Tính nguyên hợp của thể
loại tiểu thuyết chương hồi
chHán Việt Nam
Tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Vit Nam mang những đặc trưng bản của của
văn học Việt Nam trung đi. Trong đótính nguyên hp (Văn - S - Triết bất phân), một dấu
hiệu cho thấy qui luật hỗn hợp vốn là một đặc trưng của văn hóa trung đi nói chung, phản
ánh tình trng chưa sự phân chia rạch ròi giữa các "ngành", bộ phận trong khoa học xã
hội. Với sự chuyên biệt hóa cao độ, ngày nay cng ta sự phân biệt trong duy sáng
tác, giữa tư duy luận duy hình tưng, nên không còn hinợng "ba trong một" như
trong một số thể loại văn học trung đại. Tìm hiểunh nguyên hợp của tiểu thuyết chương
hồi chữ Hán Việt Nam nhm khẳng định một đặc trưng của thể loại tồn ti bên cạnh những
đặc trưng nổi bật khác, đồng thời củng cố thêm nhận thức trong nghiên cứu cũng như
thưởng thức lâu nay. Việc xác định một cách rõ ràngt pháp ca tác phẩm
là n hay s thật không dễ dàng, bi vì bản thânc phẩm được sinh ra trong một môi
tng văn hóa nguyên hợp nên việc nhận thức chúng cũng phải được đặt trong duy
nguyên hp.
Nếu quan nim tên gọi phản ánh đặc trưng thể loại tác phẩm, chúng ta sẽ cách giải
thích đơn giản về c tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam. Trong số nhữngc phẩm
được chọn, chúng tôi thấy thườngc chữ "chí", "ký", "diễn c"... "Diễn chí" thc chất
là lối diễn sử, giảng sử giống kiểu diễn nghĩa ca tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc. Cách
đặt tên tác phm đã thể hiện rõ tính thể loi, bởi "chí", "lục" đều liên quan tới lịch sử, đến
việc chép sử và đều được sử dụng để đặt tên cho tác phm văn học. Tính nguyên hợp trong
văn học càng v sau càng "nhạt" dần đi. Tuy nhiên, cho mãi tới những năm đầu thế kỷ XX
dấu vết "bất phân" vẫn còn quan sát được rất rõ hàng loạt tác giả và c phẩm. Khi tìm
hiểu văn học trung đại, của Việt Nam cũng như của thế giới, cn phải tính đến đặc điểm
này. Theo Trần Ngọc Vương: Ở Trung Quốc trất sớm đã s phân a mnh mẽ đội
ngũ trí thức thành môn đồ của rt nhiều “giáo”, học phái, học thuyết, khác nhau. Tuy nhiên
s phân hóa chủ yếu dựa trên một trc đối lập chủ yếu là trục "lưu, phái, thuyết, giáo".
Thắng li của Nho go trên cương vị ý thức hệ từ đời Hán đã "nguyên hợp a" trở li đội
ngũ trí thức ấy. Lối hình dung "tam giáo đồng nguyên", "tam giáo tnh hành", "Nho pháp
tĩnh dụng", châm ngôn thuộc nm lòng ca các nhà Nho "Nhất nghệ bất tri Nho giả sở sỉ",
v.v... đã kìm hãmkết quảc quá trình chuyên môn hóa(1).
1. Nguyên hp tác giả và thể loại
Trong thc tế, không chỉ khó lòngc tách hay định vị một cá nhâno đó thuộc
mẫu nhà nho này hay nhà nho kia, thm chí ở cấp độ cao hơn, chung hơn, ngay cả việc coi
nhân nào đó là thuộc vNho, thuộc vĐạo hay thuộc về Phật giáo. Một người nào đó,
hành xử giữa đi đồng thời trong nhiều tư cách, nhiều vai din khác nhau là sản phm của
hoạt động tinh thn của những trí thức "nguyên hợp" n vậy dĩ nhiên cũng mang nh
nguyên hp. Có ý kiến cho rằng, khi nghiên cu một văn bản của mộtc gitrên trưng
quant đó, các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau nhiều lúc rất xa
nhau ca các khoa học hiện đi đều cm thấy đ thẩm quyền coi đó là đốiợng nghiên
cu original ca mình. Thc tế cho thấy, "Tham đồ hiển quyết" trước khi là c phẩm văn
chương, hẳn quyền được coi văn kiện tôn giáo, một sự trình bày triết học. "Xuân thu
quản kiến" chắc chn là một công trình kho cứu theo lối học thuật nhưng cũng là một th
văn kiện trình bày những kiến giải chính trị của tác giả trước thời cuộc. Kệ là thơ mà kệ
cũng là skhải thị tôn giáo. Nhà chùa mời nhà Nho hay ch viết bi nhiên tớc hết để
xiểnơng công đức và giáo ca tôn giáo mình thì nhà Nho "tiện thể" cảm thán về thế
đạo nhân tâm và không t cả việc phê phán luôn Phật go.
Mt trong những đặc trưng của văn học cổ bắt nguồn từ nhận thức của thời đi về
quan niệm "văn - s - triết bất phân". Cách hiểu này xuất phát từ nền văn học c Trung
Quốc. Người Trung Hoa cổ đại quan nim một chữ "văn" rất nhiều nghĩa mà nghĩa
chính là trang sc bề ngoài ca chất, dần dần quy nạp thành khái niệm "văn" với bất kỳ th
thức nàong đến văn tự để biểu hiện đạo lý thánh nhân. Chữ "văn" vì thế bao gồm rất
nhiều thể loại. Quan niệm nguyên hợp trong văn học hình thành t đấy và trở thành quan
niệm chi phối người cm bút một cách không tự giác. Văn sử bất phân không có nga là
chỉ giữa văn và s mi không phân ranh giới mà còn giữa chúng với nhiều bộ môn khác
như triết học, tôn giáo, địa chí, yợc thậm c cả công văn hành chính. Khi nghiên cu v
vấn đề này, Nguyễn Huệ Chi cho rằng, “bởi lẽ, các bộ môn này đều gặp nhau trong việc
dùng chung một số thể loại, vận dụng chung một sbiện pháp tu từ. Nhưng không phải chỉ
thế. T quan nim "văn sử triết bất phân" tất yếu sẽ đi đến cách nhìn nhn đánh đồng các
thể loại mang tính chc năng và c thể loi mang tính thẩm mỹ. Tiến thêm mộtớc nữa,
s phân biệt giá trị của thể loại sẽ không còn phthuộc vào sức chinh phục nghệ thuật của
, mà y vào khả năng truyền tải đạo thánh nhân. Lẽ t nhiên một sự sắp xếp thứ bậc
c thể loại bắt buộc phải đặt ra, trong đó các thể loại chc năng như o, chế, biểu, hch trở
thành ưu trội so vic thể loại phi chc năng như truyện thơ, tiểu thuyết”(2).
Như vậy, từ loại hìnhc giả nguyên hp của đội ngũ trí thức trung đại đã dẫn đến
nh nguyên hợp trong sản phm của hoạt động nghệ thuật. Những người làm quan, làm
những ngành nghkhác nhau hoặc nắm giữ những vai trò quan trọng trong xã hội vẫn
thể tham gia hoạt động sángc văn học. Từ đó dẫn đến hiện tượng tác phẩm nghệ thuật
mang trong nó nhiều phm chất, tri thức của nhiều "chuyên ngành" khác nhau. Quá trình đó
đão dài trong lch sử trung đại mà không gặp phải những khó khăn trong thưởng thức.
Mt phần, do yêu cầu nhn thức chưa đòi hỏi phải sự tách bạchng như ý thc về "bn
quyền" thể loại chưa được đặt ra. Phần nữa do hạn chế về cơ cấu thể loại trong tổng thể nền
văn học nên hiện ợng vay mượn, s dụng chung một thể loạio đấy trong sáng tác
không phải là chuyện hiếm. Và trong thc tế, việc này đã được chấp nhận mộtch hoàn
toàn t nhiên.
2. Mi quan hệ Văn - S
n cứ trên phương diện nội dung, đề tài và mục đích sángc, chúng tôi cho rằng,
tác gitiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam xây dựng tác phẩm nhằm lưu li, kể lại
lịch sử của thời đại, triều đại mình cho đời sau. Hầu hếtc bộ tiểu thuyết chương hồi đều
liên quan đến con người và s kiện lịch sử Việt Nam. Lầnợt đim qua cácc phm, thấy
rằng: Hoan Cu ký nội dung miêu thuật lch sử 8 thế hệ đu của dòng hNguyễn Cảnh
Nghệ An thuộc đất Hoan Châu cổ, những người có nhiều đóng góp trong công cuc "phò
Lê diệt Mạc" và tạo dựng nền Trung hưng của nhà Lê; Nam triều ng nghiệp diễn c
u chuyện kể về công lao sự nghiệp của Nam triều, tác phm phản ánh thời kỳ Trịnh -
Nguyễn phân tranh, lịch sử tri qua 5 đời chúa Nguyễn, từ chúa Nguyễn Hoàng đến chúa
Nguyễn Phúc Trăn; Hoàng Lê nhất thống chí nội dung ghi chép sự nghiệp nhất thống
ớc nhà ca vua Lê; Hoàng Việt longng chí, tác phm ghi chép về một giai đoạn lịch
s nhiều biến động trong thi gian khoảng 50 năm cuối thế kỷ XVIII đầu XIX; Việt Lam
xuân thu, cuốn sách kể li cuộc đời vua Lê Thái T, bậc khai quốc của nhà Lê trong quá
trình giành lại đất nước; Trùng Quang tâm s, cuốn dt s, ch là câu chuyện cấu trên cơ
s trang sử mất nước đời hậu Trần, để ngụ ý chống Pháp của một sĩ phu yêu nước hồi đầu
thế kỷ XX.
Nếu căn c vào nội dung phản ánh của nhữngc phm tiểu thuyết chương hồi được
nghiên cứu, thể cho rằng, đây là những tiểu thuyết viết về đề tài lch sử, (khiến nhiều
người vn gọi chúng là tiểu thuyết lịch sử). Nhưng nếu dựa trênnh thức thể loại, đặc biệt
là da trên kết cấu tác phẩm, dựa trên những kết quả nghiên cứu tiu thuyết chương hồi
Trung Quc và Việt Nam, có th đi tới một nhận định khi cho rằng đây là những bộ tiu
thuyết kết cấu chương hồi. thể so sánh với những tiểu thuyết chương hồi của Trung
Quốc n Tam Quốc diễn nghĩa, Hồng lâu mộng, Thủy hử, Tây du ký... tính văn học ở mỗi
b tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam có thể cao thp, không giống nhau, s thăng
trmng không theo quy luật cái sau tiến bộ hơn cái trưc. Lâu nay, vẫn hiệnợng
không phân biệt rõ ràng trong ch gọi tên mt thể loại văn học khi căn cứ trênnh thức
thể hiện và nội dung phản ánh. Khi nói tiểu thuyết lịch sử là căn cứ trên nội dung phản ánh
ng đề tài mà tác phẩm này quan tâm. Khi nói tiểu thuyết chương hồi cũng có nghĩa vấn
đề thuộc về hình thức, cu trúc của tác phẩm.
Mối quan hệ văn - strong thể loại tiểu thuyết chương hồi mang màu sc của mối
liên hệ giữa nội dung đề tài phương thức biểu hin. Bỏ qua lối ghi chép lạnh lùng,
nghiêm trang ca "sử bút", tác giả tiểu thuyết chương hồi đã tìm được một phương thức
truyền tải những nội dung thuộc về lch sử bng một cách thức uyển chuyn, sinh động và
mm dẻo hơn. Chính điều này đã đm bảo chonh nguyên vẹn, chính xác và đầy đủ thông
tin ca những sự kiện và nhân vt lch sử. Nói cách khác, lịch sử đã tìm được con đường,
phương thức tốt hơn để đem đến cho bạn đọc những thông tin cần truyền tải. Những vấn đề
ca lch sử sẽ không còn nặng nề, khô khan, thay vào đó là sự linh động của "văn bút" với
chút lãng mạn của cấu nghệ thuật. Đối với tác gi tiểu thuyết chương hồi, trong bối cảnh
vay mượn hình thc thể loại của nước ngoài, để có nguồn đề tài phong phú là chuyện không
hề đơn giản. Trong khi đó, lịch sử dân tc với những cuộc biến đổi sơn hà, những mưu đồ
chính tr, nội chiến và chống ngoại xâm là những trang sử hào hùng nhất hoặc những tm
ơng anh ng ca bao lớp người Việt Nam rất đáng được lưu truyền cho hậu thế. Lựa
chọn tiểu thuyết chương hồi để phn ánh những vấn đề ln lao của lịch sử dân tộc là s lựa