
TRIẾT HỌC MÁC Ở TRUNG QUỐC (Sự truyền bá, vận dụng, hình thái
biến hoá và viễn cảnh phát triển)(*)
TỪ TỐ HOA(**)
Bài viết đã dựng lên bức tranh khái quát về sự phát triển của triết
học Mác ở Trung Quốc. Trong đó, tác giả tập trung vào một số nội
dung chính: 1/ Phân tích tiến trình truyền bá triết học Mác ở Trung
Quốc; 2/ Phân tích sự vận dụng triết học Mác ở Trung Quốc qua các
giai đoạn lịch sử, chỉ ra một số thiếu sót trong quá trình đó; 3/ Luận
giải sự biến đổi hình thái tồn tại của triết học Mác; 4/ Đề cập đến
triển vọng phát triển của triết học Mác ở Trung Quốc trên các khía
cạnh: đối với bản thân triết học Mác, quan hệ giữa triết học Mác với
các trào lưu triết học khác và khả năng của nó trong việc giải quyết
các vấn đề lý luận, thực tiễn mới nảy sinh.
I. Sự truyền bá triết học Mác ở Trung Quốc
Sự truyền bá triết học Mác ở Trung Quốc hầu như diễn ra trong suốt
thế kỷ XX. Đây là một quá trình lịch sử lâu dài của “trăm sông dồn
về một biển”, của tinh hoa văn hoá được truyền bá rộng khắp cho
quảng đại quần chúng. Trong quá trình lịch sử này, khởi đầu của sự
truyền bá, nội dung và phương thức truyền bá, phạm vi và đối tượng
truyền bá đều có sự đặc sắc.
Từ khởi đầu của sự truyền bá mà xem xét, đầu thế kỷ XX, dựa vào
tình hình phát triển mạnh mẽ chưa từng có của chủ nghĩa xã hội lúc
đó, đồng thời phù hợp với nhu cầu khách quan của việc cải cách xã
hội Trung Quốc, trước sau từ 3 hướng khác nhau là Nhật Bản, châu

Âu và Liên Xô, triết học Mác được du nhập vào Trung Quốc thông
qua nhiều con đường và phương thức.
Đầu tiên, việc truyền bá triết học Mác vào Trung Quốc được xuất
phát từ Nhật Bản - quốc gia tư bản chủ nghĩa gần Trung Quốc nhất.
Ở đó, hầu hết các trào lưu tư tưởng mới, bao gồm cả chủ nghĩa Mác,
đều rất thịnh hành. Do thuận tiện về giao thông và chi phí không
cao, nên Nhật Bản đã thu hút được một số lượng lớn những người
trẻ tuổi có tham vọng mở rộng kiến thức đến học tập, đồng thời mở
ra một con đường du nhập triết học Mác vào Trung Quốc. Những
người đầu tiên chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác rồi truyền bá vào
Trung Quốc là Trần Bác Hiền, Lý Đại Chiêu, Lý Đạt, Lý Hán Tuấn,
Hồ Hán Dân, v.v.. Họ đều du học ở Nhật Bản và trong quá trình học
tập đã tiếp thu, chịu ảnh hưởng của triết học Mác; sau đó, họ đã dịch
các tác phẩm của chủ nghĩa Mác rồi giới thiệu ở Trung Quốc. Về
mặt thời gian, trước năm 1927, triết học Mác được truyền vào Trung
Quốc chủ yếu từ con đường Nhật Bản, sau đó, vị trí chủ đạo được
chuyển cho con đường từ Liên Xô.
Thông qua việc truyền bá bằng con đường Nhật Bản, người dân
Trung Quốc đã có được sự nhận thức ban đầu đối với triết học Mác,
sự nhận thức ban đầu này chứa đựng dấu ấn của người Nhật Bản.
Điều này trước tiên biểu hiện ở nội dung của sự truyền bá, khi đó sự
nhận thức và lý giải của các học giả Nhật Bản đối với triết học Mác
nghiêng về quan điểm duy vật lịch sử. Chịu ảnh hưởng bởi điều đó,
ban đầu sự truyền bá triết học Mác vào Trung Quốc cũng lấy quan
điểm duy vật lịch sử làm nội dung cơ bản. Tiếp theo, về mặt hình
thức, người Trung Quốc dựa theo cách dịch và cách dùng của các
học giả Nhật Bản đối với hầu hết các khái niệm cơ bản của triết học
Mác (như chủ nghĩa duy vật, phép biện chứng) và dùng chúng cho

đến ngày nay. Có thể nói, người Nhật là “người thầy khai sáng triết
học Mác” của người Trung Quốc.
Sự truyền bá triết học Mác từ châu Âu là do một nhóm thanh niên
Trung Quốc tiến bộ (như Chu Ân Lai, Thái Hoà Sâm, v.v.) tiếp thu
rồi truyền bá về. Thông qua học tập và tiếp thu kinh nghiệm thực tế
ở các nước châu Âu, như Pháp, Đức, v.v., nhóm này không chỉ hiểu
rõ hình thái ban đầu của triết học Mác, mà còn nắm rất rõ bối cảnh
văn hoá, xã hội, v.v. dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Họ thông
qua thư từ, bài viết, v.v. để trình bày sự hiểu biết của mình rồi giới
thiệu về trong nước. Sau khi về nước, họ tiếp tục là đội ngũ chủ lực
giới thiệu, truyền bá triết học Mác ở châu Âu cho đông đảo nhân
dân.
Sự du nhập triết học Mác từ Liên Xô chủ yếu là thông qua hình thức
tài liệu, giáo trình, sách giáo khoa. Hình thức này có ưu điểm là có
tính hệ thống, tính chính thống; do đó, tuy xuất hiện sau nhưng đã
chiếm thế thượng phong và giữ địa vị “chính thống” ở Trung Quốc
suốt gần 50 năm. Đến những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình này
mới bắt đầu có sự biến đổi.
Tổng quan ngọn nguồn du nhập triết học Mác vào Trung Quốc, có
thể nhận thấy khi đó triết học Mác đã hoà quyện với phong trào cách
mạng đang nở rộ trên toàn thế giới như thế nào. Triết học Mác từ ba
hướng khác nhau, hợp thành một dòng chảy đổ về Trung Quốc, tạo
nên một trào lưu mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu rộng, với khí thế hừng
hực - điều hiếm thấy trong lịch sử triết học Trung Quốc. Đây chính
là đặc trưng trong giai đoạn đầu tiên của triết học Mác ở Trung
Quốc. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải thừa nhận rằng, xuất
phát điểm của sự phát triển triết học Mác ở Trung Quốc là không
cao, chủ yếu lấy “đồ cũ” (nghĩa là thông qua sự nhận thức, lý giải và

phát triển của người khác) để làm xuất phát điểm, không tiếp xúc
nhiều và chưa nghiên cứu sâu đối với hình thái ban đầu của triết học
Mác (các nguyên tác của C.Mác và Ph.Ăngghen). Đây có thể coi là
một thiếu sót của sự phát triển triết học Mác ở Trung Quốc.
Sự truyền bá triết học Mác ở Trung Quốc chủ yếu trải qua các hình
thức và giai đoạn sau: một là, từ sự giới thiệu thông qua dịch tài liệu
đến sự giới thiệu mang tính truyền đạt (như giảng dạy, tập huấn,
v.v.); hai là, từ sự giới thiệu mang tính truyền đạt đến sự giới thiệu
mang tính đại chúng; ba là, từ sự giới thiệu mang tính đại chúng đến
sự giới thiệu mang đặc trưng Trung Quốc. Đây là một quá trình
chuyển dần từ bị động sang chủ động, chuyển từ dựa vào người khác
đến tự mình chủ động sáng tạo.
Sự giới thiệu thông qua việc dịch các tài liệu là bước khởi đầu của
việc truyền bá triết học Mác vào Trung Quốc. Một dân tộc muốn tiếp
thu văn hoá tư tưởng của một dân tộc khác, trước hết phải xuất phát
từ việc hiểu rõ nội dung cơ bản của nó, có nghĩa là tất yếu phải
thông qua dịch thuật. Giới thiệu thông qua dịch thuật luôn là bước
đầu tiên. Sự truyền bá triết học Mác vào Trung Quốc cũng khởi đầu
bằng việc dịch thuật, bao gồm dịch các nguyên tác của triết học Mác
(từ việc trích dịch đến dịch toàn bộ các tác phẩm) và dịch các tác
phẩm, bài viết, v.v. của các học giả nước ngoài (từ các bài viết riêng
lẻ đến giáo trình mang tính hệ thống).
Từ sự giới thiệu mang tính dịch thuật đến sự giới thiệu mang tính
truyền đạt là hình thức chuyển biến đầu tiên của sự truyền bá triết
học Mác ở Trung Quốc. Điều đó thể hiện người Trung Quốc bắt đầu
chú ý đến việc khắc phục tính hạn chế của việc chuyển dịch từ ngôn
ngữ này sang ngôn ngữ khác, đồng thời thử nghiệm thói quen biểu
đạt bằng ngôn ngữ của mình để truyền đạt lại sự nhận thức và lý giải

của các học giả nước ngoài đối với triết học Mác (ví dụ, các tác
phẩm của Lý Đại Chiêu, Lý Đạt trong những năm 20 của thế kỷ
XX). So với sự giới thiệu mang tính dịch thuật, thì sự giới thiệu
mang tính truyền đạt là một bước tiến của hình thức truyền bá triết
học Mác ở Trung Quốc.
Từ sự giới thiệu mang tính truyền đạt đến sự giới thiệu mang tính đại
chúng là sự thay đổi hình thức truyền bá lần thứ hai (như “Triết học
đại chúng” của Ngãi Tư Kỳ trong thập niên 30 của thế kỷ XX). Điều
này phản ánh việc truyền bá triết học Mác ở Trung Quốc đã tiến
thêm một bước gắn liền với đời sống xã hội của người dân Trung
Quốc, đồng thời cũng biểu hiện việc truyền bá triết học Mác ở Trung
Quốc bắt đầu có tính chủ động và sáng tạo, các học giả nước ngoài
đã không còn địa vị độc tôn như trước đây.
Từ sự giới thiệu mang tính đại chúng đến sự giới thiệu mang tính
“Trung Quốc hoá” là sự thay đổi hình thức truyền bá triết học Mác
vào Trung Quốc lần thứ 3. Hai tác phẩm của Mao Trạch Đông: Bàn
về thực tiễn và Bàn về mâu thuẫn có thể coi là tiêu biểu cho quá
trình Trung Quốc hoá sự truyền bá triết học Mác ở Trung Quốc. Lúc
này, nội dung của triết học Mác đã gắn chặt với công cuộc tổng kết
kinh nghiệm cách mạng cũng như dung hoà với tinh hoa văn hoá
truyền thống Trung Quốc. Kết cấu và biểu đạt của triết học Mác
cũng trở nên gần gũi với người Trung Quốc hơn; đồng thời, trong
quá trình truyền bá triết học Mác ở Trung Quốc, người Trung Quốc
cũng đã có những cống hiến riêng của mình.
Việc truyền bá triết học Mác vào Trung Quốc trải qua 3 lần thay đổi
hình thức đã thể hiện tính thống nhất cao độ của sự phát triển lịch sử,
sự phát triển nhận thức con người và sự phát triển lôgíc lý luận; nó
phù hợp với quy luật chung của sự phát triển, dung hoà và giao lưu

