intTypePromotion=1
ADSENSE

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Hoạt động truyền thông marketing đối với kênh Thể thao TV tại Tổng Công ty Truyền hình cáp Việt Nam

Chia sẻ: Kloi Roong | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

83
lượt xem
14
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của bản tóm tắt luận văn trình bày tổng quan về hoạt động truyền thông Marketing trong doanh nghiệp, thực trạng hoạt động truyền thông Marketing của Tổng Công ty truyền hình cáp Việt Nam đối với Kênh thể thao TV, giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động truyền thông Marketing của Tổng Công ty truyền hình cáp Việt Nam đối với Kênh thể thao TV.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Hoạt động truyền thông marketing đối với kênh Thể thao TV tại Tổng Công ty Truyền hình cáp Việt Nam

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG<br /> -----------------------------------<br /> <br /> NGUYỄN TUẤN ANH<br /> <br /> HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG MARKETING ĐỐI VỚI KÊNH THỂ THAO TV<br /> TẠI TỔNG CÔNG TY TRUYỀN HÌNH CÁP VIỆT NAM<br /> <br /> CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH<br /> MÃ SỐ:<br /> <br /> 60.34.01.02<br /> <br /> ĐỀ CƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH<br /> <br /> NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN<br /> <br /> HÀ NỘI – 2015<br /> i<br /> <br /> 2<br /> <br /> Luận văn được hoàn thành tại:<br /> HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG<br /> <br /> Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN<br /> <br /> Phản biện 1: PGS.TS Pham Thúy Hồng<br /> Phản biện 2: TS. Phạm Văn Giáp<br /> Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện Công<br /> nghệ Bưu chính Viễn thông<br /> Vào lúc: 09 giờ 00 ngày 27 tháng 02 năm 2016<br /> Có thể tìm hiểu luận văn tại:<br /> - Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông<br /> <br /> 1<br /> <br /> I. MỞ ĐẦU<br /> 1. Tính cấp thiết của đề tài<br /> Truyền hình trả tiền là dịch vụ truyền hình mà người xem (khán giả) sẽ trả một<br /> khoản phí cho nhà cung cấp dịch vụ để được xem các kênh truyền hình mà họ lựa<br /> chọn, tức là khán giả sẽ chủ động hơn trong việc lựa chọn những chương trình để<br /> xem theo sở thích của họ. Trên thế giới, truyền hình trả tiền bắt đầu xuất hiện vào<br /> những năm 1982 – 1984, doanh nghiệp đầu tiên cung cấp dịch vụ truyền hình trả<br /> tiền là Teleclup tại Zurich, Thụy Sỹ. Truyền hình trả tiền sau đó lan ra và được sử<br /> dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới như Đức, Mỹ,…Cuối năm 1987, số hộ gia<br /> đình sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền tại Mỹ chiếm khoảng 30%.<br /> Năm 1995, dịch vụ truyền hình trả tiền bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam với<br /> Truyền hình Cáp Việt Nam (VTVCab). Vài năm trở lại đây, truyền hình trả tiền tại<br /> Việt Nam đã xuất hiện nhiều hình thức mới như truyền hình kỹ thuật số vệ tinh,<br /> truyền hình kỹ thuật số mặt đất. Hiện nay, VTVCab kinh doanh đầy đủ tất cả các<br /> hình thức của truyền hình trả tiền bao gồm truyền hình số vệ tinh DTH, truyền hình<br /> cáp CATV, Truyền hình tương tác IPTV,…Ngoài việc kinh doanh các dịch vụ trả<br /> tiền, VTVCab còn sản xuất các chương trình truyền hình trả tiền, cung cấp sản xuất<br /> các chương trình quảng cáo,…Để thực hiện các công việc đó, VTVCab đặt ra mục<br /> tiêu trở thành nhà cung cấp truyền hình trả tiền số 1 tại Việt Nam, không ngừng mở<br /> rộng vùng phủ sóng truyền hình cáp, tăng trưởng vượt trội về khách hàng và khán<br /> giả xem VTVCab,..<br /> Theo sách trắng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam 2014, số lượng<br /> thuê bao truyền hình trả tiền 2013 (6.679.646 thuê bao) giảm mạnh so với năm 2012<br /> (9.025.000 thuê bao), giảm khoảng 26% tương ứng với 2.345.354 thuê bao. Mặc dù<br /> số thuê bao truyền hình trả tiền giảm nhưng số thuê bao truyền hình cáp năm 2013<br /> (5.572.772 thuê bao), tăng so với năm 2012 khoảng 20,8% tương đương với<br /> 1.160.772 thuê bao. Trong khi đó, số thuê bao truyền hình số mặt đất giảm mạnh từ<br /> 3.640.000 thuê bao (2012) còn 120.000 thuê bao (2013) và số thuê bao truyền hình<br /> số vệ tinh tăng nhẹ từ 973.000 thuê bao (2012) lên 986.874 thuê bao (2013). Như<br /> vây, có thể coi truyền hình cáp là hình thức chủ yếu của dịch vụ truyền hình trả tiền<br /> tại Việt Nam, doanh thu năm 2013 là 227,47 triệu USD so với tổng doanh thu của<br /> truyền hình trả tiền là 276,43 triệu USD.<br /> Doanh thu của truyền hình cáp năm 2013 (227,47 triệu USD) tăng khá cao so<br /> với năm 2012 (193,74 triệu USD), đồng thời với số lượng là 33 nhà cung cấp dịch<br /> vụ truyền hình cáp tại Việt Nam đã chứng tỏ thị trường truyền hình cáp khá hấp dẫn<br /> <br /> 2<br /> <br /> để các doanh nghiệp tấn công vào thị trường này. Thị phần của VTVCab chiếm<br /> 32,30% năm 2013, chỉ đứng sau SCTV (34,20%) nhưng bỏ rất xa các đối thủ khác.<br /> Mặc dù thị phần của VTVCab trên thị trường truyền hình cáp khá cao nhưng với<br /> mục tiêu là trở thành nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền số 1 tại Việt Nam thì<br /> VTVCab vẫn chưa làm được. Đồng thời việc các công ty viễn thông, internet chen<br /> chân vào truyền hình truyền thống, sản xuất chương trình, đẩy mạnh dịch vụ truyền<br /> hình xem lại trên internet (iPTV), số hóa nội dung đưa lên web hay di động, đã vô<br /> tình gây ra áp lực rất lớn cho VTVCab trong việc cung cấp dịch vụ truyền hình cáp<br /> của mình. Không chỉ dừng lại ở đó, các nhà cung cấp thiết bị cũng tham gia số hóa<br /> nội dung để dịch chuyển từ web sang TV, điều này cũng đã gây ra áp lực cạnh tranh<br /> khá lớn cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truyền hình cáp, trong đó có<br /> VTVCab.<br /> Đứng trước thực trạng đó, VTVCab cần có các giải pháp để cạnh tranh với<br /> các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình cáp như nâng cao chất lượng dịch vụ, sự hài<br /> lòng của khách hàng; lựa chọn và sáng tạo các chương trình hấp dẫn để đáp ứng<br /> nhu cầu ngày càng lớn của khách hàng. Đặc biệt trong những năm gần đây, các hoạt<br /> động truyền thông ngày càng có tác động mạnh mẽ, nó không những thu hút sự chú<br /> ý của khách hàng mà còn tác động đến hành vi mua của khách hàng. Các hoạt động<br /> truyền thông phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp bán được các sản phẩm/dịch vụ, lâu dài<br /> hơn, doanh nghiệp có thể xây dựng được thương hiệu của doanh nghiệp cũng như<br /> sự trung thành của khách hàng. VTVCab không chỉ cung cấp dịch vụ truyền hình<br /> cáp mà nó còn cung cấp cả dịch vụ quảng cáo, tức là bản thân VTVCab không chỉ<br /> thực hiện các hoạt động truyền thông cho chính mình mà họ còn thực hiện việc<br /> truyền thông cho các khách hàng của mình. Do đó, các hoạt động truyền thông<br /> marketing của VTVCab càng cần được chú trọng hơn nữa, đặc biệt là hoạt động<br /> truyền thông marketing đối với Kênh thể thao TV và Bóng đá TV – 2 kênh được<br /> xem là bộ đôi kênh truyền hình chủ lực nhất của Truyền hình Cáp Việt Nam.<br /> Xuất phát từ tình hình đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Hoạt động truyền thông<br /> Marketing đối với Kênh thể thao TV tại Tổng Công ty truyền hình cáp Việt Nam”<br /> để thực hiện luận văn Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh của mình. Đây là một đề tài cần<br /> thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì và phát triển dịch vụ truyền hình<br /> cáp trả tiền của Tổng Công ty truyền hình cáp Việt Nam nói chung và cụ thể là đối<br /> với Kênh thể thao TV.<br /> <br /> 3<br /> <br /> 2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu<br /> Truyền thông marketing là một yếu tố quan trọng trong chiến lược marketing<br /> hỗn hợp. Các hoạt động truyền thông Marketing đóng vai trò như một chiếc cầu nối<br /> giữa doanh nghiệp và khách hàng. Khách hàng cần thông tin về sản phẩm, nhà cung<br /> cấp trong khi các doanh nghiệp cần giới thiệu mình, sản phẩm mà mình cung cấp<br /> tới khách hàng. Có thể nói, truyền thông marketing là một thành tố quan trọng, trợ<br /> đắc lực cho các chiến lược marketing hỗn hợp của doanh nghiệp. Chính vì sự quan<br /> trọng này mà truyền thông marketing không những được các nhà nghiên cứu<br /> marketing quan tâm mà còn là chủ đề nghiên cứu của rất nhiều các luận án tiến sĩ,<br /> luận văn cao học tại Việt Nam<br /> Một số nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã đề cập đến hoạt động truyền thông<br /> marketing tại Việt Nam như Nguyễn Viết Lâm (2013) đã nghiên cứu các giải pháp<br /> để tăng cường hoạt động truyền thông marketing tích hợp (IMC) cũng như lý giải<br /> vai trò quan trọng của truyền thông marketing tích hợp; Nguyễn Đình toàn và Vũ<br /> Minh Đức (2014) đã đo lường hiệu quả của hoạt động PR (quan hệ công chúng) và<br /> đưa ra những khuyến nghị đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình thực<br /> hiện quan hệ công chúng; Bùi Anh Tuấn và Nguyễn Tuyết Mai (2014) đã nghiên<br /> cứu về marketing quan hệ trong thị trường B2B; Lê Thị Lan Hương (2012) đã<br /> nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động truyền thông marketing đối với<br /> các doanh nghiệp tại Việt Nam, Nguyễn Thiện (2013) nghiên cứu hoạt động truyền<br /> thông marketing đối với dịch vụ học trực tuyến tại công ty trách nhiệm hữu hạn trí<br /> tuệ nhân tạo artificial intelligence… Các nghiên cứu trên cung cấp một số thông tin<br /> về lý thuyết cũng như thực tiễn một số hoạt động truyền thông Marketing tại Việt<br /> Nam..<br /> Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu và luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập đến<br /> truyền thông marketing nhưng hiện nay có rất ít các luận văn nghiên cứu về truyền<br /> thông marketing trong lĩnh vực truyền hình. Một số công trình nghiên cứu, nếu có<br /> đề cập đến lĩnh vực truyền hình, thì cũng chỉ tập trung vào một vài khía cạch khác<br /> với truyền thông marketing, như Phạm Thị Thanh Hương (2014) nghiên cứu về<br /> kênh phân phối đối với dịch vụ truyền hình qua giao thức IP của Công ty phần mềm<br /> và truyền thông VASC đối với dịch vụ MYTV hay Hoàng Thu Lý (2014) nghiên<br /> cứu về hệ thống Marketing hỗn hợp đối với dịch vụ Mobile TV của Công ty phần<br /> mềm và truyền thông VASC….<br /> Từ thực trạng trên có thể thấy, vấn đề truyền thông marketing trong lĩnh vực<br /> truyền hình trả tiền vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Đặc biệt, với Kênh thể thao<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2