Vấn đề nguồn gốc ngôn ngữ
2. Tiền thân của ngôn ngữ loài người
Mệnh đề ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động thực ra chỉ mới khẳng định điều
kiện nảy sinh ngôn ngữ chứ chưa nói rõ ngôn ngđã nảy sinh từ cái gì. Những
giải thuyết vnguồn gốc ngôn ngữ của ngôn ngtrước Mác, nếu như không giải
thích được những điều kiện tạo ra ngôn ngữ thì ít nhiều đều hướng về tiền thân của
ngôn ngloài người. Hiển nhiên, tiền thân của ngôn ngữ không thể thế của
tay hay của thân thể như Marr môn phái ca ông chủ trương. Thừa nhân thế
của tay hay của thân thể là tiền thân của ngôn ngữ là chưasở. Lịch sử không
hbiết một xã hội loài người nào lạc hậu đến đâu chăng nữa lại không có
ngôn ngthành tiếng. Nhân chủng học không hề biết một dân tộc nhỏ bé, lạc
hậu nào, c lỗ hay còn clỗ hơn người châu Úc hay dân Đất lửa thế kỉ trước
chẳng hạn, lại không ngôn ngữ thành tiếng. Cho nên, githuyết lúc đầu con
người chưa ngôn ngữ thành tiếng duy trừu tượng, muốn diễn đạt cái
duy tiền logic đó người ta dùng ngôn ngcử chỉ, tức dùng thế của tay, của
thân thể, thậm chí của mắt để tỏ ý nhất định, nhưng những cử chđó và âm thanh
của ngôn ngữ không tính chất kế thừa lịch sử nào bi vì cchỉ dựa vào ấn
tượng thị giác còn ngữ âm dựa vào ấn tượng thính giác.
Một số người căn cứ vào skhác nhau về bản chất và chức năng của ngôn ngữ
với các âm được bắt chước, tiếng kêu trong lao động và tiếng kêu cm thán để phủ
nhận giá trị tiền thân của những thứ đó không đúng. Người vượn cũng khác
nhau vchất nhưng vượn vẫn là tiền thân của người; chữ viết đồ hoạ nguyên
thuỷ khác nhau về chất nhưng đồ hoạ nguyên thuvẫn là tiền thân của chữ viết.
Theo chúng tôi, ngôn ng với cách hệ thống tín hiệu thứ hai phải bắt
nguồn thệ thống tín hiệu thứ nhất con người. Hệ thống tín hiệu thứ nhất là tất
c những ấn tượng, cảm giác và biểu tượng thu được từ bối cảnh tự nhiên bên
ngoài thông qua những phản xạ, kích thích dạng mọi cảm giác: thính giác, thị
giác, xúc giác... Hthống tín hiệu thnhất tiến hành giao tiếp trong phạm vi tư
duy hình tượng, một mặt lấy hình tượng mà bmáy cảm giác nhận được làm
cái biểu hiện còn cái được biểu hiện là tư duy hình tượng. Sự giao tiếp như vậy rất
đơn vì không tư duy trừu tượng. Nhưng dầu sao cũng vẫn có tác dụng
giao tiếp. Chẳng hạn, một người nguyên thukêu lên một tiếng, những người khác
lập tức xúm lại, bởi vì tiếng kêu đó làm cho người khác biết là thức ăn... Phạm
vi của hệ thống tín hiệu thứ nhất con người nguyên thurất rộng. Bất cứ hình
tượng nào mà bmáy cảm giác hình thành nên đều có thể trở thành "cái biểu hiện"
của hệ thống tín hiệu thnhất. Nhưng không phải ngôn ngữ bắt nguồn từ tất cả hệ
thống tín hiệu thứ nhất. Vì ngôn nglấy ngữ âm làm vật kích thích vật chất, lấy
khái nim làm nội dung chính của những vật kích thích ấy, cho nên chỉ bộ phận hệ
thống tín hiệu thứ nhất nào tác dụng giao tiếp lấy âm thanh làm vật kích thích
mới trở thành ngôn ngữ.
Như vậy, thể một phần của sự bắt chước âm thanh là nguồn gốc của một số
thành phần ngôn ngữ. Nhưng phải là những âm thanh mà con người mô phỏng âm
thanh do svật phát ra để làm tín hiệu giao tiếp. Sự bắt chước âm thanh theo cách
hiểu của Platon và Augustin thời cổ đại, cũng như sự bắt chước âm thanh với
cách dùng đặc điểm của tư thế bộ máy phát âm để phỏng đặc điểm của s
vật khách quan không thể là tiền thân của ngôn ngữ. Ngay chúng ta vẫn chưa
giải được rõ ràng những mối quan hệ tượng thanh ấy, huống hồ là người nguyên
thuỷ thời xưa.
Tương tự, những bộ phận tiếng kêu trong lao động, tiếng kêu cm thán tác
dụng giao tiếp với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ nhất, đều có thể trở thành những
bộ phận cấu thành của ngôn ngữ sau này