BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE

BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG

********

ĐÀO THỊ THU LỆ

Mã sinh viên: B00377

VAI TRÒ CỦA Y TẾ HỌC ĐƯỜNG

TRONG HỖ TRỢ TRẺ VỊ THÀNH NIÊN

CÓ KHÓ KHĂN VỀ TÂM LÝ

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG HỆ VLVH

Hà Nội, tháng 10/2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE

BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG

********

ĐÀO THỊ THU LỆ

Mã sinh viên: B00377

VAI TRÒ CỦA Y TẾ HỌC ĐƯỜNG

TRONG HỖ TRỢ TRẺ VỊ THÀNH NIÊN

CÓ KHÓ KHĂN VỀ TÂM LÝ

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG HỆ VLVH

Người hướng dẫn: ThS. Hà Thị Huyền

Hà Nội, tháng 10/2015

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận

được sự dạy bảo, giúp đỡ và động viên hết sức tận tình của các thầy cô, gia

đình và bạn bè.

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn ThS.

Hà Thị Huyền – người thầy đã tận tình hướng dẫn, trực tiếp giúp đỡ tôi

trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Ban giám hiệu, Phòng

Đào tạo, Bộ môn Điều dưỡng - trường Đại học Thăng Long đã tạo điều

kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận.

Tôi xin cảm ơn lãnh đạo Trường Quốc tế Pháp, Lycée français Alexandre

Yersin de Hanoi đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập

và thực hiện chuyên đề.

Tôi vô cùng biết ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng

nghiệp đã luôn ở bên tôi, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Sinh viên

Đào Thị Thu Lệ

THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

NVYT Nhân viên y tế

VTN Vị thành niên

SKTT Sức khỏe tâm thần

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................................ 1

CHƯƠNG 1: CÁC KHÓ KHĂN VỀ TÂM LÝ CỦA LỨA TUỔI VỊ THÀNH NIÊN .. 3

1.1. Các giai đoạn phát triển .............................................................................. 3

1.1.1. Giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên ................................................... 4

1.1.2. Giai đoạn giữa của tuổi vị thành niên ................................................. 4

1.1.3. Giai đoạn cuối của tuổi vị thành niên ................................................. 5

1.2. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi vị thành niên ............................................... 6

1.2.1. Sự phát triển về mặt sinh lý ................................................................. 6

1.2.2. Sự phát triển về mặt xã hội .................................................................. 6

1.2.3. Sự phát triển của các quá trình nhận thức ........................................... 6

1.2.4. Sự phát triển nhu cầu ........................................................................... 7

1.2.5. Sự phát triển nhân cách ....................................................................... 7

1.2.6. Hình thành kế hoạch cuộc đời và sự lựa chọn nghề nghiệp ................ 7

1.3. Các khó khăn về tâm lý thường gặp ........................................................... 7

1.3.1. Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với bạn bè ....................................... 8

1.3.2. Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với bạn khác giới ............................ 8

1.3.3. Khó khăn trong việc tham gia sinh hoạt tập thể và tu dưỡng đạo đức 9

1.3.4. Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với thầy cô giáo ............................ 10

1.3.5. Băn khoăn, lo lắng về sự phát triển cơ thể và hình thức của mình ... 10

1.3.6. Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với cha mẹ .................................... 11

1.3.7. Băn khoăn, lo lắng từ sự đánh giá của người khác về mình .............. 11

1.3.8. Khó khăn, vướng mắc trong học tập ................................................. 12

1.3.9. Khó khăn nảy sinh khi suy nghĩ, ước mơ về tương lai của mình ...... 12

1.4. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ dẫn đến các khó khăn về tâm lý ở trẻ vị

thành niên ......................................................................................................... 12

1.4.1. Do bản thân trẻ .................................................................................. 12

1.4.2. Do gia đình ........................................................................................ 14

1.4.3. Do nhà trường .................................................................................... 16

1.4.4. Một số nhóm nguy cơ khác ............................................................... 17

1.5. Hậu quả do tình trạng gặp khó khăn tâm lý kéo dài ................................. 17

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA Y TẾ HỌC ĐƯỜNG TRONG HỖ TRỢ TRẺ.... 21

2.1. Vai trò của tư vấn tâm lý trong y tế học đường ........................................ 21

2.2. Một số đặc điểm lưu ý khi giao tiếp với trẻ vị thành niên ........................ 22

2.2.1. Nội dung chú ý khi giao tiếp ............................................................. 22

2.2.2. Đảm bảo tính bí mật .......................................................................... 23

2.2.3. Một số vấn đề liên quan tới pháp luật ............................................... 23

2.3. Hỗ trợ khi trẻ có khó khăn về tâm lý ........................................................ 24

2.3.1. Tiếp cận để phát hiện các khó khăn tâm lý ....................................... 24

2.3.2. Xác định những khó khăn tâm lý mà trẻ đang gặp phải .................... 27

2.3.3. Xây dựng kế hoạch hỗ trợ trẻ gặp khó khăn về tâm lý ...................... 27

2.3.4. Tư vấn, giáo dục sức khỏe ................................................................. 29

2.3.5. Lượng giá ........................................................................................... 31

KẾT LUẬN .......................................................................................................... 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC HÌNH

Hình 1. Lắng nghe và khuyến khích học sinh chia sẻ .......................................... 26

Hình 2. Gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh học sinh ................................................ 29

Hình 3. Tổ chức hoạt động tập thể ....................................................................... 31

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong hành trình phát triển và hoàn thiện, con người sẽ trải qua nhiều

giai đoạn phát triển về cả thể chất và tâm lý. Với mỗi giai đoạn phát tiển sẽ

có những xáo trộn về tâm lý được xem là những khủng hoảng lứa tuổi

mang tính quyết định cho sự "lớn lên". Mổi người đều trải qua một hành

trình dài với những trải nghiệm thú vị, đương đầu với các biến cố, thách

thức, khó khăn mang tính đặc trưng của mỗi cá nhân qua từng giai đoạn

phát triển nhất định. Sự đương đầu này sẽ là những thách thức giúp cho

mỗi cá nhân trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn.Trong toàn bộ quá trình phát

triển tâm lý cá nhân thì giai đoạn tuổi vị thành niên là giai đoạn phát triển

tâm lý rất phức tạp. Một giai đoạn mang tính bùng nổ và có phần nổi loạn

khi mà mỗi cá nhân chịu sự tác động cộng hưởng do những thay đổi về mặt

sinh lý cùng các tác động từ môi trường xung quanh như: gia đình, nhà

trường, xã hội cùng các mối quan hệ từ các bạn đồng trang lứa. Sự thiếu

kém về kỹ năng ứng phó và thích nghi với môi trường cũng như sự hạn chế

trong các mối quan hệ xã hội mang tính hỗ trợ - nâng đỡ tâm lý làm cho cá

nhân trở nên khó khăn, vất vả hơn trong việc chấp nhận, ứng phó và vượt

qua các thách thức [7].

Ở các nước đang phát triển, việc hỗ trợ tâm lý, chăm sóc sức khỏe tâm

thần (SKTT) của học sinh được tiếp cận toàn diện, đa khía cạnh, thực hiện

nhờ vào sự liên kết các nguồn lực nhà trường, gia đình và cộng đồng để tối

ưu hóa sự can thiệp. Trong khi đó tại Việt Nam, công tác này ở trong

trường học còn rất rời rạc, non yếu. Ngay cả việc triển khai tư vấn tâm lý

trong các trường cũng đang gặp nhiều trục trặc, hầu như chưa được triển

khai, công nhận về mặt nhân sự và nhân viên y tế (NVYT) học đường

thường kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau. Alain Bentolila cho rằng:

những khó khăn tâm lý học đường của trẻ có thể liên quan đến đời sống

tình cảm của trẻ. Trẻ thường tìm đến phòng y tế để mong muốn được tạm

1

nghỉ trong một bầu không khí tin tưởng, kín đáo và được tôn trọng, nằm

ngoài lớp học và những bài thi, bài kiểm tra. Điều này có thể khiến trẻ cảm

thấy dễ chịu hơn nhiều [13]. Chính vì thế, những người làm công tác y tế

học đường không chỉ cần kiến thức chuyên môn đa dạng, tinh tế trong giao

tiếp với học sinh, phụ huynh và giáo viên mà còn phải tinh ý để phát hiện

ra những vấn đề thực sự mà trẻ đang gặp phải. Từ đó để có thể ứng xử cho

phù hợp, hỗ trợ và theo dõi từng vấn đề ở trẻ [2], [13]. Xuất phát từ thực tế

đó, chuyên đề này đề cập tới các nội dung chính sau:

1. Các khó khăn về tâm lý của lứa tuổi vị thành niên.

2. Vai trò của y tế học đường trong hỗ trợ trẻ vị thành niên có khó

khăn về tâm lý.

2

CHƯƠNG 1

CÁC KHÓ KHĂN VỀ TÂM LÝ CỦA LỨA TUỔI VỊ THÀNH NIÊN Tuổi vị thành niên là giai đoạn tính từ lúc bắt đầu của tuổi dậy thì cho

tới khi chấm dứt sự phát triển của cơ thể, theo quy định được tính từ 10 tuổi

đến 19 tuổi [20]. Trong giai đoạn này, sự phát triển về thể chất không thích

ứng với sự phát triển về nhận thức, xúc cảm, tâm lý, hành vi,chính vì vậy tự

bên trong trẻ đã xảy ra sự mất cân bằng rất lớn mà nếu chúng ta không

hiểu, không thông cảm, không giúp đỡ kịp thời sẽ rất dễ xảy ra những hậu

quả đáng tiếc [11]. Cũng trong giai đoạn này, trẻ vị thành niên nảy sinh các

vấn đề liên quan tới sinh hoạt tình dục, thiết lập các chuẩn mực đạo đức

một cách độc lập, xây dựng mối quan hệ với bạn khác giới và có thể quyết

định sống dời cha mẹ.

Theo điều tra quốc gia về nguy cơ của nhóm tuổi trẻ ở Mỹ cho thấy,

các vấn đề sức khỏe liên quan tới hành vi trong nhóm tuổi này bao gồm: có

thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, những xung

đột hay bạo lực mang tính cá nhân, xuất hiện ý tưởng và hành vi tự tử, sử

dụng rượu, hút thuốc lá và chất gây nghiện.

Trẻ vị thành niên thường có xu hướng tự đánh giá mình cao hơn so

với hiện thực, bắt đầu bộc lộ khuynh hướng tự khẳng định mình thông qua

việc tự lựa chọn kiểu tóc, cách ăn mặc, tác phong, cử chỉ, sở thích

riêng…..và giữa trẻ với bố mẹ bắt đầu có những khoảng cách đầu tiên. Vì

vậy, thường xuyên quan tâm đến những người xung quanh trẻ, quan tâm

đến những hoạt động của trẻ là việc làm hết sức cần thiết với các em trong

độ tuổi này.

1.1. Các giai đoạn phát triển

Sự phát triển bình thường ở độ tuổi vị thành niên chia thành 3 giai

đoạn với những đặc điểm riêng biệt về phát triển thể chất, xã hội và nhận

thức. Hiểu biết về về những đặc điểm bình thường cho từng giai đoạn sẽ

3

giúp chúng ta đặt ra những câu hỏi thích hợp và tập trung vào những vấn đề

sức khỏe ưu tiên cho từng giai đoạn phát triển.

1.1.1. Giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên (từ 11 – 14 tuổi)

Đặc điểm phát triển thể chất : thay đổi về cơ thể rất nhanh đôi khi khiến

trẻ không hiểu là liệu việc thay đổi như vậy là có bình thường không ?

Những vấn đề này đôi khi khiến trẻ xuất hiện lo âu. Giai đoạn này nữ

thường quan tâm tới những vấn đề liên quan tới trọng lượng cơ thể, chế độ

ăn kiêng và nam thì quan tâm nhiều tới lòng tự trọng gắn với sự phát triển

về thể chất và sự gây ấn tượng với bạn bè cùng lứa nên trong giai đoạn này

nếu trẻ nào phát triển chậm hơn so với bạn bè cùng lớp thì sẽ dễ dẫn đến sự

tự ti. Trong giai đoạn này, những vấn đề cần phải hỏi khi phỏng vấn sẽ liên

quan tới sự xuất hiện kinh nguyệt, mộng tinh, sự phát triển của ngực…

nhưng khi đặt các câu hỏi này cần tế nhị và thận trọng.

Đặc điểm phát triển mang tính xã hội: trong giai đoạn này, vai trò của

các bạn cùng lứa tuổi tăng trong khi vai trò của gia đình giảm. Tình bạn lý

tưởng thường xuất hiện trong cùng giới. Do sự tò mò về phát triển giới tính

nên trong giai đoạn này dễ dẫn đến thử quan hệ tình dục, cũng có thể xuất

hiện tình dục đồng giới.

Đặc điểm phát triển về nhận thức : có sự chuyển đổi từ tư duy cụ thể đến

tư duy trừu tượng. Do kinh nghiệm và cảm xúc đóng vai trò quan trọng

trong việc đưa ra quyết định nên chỉ tăng cường nhận thức trong giai đoạn

này thường không đủ để phòng trẻ không quyết định hành động một cách

bốc đồng.

1.1.2. Giai đoạn giữa của tuổi vị thành niên (từ 15 – 17 tuổi)

Đặc điểm phát triển thể chất : trong giai đoạn này, sự phát triển về thể

chất vẫn tiếp tục duy trì và phát triển này thường hoàn thành vào cuối giai

đoạn này.

Đặc điểm phát triển mang tính xã hội : giai đoạn này được đặc trưng bởi

tăng tính độc lập và sự tự chủ. Chính do điều này nên bạn bè đồng lứa đóng

4

vai trò quan trọng hơn rất nhiều so với gia đình và do vậy đối với một số

gia đình sẽ xuất hiện sự xung đột giữa trẻ và cha mẹ. Giai đoạn tuổi này

cũng là giai đoạn mà nhiều trẻ thử hút thuốc, uống rượu, sử dụng chất gây

nghiện. Cũng do muốn thể hiện tính không bị đánh bại và bốc đồng nên

cũng trong giai đoạn này tỷ lệ tai nạn, tự tử và xung đột mang tính cá nhân

cao hơn nữa, tỷ lệ xuất hiện hành vi tự tử do những mâu thuẫn liên quan tới

thất bại trong tình yêu cũng cao. Mặc dù xuất hiện các nhóm « fan » có

cùng chung sở thích về âm nhạc, kiểu tóc, … nhưng trẻ vẫn muốn có những

dấu ấn mang tính chất cá nhân.

Đặc điểm phát triển về nhận thức : trẻ đưa ra những lý lẽ và những quan

điểm để bảo vệ mối quan hệ mang tính cá nhân và có sự đồng cảm của các

cá thể trong cùng nhóm. Cũng trong giai đoạn này, trẻ bắt đầu quan tâm tới

việc đánh giá kế hoạch hướng nghiệp trong tương lai. Do vậy, những cá thể

nào học hành thua kém bạn bè sẽ dễ dẫn đến sự lo lắng, không có định

hướng và dễ sa ngã vào việc sử dụng rượu, chất gây nghiện. Vì vậy, nên

xây dựng những hướng dẫn mang tính thực hành để tăng cường và xây

dựng lòng tự trọng ở trẻ.

1.1.3. Giai đoạn cuối của tuổi vị thành niên ( từ 18 – 24 tuổi)

Đặc điểm phát triển thể chất : trong giai đoạn này, sự phát triển về cơ thể

dường như đã dừng lại nhưng trong suy nghĩ thì vẫn tiếp tục quan tâm tới

hình thể bên ngoài.

Đặc điểm phát triển mang tính xã hội : nếu sự phát triển diễn ra bình

thường cùng với sự hỗ trợ tích cực của gia đình, nhà trường và bạn bè thì

sự phát triển cá nhân sẽ tương đối hoàn thiện trong giai đoạn này. Trong

những năm cuối của giai đoạn này, thời gian chính sẽ được sử dụng để tìm

kiếm và xây dựng mối quan hệ vợ chồng.

Đặc điểm phát triển về nhận thức : hy vọng vào việc đào tạo nghề nghiệp

là đặc điểm mấu chốt trong giai đoạn này.

5

1.2. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi vị thành niên

1.2.1. Sự phát triển về mặt sinh lý

Ở giai đoạn này, nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng rất

nhanh, có sự thay đổi rất lớn các tố chất về thể lực như sức mạnh, sức bền,

sự dẻo dai; tư duy, ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí phát triển. Giai

đoạn này cũng bắt đầu từ những khủng hoảng của thời kỳ phát dục và tiến

tới dần ổn định hơn, cân bằng hơn. Quá trình dậy thì ở các em có thể không

giống nhau [1].

1.2.2. Sự phát triển về mặt xã hội

Ở gia đình: lứa tuổi này có nhiều quyền lợi và trách nhiệm của người

lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề trong gia đình,

các em cảm thấy trách nhiệm của mình lớn hơn, đồng thời nếp sống của gia

đình, sự giáo dục của cha mẹ cũng ảnh hưởng tới bộ mặt tâm lý của lứa

tuổi này.

Ở nhà trường: lứa tuổi này ý thức được mình đang đứng trước

ngưỡng cửa của cuộc đời nên thái độ tự giác của các em tăng lên, vì vậy

hoạt động học tập mang ý nghĩa rõ ràng.

Ngoài xã hội: hoạt động giao tiếp của lứa tuổi này phát triển mạnh,

vai trò xã hội và hứng thú xã hội ngày càng được mở rộng về số lượng và

chất lượng [2], [19].

1.2.3. Sự phát triển của các quá trình nhận thức

Tri giác: tri giác có mục đích đã đạt đến mức độ cao nhất. Quan sát

có mục đích có hệ thống và toàn diện hơn. Tuy nhiên do kỹ năng, kỹ xảo

còn thiếu nên quan sát thường phân tán, vội vàng rút ra kết luận khi chưa

đủ dẫn chứng cần thiết.

Trí nhớ: ghi nhớ có lôgic, có chủ định phát triển mạnh và giữ vai trò

chủ đạo trong hoạt động nhận thức.

Sự chú ý: năng lực chú ý phát triển, tính lựa chọn của chú ý và tính

ổn định của chú ý ngày càng phát triển.

6

Tư duy: khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập

sáng tạo, tính phê phán của tư duy cũng được phát triển. Tuy nhiên hoạt

động tư duy của các em còn thiếu tính độc lập, chưa chú ý phát huy hết

năng lực độc lập suy nghĩ, vội vàng kết luận theo cảm tính.

Tưởng tượng: tưởng tượng sáng tạo và tái tạo đều phát triển nhưng

tưởng tượng sáng tạo dần dần chiếm ưu thế hơn [2], [19].

1.2.4. Sự phát triển nhu cầu

Nhu cầu giao tiếp: quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn hơn hẳn so

với quan hệ với người lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn.

Nhu cầu xác định vị trí xã hội: đây là sự thể hiện nhu cầu tự khẳng

định, các em đòi hỏi xã hội công nhận các quyền lợi nghĩa vụ xã hội của

mình[2], [19].

1.2.5. Sự phát triển nhân cách

Sự phát triển của tự ý thức: là một đặc điểm nổi bật trong sự phát

triển nhân cách của lứa tuổi này, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển

tâm lý.

Sự hình thành thế giới quan: lứa tuổi này quyết định sự hình thành

thế giới quan, hệ thống quan điểm về tự nhiên, về xã hội, về các nguyên tắc

và quy tắc ứng xử, định hướng giá trị của con người [2], [19].

1.2.6. Hình thành kế hoạch cuộc đời và sự lựa chọn nghề nghiệp

Ở lứa tuổi này đã có kế hoạch cuộc đời nhưng còn mơ hồ và thường

lẫn với ước mơ. Các em nêu ra được lý do chọn nghề và hiểu biết về yêu

cầu của nghề nhưng còn phiến diện chưa đầy đủ [19].

1.3. Các khó khăn về tâm lý thường gặp

Phụ huynh ngày nay thường chỉ chú trọng vào việc học của con,

chưa trang bị cho con những kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết tình huống,

lại bao bọc con một cách quá mức, không cho con cơ hội tự lập. Vì thế, các

em bối rối, lo lắng trước những tình huống mới mẻ, không biết cách giải

quyết, hoặc giải quyết theo suy nghĩ chưa phù hợp. Các triệu chứng rối

7

loạn của cơ thể là những thông điệp của các em về khó khăn mà mình gặp

phải.

1.3.1. Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với bạn bè

Những biến đổi tâm lý đặc trưng, thường thấy của giai đoạn này là

trẻ nỗ lực tìm kiếm sự độc lập, muốn tách khỏi sự quản lý, kiểm soát của

gia đình, hay phê phán cha mẹ, nỗ lực tìm kiếm những quan hệ ngoài gia

đình, hướng tới những người bạn đồng lứa và do vậy trong một số gia đình

sẽ xuất hiện xung đột giữa trẻ và cha mẹ. Tuổi này có nhu cầu đặc biệt về

tình bạn, cảm nhận được những tinh tế trong tình bạn nhưng trẻ vẫn muốn

có những dấu ấn mang tính cá nhân. Tuy nhiên, lứa tuổi này nhiều xúc

cảm, dễ xúc động, khó kềm chế xúc cảm bộc phát, dễ bị tổn thương, trạng

thái tình cảm của các em thất thường, không ổn định, thoắt vui rồi lại thoắt

buồn, dễ bị kích động (dễ nổi nóng, dễ chán nản, tủi thân),những thất bại

nho nhỏ, những xích mích vụn vặt cũng có thể làm trẻ có cảm xúc và hành

vi tiêu cực [2]. Mặt khác, theo nhận xét của nhiều thầy cô giáo, trong guồng

quay nhanh của xã hội, cùng với việc học sinh năng động hơn thì tình bạn

của các em cũng trở nên năng động, mạnh mẽ, táo bạo, mang tính thực tế

nhiều hơn. Đây là những đặc điểm khiến cho tình bạn của vị thành niên đôi

khi mang màu sắc vụ lợi, bạo lực, thiếu chân thành và giảm sự bền chắc

[9]. Một tình bạn tốt cần có những đặc điểm sau:

- Có sự phù hợp về xu hướng

- Có sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau

- Có sự chân thành, tin cậy, có trách nhiệm cao với nhau

- Có sự cảm thông sâu sắc với nhau

- Có thể tồn tại nhiều mối quan hệ tình bạn cùng một lúc nhưng vẫn

giữ được sự thắm thiết.

1.3.2. Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với bạn khác giới

Đây là lứa tuổi phát triển những xúc cảm yêu đương, dễ rung động

trước người bạn khác giới.Tình bạn khác giới có thể là khởi điểm cho quá

8

trình chuyển thành tình yêu sau này mặc dù nó chưa phải là tình yêu, bắt

đầu có nhu cầu về sự hấp dẫn tình dục, nhưng cũng dễ ngộ nhận, nhầm lẫn

giữa tình bạn với tình yêu. Tuổi VTN với những mối quan hệ khác giới đầu

tiên có thể chịu ảnh hưởng của những tác động tiêu cực, ví dụ như bị thất

bại ở những quan hệ đầu đời có thể làm cho lòng tự tin bị suy giảm; bị ảnh

hưởng xấu của bạn bè, làm biến đổi vai trò giới đã hình thành từ trong quá

trình giáo dục của gia đình, do sự tò mò về phát triển giới tính nên giai

đoạn này có thể xảy ra quan hệ tình dục… [2], [19]. Mặc dùvậy, tình bạn

khác giới vẫn được xem là có tác dụng tích cực như:

- Tăng cường lòng tự tin

- Nâng cao kỹ năng giao tiếp xã hội

- Khẳng định bản sắc và vai trò giới

- Phát triển những kỹ năng để hòa hợp

- Hiểu biết những đặc tính tâm lý và những nhu cầu riêng của bạn.

1.3.3. Khó khăn trong việc tham gia sinh hoạt tập thể và tu dưỡng đạo

đức

Một số nghiên cứu về các khó khăn tâm lý của vị thành niên tại Hà

Nội cho thấy nguyên nhân chủ yếu khiến học sinh cảm thấy khó khăn là do

trong tập thể lớp các em chưa hiểu biết, đồng cảm lẫn nhau, chưa có sự

tương xứng giữa phạm vi kết bạn và nhu cầu kết bạn mạnh mẽ của các em.

Chính điều này dẫn đến việc nhiều em khó hòa đồng vào các hoạt động tập

thể và các thành viên trong lớp không giúp đỡ được nhau trong học tập,

trong cuộc sống [9], [10]. Những trẻ thiếu sự gắn kết với tập thể lớp hoặc

sẽ chọn kết bạn không cùng lớp hoặc bị bỏ rơi mà sa vào nghiện chơi

game, nghiện chất… Nghiên cứu trên thử đưa ra can thiệp là tổ chức các

hoạt động cùng nhau, các sinh hoạt tập thể theo chủ đề (thảo luận phương

pháp học, hoạt động văn nghệ - thể thao chung, tổ chức kỷ niệm ngày

20/11, 8/3, 26/3…, chúc mừng sinh nhật cho các bạn trong lớp, giúp bạn có

9

hoàn cảnh khó khăn…) và thấy kết quả thay đổi rất rõ rệt: tỷ lệ học sinh

chọn bạn cùng lớp tăng lên, các thành viên hướng đến nhau nhiều hơn.

Điều này cho thấy, nếu được hoạt động cùng nhau, được thu hút vào các

sinh hoạt tập thể đòi hỏi sự hợp tác cùng nhau, các em sẽ hiểu nhau và gắn

bó với nhau hơn. Măt khác, nhờ hoạt động nhóm, các em có điều kiện bày

tỏ, chia sẻ suy nghĩ, quan điểm riêng, biết lắng nghe suy nghĩ của các bạn

khác, tạo nên sự đồng cảm và cùng giúp nhau hoàn thiện bản thân, xây

dựng tập thể đoàn kết [9].

1.3.4. Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với thầy cô giáo

Nếu như ở tuổi thơ các em luôn xem bố mẹ, thầy cô giáo là hình mẫu

lý tưởng của mình thì trong lứa tuổi vị thành niên trẻ bắt đầu thay đổi trong

cách nhìn nhận, mặt khác do ít trải nghiệm, kiến thức xã hội chưa phong

phú nên sự đánh giá người khác của các em có thểmang tính cực đoan-

cứng nhắc. Những thầy cô được các em đánh giá cao thì sẽ được các em tin

tưởng, yêu quí, thích hoàn thành nhiệm vụ người đó giao phó và tỏ rõ thái

độ ngược lại với những người mà các em phát hiện ở họ có những lời nói

hành động mà các em cho là không đúng, không tốt. Tuy nhiên, theo các

em, những vấn đề nảy sinh trong cách ứng xử với thầy cô giáo thường ít

gặp [11].

1.3.5. Băn khoăn, lo lắng về sự phát triển cơ thể và hình thức của mình

Ở giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên, thay đổi về cơ thể rất nhanh,

đôi khi khiến trẻ không hiểu là liệu việc thay đổi như vậy có bình thường

hay không? Đặc điểm phát triển rõ nhất của vị thành niên là dấu hiệu dậy

thì. Giai đoạn này nữ thường quan tâm đến trọng lượng cơ thể, chế độ ăn.

Trẻ nam thì quan tâm đến lòng tự trọng, hành vi thể hiện sự can đảm vì nó

gắn liền với sự phát triển thể chất, do đó nếu trẻ nào phát triển chậm hơn

các bạn thì dễ dẫn tới sự tự ti [2].

10

1.3.6. Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với cha mẹ

Mâu thuẫn liên quan đến học hành, chọn bạn, chọn nghề: Con cái có

ý riêng muốn tự quyết định, còn cha mẹ lại có những nhận định, quyết định

khác, hai bên chưa thuyết phục được nhau.

Những va chạm trong cách đối xử hàng ngày: Con cái có thiếu xót

trong cách đối xử với cha mẹ, ông bà, anh em trong nhà. Hoặc cha mẹ độc

đoán, đối xử không công bằng giữa các con… Cha mẹ tùy ý quyết định

việc có liên quan đến con cái, không bàn bạc, không lắng nghe ý kiến hợp

lý của con. Nhiều va chạm xảy ra do lời nói nặng nề, cử chỉ, thái độ thô bạo

của cha mẹ, hoặc vô lễ, hỗn láo của con cái, mặc dù chuyện xảy ra chẳng

có gì quan trọng, làm cho không khí trong gia đình trở nên căng thẳng.

Những va chạm do việc làm, hành động của con cái, làm đảo lộn thói

quen, nếp sống của gia đình, khiến cha mẹ từ khó chịu đến mắng mỏ, trừng

phạt. Ví dụ sống mất trật tự, bừa bãi, thói xấu, tham lam, hay ganh tị… Có

những trường hợp cũng do cá tính khác nhau của cha mẹ và con cái. Ví dụ

người nói nhiều, người nói ít, tác phong nhanh nhẹn mâu thuẫn với tác

phong chậm chạp, hoặc do sở thích khác nhau trong ăn uống, vui chơi, giải

trí…

1.3.7. Băn khoăn, lo lắng từ sự đánh giá của người khác về mình

Trẻ vị thành niên có sự tự ý thức phát triển mạnh nên thường nhạy

cảm với những nhận xét, đánh giá của người khác về bản thân. Chẳng hạn

như nhận xét của thầy cô giáo về kết quả học tập và rèn luyện, nhận xét của

bạn bè về các sở thích cá nhân, về hoàn cảnh gia đình… Ðiều xảy ra đối

với trẻ vị thành niên là trẻ không phân biệt được phải trái, ngay cả khi nghe

điều người khác nói xấu, trẻ cũng cho đó là đúng hoặc ngược lại. Lời nhận

xét đó sẽ làm ảnh hưởng đến mối quan hệ về sau của trẻ đối với xã hội

[19].

11

1.3.8. Khó khăn, vướng mắc trong học tập

Bước vào thời kỳ này, các em phải tiếp nhận một cách thức dạy và

học khác căn bản so với trước. Cùng một lúc các em chịu sự giảng dạy của

nhiều thầy cô khác nhau về trình độ, đặc điểm nhân cách, hành vi, cách

giao tiếp… Thêm vào đó, số môn học, số giờ học tăng lên nhiều tạo thành

áp lực cho trẻ, hình thành nên môn học “hay” và “không hay”. Những khó

khăn, vướng mắc trong học tập mà trẻ thường gặp là nội dung học quá tải,

phương pháp học tập mới lạ, sự thay đổi thường xuyên của việc thi cử và

thời gian học thêm quá nhiều [11].

1.3.9. Khó khăn nảy sinh khi suy nghĩ, ước mơ về tương lai của mình

Ở giai đoạn đầu của tuổi VTN, hầu như trẻ chỉ quan tâm đến hiện tại

hoặc tương lai gần nên các khó khăn kớn chưa xuất hiện. Đến giai đoạn

giữa trở đi, trẻ bắt đầu hướng đến hứng thú về nghề nghiệp và phát triển sự

sáng tạo và dần tiến đến định hướng cho tương lai, suy nghĩ về vai trò của

mình trong cuộc sống. Quá trình này chịu sự tác động rất lớn từ các bậc cha

mẹ. Cha mẹ thường đặt kỳ vọng quá lớn vào con cái. Ai cũng muốn cho

con mình học giỏi, đỗ đạt cao và cuối cùng là có một công việc tốt nhưng

đôi khi kết quả ấy không phải là mơ ước của trẻ. Điều này khiến trẻ mâu

thuẫn trong việc chọn lựa giữa đường đi theo mơ ước của cá nhân và con

đường mà cha mẹ quyết định. Hoặc đôi khi dù cha mẹ không can thiệp

nhiều vào sở thích, mơ ước của trẻ nhưng lại thiếu sự định hướng, hướng

dẫn từ gia đình và nhà trường khiến trẻ thiếu thông tin và mất phương

hướng [10], [11].

1.4. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ dẫn đến các khó khăn về tâm lý ở

trẻ vị thành niên

1.4.1. Do bản thân trẻ

Do sự thay đổi đột ngột, nhanh chóng về tâm sinh lý, chính vì vậy từ

bên trong trẻ đã xảy ra sự mất cân bằng rất lớn, trẻ thường có xu hướng tự

đánh giá mình cao hơn so với hiện thực, bộc lộ khuynh hướng tự khẳng

12

định mình nên có tác phong, cử chỉ, sở thích riêng… và do đó dễ bị tác

động từ những người xung quanh.

Vì lực học kém hơn nên trẻ khó theo kịp bài so với các bạn dù có cố

gắng. Từ đó trẻ có tâm lý chán nản, xin vào phòng y tế để trốn bài kiểm tra,

để được nghỉ ngơi, hoặc được về nhà.

Bản thân trẻ có khuynh hướng giới tính khác biệt (đồng tính): Đây là

một vấn đề vẫn còn rất nhạy cảm và gây nhiều tranh cãi, mặc dù đã được

biết đến từ lâu. Rất nhiều nhân viên y tế cũng như nhà tư vấn thực sự cảm

thấy lúng túng và không đủ tự tin khi giao tiếp cũng như khi hỗ trợ cho

nhóm bệnh nhân này.Nhiều giả thiết cho rằng, môi trường gia đình, sự

chăm sóc, cách giáo dục của bố mẹ và sự tương tác của cuộc sống xung

quanh là một yếu tố ảnh hưởng khá rõ đến biểu hiện của hiện tượng này.

Trong nghiên cứu “trẻ em đường phố đồng tính, song tính, chuyển giới tại

thành phố Hồ Chí Minh”, hầu hết các em đều cho biết mình bắt đầu có cảm

xúc với người cùng giới khi bước vào giai đoạn vị thành niên. Đối với

nhiều đồng tính nam tham gia nghiên cứu này, phải đến giai đoạn dậy thì

các em mới nhận ra mình có cảm xúc mạnh với người cùng giới, mặc dù

một số từng có bạn gái. Khi giới tính thật của trẻ hé lộ, đa số các bậc phụ

huynh phản ứng rất gay gắt, đôi khi là bạo lực. Trẻ có thể trở thành trung

tâm của sự chỉ trích, bị phân biệt đối xử, bị trừng phạt, can thiệp đến thân

thể. Cũng theo nghiên cứu này, tất cả các em tham gia trả lời phỏng vấn

đều cho biết từng chịu thái độ tò mò, kỳ thị và định kiến từ hàng xóm, và

những người xung quanh. Không chỉ là nạn nhân chịu phân biệt đối xử

ngoài xã hội, nhiều trẻ đồng tính, song tính và chuyển giới còn bị quấy rối

và phân biệt đối xử trong trường học. Trẻ có thể bị trêu chọc khiến trẻ thấy

xấu hổ, bị ám ảnh và bị ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của trẻ. Ngoài ra các

em cũng có thể bị phân biệt đối xử từ thầy, cô giáo. Điều này khiến trẻ

chán nản, bỏ học, bỏ nhà, đi theo cộng đồng của những người giống mình.

Cuộc sống đường phố hay trong công viên đầy rẫy hiểm họa: ăn uống thất

13

thường, thay đổi chỗ ngủ, không được chăm sóc sức khỏe đầy đủ, thường

xuyên đối mặt với nguy cơ bạo lực và bị quấy rối, nguy cơ bị lây nhiễm

HIV và các bệnh khác. Nhiều trường hợp do khủng hoảng tâm lý dẫn đến ý

đồ tự tử, làm dụng các chất gây nghiện hay tự làm tổn thương cơ thể [4].

Trẻ có thể bị kỳ thị và phân biệt đối xử với cơ hội học nghề và tìm việc

làm. Như một vòng lẩn quẩn, vì mưu sinh và tồn tại trẻ có thể bị sa vào con

đường phạm pháp, từ đó trẻ càng bị kỳ thị và phân biệt đối xử từ phía gia

đình, cộng đồng. Vì vậy, khi thấy trẻ có dấu hiệu lệch lạc giới tính thì nên

tư vấn cho gia đình nên đưa con đi khám và gặp chuyên viên tâm lý để

được khai thác bệnh sử, tìm hiểu về cuộc sống, về mối quan hệ giữa các

thành viên trong gia đình và tình trạng sức khỏe của trẻ, để giúp các emcó

khái niệm rõ ràng về giới tính của mình. Sự thay đổi cần một tiến trình dài,

để kéo trẻ về giới tính thực, đòi hỏi cha mẹ phải thật kiên nhẫn, lắng nghe

tâm tư tình cảm và góp ý sửa đổi hành vi chuẩn xác cho con. Nếu gia đình

nóng vội, yêu cầu trẻ phải cắt đứt các mối quan hệ, cách sống hiện tại đột

ngột, con sẽ phản ứng theo chiều hướng xấu như đã đề cập đến ở trên.

1.4.2. Do gia đình

Lý do thứ nhất là do phương thức giáo dục của gia đình, giao tiếp và

ứng xử giữa các thành viên trong gia đình hạn chế: cha mẹ thiếu sự quan

tâm chăm sóc nên không kịp thời phát hiện, hỗ trợ khi trẻ có khó khăn hoặc

quá khắt khe và kiểm soát, xét nét con cái. Bên cạnh đó cha mẹ thường

xuyên tạo áp lực về học tập cho con cũng khiến trẻ bị căng thẳng, dễ gây

tâm lý tiêu cực [6].

Lý do khác từ phía gia đình là sự thiếu thốn tình cảm của bố hoặc mẹ

trong gia đình ly hôn/ly thân. Theo một nghiên cứu của Viện số liệu và

nghiên cứu kinh tế quốc gia Pháp, trong năm 2005 có 16% trẻ dưới 18 tuổi

sống trong gia đình có bố hoặc mẹ đơn thân. Trong đó, những báo cáo và

số liệu chính thức của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ cũng như những nghiên cứu

của Viện nghiên cứu dân số quốc gia Pháp đã chỉ ra nguồn gốc của tình

14

trạng này: 50,8% bố mẹ ly hôn, 20,5% bố mẹ ly thân, 11,6% bố hoặc mẹ

chết hoặc cả hai, 7,9% bố mẹ không bao giờ sống cùng, 6,6% không biết

bố [18]. Một nghiên cứu của Hiệp hội các gia đình ở Châu Âu năm 2011 đã

chỉ ra rằng : 63% những người từ 18 đến 56 tuổi có bố mẹ ly hôn nói rằng

họ đã từng chịu đựng rất nhiều khi bố mẹ không hạnh phúc. Hơn nữa,

Marie Huret và Sebatien Lebourcq đã trích dẫn nghiên cứu của Viện nghiên

cứu dân số quốc gia Pháp, 13% trẻ dưới 15 tuổi sống sống với bố hoặc mẹ

(so với năm 1990 là 9%), 88% những trường hợp này sống với mẹ [14],

[17]. Nhà tâm lý học đường Christine Falchetti cho rằng càng ngày càng có

nhiều trẻ phải chịu đựng từ cuộc ly hôn và chia tay của bố mẹ. 13% trẻ

dưới 15 tuổi tương đương với trung bình 4 trẻ trong một lớp có 30 học sinh,

con số này không hề nhỏ. Vì thường xuyên gặp phải nên đôi khi giáo viên

có thể coi nhẹ chuyện này, cộng thêm với sự thiếu quan tâm của phụ

huynh, điều này có thể gây nên nhiều ảnh hưởng tới trẻ [15].

Khi cha mẹ chia tay, trẻ gặp phải những khó khăn như :

- Thiếu tình cảm do bị xa cách với người bố hoặc mẹ mà trẻ không

sống cùng.

- Thiếu sự giáo dục: do không sống cùng nhau nên có khoảng cách

trong sự giáo dục của bố và mẹ, vậy là trẻ ở giữa, băn khoăn không biết

phải làm như thế nào, cộng thêm sự giáo dục của nhà trường. Giáo viên có

thể không chấp nhận được điều này ở trẻ.

- Trẻ thiếu tự tin vào chính bản thân mình và vào người khác, thậm trí

trẻ cảm thấy áp lực.

Có những trường hợp bố mẹ ly dị từ khi trẻ còn nhỏ, trẻ sống với một trong

hai người hoặc sống với người chăm sóc khác, nhưng những triệu chứng cơ

thể gần đây mới xuất hiện. Như vậy, rất có thể việc cha mẹ ly dị là nguyên

nhân sâu xa của rối loạn, nỗi buồn đó bị dồn nén, khi lớn lên gặp điều kiện

nào đó như áp lực xã hội, nhà trường, tình cảm hoặc sự chia ly khác, thì các

triệu chứng mới được bộc lộ ra ngoài.

15

1.4.3. Do nhà trường

Áp lực học tập là nguyên nhân chiếm tỷ lệ lớn nhất so với những

nguyên nhân khác. Điều đó cho thấy trẻ vị thành niên Việt Nam đang chịu

một áp lực lớn về việc học. Áp lực này đến trước tiên từ phía nhà trường

với số lượng bài học, bài tập, thời gian học gần như kín lịch trong ngày của

các em. Các em gần như không có thời gian giải trí, chơi đùa, nghỉ ngơi,

nhất là vào mùa thi hoặc với những năm cuối cấp. Áp lực này cũng thường

đến từ phía phụ huynh những người quá kỳ vọng vào con em mình trong

khi khả năng của các em không được như vậy. Hiện trạng chạy theo thành

tích là yếu tố quan trọng tạo nên áp lực cho cả nhà trường và phụ huynh mà

người gánh chịu là các em [5], [11], [12].

Bên cạnh đó là sự cô lập học đường. Ở tuổi vị thành niên, các em

thường kết bạn theo nhóm. Nhóm thường gồm những thành viên có cùng

sở thích, cùng giới tính, cùng thành phần gia đình, cùng trình độ học vấn, ...

Tuy nhiên, với sự hiểu biết còn nhiều hạn chế, thiếu sự dẫn dắt đúng đắn

của người lớn, đối khi có những em có thái độ khinh miệt một bạn nào đó,

sau đó cùng rủ nhóm tẩy chay bạn, cô lập bạn, có nhóm còn tổ chức đánh

bạn. Những em bị cô lập thường rơi vào khủng hoảng, lo lắng, lại không

tìm được sự chia sẻ, giúp đỡ từ bạn khác hoặc người lớn [10].

Không thể không kể đến nguyên nhân bạo lực học đường. Bạo lực có

thể đến từ phía thầy, cô như lời mắng nhiếc, xúc phạm hay hành vi đánh

học sinh. Điều này hiển nhiên gây bức xúc, ấm ức đối với các em, gây căng

thẳng, ức chế. Bạo lực còn đến từ phía học sinh với nhau do bốc đồng lứa

tuổi, do ảnh hưởng của phim ảnh bạo lực, do game, do thiếu sự hướng dẫn

đúng đắn của người lớn, nhiều em có xu hướng giải quyết vấn đề bằng bạo

lực. Điều này gây nên những lo lắng cho các em bị đánh, dẫn tới học sa sút,

nghỉ học, đau bệnh [9], [10].

16

1.4.4. Một số nhóm nguy cơ khác

Một số tác động từ yếu tố truyền thông như bùng nổ về công nghệ

thông tin, có rất nhiều luồng thông tin truyền thông thiếu khoa học, các

trang web đen, phim ảnh sách báo có nội dung đồi trụy...

Sự thiếu sót về các hệ thống hỗ trợ, nâng đỡ, chăm sóc phát triển sức

khỏe tâm lý - tâm thần dành cho đối tượng vị thành niên: hạn chế về lực

lượng chuyên ngành tham vấn - trị liệu tâm lý, các phòng tham vấn tâm

lý, các hoạt động ngoại khóa nghèo nàn về cả hình thức và nội dung, sân

chơi lành mạnh dành cho các nhóm bạn cùng trang lứa còn nhiều hạn

chế... [6], [7].

1.5. Hậu quả do tình trạng gặp khó khăn tâm lý kéo dài

Những khó khăn tâm lý trong thời gian ngắn thường không hoặc rất

ít ảnh hưởng đến cuộc sống và học tập của trẻ. Tuy nhiên nếu tình trạng

trên kéo dài có thể dẫn đến các rối loạn cảm xúc liên quan đến sức khỏe

tâm thần [10]. Ngày nay, các rối loạn tâm thần không phải là hiếm gặp ở trẻ

vị thành niên. Các rối loạn tâm thần chủ yếu bao gồm:

Trầm cảm

Trầm cảm có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, hay gặp nhất là ở độ tuổi

40 -50. Nhưng qua thực tế lâm sàng, trầm cảm ở trẻ vị thành niên không

phải là hiếm. Tỷ lệ trầm cảmở trẻ vị thành niên là 6 - 8%và những trẻ này

khi lớn lên có nguy cơ tiếp tục có cơn trầm cảm [7]. Các chấn thương tâm

lý (học hành căng thẳng, thi trượt, mâu thuẫn trong gia đình...) đóng vai trò

là yếu tố thuận lợi cho trầm cảm phát triển,do đó khi phát hiện ra trẻ có các

triệu chứng của trầm cảm, NVYT học đường nên tư vấn cho bố mẹ nên đưa

con đến khám tại các thầy thuốc chuyên khoa tâm thần.

Các rối nhiễu tâm thể

Là tình trạng rối nhiễu về nhân cách, hành vi, khá phổ biến trong lứa

tuổi học đường. Đa số các rối nhiễu tâm lý ở trẻ không thuộc những bệnh

lý nặng mà thường biểu hiện những tâm trạng, phản ứng với những hoàn

17

cảnh nhất định. Đôi khi, những phản ứng ấy làm cho cuộc sống, học tập

của trẻ khó khăn hơn. Ở người bình thường, trong trường hợp gặp khó

khăn về tâm lý cũng có những phản ứng cơ thể nhất thời (mất ngủ, rối

loạn tiêu hóa, đau đầu) nhưng xung đột tâm lý được giải quyết khá nhanh

và những triệu chứng đó biến mất. Điều này có được là nhờ khả năng tư

duy, tự lý giải của chủ thể [17]. Một số biểu hiện rối nhiễu tâm thể

thường gặp ở trẻ [6]:

- Cơn giận dữ/ khóc thét

- Rối loạn giấc ngủ

- Rối loạn về tiêu hóa

- Giảm sự chú ý

- Rối loạn ngôn ngữ

- Tíc - rối loạn vận động

- Rối loạn cảm xúc: lo lắng, sợ hãi, ám ảnh…

- Đái dầm…

Tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt khởi phát ở lứa tuổi vị thành niên ít gặp, nhưng

thườngrất nặng. Tâm thần phân liệt được đặc trưng bởi các triệu chứng có

ảo thanh, có hoang tưởng. Các hoangtưởng này rất nguy hiểm, có thể khiến

trẻ tự vệ (hoang tưởng bị hại), tự sát (hoangtưởng bị chi phối)... [7], [19].

Rối loạn lo âu lan tỏa

Đây là một bệnh lo âu mạn tính và không có cơn hoảng sợ, trẻ dễ bị

kích thích, mệt mỏi. Các triệu chứng này rất rõ ràng,diễn ra hàng ngày và

không thể kiểm soát được.Bệnh nhân lo âu lan tỏa thường không đi khám

bệnh ngay. Bệnh tiếntriển mạn tính nên bệnh nhân thường tự điều trị cho

mình (hoặc do gia đình điềutrị) [15].

18

Nghiện internet và trò chơi điện tử, lạm dụng chất gây nghiện

Theo báo cáo nghiên cứu về Internet và công nghệ của Công ty

Nghiên cứu thị trường Pearl Rearch (Mỹ), đến năm 2011, Việt Nam có hơn

10 triệu người chơi game online. Trong số người sử dụng Internet thì có

đến 53% là chat và chơi game online. Nghiện game online đang là vấn đề

gây bức xúc xã hội bởi những hệ lụy ngày càng nghiêm trọng... Những

người nghiện Internet thường có một vài trải nghiệm sau đây :

- Lẫn lộn giữa cảm giác vui vẻ hạnh phúc và cảm giác tội lỗi khi sử

dụng máy tính.

- Mất kiểm soát về thời gian khi dùng máy tính.

- Bỏ qua bạn bè, gia đình và những trách nhiệm khác để lên mạng.

- Sử dụng máy tính như là một lối thoát khi cảm thấy buồn, chán nản.

- Có những vấn đề ở trường học vì thời gian và các hành động dành

cho việc sử dụng máy tính.

- Khi không sử dụng máy tính, nghĩ đến thường xuyên và mong chờ

sao sớm đến lúc được sử dụng [19].

Commented [T1]:

Tự tử

Tổ chức y tế thế giới (WHO) chỉ ra rằng, thế giới mỗi năm có khoảng

1 triệu người chết vì tự tử và trung bình mỗi phút có 2 người chết vì tự tử

[19]. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, hiện tượng học sinh tự tử đã

thu hút không ít sự quan tâm, chú ý của các cơ quan báo đài, các kênh

thông thông tin truyền thông và toàn xã hội [7].

Hành vi tự tử (suicidal behaviour) theo định nghĩa của Tổ chức Y tế

thế giới bao gồm 3 thành phần: ý tưởng tự sát (chỉ thể hiện trong ý nghĩ);

mưu toan tự sát (có hành vi để tự tử, nhưng không thành công); tự sát (có

hành vi tự tử đi đến tử vong). Tại Việt Nam, tỷ lệ thanh thiếu niên từng

nghĩ đến chuyện tự tử và từng tìm cách kết thúc cuộc sống của mình đã

tăng cao hơn gấp đôi so với năm 2005 (Theo cuộcđiều tra quốc gia về vị

thành niên và thanh niên lần thứ 2, năm 2010). Khi học sinh tự tử, chính là

19

lúc các em đang kêu cứu. Việc trẻ chọn lựa hành vi tự tử có liên quan đến

nhiều vấn đề. Ngoại trừ vấn đề bệnh lý tâm thần do bất thường của hoạt

động não, đa số yếu tố ảnh hưởng đến việc tự tử ở học sinh là những vấn đề

xã hội, nhà trường và gia đình:

- Do không đạt được kết quả mong muốn trong học tập như: thi rớt, bị

điểm kém…

- Do bị mất danh dự, bị sỉ nhục trước trường, trước tập thể lớp, bị

người thân xúc phạm, vu oan, hiểu lầm

- Bị áp lực do gia đình, nhà trường kỳ vọng ở các em quá cao trong

học tập.

- Phải chịu những đợt khủng hoảng kéo dài, có cảm giác cô đơn không

còn ai để tâm sự, chia sẻ.

- Mặc cảm với tội lỗi như bị cưỡng hiếp, quay cóp bị phát hiện…

Tự tử thực chất là kết quả của sự cộng hưởng giữa 3 cái thiếu: Thiếu cân

bằng trong tâm sinh lý lứa tuổi, thiếu kỹ năng ứng phó, thiếu chỗ dựa từ

thầy cô, cha mẹ.Vì vậy, người NVYT học đường khi biết trẻ có ý định tự

sát thì cần phải lắng nghe, tạo sự tin tưởng nơi trẻ để trẻ có thể nói về vấn

đề của mình, nguyên nhân dẫn đến ý định tự tử. Việc nói lên ý định tự tử

giúp trẻ dễ dàng bộc lộ những cảm xúc bị kìm nén, những lo âu do stress,

những căng thẳng khi quyết định tự tử [5], [8], [9].

Như vậy, các khó khăn tâm lý của trẻ vị thành niên cần được phát

hiện,thông báo ngay cho ban giáo hiệu nhà trường và phụ huynh học sinh

để tránh kéo dài gây các hậu quả nặng nề về tâm lý. Bên cạnh đó,việc trao

đổi với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh để biết vấn đề thực sự

của trẻ là gì, phối hợp cùng nhau để cùng quan tâm đến trẻ là sự quan tâm

cần thiết mà trẻ đang thực sự thiếu trong giai đoạn này.

20

CHƯƠNG 2

VAI TRÒ CỦA Y TẾ HỌC ĐƯỜNG TRONG HỖ TRỢ TRẺ

VỊ THÀNH NIÊN CÓ KHÓ KHĂN VỀ TÂM LÝ

2.1. Vai trò của tư vấn tâm lý trong y tế học đường

Y tế học đường là một lĩnh vực thuộc chuyên ngành Y học dự phòng

nghiên cứu tác động của điều kiện sống, sinh hoạt và học tập lên cơ thể học

sinh, giáo viên, cán bộ và nhân viên nhà trường, trên cơ sở đó xây dựng và

triển khai các biện pháp can thiệp phù hợp nhằm bảo vệ và nâng cao sức

khoẻ, đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho các em học sinh phát triển một

cách toàn diện.

Theo quyết định số 73/2007-QĐ-BGDĐT của thứ trưởng Bộ Giáo

dục và đào tạo ký ngày 04/12/2007, các nhiệm vụ của y tế học đường bao

gồm 6 nhiệm vụ lien quan đến quản lý và chăm sóc sức khoẻ trong trường

học, vệ sinh trường học, giáo dục sức khoẻ trong trường học... Như vậy,

trong các nhiệm vụ trên mới chỉ đề cập chung đến phòng và điều trị, chăm

sóc các bệnh, tật về thể chất của học sinh. Khảo sát mới đây của Bộ Giáo

dục và Đào tạo cho thấy, đa phần học sinh có nhu cầu tư vấn tâm lý. Tuy

nhiên, tâm lý e ngại, không chủ động trong việc tìm kiếm dịch vụ hỗ trợ đã

cản trở các em. Thực tế, một số trường đã thành lập những phòng tư vấn

tâm lý nhưng việc triển khai còn nhiều hạn chế. Nhiều trường chưa có giáo

viên tư vấn chuyên trách, chủ yếu là giáo viên kiêm nhiệm, đa số góc tư

vấn ghép chung với phòng y tế hoặc phòng Đoàn - Đội, giáo viên tâm lý

chủ yếu phải làm việc ngoài giờ hành chính. Bên cạnh đó, phòng tư vấn

còn gặp phải rào cản lớn về tâm lý, nhiều phụ huynh và học sinh vẫn nghĩ

đó là phòng dành cho những người có vấn đề về mặt tâm thần. Do đó, ngày

28/3 /2011 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành thông tư số

12/2011/TT-BGDĐT, tại điều 16 mục 1 có nêu chức danh “ cán bộ làm

công tác tư vấn cho học sinh” có nhiệm vụ tư vấn cho cha mẹ học sinh và

21

học sinh để giúp các em vượt qua những khó khăn gặp phải trong học tập

và sinh hoạt. Như vậy, vai trò của tư vấn tâm lý bao gồm :

- Nắm bắt tình hình nhằm chủ động tư vấn hay tư vấn phòng ngừa;

không thụ động chờ học sinh tự đến nhờ tư vấn. Các thành viên tổ tư vấn

tâm lý chủ động giới thiệu đến học sinh hoạt động của phòng tư vấn tâm lý

qua trang tin điện tử của trường, trả lời thắc mắc của học sinh qua thư điện

tử….tạo cho học sinh có nhu cầu và kích thích nhu cầu sử dụng tư vấn tâm

lý học đường để nâng cao chất lượng cuộc sống, học tập của các em.

- Bố trí phòng tư vấn tâm lý-hướng nghiệp ở nơi kín đáo, lịch sự tạo

tâm lý thoải mái, gần gũi cho học sinh khi đến liên hệ; không dùng chung

với các phòng khác. Nên trang bị một số sách, báo mà học sinh ưa thích

trong phòng này.

- Ngoài việc tư vấn riêng khi học sinh có nhu cầu, tổ tư vấn tâm lý cần

tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo để tư vấn chung cho học sinh (tư vấn

truyền thông) và tạo điều kiện để học sinh được đối thoại.

- Tổ tư vấn cần phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác trong và

ngoài nhà trường khi thấy cần thiết có sự hỗ trợ đặc biệt.

- Không chỉ tư vấn cho học sinh mà còn phải tư vấn cho cả cha mẹ học

sinh để họ biết cách quản lý con cái và phát hiện sớm những tâm tư, biểu

hiện của học sinh thì việc tư vấn cho học sinh mới thực sự hiệu quả.

- Giáo viên tư vấn hay tư vấn viên phải thân thiện, khéo léo gợi mở để

học sinh giãi bày và phải giữ bí mật thông tin mà học sinh tiết lộ. Làm sao

để học sinh tin tưởng và thích đến Phòng tư vấn tâm lý vào giờ ra chơi hay

lúc rảnh rỗi để trò chuyện và được thấu hiểu [10], [19].

2.2. Một số đặc điểm lưu ý khi giao tiếp với trẻ vị thành niên

2.2.1. Nội dung chú ý khi giao tiếp

Mềm dẻo và hài hước là những đặc điểm quan trọng khi giao tiếp với

bệnh nhân thuộc nhóm tuổi này.

22

Các câu hỏi và nội dung hỏi nên chú ý tới những yếu tố nguy cơ và

đặc điểm về hành vi trong giai đoạn này như sau:

- Các yếu tố nguy cơ của tai nạn

- Bệnh lây truyền qua đường tình dục

- Có thai

- Những xung đột mang tính cá nhân

- Chế độ ăn kiêng

- Sử dụng rượu, thuốc lá, chất gây nghiện

Tư vấn viên cần đưa các hướng dẫn về giáo dục nâng cao sức khỏe

trong khi thảo luận.

2.2.2. Đảm bảo tính bí mật

Trừ những trường hợp đặc biệt như các hành vi tự tử, đe dọa đến tính

mạng hay tiếp tục lạm dụng chất gây nghiện cần được thông báo thì những

thông tin từ các cuộc nói chuyện với nhóm tuổi này không được chia sẻ với

bố mẹ, thầy cô giáo nếu như không được sự đồng ý của trẻ.

Những cuộc tư vấn, thảo luận về vấn đề tình dục và sử dụng chất gây

nghiện cần được tiến hành tại chỗ riêng tư trừ trường hợp đặc biệt theo yêu

cầu của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân đi cùng bố mẹ thì yêu cầu trẻ dời phòng

và tìm chỗ riêng để tiến hành thảo luận.

Mặc dù ở nhóm tuổi này, trẻ rất quan tâm tới những thông tin liên

quan tới hành vi tình dục, phòng tránh thai ngoài ý muốn, phòng

HIV/AIDS, sử dụng chất gây nghiện nhưng thông thường thì người khởi

xướng vấn đề này sẽ là nhân viên tư vấn.

2.2.3. Một số vấn đề liên quan tới pháp luật

Nhiều nhân viên y tế lo ngại về vấn đề chẩn đoán, điều trị cho trẻ ở

lứa tuổi vị thành niên mà không được phép của cha mẹ. Nhìn chung, tại hầu

hết các quốc gia thì việc chẩn đoán và điều trị cho lứa tuổi vị thành niên với

các vấn đề liên quan tới tình dục, sử dụng thuốc gây nghiện, rượu không

23

cần sự đồng ý của cha mẹ. Hay với những vấn đề đe doạn nguy hiểm đến

tính mạng thì cũng không cần sự đồng ý của cha mẹ.

2.3. Hỗ trợ khi trẻ có khó khăn về tâm lý

2.3.1. Tiếp cận để phát hiện các khó khăn tâm lý

Lắng nghe

Commented [T2]: Trang 19- 28, DAUDE Helene, Universite Pierre et Marie Curie, diplome universitaire “Adolescents difficiles: approche psychopathologique et educative”, annee universitaire 2010 - 2011

Lắng nghe để chỉ một loạt thái độ đi cùng với việc nghe đơn thuần

đến nghe chủ động [16], [18]. Nghe chủ động bao gồm việc lắng nghe một

Commented [DTTl3]: AUDOUS G. et BARRES R. – communication 2 – la communication dans le secteur du sanitaire et social – Vanves – Editions Foucher – 2005 – page 45

người mà không phán xét gì về những điều họ nói, và cho họ thấy rằng

thông điệp và những tình cảm của họ đã được hiểu rõ. Như vậy trong cuộc

hội thoại, người nghe đón nhận thông tin từ người khác, chú ý đến ngôn

ngữ cơ thể của người nói, và có một thái độ thấu hiểu. Ở trẻ vị thành niên

có rất nhiều khó khăn như đã nói ở trên, ở giai đoạn này, trẻ rất dễ bị tổn

thương, trẻ luôn cho rằng mình đã đủ lớn, đủ trưởng thành nhưng thật ra trẻ

vẫn cần sự quan tâm, chăm sóc của người lớn. Trẻ rất nhạy cảm với thái độ

của người đối diện, vì vậy khi trẻ tìm đến phòng y tế với tâm trạng buồn bã,

chán nản, thất vọng, thậm chí là khóc, là muốn tự tử. Lúc này NVYT học

đường phải lắng nghe những tâm tư, tình cảm của trẻ. Điều này thể hiện sự

tôn trọng trẻ, thể hiện rằng những vẫn đề của trẻ được người lớn thực sự

quan tâm, chú ý đến. Chỉ khi trẻ nói ra được những khó khăn của mình thì

chúng ta mới có thể giúp đỡ trẻ. Vì vậy, kỹ năng lắng nghe là rất quan

trọng. Nhưng trước hết, NVYT phải có được mối quan hệ tốt với trẻ. Mối

quan hệ này được xây dựng bằng chính công việc hàng ngày qua việc chăm

sóc những vết thương cho trẻ, qua việc chăm sóc trẻ khi trẻ ốm, qua việc ở

bên trẻ mỗi khi trẻ gặp khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống.

Khi trẻ được quan tâm, chăm sóc tốt, trẻ có thể sẽ chia sẻ các vấn đề của

mình, rằng trẻ cảm thấy tin tưởng và mỗi khi bạn bè trẻ có những khó

khăn, phòng y tế là một trong những nơi mà trẻ khuyên bạn mình tìm đến.

Trong một thử nghiệm của DAUDE Helene, tác giả cố tình đứng trong

hành lang trước cửa phòng y tế, nhất là trong giờ nghỉ giữa hai tiết học

24

hoặc giờ ra chơi của trẻ, để nhìn thấy trẻ và để được trẻ nhìn thấy. Bà

chào trẻ bằng tên của chúng, hỏi thăm tình hình của trẻ. Việc chào hỏi và

gọi tên của trẻ chứng minh rằng trẻ được quan tâm và điều này khiến trẻ

cảm thấy vui vẻ [16].

Bên cạnh đó, trong quá trình giao tiếp, lắng nghe, NVYT học đường

còn phải thể hiện sự đồng cảm. Sự đồng cảm là trong mối quan hệ giữa

người tư vấn hay NVYT và học sinh được thể hiện bằng sự thấu hiểu và

tôn trọng ý nghĩ, cảm xúc và thái độ của các em. Sự đồng cảm đóng vai trò

rất hiệu quả trong việc giao tiếp với các em [2].

Thu thập thông tin

Có những trẻ ngay trong lần giao tiếp đầu tiên đã thể hiện ra rằng

bản thân có những khó khăn bằng cách: buồn bã, khóc, than phiền về vấn

đề của mình. Tức là trẻ chủ động cho ta thấy rằng trẻ đang cần được chú ý

đến. Tuy nhiên có những trẻ không có biểu hiện gì ra bên ngoài rằng trẻ

đang cần sự hỗ trợ. Khi đó NVYT học đường phải tinh ý để phát hiện ra

đượcvấn đề ở trẻ. Khó khăn tâm lý thường gặp ở những trẻ thường xuyên

vào phòng y tế với lý do đau đầu, đau bụng, hay đau ở một cơ quan nào đó

nhưng không rõ ràng và không có những dấu hiệu, triệu chứng khác đi kèm

[11], [17].

25

Hình 1. Lắng nghe và khuyến khích học sinh chia sẻ

Thu thập thông tin từ trẻ : bằng cách lắng nghe trẻ. Ví dụ, khi trẻ nói

là trẻ rất buồn hoặc chán nản thì cần lắng nghe trẻ giãi bày. Đồng thời khéo

léo đưa ra những câu hỏi gợi mở để biết trẻ đang gặp khó khăn gì [3].

Thu thập thông tin và xác nhận với giáo viên: trẻ có vấn đề gì trong

học tập hay trong giao tiếp trong lớp không? Gần đây trẻ có phàn nàn về

điều gì không? Trẻ có biểu hiện thể chất hay tinh thần gì đặc biệt không?

(ví dụ mệt mỏi, uể oải, ít cười nói, mất tập trung…). Nếu có thì từ bao giờ?

Phản ứng của trẻ ra sao? Những phản ứng này xảy ra có thường xuyên

không? Những phản ứng này có đi kèm với các dấu hiệu khác? Những biểu

hiện, phản ứng bất thường ở trong hoàn cảnh nào, với một hay nhiều

người ? Mối quan hệ của trẻ với thầy cô, bạn bè như thế nào ?

Gặp gỡ và trao đổi với phụ huynh học sinh: Trẻ có biểu hiện gì đặc

biệt không? Gia đình có đang gặp biến cố gì không? (bố mẹ ly thân, ly

26

hôn? gia đình có người thân mới mất ? …) ; trẻ có kêu ca, phàn nàn gì

không?

Việc liên lạc với phụ huynh học sinh có thể giúp NVYT biết được cha mẹ

trẻ phản ứng ra sao trước những cử chỉ, hành vi lạ ở trẻ.

Tìm hiểu qua những người bạn của trẻ

Thông thường khi trao đổi với giáo viên, phụ huynhvà bạn bè của trẻ

thì sẽ khai thác được rất nhiều thông tin bổ ích. Bởi họ là những người ở

bên cạnh học sinh nhiều nhất. Cha mẹ cũng là người hiểu con cái mình hơn

ai hết. Trong mọi trường hợp, cần chú ý không bao giờ chỉ nghe lời một

phía từ trẻ, cần phải trao đổi thông tin với các bên liên quan để có cái nhìn

tổng thể, khách quan về vấn đề của trẻ.

Thăm khám thực thể:để loại trừ khả năng trẻ bị bệnh thật. Ví dụ, dạo

gần đây trẻ thường xuyên vào phòng y tế với lý do đau đầu, lần này trẻ lấy

lý do đau bụng. Sau khi thăm khám và hỏi bệnh, NVYT chưa thấy có dấu

hiệu gì bất thường, khi đó, có thể nghĩ đến việc trẻ đang có một lo lắng nào

đó. Có thể hỏi trẻ xem trẻ đang gặp khó khăn gì không…Sau đó, người

NVYT phải ghi chép chẩn thận những bất thường đã phát hiện.

2.3.2. Xác định những khó khăn tâm lý mà trẻ đang gặp phải

Từ các thông tin thu được, NVYT phải phân loại và xác định xem

khó khăn tâm lý của trẻ thuộc nhóm nào, những khó khăn ấy đã ảnh hưởng

gì đến học tập, sinh hoạt của trẻ hay chưa ? Đồng thời, dựa vào các thông

tin trên cũng gợi ý tới những nhóm người có liên quan trong việc hỗ trợ học

sinh.Dựa vào đó, người NVYT làm công tác tư vấn tâm lý có thể xây dựng

nên kế hoạch hỗ trợ, chăm sóc phù hợp.

2.3.3. Xây dựng kế hoạch hỗ trợ trẻ gặp khó khăn về tâm lý

Khi đã xác định được khó khăn của trẻ, cần thông báo với giáo viên

chủ nhiệm và gia đình để có sự phối hợp trong việc hỗ trợ trẻ và theo dõi

các diễn biến ở trẻ. Trong một số trường hợp cần thiết, thậm chí NVYT

27

phải báo ngay cho ban giám hiệu trường và gia đình trẻ như : Trẻ có ý định

tự sát, trẻ gặp nguy hiểm …

Thứ nhất: Người NVYT phải tìm cách thông báo cho giáo viên biết rằng

trẻ đang trong phòng y tế khi đang trong giờ học, thông báo về tình hình

của trẻ hoặc trao đổi về vấn đề của trẻ với giáo viên. Ví dụ, khi trẻ bị

thương trong giờ ra chơi, nếu trẻ chưa thể trở về lớp học ngay thì thể nhờ

nhân viên trong trường hoặc bạn học của trẻ thông báo đến giáo viên rằng

trẻ đang phòng y tế. Điều này giúp cho việc quản lý học sinh được chặt chẽ

hơn. Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết có thể liên lạc với giáo viên bằng

thư điện tử hoặc bằng tin nhắn SMS. Ngược lại, người NVYT cũng thông

báo cho giáo viên về tình hình của trẻ để giáo viên nắm được thông tin.

Như vậy việc trao đổi thông tin ở đây phải là hai chiều [3].

Thứ hai, NVYT học đường cũng cần phải liên lạc với phụ huynh học sinh.

Mỗi phụ huynh có một trình độ hiểu biết khác nhau, quan điểm về giáo dục

của mỗi gia đình cũng khác nhau nhưng việc thông báo với phụ huynh học

sinh, trao đổi tình hình của trẻ là rất cần thiết. Với những trường hợp dặc

biệt, có thể đề nghị một cuộc hẹn phụ huynh học sinh với giáo viên hoặc

ban giám hiệu nhà trường và có sự tham gia của NVYT. Việc xây dựng

mối liên hệ tốt với phụ huynh cũng giúp cho NVYT học đường có được

những thông tin cập nhật của trẻ như: Gia đình đã nói chuyện với trẻ về vấn

đề của trẻ chưa? Trẻ cảm thấy tốt hơn chưa? Trẻ đã gặp chuyên gia tâm lý

chưa? Sau khi gặp chuyên gia tâm lý thì kết quả như thế nào? Trẻ tiến triển

đến đâu? … Từ đó, giúp cho việc theo dõi trẻ được hiệu quả hơn và nếu trẻ

có quay lại phòng y tế thì NVYT cũng chủ động hơn trong việc giao tiếp và

xử trí. Trong trường hợp các khó khăn của trẻ không thể giải quyết được và

có nguy cơ trở thành các rối loạn tâm thần, NVYT cần xin ý kiến nhà

trường, tư vấn gia đình đưa trẻ đi khám để được điều trị sớm.

Mặc dù sau khi được nhà trường và gia đình giúp đỡ hỗ trợ nhưng cũng

chưa thể chắc chắn là vấn đề của trẻ được giải quyết triệt để, nhất là ở lứa

28

tuổi vị thành niên rất bồng bột và nông nổi, trẻ vẫn cần sự quan tâm theo

dõi từ phía gia đình và nhà trường [19].

Hình 2. Gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh học sinh

2.3.4. Tư vấn, giáo dục sức khỏe

Thực tế cho thấy, cách thức giải quyết khó khăn mà trẻ ít lựa chọn

nhất là tham vấn tại các trung tâm/phòng tư vấn tâm lý, đặc biệt với sự trợ

giúp của những người tham vấn chuyên nghiệp [11]. Do đó, đối với cá

nhân học sinh đang gặp khó khăn về tâm lý, cần thống nhất với trẻ thời

gian mà trẻ có thể đến để chia sẻ trực tiếp trong ngày hoặc trong tuần. Ví

dụ, trẻ cảm thấy rất buồn vì điểm kém hoặc vì gia đình không hòa thuận,

người tư vấn có thể động viên an ủi trẻ và giải thích với trẻ rằng trẻ bị điểm

kém có thể do chưa tìm được phương pháp học đúng hay việc bố mẹ bất

hòa không phải do lỗi ở trẻ, rằng điều đó có thể xảy ra trong cuộc sống, bố

mẹ mà biết trẻ buồn hay học kém vì chuyện của họ thì họ sẽ càng lo lắng

hơn. Và cuối cùng việc trẻ buồn chán không giải quyết được vấn đề mà

thậm chí còn làm vấn đề tồi tệ hơn. NVYT có thể đưa ra lời khuyên cho trẻ

29

như chơi các môn thể thao lành mạnh, chia sẻ nhiều hơn với bố mẹ và bạn

bè, làm việc mà trẻ yêu thích trong khuôn khổ cho phép, suy nghĩ tích

cực… Nếu trẻ có những bất hòa với cha mẹ thì NVYT có thể lắng nghe

trẻ nói về những vấn đề đang gặp phải sau đó nhẹ nhàng giải thích với

trẻ, giúp trẻ cố gắng gần gũi với bố mẹ hơn. Nếu trẻ có thể coi bố mẹ

như những người bạn thì trẻ sẽ dễ dàng chia sẻ mọi vấn đề của mình hơn

rất nhiều [2], [19].

Đối với tập thể, thực hiện các buổi tuyên truyền giáo dục sức khỏe

trong lớp học với sự hỗ trợ của giáo viên và các giáo cụ trực quan như: một

đoạn phim theo chủ đề, tranh ảnh, …). Ngoài ra, có thể sưu tầm hoặc viết

bài liên quan đến chủ đề và đọc trên loa phát thanh trường trong giờ sinh

hoạt lớp, đầu giờ hay trong giờ ra chơi. Đẩy mạnh các hoạt động tập thể

phong phú, hấp dẫn để thu hút các học sinh tham gia, giúp trẻ hiểu biết

hơn, đồng cảm hơn với bạn bè, cùng giúp đỡ nhau trong học tập và cuộc

sống [10].

30

Hình 3. Tổ chức hoạt động tập thể

2.3.5. Lượng giá

Có đánh giá mới biết được mức độ tốt, chưa tốt để có có kế hoạch

thay đổi cho phù hợp. Bước lượng giá vừa để đánh giá hiệu quả của quá

trình tư vấn, hỗ trợ nhưng cũng là để theo dõi đánh giá tiến triển ở trẻ. Để

lượng giá trong hỗ trợ trẻ có khó khăn tâm lý, NVYT học đường có thể

thực hiện bằng nhiều cách, nhiều nguồn và vào nhiều thời điểm khác nhau:

Quan sát, đánh giá tâm trạng, tình trạng của trẻ trong và sau buổi nói

chuyện, trao đổi. Trẻ có vui vẻ, tự tin hơn không? Trẻ có còn phàn nàn là

trẻ đau ở đâu nữa không?

Hỏi trực tiếp trẻ xem trẻ cảm thấy như thế nào? Trẻ có còn băn khoăn về

điều gì nữa không?

31

Hỏi giáo viên, cha mẹ trẻ và bạn bè trẻ : Sau khi thông báo tình hình của trẻ

với giáo viên và phụ huynh học sinh, cần chắc chắn những người này sẽ

phối hợp hỗ trợ, quan tâm, chú ý đến trẻ. Vì vậy, NVYT có thể hỏi thăm

tình hình, tiến triển của trẻ thông qua họ. Khi nắm được tình hình của trẻ,

NVYT sẽ có thể lượng giá được kết quả đã đạt được, tìm hiểu xem điều gì

được và điều gì là chưa được. Nếu trẻ dần tốt lên thì đó là tín hiệu đáng

mừng nhưng vẫn cần phải phối hợp với các bên để theo dõi và hỗ trợ trẻ.

Nếu như tình trạng trẻ vẫn vậy hoặc xấu hơn thì NVYT học đường cần phải

phối hợp với các bên để tìm hiểu nguyên nhân thực sự, cùng đề ra giải pháp

để hỗ trợ trẻ, thậm chí có thể phải tìm kiếm sự hỗ trợ của chuyên gia.

32

KẾT LUẬN

Để hỗ trợ trẻ vị thành niên có khó khăn về tâm lý một cách có hiệu

quả, người nhân viên y tế có tham gia tư vấn tâm lý trong trường học cần

chú ý các vấn đề sau :

1. Tiếp cận để phát hiện khó khăn tâm lý mà trẻ đang có một cách

phù hợp: lắng nghe, đồng cảm với trẻ để trẻ bày tỏ; tìm kiếm các thông tin

từ những người xung quanh như bạn bè, cha mẹ, thầy cô giáo.

2. Xác định được khó khăn tâm lý của trẻ thuộc nhóm nào; mức độ

ảnh hưởng của vấn đề: khó khăn ấy đã gây ảnh hưởng gì tới học tập, tới

cuộc sống của trẻ chưa; các đối tượng liên quan đến khó khăn của trẻ.

3. Xây dựng kế hoạch hỗ trợ trẻ: thiết lập thời gian tư vấn với cá

nhân trẻ, gặp gỡ các bên liên quan để phối hợp, trường hợp đặc biệt cần báo

cáo lãnh đạo trường để tìm sự hỗ trợ chuyên khoa.

4. Thực hiện tư vấn hỗ trợ, giáo dục sức khỏe cho trẻ: áp dụng linh

hoạt các kỹ năng tư vấn.

5. Lượng giá quá trình hỗ trợ: thực hiện lượng giá thường xuyên

trong và sau khi tư vấn hỗ trợ để điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp.

33

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ môn Nhi, Trường Đại học Y Hà Nội (2013), Bài giảng nhi khoa

tập 1, Nhà xuất bản Y học, 321 tr.

2. Phạm Thị Minh Đức (2012), Tâm lý và đạo đức y học, NXB Giáo

dục Việt Nam, 138 tr.

3. Nguyễn Văn Hiến (2006), Khoa học hành vi và giáo dục sức khỏe,

Nhà xuất bản Y học.

4. Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Thị Thu Nam, Lê Quang Bình, Vũ

Kiều Châu Loan (2013), Trẻ em đường phố đồng tính, song tính và

chuyển giới tại thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản thế giới, 75 tr.

5. Nguyễn Thị Liên, Đỗ Thị Thư, Trần Thị Xuyến, Ngô Thu Dung

(2012), Những khó khăn, rào cản tâm lý đối với học sinh lớp 12 hiện

nay trên địa bàn Hà Nội, Khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Giáo

dục - Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Nguyễn Trọng Lăng (2013), “Rối nhiễu tâm lý thường gặp ở trẻ em”,

Tạp chí Khoa học xã hội và nhân văn, số 8 (tháng 3/2013), tr. 64 -

70

7. Đặng Hoàng Minh (2013), Sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam: thực

trạng và các yếu tố nguy cơ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 113 tr.

8. Phan Trọng Ngọ, Trần Thị Lệ Thu (2014), Khó khăn tâm lý của học

sinh trung học cơ sở và vai trò của các nhà tâm lý học trẻ tuổi trong

hệ thống học đường, Kỷ yếu hội thảo khoa học toàn quốc về sức

khỏe tâm thần trường học, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố

Hồ Chí Minh.

9. Đỗ Thị Hạnh Phúc (2010), “Quan niệm của giáo viên về tình bạn và

giáo dục tình bạn cho học sinh Trung học Cơ sở”, Tạp chí Giáo dục,

số 240 (2010), tr.23-25

10. Đỗ Thị Hạnh Phúc (2007), “Thử nghiệm tác động nhằm xây dựng

quan hệ tích cực của học sinh THCS trong lớp học”, Tạp chí Giáo

dục, số 179 (2007), tr.13-14.

11. Đỗ Thị Hạnh Phúc (2007), “Những khó khăn tâm lí ở học sinh

THCS”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 27 (2007), tr.15-19.

12. Trịnh Văn Thành, Nguyễn Thị Yến, Ngô Thu Dung (2012), Rào cản

tâm lý của học sinh lớp 12, Khóa luận tốt nghiệp trường Đại học

Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội.

13. Alain BENTOLILA (2007), “Le verbe contre la barbarie”, Edition

Odile Jacob

14. Bulletin Officiel du ministère de l’Education Nationale et du ministère

de la Recherche (2001), “Mission des infirmiers de l’Education

Nationale”, Politique de santé en faveur des élèves, page 21 – 33

15. Caroline CHATELARD (2013), “Quand l’école devient sa plus

grande peur”, Le Progres, page 9

16. Hélène DAUDE (2011), “L’infirmière scolaire face à la demande de

soins d’adolescents : une approche spécifique ?”, Mémoire,

Université Pierre et Marie Curie

17. Julie GASTEBOIS (2012), “Difficultés scolaires des enfants

confrontés à des séparations familiales : détection des symptômes et

pistes de remédiations”, Mémoire de recherche Université

d’Orléans, page 4, 5, 7 – 9, 17 – 20

18. AUDOUS G. et BARRES R. (2005), Communication 2, La

communication dans le secteur du sanitaire et social, Vanves,

Editions Foucher, page 45

19. Daniel MARCELLI (2008), Adolescence et psychopathologie,

Edition Masson.

20. Unicef (2011), Adolescence an age of opportunity, The state of the

world’s children 2011, French Edition – Marc Chalamet, Spanish

Edition – Carlos Perellón.