BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
@&?
--------
LÊ THỦY TIÊN
GIÁO DỤC NGÔN NGỮ TOÁN HỌC
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI QUA TRẢI NGHIỆM
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Mã số: 9140101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
!
!
!
!
Hà Nội - 2025
Công trình được hoàn thành tại:
Khoa Giáo dục Mầm non Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Lã Thị Bắc Lý
2. TS. Nguyễn Mạnh Tuấn
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Hồng Thuận
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Phản biện 2: PGS.TS. Trịnh Thị Phương Thảo
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên
Phản biện 3: PGS.TS. Trịnh Thị Lan
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường
họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
vào hồi … giờ … ngày … tháng … năm …
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Thư viện Quốc Gia, Hà Nội
hoặc Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1. Ngôn ngữ toán học (NNTH) là công cụ phản ánh nhận thức và tư duy của trẻ mẫu
giáo (MG). Khi sử dụng NNTH trong giao tiếp, trẻ phải thực hiện các (HĐ) tư duy
phức tạp. Quá trình này không chỉ thể hiện mức độ nhận thức toán học còn
ché phát triển duy lo-gic của trẻ. Giáo dục ngôn ngữ toán học (GDNNTH) không
đơn thuần trang bị từ vựng toán học chính quá trình hình thành phát triển
năng lực tư duy logic nền tảng cần thiết cho sự phát triển trí tuệ của trẻ.
1.2. GDNNTH một trong những nhiệm vụ cần được thực hiện trong chương trình
Giáo dục Mầm non (GDMN). Bằng NNTH, trẻ hội trình bày suy nghĩ, lập luận
khoa học dưới dạng lời nói hoặc kí hiệu. Trang bị NNTH là tiền đề quan trọng giúp trẻ
phát triển khả năng tư duy lo-gic, khả năng khái quát và vận dụng hiểu biết sơ đẳng về
toán vào thực tiễn; chuẩn bị tiép cận với kiến thức toán học trong chương trình phổ
thông.
1.3. Giáo dục qua trải nghiệm phương pháp phát huy tính tích cực, tự giác, tự chủ
của người học nhằm chiếm lĩnh tri thức phát triển năng lực của bản thân. Trải nghiệm
tạo ra bối cảnh tự nhiên để trẻ sử dụng NNTH trong tình huống ý nghĩa khi được
“làm toán”, “trò chuyện bằng toán” thay chỉ “nghe về toán”. Trải nghiệm là một trong
những phương pháp nhiều ưu thế để GDNNTH tạo hội thuận lợi để trẻ thể hiện
vốn hiểu biết với khả năng sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, chính xác; biết ý nghĩa và ứng
dụng của toán học trong đời sống. Hơn nữa, giáo dục qua trải nghiệm góp phần tạo
động lực học tập, thúc đẩy trẻ tìm tòi, khơi dậy hứng thú tích cực khi tham gia HĐ.
1.4. Nhu cầu cấp thiết về đổi mới phương pháp giáo dục theo định hướng phát triển
năng lực đòi hỏi sự thay đổi trong cách tiếp cận GDNNTH. Chương trình GDMN hiện
hành đặt ra yêu cầu phát triển toàn diện cho trẻ, trong đó, năng lực duy toán học
năng lực giao tiếp được xác định là những vấn đề trọng tâm. Song, hầu hết GV chỉ chú
trọng đến cung cấp kiến thức, kĩ năng toán học, ít/hầu như không tạo cơ hội để trẻ được
ứng dụng toán vào các tình huống hàng ngày, trong đó giao tiếp bằng lời nói. Điều
này tạo ra khoảng cách giữa mục tiêu giáo dục thực tiễn triển khai, dẫn tới tình trạng
trẻ có thể kiến thức về toán nhưng không biết cách diễn đạt suy nghĩ của mình một
cách rõ ràng và logic.
Với những do nêu trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài Giáo dục ngôn
ngữ toán học cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi qua trải nghiệm”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên sở nghiên cứu luận thực tiễn, luận án đề xuất một số biện pháp
GDNNTH cho trẻ MG 5 6 tuổi qua trải nghiệm nhằm phát triển NNTH góp phần thúc
đẩy tư duy toán học và tư duy ngôn ngữ, đồng thời, chuẩn bị tâm thế cho trẻ sẵn sàng vào
lớp Một.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình GDNNTH cho trẻ MG 5 6 tuổi qua trải nghiệm.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp GDNNTH cho trẻ MG 5 6 tuổi qua trải nghiệm.
4. Giả thuyết khoa học
Mức độ NNTH của trẻ MG 5 6 tuổi còn hạn chế và chưa đồng đều giữa các năng
thành phần.
Dựa trên thuyết trải nghiệm khung năng lực NNTH, nếu xây dựng hệ thống các
biện pháp GD theo hướng tạo điều kiện cho trẻ trải nghiệm, khám phá, vận dụng và chia sẻ
NNTH trong MT GD phong phú với sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình thì sẽ
góp phần cải thiện kĩ năng NNTH của trẻ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án tập trung vào 4 nhiệm vụ trọng tâm: (1) Nghiên cứu sở luận của
GDNNTH cho trẻ MG 5 6 tuổi qua trải nghiệm; (2) Nghiên cứu sở thực tiễn của
GDNNTH của trẻ MG 5 6 tuổi qua trải nghiệm; (3) Đề xuất thực nghiệm biện pháp
GDNNTH cho trẻ 5 6 tuổi qua trải nghiệm.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Về khách thể khảo sát: 198 trẻ 5 6 tuổi thuộc các trường MN công lập đại diện
cho 03 KV: miền Bắc, miền Trung, miền Nam; 198 phụ huynh của trẻ MG 5 6 tuổi
tham gia khảo sát.; 66 GVMN đang trực tiếp phụ trách lớp trẻ tham gia khảo sát;
25 chuyên gia có trình độ Tiến sĩ trở lên, là chuyên gia trong các lĩnh vực có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu
- Về khách thể thực nghiệm: 42 trẻ MG 5 6 tuổi tại một trường MN.
7. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Cách tiếp cận
Luận án vận dụng các quan điểm tiếp cận sau: tiếp cận phát triển; tiếp cận giáo
dục qua trải nghiệm; tiếp cận thực tiễn; tiếp cận ; tiếp cận cá nhân.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lý luận: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương
pháp hệ thống hóa, khái quát hóa lý luận.
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát; phương pháp
phỏng vấn; phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; phương pháp nghiên cứu sản phẩm
HĐ; phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Các phương pháp bổ trợ: phương pháp lấy ý kiến chuyên gia; phương pháp thống
kê toán học.
8. Những luận điểm khoa học cần bảo vệ
8.1. Bản chất NNTH của trẻ MG 5 6 tuổi là hệ thống biểu đạt bằng lời nói, ký hiệu và
hành động được trẻ sử dụng để tả, suy luận giao tiếp về vấn đề nội dung toán học.
NNTH của trẻ cần phát triển cân bằng ba kĩ năng thành phần chính: kĩ năng phát âm từ vựng
toán học, kĩ năng tiếp nhận và hiểu NNTH, kĩ năng sử dụng NNTH.
8.2. Phương pháp trải nghiệm phù hợp để GDNNTH cho trẻ MG 5 6 tuổi, thể hiện
khả năng tạo MT học tập gắn kết giữa ngôn ngữ, duy hành động, giúp trẻ không
chỉ tiếp nhận còn chủ động rèn luyện năng sử dụng NNTH qua ba khía cạnh: phát
âm chính xác, hiểu nghĩa và sử dụng linh hoạt trong đa dạng ngữ cảnh thực tế.
8.3. Thực trạng phát triển NNTH của trẻ MG 5 6 tuổi hiện nay chưa đồng đều giữa
các năng thành phần. Việc GDNNTH cho trẻ MG 5 6 tuổi qua trải nghiệm cũng còn
hạn chế về sự gắn kết giữa ngôn ngữ, duy và hành động. Đồng thời, MT trải nghiệm mới
chỉ giới hạn trong HĐ làm quen với toán.
8.4. GDNNTH cho trẻ MG 5 6 tuổi qua trải nghiệm sẽ đạt hiệu quả nếu đề xuất và
thực hiện đồng bộ các biện pháp qua thiết kế MT HĐ giàu NNTH cho trẻ trải nghiệm, khai
thác tình huống, khuyến khích tương tác, tạo cơ hội vận dụng trong sinh hoạt ở trường MN
và gia đình để trẻ được thực hành thường xuyên, liên tục.
9. Những đóng góp mới của luận án
- Vlí luận: Luận án đã hthống hoá những vấn đề luận về NNTH GDNNTH
cho trẻ MG 5 6 tuổi qua trải nghiệm; thiết kế thang tả mức độ biểu hiện theo
kĩ năng thành phần NNTH của trẻ MG 5 6 tuổi.
- Vthực tiễn: Luận án đã làm sáng tỏ thực trạng NNTH của trẻ MG 5 6 tuổi
GDNNTH cho trẻ MG 5 6 tuổi qua trải nghiệm; kiểm chứng tính khả thi của biện
pháp GDNNTH qua trải nghiệm đã đề xuất cho trẻ MG 5 6 tuổi; đồng thời, góp phần
bổ sung tài liệu hướng dẫn GV về GDNNTH qua trải nghiệm; thống phân loại
danh mục từ vựng toán học của trẻ 5 6 tuổi theo nội dung làm quen với một số biểu
tượng toán học đẳng thuộc lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình GDMN
hiện hành.
10. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính luận
án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan sở luận của giáo dục ngôn ngữ toán học cho trẻ
mẫu giáo 5 6 tuổi qua trải nghiệm
Chương 2: sở thực tiễn giáo dục ngôn ngữ toán học cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi
qua trải nghiệm
Chương 3: Biện pháp giáo dục ngôn ngữ toán học cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi qua
trải nghiệm
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Chương 1
TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NGÔN NGỮ TOÁN HỌC
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 6 TUỔI QUA TRẢI NGHIỆM
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu về ngôn ngữ toán của trẻ mẫu giáo
1.1.1.1. Nghiên cứu về bản chất và đặc trưng ngôn ngữ toán học của trẻ mẫu giáo
Về bản chất, các nghiên cứu của Halliday; Monroe Panchyshyn; Chard;
Pupura cộng sự; Turan; đều thống nhất NNTH một phần của ngôn ngữ tự nhiên,
hình thành trong quá trình trẻ giao tiếp phản ánh nhận thức toán học thông qua lời
nói.
Về cấu trúc, Berch cộng sự nhận thấy, NNTH bao gồm các yếu tố từ vựng,