
Tối ưu hóa lưu trữ bằng nén sâu trong DB2 10
Bản chất của dữ liệu
Tin hay không là tùy bạn, khi khối dữ liệu tăng lên, bản số (cardinality) của dữ liệu đó có xu
hướng giảm đi. (ND: Thuật ngữ cardinality đề cập đến sự duy nhất của dữ liệu được chứa trong
một cột (thuộc tính) cụ thể của bảng dữ liệu). Do đó, đúng là không có nhiều thứ thật sự duy nhất
trên thế giới này. Nhiều thứ có thể là duy nhất khi được dùng trong một tổ hợp, nhưng bản thân
các yếu tố cơ bản không phải là tất cả những thứ hay thay đổi. Hãy xem xét bảng các nguyên tố
tuần hoàn — mọi thứ trên thế giới của chúng ta được tạo thành từ các cách kết hợp của một tập
khá nhỏ các nguyên tố. Áp dụng khái niệm này cho dữ liệu và bạn thấy điều này cũng hoàn toàn
đúng. Ví dụ, theo điều tra dân số mới nhất của Hoa Kỳ, có khoảng 300 triệu người sống tại Hoa
Kỳ. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 78.800 họ duy nhất, dẫn đến bản số rất thấp với "các nhóm họ"
khổng lồ trong các tập tên cụ thể. Với các tên thậm chí còn tệ hơn, có khoảng 6.600 tên (4.400
tên duy nhất với nữ giới và 2.200 tên duy nhất với nam giới). Tên của các thành phố, các đường
phố và các địa chỉ, chưa kể đến các tên, các mô tả và các thuộc tính sản phẩm, cũng có xu hướng
dư thừa rất cao với bản số thấp (có nhiều tên trùng lặp).
Nén sâu hoạt động ra sao
Nén sâu được dựa trên nguyên lý là một lượng lớn dữ liệu có xu hướng có sự dư thừa rất cao.
Nén sâu hoạt động bằng cách tìm kiếm các mẫu lặp lại trong dữ liệu và thay thế các mẫu đó bằng
các ký hiệu 12-bit, được lưu trữ cùng với các mẫu mà chúng đại diện trong một từ điển tĩnh. Sau
khi từ điển này được tạo ra, nó được lưu trữ trong bảng (hoặc trang), cùng với dữ liệu nén và
được nạp vào bộ nhớ bất cứ khi nào dữ liệu trong bảng được truy cập (để hỗ trợ giải nén). Khi
nén sâu được kích hoạt, DB2 quét toàn bộ bảng để tìm kiếm các giá trị cột lặp lại và các mẫu lặp
lại trong nhiều cột trong một hàng hoặc trên một trang. Nó cũng tìm kiếm các mẫu lặp lại là các
chuỗi con của một cột cụ thể. Tuy nhiên, tìm thấy mẫu lặp lại không có nghĩa là dữ liệu được tự
động nén. Dữ liệu chỉ được nén khi thực hiện tiết kiệm vùng lưu trữ. Trong bất kỳ trường hợp
nào, toàn bộ hàng được lưu trữ như là một tập các ký hiệu 12-bit; các hàng không bao giờ được
nén một phần.
Nén sâu có thể được áp dụng cho dữ liệu nguyên thủy của người dùng (dữ liệu hàng, dữ liệu
XML và các chỉ mục), dữ liệu do hệ thống tạo ra (các bảng tạm thời) và dữ liệu quản trị (các
hình ảnh sao lưu và các bản ghi nhật ký giao dịch đã lưu). Các phương tiện nén với dữ liệu quản
trị có sẵn trong tất cả các ấn bản phần mềm DB2; Các tính năng nén cao cấp cho dữ liệu nguyên
thủy của người dùng và dữ liệu do hệ thống tạo ra có sẵn thông qua Tính năng tối ưu hóa lưu trữ
của DB2 (DB2 Storage Optimization Feature).
Về đầu trang
Định dạng hàng thay thế
Khi nói đến việc tạo ra các bảng do người dùng định nghĩa, có hai định dạng hàng mà bạn có thể
sử dụng — là tiêu chuẩn và thay thế — và định dạng được chọn xác định cách đóng gói các hàng

như thế nào khi chúng được lưu trữ trên đĩa. Định dạng hàng thay thế cho phép lưu trữ cô đọng
hơn giá trị NULL và giá trị mặc định hệ thống, cũng như các giá trị có độ dài bằng không trong
các cột có các kiểu dữ liệu có độ dài biến đổi. (Các kiểu dữ liệu có độ dài biến đổi được DB2
công nhận là VARCHAR, VARGRAPHIC, LONG VARCHAR, LONG VARGRAPHIC,
BLOB, CLOB, DBCLOB và XML). Do đó, định dạng này thường được gọi là nén giá trị NULL
và giá trị mặc định hoặc đơn giản chỉ là nén giá trị.
Với định dạng hàng tiêu chuẩn, vùng lưu trữ cho các giá trị cột có độ dài cố định được phân bổ
ngay cả khi giá trị thực tế được lưu trữ là NULL. Tương tự như vậy, các giá trị có độ dài bằng
không, được lưu trữ trong các cột có kiểu dữ liệu độ dài biến đổi sẽ tiêu tốn một lượng nhỏ vùng
lưu trữ. Tuy nhiên, với định dạng hàng thay thế, các giá trị NULL trong tất cả các cột và các giá
trị độ dài bằng không trong các cột có kiểu dữ liệu độ dài biến đổi không tiêu tốn vùng lưu trữ
nào cả.
Khi so sánh với định dạng hàng tiêu chuẩn, định dạng hàng thay thế cũng làm giảm chi phí lưu
trữ cho tất cả các giá trị khác trong các cột có kiểu dữ liệu độ dài biến đổi. Tuy nhiên, sự tiêu thụ
vùng lưu trữ cho tất cả các giá trị khác NULL được lưu trữ trong các cột với kiểu dữ liệu độ dài
cố định lại tăng lên. Có thể tìm thấy các công thức để xác định tổng số byte dùng cho các giá trị
của tất cả các kiểu dữ liệu và các định dạng hàng được hỗ trợ trong các tài liệu tham khảo dành
cho câu lệnh CREATE TABLE.
Điều khiển định dạng hàng
Bạn có thể điều khiển định dạng hàng được sử dụng cho từng bảng một. Theo mặc định, các
bảng sử dụng định dạng hàng tiêu chuẩn. Để tạo một bảng sử dụng định dạng hàng thay thế, chỉ
cần nối thêm cụm từ VALUE COMPRESSION vào câu lệnh tảo bảng CREATE TABLE được sử dụng
để tạo ra bảng đó. Ví dụ: CREATE TABLE ... VALUE COMPRESSION.
Để thay đổi định dạng hàng đã sử dụng cho bảng hiện tại, hãy ban hành một trong các câu lệnh
sau để thay thế:
ALTER TABLE ... ACTIVATE VALUE COMPRESSION
ALTER TABLE ... DEACTIVATE VALUE COMPRESSION
Nếu bạn kích hoạt (activate) hoặc tắt kích hoạt (deactivate) nén giá trị cho một bảng, dữ liệu hiện
có được lưu trữ trong bảng đó không bị thay đổi. Thay vào đó, các hàng vẫn giữ nguyên theo
định dạng hàng hiện có của chúng, trừ khi bạn áp dụng một hoặc nhiều biện pháp được trình bày
trong phần Các chiến lược lựa chọn trong bài này.
Đối với các bảng sử dụng định dạng hàng thay thế, bạn có thể tiết kiệm thêm vùng lưu trữ bằng
cách cho phép nén giá trị mặc định cho các cột ký tự và số có độ dài cố định. Điều này dẫn đến
các giá trị mặc định của hệ thống (là 0 với các cột số và rỗng với các cột ký tự có độ dài cố định)
không được cụ thể hoá trong biểu diễn trên đĩa của một hàng. Bạn có thể cho phép nén các giá trị

mặc định của hệ thống cho từng cột riêng lẻ bằng cách chỉ rõ tùy chọn cột COMPRESS SYSTEM
DEFAULT cho cột đó trong câu lệnh SQL tạo bảng CREATE TABLE hoặc sửa đổi bảng ALTER
TABLE ... ALTER COLUMN.
Quyết định sử dụng định dạng nào
Mặc dù định dạng hàng tiêu chuẩn là một lựa chọn tốt trong hầu hết trường hợp, nhưng có một
số bảng mà định dạng hàng thay thế đem lại cho chúng một cách bố trí lưu trữ cô đọng hơn
nhiều:
Các bảng ít giá trị điền vào (tức là, các bảng có chứa nhiều hàng có giá trị NULL hoặc
giá trị mặc định hệ thống) nên sử dụng định dạng hàng thay thế. Tuy nhiên, các yêu cầu
về vùng lưu trữ cho một hàng sẽ tăng thêm bất cứ khi nào bạn cập nhật một giá trị NULL
hoặc giá trị mặc định hệ thống thành một giá trị khác NULL hoặc khác giá trị mặc định
hệ thống. Sự thay đổi này thường gây ra tràn bản ghi, ngay cả khi trong bảng không có
cột nào có kiểu dữ liệu độ dài biến đổi (tức là, các bảng trong đó tất cả các hàng có cùng
yêu cầu vùng lưu trữ như nhau khi sử dụng định dạng hàng tiêu chuẩn).
Các bảng có kiểu dữ liệu độ dài biến đổi trong phần lớn các cột của chúng nên sử dụng
định dạng hàng thay thế.
Đối với một số bảng không có các đặc điểm nói trên, việc sử dụng định dạng hàng thay thế có
thể làm tăng các yêu cầu vùng lưu trữ. Có thể cũng đáng làm một phép kiểm tra trong môi
trường của bạn.
Bạn có thể sử dụng định dạng hàng thay thế bất kể bạn có giấy phép dùng DB2 Storage
Optimization Feature hay không. Tính linh hoạt này cho phép bạn chọn cách bố trí lưu trữ cô
đọng nhất cho mỗi bảng, ngay cả khi bạn chưa có kế hoạch sử dụng nén hàng. Tuy nhiên, nếu
bạn đang có kế hoạch sử dụng nén hàng, việc chọn để bắt đầu với nhiều định dạng hàng cô đọng
hơn sẽ làm cho vùng lưu trữ trên đĩa của bảng đó nhỏ hơn trong hầu hết trường hợp, mặc dù hiệu
quả là không lớn hoặc thậm chí không đáng kể. Điều này là do thực tế là nén hàng có thể nén rất
tốt các giá trị NULL và các giá trị mặc định hệ thống đã cụ thể hóa trong các bảng có định dạng
hàng tiêu chuẩn.
Về đầu trang
Nén hàng
Nén hàng đã được giới thiệu trong DB2 9 cho Linux, UNIX và Windows và kể từ đó đã thực
hiện nhiều cải tiến đáng kể cho chức năng này trong mọi bản phát hành, kết quả là chức năng nén
thích ứng thế hệ tiếp theo có sẵn trong DB2 10.1. Nén hàng đòi hỏi phải mua giấy phép DB2
Storage Optimization Feature.
Bắt đầu từ DB2 10.1, hai kiểu phương pháp nén hàng có sẵn là:
Nén hàng cổ điển — Nói đến công nghệ nén đã được sử dụng:
o Với dữ liệu bảng người dùng, kể từ DB2 9 cho Linux, UNIX và Windows.

o Với dữ liệu XML và dữ liệu tạm thời, kể từ DB2 9.7 cho Linux, UNIX và
Windows.
Nén hàng thích ứng — Một chế độ nén mới được giới thiệu trong DB2 10.1 mà bạn có
thể áp dụng cho dữ liệu bảng người dùng. Nén hàng thích ứng tốt hơn nén hàng cổ điển ở
chỗ nó thường đạt được nén tốt hơn và yêu cầu bảo trì cơ sở dữ liệu ít hơn để duy trì tỉ lệ
nén gần tới mức tối ưu.
Nén hàng cổ điển
Nén hàng cổ điển nhờ vào một thuật toán nén dựa theo từ điển. Có một từ điển nén cho từng đối
tượng bảng. Từ điển này gồm một có một ánh xạ các mẫu thường xuất hiện trong các hàng của
toàn bộ bảng. Từ điển nén này được gọi là từ điển nén mức bảng. Có thể thấy một ví dụ về cách
hoạt động của nén hàng cổ điển trong Hình 1.
Hình 1. Cách hoạt động của nén hàng cổ điển
Bạn có thể cho phép nén hàng theo từng bảng một. Để có nén hàng cổ điển, bạn phải cho phép
nén bảng đó và phải tồn tại một từ điển cho đối tượng dữ liệu hoặc đối tượng XML. Để cho phép
nén hàng cổ điển cho một bảng trong DB2 10.1 vào lúc tạo bảng, hãy ban hành câu lệnh sau
CREATE TABLE ... COMPRESS YES STATIC.

Mặt khác, để cho phép nén hàng cổ điển cho một bảng hiện hiện có, hãy thực hiện một câu lệnh:
ALTER TABLE ... COMPRESS YES STATIC.
Trong DB2 10.1, tùy chọn STATIC trong cụm từ COMPRESS YES là bắt buộc trong cả hai trường
hợp. Trong các phiên bản DB2 trước, bạn sử dụng cụm từ COMPRESS YES mà không thêm bất kỳ
điều kiện nào, như sau:
CREATE TABLE ... COMPRESS YES
ALTER TABLE ... COMPRESS YES
Việc cho phép nén hàng dẫn đến tiết kiệm vùng lưu trữ cho phần lớn các bảng thực tế; tỷ lệ nén
thường là 50-80% hoặc cao hơn. Hơn nữa, vùng lưu trữ cho một bảng có sử dụng nén hàng
không bao giờ vượt quá vùng lưu trữ của phiên bản không nén của cùng bảng đó.
Việc tiết kiệm vùng lưu trữ của nén hàng thường dẫn đến các hoạt động vào/ra (I/O) vật lý ít hơn
để đọc dữ liệu trong một bảng nén, do cùng một số lượng hàng được lưu trữ trên ít trang vật lý
hơn. (Nén cho phép nhiều hàng dữ liệu hơn được đóng gói vào cùng một số lượng trang và tỷ lệ
truy cập vùng bộ đệm tăng lên). Trong nhiều trường hợp, sự tiết kiệm vào/ra và việc sử dụng
vùng bộ đệm được cải thiện dẫn đến thông lượng cao hơn và thời gian thực hiện truy vấn nhanh
hơn.
Nén hàng thích ứng
Giống như nén hàng cổ điển, nén hàng thích ứng nhờ vào một thuật toán nén dựa theo từ điển.
Sự khác biệt là ở chỗ có thể có nhiều từ điển nén cho từng đối tượng bảng. Mỗi từ điển có chứa
một ánh xạ các mẫu thường xảy ra trong các hàng suốt toàn bộ một trang đơn lẻ. Do đó, các từ
điển nén này được gọi là các từ điển nén mức trang. Hình 2 cho thấy một ví dụ về cách nén hàng
thích ứng hoạt động. Nén hàng thích ứng không chỉ đem lại các tỷ lệ nén tốt hơn đáng kể trong
nhiều trường hợp, mà còn có thể thích ứng với các đặc điểm dữ liệu thay đổi.

