TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRƯỚC THÁCH THỨC
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
ThS. Bùi Thị Thu Hà1
Tóm tắt: Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia, đã ký kết và thực thi nhiều Hiệp định
thương mại tự do (FTA) trong đó có Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Để
bảo vệ tính bền vững của các FTA thế hệ mới đòi hỏi Việt Nam và các quốc gia tham gia phải thông qua và duy
trì các quyền được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) theo pháp luật, thể chế và
thông lệ của họ. Theo đó các quốc gia tham gia phải điều chỉnh luật pháp quốc gia cho phù hợp với tám công
ước của ILO trong đó có hai công ước số 87 về Tự do hiệp hội và bảo vệ quyền được tổ chức và số 98 về quyền
tổ chức và thương lượng tập thể. Khi đó, NLĐ có quyền tự do lựa chọn tổ chức có khả năng bảo vệ quyền và lợi
ích cho mình bên cạnh tổ chức đại diện duy nhất cho họ hiện nay là tổ chức công đoàn (TCCĐ) và được hưởng
sự bảo vệ thích đáng trước mọi hành vi phân biệt đối xử chống lại công đoàn trong việc làm của họ. Trước thực
trạng hoạt động công đoàn đang bộc lộ những hạn chế, bất cập, công đoàn Việt Nam, đặc biệt là tổ chức công
đoàn cơ sở (TCCĐCS) cần phải đổi mới để xứng đáng là tổ chức chính trị - xã hội, là đại diện của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động trong việc chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích của đoàn viên đồng thời đáp ứng với
những đòi hỏi trong hội nhập quốc tế và để có thể “cạnh tranh” với các tổ chức đại diện mới của người lao động
(NLĐ). Trong giới hạn bài viết này, tác giả trình bày đôi nét về TCCĐCS; Phân tích thực trạng của TCCĐCS và nêu
ra những thách thức mà tổ chức này phải đối mặt. Đồng thời, tác giả cũng nêu ra một số giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động và vị thế của TCCĐCS trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Từ khóa: tổ chức công đoàn cơ sở, công đoàn cơ sở, hội nhập quốc tế,…
Abstract: Currently, Vietnam has trade relations with more than 200 countries, has signed and implemented
many free trade agreements (FTA) including the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-
Pacific Partnership (CPTPP). In order to protect the sustainability of new generation FTA, Vietnam and its
participating countries must adopt and maintain the rights stated in the International Labor Organizations
1998 Declaration according to the law, their institutions and practices. Accordingly, the participating countries
must adjust their national laws in accordance with the eight ILO conventions, including the 87th Convention
on Freedom of Association and the protection of organized rights and the 98 on the right to organize and
collective bargaining. At that time, the employee has the right to freely choose an organization capable of
protecting their rights and interests in addition to the only representative organization for them at the moment
is the trade union organization and enjoy the protection worthy of all acts of discrimination against unions
in their employment. Facing the status of trade union activities are revealing limitations and shortcomings,
Vietnamese trade unions, especially grassroots trade unions need to innovate to deserve a political and social
1 Email: bttha09@gmail.com, Khoa Quản trị nhân lực, Trường Đại học Thương mại.
287
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
organization, are representatives of the working class and people working in caring and protecting the rights
and interests of union members while meeting the requirements of international integration and to be able
to “compete” with other new representative organization of employees. Within the scope of this article, the
author presents a brief description of grassroots trade union; Analyze the current situation and address the
challenges faced by this organization. At the same time, the author also mentioned some solutions to improve
the performance and position of this organization in the context of international integration.
Keywords: Grassroots trade union; international integration;...
1. ĐẶT VẤN Đ
Hội nhập quốc tế là xu hướng phát triển của hầu hết các quốc gia. Đó là quá trình các nước tiến
hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết, hợp tác với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu,
giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ
chức quốc tế. Việt Nam đã đang tiếp tục hội nhập sâu hơn với nền kinh tế thế giới. Thông qua
việc thực thi các cam kết trong các FTA, môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam cũng được cải
thiện mạnh mẽ, thu hút đầu nước ngoài tiếp tục tăng đã tác động đến chuyển dịch cấu lao động,
chất lượng lao động từng bước được cải thiện tác động tích cực đến quan hệ lao động (QHLĐ). Tuy
nhiên, trước các yêu cầu của FTA, Việt Nam bắt buộc phải tuân thủ những nguyên tắc và quyền cơ
bản tại nơi làm việc theo Tuyên bố năm 1998 của ILO. Việt Nam đang trong quá trình nghiên cứu hai
công ước cơ bản là: Công ước số 87 về quyền tự do hiệp hội và công ước số 98 về quyền tổ chức và
thương lượng tập thể. Nếu phê chuẩn, pháp luật lao động phải sửa đổi sao cho phù hợp với luật pháp
thông lệ quốc tế. Khi đó, NLĐ quyền lựa chọn tổ chức đại diện cho mình thay chỉ duy
nhất một sự lựa chọn là tổ chức công đoàn như hiện nay và được hưởng sự bảo vệ trước mọi hành vi
phân biệt đối xử chống lại tổ chức của họ. Đây chính là thách thức lớn đối với TCCĐ và đòi hỏi tổ
chức này cần có “bước chuyển” phù hợp trong bối cảnh hội nhập như hiện nay để có thể khẳng định
vị thế và chỗ đứng với NLĐ xứng đáng tổ chức đại diện của giai cấp công nhân nhân dân lao
động trong việc chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích của công đoàn viên.
2. ĐÔI NÉT VỀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ
Điều 10 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định:
“Công đoàn là một tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng
với quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức hội chăm lo bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công
nhân, viên chức những người lao động khác; Tham gia quản nhà nước hội, tham gia
kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế; Giáo dục cán bộ, công nhân,
viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Luật Công đoàn năm 2012 cũng nêu tại Khoản 1, Điều 2: “Công đoàn đại diện bảo vệ các
quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát
triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động”; Khoản
2, Điều 2: “Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản cơ quan, đơn vị, tổ chức,
quản kinh tế - hội, quản nhà nước; Trong phạm vi chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm
tra, giám sát hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật”.
288 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Tại Khoản 4, Điều 3 Bộ luật Lao động Việt Nam do Quốc hội ban hành, sửa đổi, bổ sung năm
2012 nêu rõ: “Tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc
Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở”. Bộ luật
Lao động (2012) đã một chương riêng quy định vai trò của TCCĐCS như sau: “Công đoàn sở
thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn,
người lao động; Tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thoả ước lao động tập
thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao
động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; Tham gia, hỗ trợ giải quyết TCLĐ; Đối
thoại, hợp tác với NSDLĐ xây dựng QHLĐ hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, quan,
tổ chức”. Vai trò này phải được khẳng định thông qua hoạt động thực tiễn của CĐCS, thể hiện:
Một , chủ động đề xuất với NSDLĐ về nội dung, biện pháp xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn
định tiến bộ trong doanh nghiệp; Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chế độ, chính sách liên quan
đến quyền lợi, nghĩa vụ của NLĐ; Tham gia xây dựng nội quy, quy chế của doanh nghiệp.
Hai , đại diện cho tập thể NLĐ tham gia trực tiếp trong các chế tương tác QHLĐ tại
doanh nghiệp: Xây dựng, thương lượng, ký kết TƯLĐTT có chất lượng và giám sát việc thực hiện
hiệu quả; Phối hợp với NSDLĐ tổ chức Hội nghị người lao động, thực hiện quy chế dân chủ,
xây dựng và ký kết quy chế phối hợp hoạt động hướng dẫn NLĐ giao kết HĐLĐ đúng pháp luật,
có lợi cho NLĐ.
Ba , phối hợp kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách pháp luật liên quan đến
quyền, nghĩa vụ NLĐ và công đoàn.
Bốn là, tập hợp yêu cầu, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của NLĐ để cung cấp thông tin,
tổ chức đối thoại, thương lượng với NSDLĐ nhằm giải quyết các vấn đề khó khăn, bức xúc của
NLĐ; Giải quyết các tranh chấp lao động; Tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp
luật; Thực hiện các quyền của NSDLĐ.
Năm , xây dựng bộ quy tắc ứng xử trong doanh nghiệp nhằm cụ thể hoá các nội dung QHLĐ
phù hợp với pháp luật Việt Nam.
Sáu , phối hợp với NSDLĐ giáo dục, động viên NLĐ tích cực thực hiện tốt nhiệm vụ của
mình. Cùng với công đoàn cấp trên cơ sở vận động doanh nghiệp và lực lượng xã hội chăm lo đời
sống vật chất, tinh thần cho NLĐ.
Bảy , định kỳ kiểm tra đánh giá, lập báo cáo gửi công đoàn cấp trên sở về tình hình
QHLĐ, thông qua đó kiến nghị, đề xuất những giải pháp yêu cầu hỗ trợ, giúp đỡ nhằm thúc đẩy,
xây dựng QHLĐ tại đơn vị, doanh nghiệp.
3. THỰC TRẠNG VÀ THÁCH THỨC CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
3.1. Thực trạng của tổ chức công đoàn cơ sở hiện nay
3.1.1. Thực trạng của tổ chức công đoàn cơ sở về mặt tổ chức và nhân sự
Về mặt tổ chức, hình tổ chức của CĐCS hiện nay bản đã đáp ứng được việc tập hợp
NLĐ gia nhập TCCĐ tham gia hoạt động của CĐCS, từng bước thích ứng với những chuyển
đổi của các loại hình đơn vị, doanh nghiệp. Theo báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam,
289
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
tính đến ngày 31 tháng 11 năm 2016 cả nước 48.293 CĐCS với 6.568.495 đoàn viên công đoàn
trong các loại hình doanh nghiệp có sử dụng từ 30 lao động trở lên (Xem biểu đồ 2.1).
Biểu đồ 2.1. Công đoàn cơ sở trong các loại hình doanh nghiệp
(Nguồn: TLĐLĐ Việt Nam, 2017)
Tính đến thời điểm tháng 11 năm 2016 cả nước còn 46.642 doanh nghiệp từ 30 lao động
trở lên chưa có tổ chức CĐCS. Trong các hợp tác xã, có 1042 hợp tác xã TCCĐ chiếm 8% tổng
số hợp tác xã.
Mặc trong những năm qua, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã triển khai nhiều giải
pháp phát triển đoàn viên công đoàn thành lập TCCĐCS, trong đó việc đổi mới thành lập
công đoàn từ dưới lên. Tuy nhiên đến nay, việc thành lập TCCĐCS chưa đạt mục tiêu đề ra, độ
bao phủ của TCCĐCS trong những doanh nghiệp khả năng thành lập TCCĐCS còn rất thấp
cả về diện bao phủ và đối tượng bao phủ, NLĐ được bảo vệ quyền và lợi ích của mình thông qua
TCCĐCS mới chỉ đạt 48%.
Biểu đồ 2. Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên
(Nguồn: TLĐLĐ Việt Nam, Tổng cục Thống kê, 2017)
Việc thành lập CĐCS trong các doanh nghiệp chậm so với tốc độ phát triển của doanh nghiệp
đặc biệt trong các doanh nghiệp quy nhỏ siêu nhỏ làm tăng thêm khó khăn trong việc
thành lập.
Về mặt nhân sự, đội ngũ cán bộ CĐCS đa số có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình, được đoàn
viên tín nhiệm. Thông qua hoạt động thực tiễn, nhiều cán bộ công đoàn (CBCĐ) đã trưởng thành
nhanh chóng, tự học hỏi, nắm vững chính sách, pháp luật, nêu cao vai trò đại diện cho tập thể
NLĐ, có bản lĩnh đấu tranh vì lợi ích của NLĐ. Tuy nhiên, CBCĐ chuyên trách làm công tác công
290 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
đoàn ở cơ sở chiếm tỷ lệ rất ít. Còn lại phần lớn là CBCĐ làm việc kiêm nhiệm, vừa làm việc cho
NSDLĐ, do NSDLĐ trả lương lại vừa hoạt động công đoàn. Vì vậy đã những hạn chế nhất định
trong hoạt động công đoàn, đặc biệt trong việc thực hiện chức năng đại diện bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp của NLĐ. Nhiều CĐCS khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có CBCĐ cán bộ
quản lý doanh nghiệp hoặc có quan hệ gia đình với chủ doanh nghiệp nên không sẵn sàng bảo vệ
quyền lợi NLĐ. Điều này dẫn tới việc phối hợp hoạt động với chủ doanh nghiệp cũng như việc thể
hiện vai trò của công đoàn tại đơn vị không rõ nét, nhất là công tác giám sát của CĐCS bị hạn chế.
Cán bộ công đoàn chưa thể hiện được hết nguyện vọng của NLĐ.
Kết quả điều tra về năng lực của CBCĐCS của Nguyễn Thị Minh Nhàn (2018) cho thấy, CBCĐCS
còn hạn chế về trình độ và kỹ năng nên không dám hoặc không có động cơ đứng lên bảo vệ NLĐ đặc
biệt là sự thiếu hiểu biết về quyền tự do hiệp hội, thương lượng tập thể (mức điểm trung bình chỉ đạt
2.7); Hạn chế trong việc phát hiện, giải quyết xung đột (2.8). Các kỹ năng tập hợp NLĐ, kỹ năng vấn
cho NLĐ và kỹ năng thương lượng còn kém (2.8). Ngoài ra, CBCĐCS còn rất hạn chế trong việc chủ
động tìm hiểu nguyện vọng của NLĐ, hạn chế trong việc tham gia giải quyết TCLĐ, tổ chức, lãnh đạo
đình công và thiếu bản lĩnh đứng lên bảo vệ quyền lợi của NLĐ (Xem Biểu đồ 3).
Biểu đồ 3. Thực trạng năng lực cán bộ công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp
Nguồn: Đề tài NCKH cấp Bộ, Nguyễn Thị Minh Nhàn, 2018
3.1.2. Thực trạng của tổ chức công đoàn cơ sở về mặt kinh phí và hoạt động công đoàn
Về kinh phí hoạt động, theo Luật Công đoàn (2012) thì kinh phí công đoàn bao gồm 2%
tiền trích từ quỹ lương đóng BHXH của doanh nghiệp 1% tiền lương đóng BHXH của NLĐ.