SÁNG KIN KINH NGHIM
MT S TRÒ CHƠI GIÚP HC SINH
KHIM THÍNH
LP D B PHÁT TRIN NGÔN NG
1
MỘT SỐ TRÒ CHƠI GIÚP HỌC SINH KHIẾM THÍNH
LỚP DỰ BỊ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, giao tiếp một nhu cầu rất quan trọng không thể
thiếu đối với đời sống của con người. Thông qua giao tiếp giúp cho con người hiểu
biết lẫn nhau, chia sẻ kinh nghiệm, thu nhận thông tin từ thế giới bên ngoài qua đó
mở rộng tầm hiểu biết nâng cao đời sống tình cảm cho bản thân, Nhưng để
có thể giao tiếp được chúng ta cần có một phương tiện và đó chính là ngôn ngữ.
Tất cả những trẻ em bình thường khi đến trường các em đều có vốn ngôn ngữ
nhất định (ngôn ngữ tiền học đường). Nhưng đối với trẻ khiếm thính thì hầu như
không có. Ngôn ngữ của các em những cử chỉ, hành động tự nhiên nhằm truyền
tải những nhu cầu, mong muốn của mình với mọi người xung quanh. Tuy nhiên,
những cử chỉ đó ng chỉ giúp mọi người hiểu được những nhu cầu đơn giản.
thế trẻ khiếm thính rất cần được đến trường để lĩnh hội ngôn ngữnhững kỹ năng
để thể giao tiếp trong cộng đồng hội dạy học cho trẻ khiếm thính dần
trao cho các em ng cụ giao tiếp quan trọng này. Trẻ bị khiếm khuyết trong các
chức năng tâm lý sự rối loạn chức năng thính giác làm cho trẻ trở nên nhút nhát,
thiếu tự tin, thiếu những cảm xúc tinh tế, đó là những vấn đề đặt ra cho chúng ta
trong kế hoạch giáo dục cần phải đề cập đến. Là giáo viên dạy học sinh khiếm
thính lớp dự bị nhiều năm tôi luôn trăn trở về khả năng ngôn ngữ của các em. Làm
thế nào để có thể phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tự nhiên và hiệu quả? Trong
năm học 2011- 2012, tôi mạnh dạn áp dụng Một số trò chơi giúp học sinh khiếm
thính lớp dự bị phát triển ngôn ngữ” đó cũng chính là lý do của đề tài tôi chọn
để thực hiện.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
1.1. Trẻ khiếm thính
Trẻ khiếm thính được các nhà nghiên cứu nhìn nhận rất nhiều c độ khác
nhau.
- Dưới góc độ y học: Trẻ khiếm thính những trẻ bị suy giảm một phần hay
mất hoàn toàn chức năng nghe.
- Dưới góc độ tâm lý học: Trẻ khiếm thính những trẻ bị suy giảm sức nghe
nhiều góc độ khác nhau dẫn đến khó khăn trong giao tiếp ảnh hưởng nhiều
đến quá trình nhận thức. Người ta chia ra các mức độ khiếm thính như sau.
Mức độ 1: Điếc nhẹ (20-40 dB). Trẻ nghe được hầu hết âm thanh nhưng
không nghe được tiếng nói thầm.
Mức độ 2: Điếc vừa (40-70 dB). thể nghe được những âm thanh to nhưng
không nghe hết được tiếng nói chuyện bình thường.
Mức độ 3: Điếc nặng (70-90 dB). Chỉ nghe được tiếng nói rất to ở sát tai.
Mức độ 4: Điếc sâu > 90 dB. Hầu như không nghe được trừ một sâm thanh
thật to như: Tiếng sấm, tiếng trống, …
Nhìn chung khiếm thính ảnh hưởng lên trẻ theo 4 cách cơ bản:
2
- Khiếm thính làm chậm quá trình phát triển các knăng tiếp thu diễn đạt
thông tin.
- Khiếm thính gây mất cân bằng ngôn ngữ dẫn đến những khó khăn về học
tập và tiếp thu làm giảm học lực.
- Khiếm thính làm các kỹ năng giao tiếp không phát triển thường dẫn đến sự
cô lập về mặt xã hội và khả năng tư duy kém.
- Khiếm thính ảnh hưởng quá trình nghề nghiệp, hội hoà nhập vào hội
của trẻ sau này.
1.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ ở trẻ khiếm thính.
Ngôn ngữ một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kỹ năng giao
tiếp, được coi như một phương tiện chủ yếu trong giao tiếp. vậy mức độ
phát triển ngôn ngữ ảnh hưởng rất lớn đối với khnăng giao tiếp của trẻ khiếm
thính.
Trẻ nghe bình thường ngay tkhi sinh ra trẻ đã phải học đhiểu được những
âm thanh mà chúng nghe thấy, trẻ có thể nhận ra giọng nói của mẹ và những người
thân trong gia đình của trẻ rất nhiều những âm thanh khác của cuộc sống bên
ngoài.
Đối với trẻ khiếm thính bị mất đi sức nghe ngay từ khi mới sinh ra, trẻ sẽ
không hiểu được lời nói trẻ không nghe được, tđó mất đi tiến trình học ngôn
ngữ đầu tiên này, mất đi thời thuận lợi nhất của việc học ngôn ngữ . Do vậy,
việc phát triển ngôn ngữ và bổ sung vốn ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng quan trọng và
cấp thiết để sớm bù đắp vốn ngôn ngữ thiếu hụt cho học sinh khiếm thính.
1.2.1. Đặc điểm ngôn ngữ nói của trẻ khiếm thính.
trẻ bình thường, ngôn ngữ nói được phát triển trong quá trình giao tiếp.
Nhờ thính giác, trẻ tiếp nhận tiếng nói của những người xung quanh. Đến 4-5 tuổi,
trẻ nghe rõ và phát ra đúng phần lớn các âm, nắm được quy tắc cơ bản, có số lượng
từ đáng kể.
Ngôn ngữ nói của trẻ điếc có một số đặc điểm như sau:
- Trẻ điếc không nghe được tiếng nói của người xung quanh, không biết cách
sử dụng cách ngắt quãng luồng khí, cách thở khi phát âm. thế dạy phát âm
một kỹ năng rất quan trọng để hình thành ngôn ngữ cho trẻ điếc.
- Sức nghe còn lại đóng vai trò đáng kể trong sự hình thành ngôn ngữ nói
trẻ điếc, đặc biệt với những em sức nghe còn lại trong dải tần từ 512-1024 Hz
1024-2048 Hz, các em thể phân biệt được các nguyên âm, do vậy việc rèn kỹ
năng nghe là nhiệm vụ cần được ưu tiên hàng đầu đối với trẻ khiếm thính.
- Sự hình thành tiếng nói của trẻ điếc chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện
giáo dục có tổ chức đặc biệt, dưới sự hướng dẫn của giáo viên bao gồm:
o Rèn luyện cách thở trong khi nói
o Luyện giọng
o Dạy phát âm
o Đọc hình miệng
o Luyện từ ngữ
3
o Hình thành cấu trúc ngữ pháp
o Làm giàu vốn từ
1.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ viết của trẻ khiếm thính.
Theo quan điểm tâm học, ngôn ngữ viết một dạng ngôn ngữ phức tạp
khó hơn ngôn ngữ nói. Chữ cái phương tiện thực hiện ngôn ngữ viết. Việc tiếp
thu ngôn ngữ viết dựa vào việc nắm cấu trúc ngữ pháp biết phân tích tổng hợp
âm thanh. Ngôn ngữ viết có thể hình thành và phát triển trên cơ sở ngôn ngữ nói và
ngược lại, ngôn ngữ viết góp phần hoàn thiện ngôn ngữ nói.
Đối với trẻ khiếm thính, ngôn ngữ viết ở một vài mặt có ưu thế hơn ngôn ngữ
nói. Để tiếp nhận nó, trẻ không cần đến thính giác mà dùng quan thị giác
quan vận động. Trong việc tiếp thu, ngôn ngữ viết trẻ khiếm thính diễn ra song
song với ngôn ngữ nói hoặc đi trước một chút ít.
1.2.3. Đặc điểm ngôn ngữ kí hiệu của trẻ khiếm thính.
Ngôn ngữ hiệu thế mạnh của trẻ khiếm thính, các em nắm bắt ngôn ngữ
này rất nhanh. Do các em bị mất sức nghe, từ khi mới sinh ra để có thể giao tiếp và
diễn đạt ý của mình các em đã phải dùng tới ngôn ngữ thể, nét mặt cử chỉ, điệu
bộ, … và những điều này là tiền đề của ngôn ngữ kí hiệu.
1.3. Thực tế việc học ngôn ngữ của trẻ khiếm thính lớp dự bị.
Qua những hiểu biết về tâm học lứa tuổi đặc điểm phát triển ngôn ngữ
của trẻ khiếm thính. Căn cứ vào sở luận, kinh nghiệm nhiều năm dạy lớp dự
bị tôi nhận thấy trẻ khiếm thính do những khiếm khuyết về thính giác dẫn đến việc
tiếp thu ngôn ngữ gặp rất nhiều hạn chế khó khăn cụ thể như: khó khăn trong
viêc bắt chước để phát âm, khó khăn trong việc duy tưởng ợng, Nhưng
với những phương pháp và hình thức dạy học đơn thuần giáo viên giảng học sinh
lắng nghe thì không thu hút được sự chú ý của trẻ, không mang lại được sự hứng
thú trong khi học, sự tự tin, mạnh dạn, tinh thần đoàn kết trong lớp cho trẻ.
Hơn nữa khả năng tập trung của các em rất kém do đtuổi nhỏ nên cần
những hoạt động vui nhộn, những hoạt động nhẹ đối với chân tay “qua học
chơi, qua chơi mà học” như vậy việc tiếp thu ngôn ngữ mới có hiệu quả cao.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài.
2.1. Nội dung
Trong thực tế rất nhiều phương pháp, hình thức để b sung vốn từ và phát
triển ngôn ngữ cho học sinh khiếm thính lớp Dự bị nhưng trong đề tài này, tôi chú
trọng vào một số nội dung chủ yếu sau:
o Luyện cho trẻ phát âm đúng
o Làm giàu vốn từ cho trẻ
o Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
Để thực hiện tốt những nội dung trên tôi đã linh hoạt tổ chức, lồng ghép vào
một số trò chơi sau:
o Trò chơi phát triển thính giác ngôn ngữ
o Trò chơi luyện cơ quan phát âm
4
o Trò chơi phát triển chú ý thính giác
2.2. Biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Trong công tác luyện cho trẻ phát âm đúng lại bao gồm nhiều nội dung,
liên quan chặt chẽ vơi nhau. Ta thấy trẻ khiếm thính nhỏ tuổi thường phát âm
không chính xác. Trẻ muốn phát âm đúng thì trước tiên trẻ phải rèn cho trẻ kỹ năng
chú ý lắng nghe, nghe đúng chính xác lời nói của người khác thì trẻ mới
hội và điều kiện để bắt chước cách nói của những người xung quanh. Tuy nhiên
việc trẻ nghe đúng không thôi cũng chưa đủ để trẻ phát âm đúng, nếu quan phát
âm của trẻ hoạt động không linh hoạt, nhanh nhạy và chính xác. Vì vậy ta cần phải
luyện tai nghe để trẻ nghe thấy được âm thanh âm thanh ngôn ngữ, luyện
quan phát âm để trẻ có thể điều khiển một cách linh hoạt, nhịp nhàng. Ngoài ra, khi
trẻ nhỏ ngắt quãng, thở hổn hển, ngừng nghỉ không đúng lúc, nói quá to hoặc quá
nhỏ. Đấy là do trẻ chưa biết điều chỉnh hơi thở ngôn ngữ và giọng nói.
Tất cả những nội dung trên phải được tiến hành thường xuyên với trẻ. Tuy
nhiên, việc thực hiện các nội dung này thường khô khan, ít hấp dẫn, làm trẻ chóng
chán. vậy ta cần thực hiện chúng dưới dạng các trò chơi đơn giản, yếu tố thi
đua, bắt chước để kích thích sự chú ý và luyện tập tốt.
2.2.1 Trò chơi phát triển thính giác ngôn ngữ.
Trò chơi 1: Bắt chước tiếng kêu của các con vật.
Mục đích:
- Giúp trẻ biết chơi luân phiên.
- Biết giả tiếng kêu của các con vật.
- Rèn cơ quan phát âm.
Đồ dùng:
- Hình các con vật.
Cách chơi 1:
- Giáo viên cho cả lớp ngồi hình vòng cung, giáo viên phát cho mỗi
em một xấp hình các con vật (gà trống, con, mái, mèo, c, …). Giáo viên
cho học sinh nhìn. Giáo viên nói trống, học sinh tìm hình trống đồng thời
đáp lại là „„ò, ó, o” cùng đếm 1, 2, 3 đưa hình trống lên phát âm
trống”.
Cách chơi 2: Giáo viên gọi trẻ lên cho nhìn một con vật, sau đó xuống nói tiếng
kêu của con vật đó các bạn khác nói tên của con vật.
dụ: Giáo viên cho một trẻ lên nhìn hình con mèo, trẻ trở về chỗ nói: meo,
meo, meo”. Học sinh khác nói tên “con mèo”.
Lưu ý: Giáo viên thường xuyên thay đổi người quản trò để rèn cho học sinh kỹ
năng chơi và làm chủ trò chơi.