /> <br /> <br /> TCNCYH 86 (1) - 2014 45<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> với vùng trước sụn nhẫn, lớp da được khâu III. KẾT QUẢ<br /> với chỉ nylon. Đặt dẫn lưu 24 giờ. Nơi cho vạt<br /> Nghiên cứu của chúng tôi gồm 41 vạt da<br /> có thể được đóng trực tiếp khi nhỏ hơn 10 cm<br /> cân thượng đòn trên 36 bệnh nhân. Trong đó<br /> hoặc khâu một phần và ghép da dày khi lớn<br /> có 37 vạt sống hoàn toàn (90,2%), 2 vạt hoại<br /> hơn 10 cm.<br /> tử 1 phần (4,9%), 2 vạt hoại tử hoàn toàn<br /> 2.3. Đánh giá kết quả (4,9%). Vạt lớn nhất được sử dụng có kích<br /> Kết quả gần được đánh giá dựa vào các thước 21 x 16 cm, vạt nhỏ nhất có kích thước<br /> tiêu chí: mức độ sống của vạt da cân là 8 x 5 cm. Đa phần vạt sử dụng dưới dạng<br /> thượng đòn, diện tích che phủ và tình trạng đảo với góc xoay 180 độ (88%), 12% số vạt<br /> liền sẹo nơi cho vạt. Kết quả xa dựa vào các được sử dụng dưới dạng bán đảo với góc<br /> tiêu chí: liền sẹo của vạt nơi tạo hình che xoay từ 90 đến 120 độ.<br /> phủ, đặc điểm chức năng và thẩm mỹ chung<br /> Theo cách phân loại tổn thương cổ của<br /> của vùng cổ.<br /> Vandenbussche, tất cả bệnh nhân trong<br /> 3. Đạo đức nghiên cứu nghiên cứu này đều có tổn thương từ 2 vùng<br /> Nghiên cứu chỉ phục vụ mục đích khoa trở lên. Có 2 bệnh nhân tổn thương cả 9 vùng<br /> học. Các đối tượng trong nghiên cứu được và cần phải sử dụng 2 vạt da cân thượng đòn<br /> thông báo rõ và tự nguyện tham gia. Mọi số mới che phủ được hết tổn thương. Số vùng<br /> liệu liên quan đến bệnh nhân đều được giữ tổn thương ở cổ được một vạt da cân thượng<br /> bí mật. đòn che phủ được minh họa trong bảng 1.<br /> <br /> Bảng 1. Số vùng tổn thương ở cổ được một vạt da cân thượng đòn che phủ<br /> <br /> Số vùng được một vạt che phủ 2 3 4 5 6 8<br /> <br /> Số vạt (n) 6 13 8 5 6 3<br /> <br /> Một vạt da cân thượng đòn có thể che phủ được tổn thương có phạm vi từ 2 đến 8 vùng,<br /> trong đó 3 vùng chiếm tỉ lệ cao nhất (13/41).<br /> Vạt da cân thượng đòn có thể che phủ tới tất cả 9 vùng của cổ từ hai phía phải hoặc trái. Các<br /> tổn thương vùng cổ được tạo hình bằng vạt da cân thượng đòn cùng bên trong trong 32/47 vị trí<br /> (cổ phải) và 46/61 vị trí (cổ trái). Vạt da cân thượng đòn được dùng tạo hình các tổn thương cổ<br /> bên đối diện trong 15/47 vị trí (cổ phải) và 15/61 vị trí (cổ trái).<br /> Bảng 2. Phạm vi tạo hình của 1 vạt thượng đòn<br /> <br /> Vạt thượng đòn bên phải Vạt thượng đòn bên trái Tổng số<br /> Trực tiếp Gián tiếp Tổng Trực tiếp Gián tiếp Tổng vị trí<br /> <br /> P1 14 3 17 29 - 29 46<br /> P2 25 6 31 29 - 29 60<br /> P3 25 3 28 34 - 34 62<br /> Tổng 64 12 76 92 0 92 168<br /> <br /> 46 TCNCYH 86 (1) - 2014<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> Vùng cổ trên P1 được che phủ chủ yếu bằng vạt da cân thượng đòn trong 43/46 vị trí, chỉ có<br /> 3/46 vị trí được che phủ gián tiếp bằng vạt da cân thượng đòn. Với tất cả các vùng của cổ, chỉ có<br /> 12/168 (7,1%) vị trí được tạo hình gián tiếp bằng vạt da cân thượng đòn.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> a b c<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> d e g<br /> <br /> Hình 2. Bệnh nhân nam bị tổn thương sẹo bỏng co kéo cổ các vùng 1, 2, 3, 5 và 8<br /> (a). Thiếu chiều cao cổ sau khi cắt bỏ sẹo bỏng 12cm (b). Vạt da cân thượng đòn trái được<br /> thiết kế có kích thước 12 x 20cm với sự mở rộng ở bờ trước và sau (c). Vạt được phẫu tích có<br /> kích thước 14 x 22cm đủ che phủ trực tiếp khuyết (d). Kết quả xa ở tư thế nghiêng (e) và tư thế<br /> ngửa cổ (g).<br /> <br /> <br /> IV. BÀN LUẬN<br /> Vùng 2 là phạm vi cấp máu bổ sung của vạt<br /> Năm 1983, Baudet và Martin nhận xét thượng đòn nhờ hiện tượng mở thông đầu tận<br /> phạm vi cấp máu của động mạch thượng đòn với nhánh delta của động mạch mũ cánh tay<br /> thành 2 vùng. Vùng 1 là phần an toàn của sau. Ranh giới trước của vạt có thể cách bờ<br /> động mạch thượng đòn với ranh giới trước dưới xương đòn 2 cm, chiều dài vạt có thể đạt<br /> không vượt quá bờ trên của xương đòn, đầu tới 20 - 22 cm [2]. Năm 2002 Trần Thiết Sơn<br /> xa của vạt có thể qua đầu ngoài xương đòn nhận xét vùng cấp máu của vạt có thể bổ<br /> 2 - 3 cm, ranh giới phía sau vượt quá bờ sung bằng vùng 3 là phạm vi cấp máu mở<br /> trước cơ thang 1 - 2 cm. Ranh giới trong của rộng nhờ thần kinh trên đòn [7]. Nếu bảo tồn<br /> vạt nằm trên vùng tam giác cổ và tương ứng được thần kinh trên đòn cùng mạng mạch<br /> với nguyên ủy động mạch cổ ngang nông. máu đi cùng nằm trong vạt thì giới hạn trước<br /> <br /> TCNCYH 86 (1) - 2014 47<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> của vạt được mở rộng về phía hạ đòn và vượt Qua bảng 2 ta thấy với một vạt da cân<br /> xa bờ dưới của toàn bộ xương đòn. Vạt cũng thượng đòn dùng chủ yếu để che phủ cho tổn<br /> có thể lấy đến tận đầu trong của xương đòn thương cùng bên ở hai vùng cổ P2 và P3,<br /> và toàn bộ phần cổ trước. Ngoài ra sự hiện những vùng gần với nơi cho vạt. Tuy nhiên,<br /> diện của các nhánh nối với động mạch mũ vạt cũng có thể được thiết kế để che phủ các<br /> cánh tay sau trong khi phẫu tích vạt là một khuyết tổn ở bên cổ đối diện. Lựa chọn sử<br /> dấu hiệu tích cực cho việc mở rộng vạt da cân dụng vạt thượng đòn như vậy là để khoảng<br /> thượng đòn về phía đầu xa. Trên nghiên cứu cách từ cuống vạt đến đầu xa của tổn thương<br /> sự tương quan của vạt da cân thượng đòn từ là ngắn nhất, tránh cho việc phải bóc tách<br /> hai phía, diện tích của vạt lấy từ bên trái cuống vạt dài, dễ gây tổn thương cuống,<br /> thường rộng hơn so với bên phải do áp lực cuống bị căng, bị xoắn vặn, do đó làm tăng<br /> động mạch bên trái cao hơn bên phải, chính vì tính an toàn của vạt. Đây cũng là một cách<br /> vậy số lần sử dụng vạt da cân thượng đòn thông dụng mà các phẫu thuật viên hay dùng<br /> bên trái nhiều hơn so với bên phải (92/76). trong tạo hình các khuyết phần mềm, đây còn<br /> Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 1 vạt gọi là phương pháp che phủ trực tiếp các<br /> da cân thượng đòn bên trái có kích thước khuyết tổn. Trong nhiều trường hợp, các<br /> 21 x 16 cm đủ che phủ 8 vùng tổn thương của khuyết tổn ở cách quá xa nơi cho vạt, các tổn<br /> cổ và cả vùng hạ đòn phải, vai phải. Vạt sống thương có hình dáng đặc biệt không thuận lợi<br /> hoàn toàn, sau mổ chức năng vận động cổ cải cho việc dùng trực tiếp một vạt, chúng tôi sử<br /> thiện rất nhiều. Qua đây ta thấy diện tích vạt dụng các vạt da kế cận tổn thương để che<br /> da cân thượng đòn được sử dụng là rất lớn, phủ khuyết phần mềm, chính nơi cho vạt đó<br /> lớn hơn rất nhiều diện tích an toàn của vạt, sẽ được che phủ bằng vạt da cân thượng đòn<br /> trong trường hợp bảo tồn được các nhánh nối cùng bên. Cách này được gọi là che phủ gián<br /> thông với động mạch mũ cánh tay sau ở đầu tiêp tổn thương, cách này ít được các phẫu<br /> ngoại vi vạt cũng như các nhánh mạch đi kèm thuật viên đề cập tới cho tạo hình vùng cổ,<br /> thần kinh trên đòn ở đầu trung tâm. Nhờ khả chủ yếu cho các tổn thương ở vùng mặt [8].<br /> năng cấp máu được mở rộng từ nhiều nguồn Đây cũng là một cách mà vạt da cân thượng<br /> khác nhau nên vạt da cân thượng đòn có thể đòn được sử dụng linh hoạt tùy theo các loại<br /> được thiết kế theo hình dạng của tổn khuyết tổn thương khác nhau. Trong nghiên cứu của<br /> mà không làm mất đi tính an toàn của vạt. chúng tôi, đa số vạt da cân thượng đòn được<br /> Điều này cũng được thể hiện qua bảng 1 khi sử dụng ở dạng vạt đảo (88%) và bán đảo<br /> mà 1 vạt thượng đòn có thể được sử dụng để (12%). Vạt đảo luôn là dạng có tính linh hoạt<br /> tạo hình cho từ 2 đến 8 vùng khác nhau của rất cao. Vạt có thể xoay với góc lớn đến 360<br /> cổ. Mặt khác, những cách thiết kế vạt, như độ, vạt có thể vươn tới các vùng xa nhất của<br /> mở rộng hay thu hẹp chiều rộng vạt dọc theo vùng cổ khi kích thước vạt đủ lớn, không để<br /> trục mạch, cũng không gây tổn thương đầu lại tai chó hay gấp khúc tại cuống vạn, sử<br /> ngoại vi của vạt. Chính nhờ vậy việc thiết kế dụng tối đa diện tích của vạt.<br /> vạt da cân thượng đòn cũng thay đổi trong Trong các vạt dạng đảo được sử dụng,<br /> từng trường hợp, phù hợp với các dạng tổn góc xoay của vạt thay đổi từ 150 đến 180 độ.<br /> thương khác nhau, một hình thái đặc trưng Vạt bán đảo được nuôi dưỡng bằng cuống<br /> của sẹo bỏng vùng cổ. mạch kèm theo liên kết da giữa vạt với nơi<br /> <br /> 48 TCNCYH 86 (1) - 2014<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> cho vạt, do vậy mà khả năng xoay và khả 4. Ernest S.C., Perry H.L., Paul L.F<br /> năng vươn của vạt bị hạn chế. 3/5 vạt bán (2009). Supraclavicular artery island flap for<br /> đảo được sử dụng trong nghiên cứu này bị head and neck oncologic reconstruction: Indi-<br /> hoại tử một phần hay hoàn toàn. Đây cũng là cations, complications, and outcomes. Plastic.<br /> một hạn chế của vạt da cân thượng đòn dạng Reconstructive Surgery. 124, 115 - 123.<br /> bán đảo, khi không đảm bảo sự nguyên vẹn<br /> 5. Vinh V.Q (2009). Anatomical and<br /> của cuống mạch nuôi và sự xoắn vặn cuống<br /> clinical studies of the supraclavicular flap:<br /> nuôi là những nguyên nhân gây thất bại của<br /> analysis of 103 flaps used to reconstruct neck<br /> kỹ thuật.<br /> scar contractures. Plastic. Reconstructive Sur-<br /> Lời cảm ơn gery. 123, 1471 - 1480.<br /> <br /> Xin chân thành cảm ơn bệnh viện Đa khoa 6. Rashid M (2006). The ‘expansile’ su-<br /> Xanh Pôn, tập thể bác sỹ khoa Phẫu thuật praclavicular artery flap for release of post-<br /> Tạo hình bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Hà Nội burn neck contractures. Journal of plastic,<br /> đã giúp đỡ chúng tôi thực hiện nghiên cứu này. reconstructive and aesthetic surgery. 59,<br /> 1094 - 1101.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 7. Trần Thiết Sơn (2002). Nhận xét một<br /> 1. Lamberty (1979). The supra- dạng mới của vạt da cân thượng đòn trong<br /> clavicular axial patterned flap. Britain Journal<br /> phẫu thuật tạo hình sẹo bỏng co kéo cổ. Y học<br /> Plastic Surgery, 32, 207.<br /> thực hành, 6, 61 - 63.<br /> 2. Baudet (1983). The supraclavicular<br /> neurovascular free flap. Anatomy and clinical 8. Pallua N. and Heimburg D. (2005).<br /> application. Textbook of microsurgery. Pre-expanded ultra-thin supraclavicular flaps<br /> for (full-) face reconstruction with reduced do-<br /> 3. Benedetto, G.D (2008). Supraclavicu-<br /> nor-site morbidity and without the Need for<br /> lar island fascial flap in the treatment of pro-<br /> microsurgery. Plastic and reconstructive sur-<br /> gressive hemifacial atrophy. Plastic and recon-<br /> gery, 115(7), 1837 - 1844.<br /> structive surgery, 121(5), 247 - 250.<br /> <br /> <br /> Summary<br /> VERSATILITY OF PEDICLED FASCIOCUTANEOUS<br /> SUPRACLAVICULAR FLAP IN NECK RECONSTRUCTION<br /> The fasciocutaneous supraclavicular flap was first described by Lamberty in 1979 and has<br /> been widely applied in clinical practice due to their many advantages. The objectives of our study<br /> was to describe the flexibility of the fasciocutaneous supraclavicular flap in recontructive surgery<br /> of the neck soft tissue defects. A total 36 patients (17 male and 19 female), from 4 to 65 years old<br /> with 41 fasciocutaneous supraclavicular flap, were enrolled in the study. These patients under-<br /> went surgery between 2001 and 2012. Characteristic of defects, the use of fasciocutaneous<br /> supraclavicular flap such as its size, rotation angle and cover ability were analyzed and evaluated.<br /> The results showed that with 41 fasciocutaneous supraclavicular flaps, 37 flaps survived totally, 2<br /> <br /> <br /> <br /> TCNCYH 86 (1) - 2014 49<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> necrotized partially and 2 necrotized totally. The largest size of flap was 21 x 16cm. 88% of flaps<br /> were in form of island with 180º rotation. 90% of flaps were used for direct cover of neck defects,<br /> 10% were used for indirect cover. In conclusion, the fasciocutaneous supraclavicular flap is an<br /> ideal reconstructive material. It is highly safe thanks to constant pedicle and the flexibility of use<br /> for soft - tissue defects in neck region.<br /> <br /> Keyword: pedicled supraclavicular flap, cervical soft tissue defect, plastic surgery<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 50 TCNCYH 86 (1) - 2014<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2