TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
TS. Hoàng Ngc Hải1 - TS. Hồ Thanh Thủy2 - TS. Phạm Thị Thủy3
Tóm tắt: Triển khai tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) không những sẽ giúp cho doanh
nghiệp kinh doanh tốt mà còn hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết những vấn đề mang tính chiến lược liên quan
đến kinh doanh và các vấn đề xã hội. Hoạt động TNXHDN không phải chỉ để làm cho doanh nghiệp cảm
thấy hài lòng đơn thuần, không hẳn là những hoạt động quảng bá, từ thiện hay tài trợ nhỏ lẻ thông thường
mà hoạt động này đòi hỏi tính liên tục, cam kết lâu dài cho lợi ích của doanh nghiệp và cho lợi ích của xã
hội. TNXHDN cần được xem như là lợi ích của doanh nghiệp để họ chủ động triển khai hướng tới một cộng
đồng doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả với sản phẩm thương hiệu được người tiêu dùng tín nhiệm, xây
dựng được nguồn nội lực nhân tài quý giá, có vị thế và danh tiếng tốt trong xã hội... Chính vì vậy, nâng cao
TNXHDN ở nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết.
Abstract: Good implementation of corporate social responsibility (CSR) will not only help good business
enterprises but also support businesses to solve strategic issues related to business and social issues. CSR
activities are not only to make businesses feel satisfied simply, not necessarily the usual small promotional,
charity or sponsorship activities that require continuity and long-term commitment. for the benefit of the
business and for the benefit of society. CSR needs to be considered as an enterprises benefit for them to
proactively deploy towards an effective business community with brand products trusted by consumers,
build valuable internal resources, having a good position and reputation in society ... Therefore, raising CSR
in our country in the context of international integration is an extremely important and necessary job.
1. TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LỢI ÍCH THỰC TIỄN
TNXHDN vẫn còn một khái niệm mới đối với đa số doanh nghiệp Việt Nam. Đây một
yếu tố khá quan trọng, góp phần vào sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp, đồng thời mang
lại lợi ích cho hội, nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia trên thị trường quốc tế. TNXHDN được
lồng ghép vào chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trở thành điều kiện để doanh nghiệp
phát triển, nâng cao và duy trì lợi thế cạnh tranh.
Cho đến nay, thuật ngữ này đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Một số học giả cho rằng
“TNXHDN liên quan đến những quyết định và hành động được thực hiện mà ít nhất cũng vượt trên
những lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, những nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh
1 Học viện Chính trị khu vực I.
2 Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
3 Trường Đại học Lao động – Xã hội.
315
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
nghiệp hội”. Caroll (1979) sau khi chỉ ra vai trò chủ yếu của mọi doanh nghiệp tạo ra lợi
nhuận bằng cách bán sản phẩm dịch vụ cho hội, khẳng định: “TNXHDN bao gồm sự mong
đợi của hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm
nhất định”. Maignan Ferrell (2004) cũng đưa ra một khái niệm súc tích về TNXHDN: “Một doanh
nghiệp trách nhiệm xã hội khi quyết định hoạt động của nó nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích
khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan”. Trên thực tế, TNXHDN là một phạm trù rộng,
có thể được hiểu và diễn đạt theo nhiều cách khác nhau. Hội đồng Kinh doanh Thế giới vì Sự Phát
triển Bền vững (World Business Council for Sustainable Development) đã đưa ra một định nghĩa về
TNXHDN. Định nghĩa này được sử dụng khá phổ biến, được coi hoàn chỉnh ràng. TNXHDN
là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ
chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương
công bằng, đào tạo phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm…
theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội.
Từ năm 2003, khái niệm TNXHDN do Nhóm Phát triển kinh tế nhân của Ngân hàng Thế
giới đưa ra đã được chấp nhận sử dụng rộng rãi nhất. Theo đó, “TNXHDN sự cam kết của
doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những việc làm nâng cao
chất lượng đời sống của người lao động các thành viên trong gia đình họ; cho cộng đồng toàn
xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”…
Qua một số cách định nghĩa trên đây đã cho thấy, cách thể hiện, hình thức diễn đạt ngôn từ
khác nhau, song nội hàm phản ánh của TNXHDN về bản đều điểm chung là, bên cạnh
những lợi ích phát triển riêng của từng doanh nghiệp phù hợp với pháp luật hiện hành thì đều phải
gắn kết với lợi ích phát triển chung của cộng đồng hội. Trách nhiệm hội của doanh nghiệp
phải gắn liền với vấn đề phát triển bền vững - một yêu cầu khách quan, cấp thiết, có tính toàn cầu
của sự phát triển hiện nay. Khi cạnh tranh thương trường ngày càng khốc liệt, những yêu cầu, đòi
hỏi từ khách hàng ngày càng cao do vậy, hội cái nhìn ngày càng khắt khe hơn đối với
doanh nghiệp về bổn phận, trách nhiệm trước cộng đồng, hội thì các doanh nghiệp muốn phát
triển bền vững phải luôn tuân thủ không chỉ những chuẩn mực về bảo đảm sản xuất - kinh doanh
phải lợi nhuận, thậm chí siêu lợi nhuận, còn cả những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên
nhiên, môi trường lao động, về thực hiện bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động,
quyền lợi đào tạo và phát triển của nhân viên, góp phần phát triển cộng đồng, bao hàm cả các hoạt
động thực hiện an sinh xã hội như nhân đạo, từ thiện,…
Như vậy, nội hàm của TNXHDN bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến ứng xử của doanh
nghiệp đối với các chủ thể và đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp,
từ người sản xuất, tiếp thị, tiêu thụ, tiêu dùng đến các nhà cung ứng nguyên liệu, vật liệu tại chỗ;
từ đội ngũ cán bộ, nhân viên cho đến các cổ đông của doanh nghiệp. Trong đó, có cả trách nhiệm
về bảo vệ tài nguyên, môi trường mà về thực chất, cũng là có trách nhiệm chung với lợi ích cộng
đồng hội, bao gồm cả những hoạt động nhân đạo, từ thiện, hoạt động đóng góp cho sự phát triển
chung của đất nước.
Do vậy, những người lãnh đạo doanh nghiệp thời nay phải những người tầm nhìn xa, trông
rộng để hướng tới mục tiêu hoạt động toàn diện, không chỉ giới hạn bởi thặng dư, lợi nhuận kinh tế
đơn thuần. Thước đo thành công của họ bắt nguồn từ những tác động mà họ tạo ra đối với nhu cầu
316 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
xã hội. Các doanh nhân này cần tìm kiếm những giải pháp để thay đổi hội theo chiều hướng ngày
càng tốt hơn ngược lại, các doanh nghiệp của họ sẽ những điều kiện để phát triển bền vững
hơn. Lợi ích dài hạn chủ yếu của TNXHDN cho chính nội bộ doanh nghiệp, như cải thiện quan hệ
trong công việc, giảm bớt tai nạn, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất lao động. Ngoài ra,
TNXHDN còn giúp nâng cao uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ với khách hàng và các đối tác,
tạo ra ưu thế trong cạnh tranh và thuận lợi trong việc kêu gọi đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài.
Thực tiễn cho thấy, những doanh nghiệp thực hiện tốt TNXHDN sẽ không thua thiệt,
thường đạt được những lợi ích đáng kể, bao gồm giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị thương
hiệu, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất và thêm cơ hội tiếp cận những thị trường mới.
Diễn giải cụ thể hơn, mỗi doanh nghiệp khi đã tự quyết định một cách tự nguyện về thực hiện
trách nhiệm hội của mình, thì bên cạnh những đóng góp, chi phí lợi ích cộng đồng hội,
đương nhiên, họ còn những lợi ích riêng trong kinh doanh, thông qua các hoạt động của mình.
cấp độ doanh nghiệp, TNXHDN có thể góp phần nâng cao thương hiệu doanh nghiệp, giúp doanh
nghiệp tăng thị phần và tạo thêm nhiều lợi nhuận hơn thông qua việc giúp doanh nghiệp tăng tính
cạnh tranh theo một số cách sau đây:
- Do TNXHDN liên quan đến việc thiết lập mối quan hệ mật thiết với các đối tác của doanh
nghiệp như nhà cung cấp, khác hàng, người lao động, cộng đồng, v.v... bằng cách quan tâm đến
những lợi ích của họ, doanh nghiệp thể khiến các đối tác của mình hài lòng và kết quả là, doanh
nghiệp thể hưởng lợi từ những mối quan hệ mật thiết này. Chẳng hạn như, mối quan hệ mật
thiết với các khách hàng có thể giúp doanh nghiệp nhận thức tốt hơn về những nhu cầu của họ, từ
đó giúp doanh nghiệp trở nên cạnh tranh hơn trong việc đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm.
- Trong một số trường hợp, TNXHDN thể đem lại hiệu suất lớn hơn (chẳng hạn như tiết
kiệm được chi phí từ việc ứng dụng các kỹ thuật giảm thiểu chất thải, điều này thể giúp
doanh nghiệp có được giá cả cạnh tranh hơn).
- Ngoài ra, khi TNXHDN khuyến khích các doanh nghiệp đảm bảo môi trường làm việc tốt
cho người lao động, bao gồm bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, đối xử bình đẳng, chăm sóc sức
khoẻ định kỳ, v.v... Điều này thể giúp các doanh nghiệp giữ chân được người lao động kỹ
năng, tăng hiệu suất lao động và thậm chí thu hút thêm người lao động trình độ. Tất cả những
yếu tố này được tin là sẽ giúp các doanh nghiệp cạnh tranh hơn trong việc thu hút lao động.
- Việc lấy chứng chỉ về TNXHDN nhiều lợi ích tiềm năng. Lợi ích trước mắt thêm
đơn đặt hàng từ những công ty mua hàng đòi hỏi các tiêu chuẩn về CRS, còn lợi ích dài hạn là cho
chính công ty như cải thiện quan hệ trong công việc, giảm chi phí, tăng năng suất lao động, giảm tỷ
lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc, giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới, tăng doanh thu, tăng
giá trị, thương hiệu, thêm hội tiếp cận những thị trường mới. TNXHDN đối với phát triển
kinh tế địa phương có thể tạo ra nguồn lao động tốt hơn, nguồn cung ứng rẻ và đáng tin cậy hơn.
- TNXHDN tốt yếu tố giúp thu hút nhân tài. Nhân viên yếu tố quyết định năng suất
chất lượng sản phẩm. Việc thu hút nhân tài luôn được các công ty quan tâm. Có được những nhân
viên tốt đã khó nhưng việc níu chân các nhân viên này còn khó khăn hơn nhiều. Điều này cả
một thách thức đối với các công ty. Những công ty trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân
viên cơ hội đào tạo, bảo hiểm y tế môi trường làm việc sạch sẽ khả năng thu hút và giữ được
317
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
nhân viên tốt. Những người chủ doanh nghiệp giỏi thường không lo lắng nhiều về những chi phí
cho TNXHDN (lo sức khoẻ nhân viên người nhà của họ, cho nhân viên vay tiền để mua xe, mua
nhà, tổ chức nhà trẻ, trường học cho con cái họ…). Họ luôn tin rằng đó là khoản đầu tư sáng suốt.
Ở cấp độ quốc gia, TNXHDN có thể góp phần xoá đói giảm nghèo thông qua những chương
trình từ thiện do các doanh nghiệp thực hiện như đóng góp cho Quỹ vì người nghèo, Quỹ vì người
tàn tật, v.v. Các chính sách về TNXHDN trong bản thân các doanh nghiệp như đối xử bình đẳng
giữa nam giới nữ giới, với lao động mới cũng đem lại công bằng hội nói chung.
một đóng góp quan trọng nữa của TNXHDN ở cấp quốc gia là góp phần bảo vệ môi trường. Điều
này được xem là một đóng góp rất quan trọng do tình trạng ô nhiễm môi trường hiện đang đe dọa
cuộc sống con người hơn bao giờ hết và ngốn nhiều tiền của để xử lý vấn đề này.
Khi cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đòi hỏi yêu cầu từ khách hàng ngày càng cao hội có
cái nhìn ngày càng khắt khe đối với doanh nghiệp thì các doanh nghiệp muốn phát triển bền vững
phải luôn tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường lao động, bình
đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, đào tạo và phát triển nhân viên, góp phần phát
triển cộng đồng,…
Nếu chỉ tính trong ngắn hạn, lợi ích TNXHDN thể đem lại các đơn đặt hàng từ những
công ty mua hàng đòi hỏi các tiêu chuẩn về TNXHDN. Tuy nhiên chi phí để áp dụng chương trình
TNXHDN thể làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty. Những người lãnh đạo
tầm nhìn xa trông rộng sẽ có mục tiêu hoạt động không chỉ giới hạn bởi lợi nhuận. Thước đo thành
công của họ bắt nguồn từ tác động họ tạo ra đối với nhu cầu hội. Các doanh nhân này tìm
kiếm những giải pháp để thay đổi xã hội theo chiều hướng tốt hơn và đổi ngược lại, doanh nghiệp
của họ sẽ có những điều kiện để phát triển bền vững hơn. Lợi ích dài hạn chủ yếu của TNXHDN
là cho chính nội bộ doanh nghiệp như cải thiện quan hệ trong công việc, giảm bớt tai nạn, giảm tỷ
lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất lao động. Ngoài ra, TNXHDN còn giúp nâng cao uy tín của
doanh nghiệp trong quan hệ với khách hàng và các đối tác, tạo ra ưu thế trong cạnh tranh thuận
lợi trong việc kêu gọi đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên công ty không thể chỉ sống nhờ vào TNXHDN. Để phát triển lâu dài, công ty cần
tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận và TNXHDN có thể song hành, thực tế là trong dài hạn, việc quản
doanh nghiệp theo hướng trách nhiệm với hội thường đem lại tăng trưởng bền vững lợi
nhuận lớn hơn.
những e ngại rằng áp dụng TNXHDN DNVVN gặp nhiều khó khăn hơn những doanh
nghiệp lớn các nguồn tài nguyên của DNVVN quá hạn chế không thể đáp ứng được những
chương trình TNXHDN đắt tiền. Quan điểm đó không hoàn toàn chính xác, một doanh nghiệp nhỏ
mới thành lập nếu muốn thành công và phát triển bền vững thì không thể không tham gia vào các
hoạt động mang tính trách nhiệm đối với hội ngay từ đầu. Hơn nữa, chương trình TNXHDN
không nhất thiết phải tốn kém. TNXHDN quan trọng nhưng không phải tờ giấy chứng nhận
mà ở chính quy trình thực hiện nó. Nếu doanh nghiệp chỉ chạy theo hình thức không thực thi
nghiêm túc thì TNXHDN không còn ý nghĩa. Doanh nghiệp sẽ thành công trong việc áp dụng
TNXHDN nếu sự cam kết của ban lãnh đạo, thực sự hiểu tầm quan trọng lợi ích TNXHDN
sẽ mang lại trong dài hạn và biến TNXHDN thành một phần văn hóa doanh nghiệp.
318 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Cần thấy rằng, nhận thức về TNXHDN ở các nền kinh tế thị trường phát triển hoặc khá phát
triển trên thế giới hiện nay rõ ràng là không còn mới lạ, mặc dù trong thực tế, cho đến nay, không
phải bất cứ doanh nghiệp, doanh nhân nào, dù ở những nền kinh tế phát triển nhất, như Mỹ, Nhật
Bản, Đức,… cũng đều thể thực hiện tốt TNXHDN mọi lúc, mọi nơi do những tác động cạnh
tranh quyết liệt của quy luật giá trị, giá trị thặng dư và siêu lợi nhuận chi phối.
2. THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA NHỮNG VẤN ĐỀ
ĐANG ĐẶT RA
Việt Nam, việc thực hiện TNXHDN thường vẫn được xem một hành động giải quyết các
vấn đề xã hội các mục đích từ thiện nhân đạo. Trong khi đó, TNXHDN nhìn chung phải được
hiểu là cách thức mà một doanh nghiệp đạt được sự cân bằng hoặc kết hợp những yêu cầu về kinh
tế, môi trường hội đồng thời đáp ứng những kỳ vọng của các cổ đông các bên đối tác.
Cách thức doanh nghiệp tương tác với các cổ đông, người lao động, khách hàng, nhà cung cấp,
chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế và các đối tác khác luôn được coi một
đặc điểm then chốt của khái niệm TNXHDN.
Trước đây, khi nhìn vào sự thành công của một DN, nhiều người mới chỉ dừng lại ở việc xem
xét các chỉ tiêu hữu hình như doanh số, lợi nhuận, mức lương trả cho nhân viên hay số thuế đóng
góp cho ngân sách Nhà nước.
Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm hội sẽ phát triển bền vững cũng như khẳng định
thương hiệu của mình trong hội. Do đó, đồng hành vào sự phát triển chung của đất nước,
của cộng đồng không chỉ là trách nhiệm mà còn là lợi ích cho doanh nghiệp. Từ đó, tạo ra giá
trị nhân văn, văn hóa doanh nghiệp cũng như tăng khả năng cạnh tranh trong bối cảnh hội
nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Trong quy chế và tiêu chí xét thưởng của Giải thưởng trách
nhiệm hội doanh nghiệp từ năm 2009 do Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam
(VCCI) đề xuất, bên cạnh việc thực hiện trách nhiệm hội doanh nghiệp hai lĩnh vực lao
động và môi trường nhưng gần đây cũng đặt thêm tiêu chí “hoạt động kinh doanh có hiệu quả
kinh tế”. Với các tiêu chí được VCCI đề xuất, đã cho thấy Việt Nam đang tiếp nhận sử dụng
khái niệm TNXH như đa số các tổ chức doanh nghiệp khác trên thế giới. Ngoài hiệu quả
kinh tế, các DN còn lợi từ việc tạo dựng hình ảnh với đối tác kinh doanh, sự gắn bó hài
lòng của người lao động, thu hút lao động chuyên môn cao. Hiện nay, gắn trách nhiệm
hội với sự phát triển bền vững của DN đang là một xu thế tất yếu trên đường hội nhập của các
DN, bởi trách nhiệm hội mang lại lợi ích cho DN, cho hội nâng cao khả năng cạnh
tranh của DN. Việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội chính là đầu tư cho chiến lược kinh doanh
dài hạn tăng trưởng bền vững của DN.
Những năm gần đây, ở nước ta đã có một số doanh nghiệp chủ động thực hiện TNXHDN
nhờ đó, thương hiệu của họ càng được hội biết đến, như các tập đoàn: Mai Linh, Tân Tạo, ACB,
Sacombank, Kinh Đô,… Từ năm 2005, Việt Nam đã có giải thưởng “TNXHDN hướng tới sự phát
triển bền vững” được tổ chức bởi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương cùng các hiệp hội Da giày, Dệt may tổ chức nhằm
tôn vinh các doanh nghiệp thực hiện tốt công tác TNXHDN trong bối cảnh hội nhập.