
3- Tăng cường khẳ năng kiểm kê kiểm soát của nhà nước đối với sự hoạt động của
doanh nghiệp.
Nhà nước không han chế khả năng sản xuất của doanh nghiệp nhưng mặt khác tăng
cường công tác kiểm kê kiểm soát đảm bảo môi trường kinh doanh luôn trong sạch
và răng nguồn thu từ thuế cho ngân sách. Nhà nước cần phải:
_ Tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp tự do kinh doanh.
_Thành lập công ty kiểm toán tư nhân và nhà nước đặt dưới sự quản lý và chỉ đạo
nội vụ của bộ tư pháp.
_ Thực hiện chế độ nghiêm ngặt đăng kí hệ thống kế toán.
4- Cải cách bộ máy hành chính, hiện đại hoá nhà nước.
Bộ máy quản lý hành chính nước ta còn khá cồng kềnh chồng chéo. Tệ quan liêu
tham nhũng còn là vấn đề cấp bách. Chúng ta phải rà soát loại bỏ những quy định,
phương thức tổ chức cũ, đảm bảo sự quản lý hiệu quả, không chồng chéo. Nâng cao
năng lực đội ngũ cán bộ nhà nước đảm bảo người quản lý đủ trình độ, chuyên môn,
nhận thức bản lĩnh chính trị. Đưa hệ thống tin học vào quản lý đảm bảo sự khách
quan khoa học, tiết kiệm thời gian.
5- Đối với công tác kế hoạch hoá theo xu hướng kế hoạch hoá định hướng đồng thời
đổi mới hệ thống mục tiêu định hướng.
6- Đổi mới hệ thống thông tin kiểm tra theo yêu cầu cơ chế thị trường.
Để phù hợp với cơ chế mới và làm đúng chức năng, mô tả thực trạng thị trường
hàng, dịch vụ dự báo xu hưóng báo động giữa cung và cầugiá cả và và các trạng
thái của sản lượng việc làm, giá cả phải căn cứ vào hệ thống mục tiêu quản lý theo
cơ chế mới, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch hoá định hướng theo cơ chế mới cải tạo kênh
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

thị trường vào hệ hệ thống chỉ tiêu thị trường kinh tế quản ly cho phù hợp với việc
điều hành quản lý kinh tế theo cơ chế mới.
7- Đổi mới công thức sử dụng các chính sách kinh tế theo yêu cầu kinh tế thị
trường, tạo cơ chế phù hợp với chính sách, ổn định kinh tế vĩ mô.
8-Đổi mới hệ thống pháp chế theo định hướng dân chủ hoá nền kinh tế.
9- Hoàn thiện đổi mới quản lý nhà nước về tiền tệ tín dụng ngân hàng.
10-ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát.
11- Đổi mới chế độ tiền lương.
12- Tăng cường phối hợp các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô.
Để thực hiện được mục tiêu ổn định hình thái kinh tế mà Đảng đề ra là làm cho dân
giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh, đất nước chuyển mình lên chủ nghĩa x•
hội thì đi đôi với việc củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất, chúng ta nhất thiết phải
phát triển lực lượng sản xuất, vì không có lực lượng sản xuất hùng hậu với năng
suất cao thì không thể nói đến một nền kinh tế vững mạnh.
Mà muốn có năng suất lao động cao thì không chỉ dựa vào nông nghiệp, sử dụng
lao động thủ công mà phải phát triển công nghiệp đi lên đổi mới công nghệ ngày
càng hiện đại. Nói cách khác là Nhà nước ta đã tiến hành theo hiện đại hoá. Đó là
bước đi tất yếu của một quốc gia muốn đi lên từ một nền kinh tế lạc hậu, nghèo nàn
và đó cũng là xu thế chung của lịch sử.
Một lần nữa ta khẳng định tính tất yếu của hình thái kinh tế xã hội đưa đất nước ta
vượt qua một chặng đường dài đi lên một xã hội hoàn thiện. Đó là sự đi lên ngày
càng cao của các nước đang phát triển so với các nước phát triển.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

Nhận định được những điều nói trên và những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế.
Việt Nam, Đảng ta đã xác định tư tưởng nhận thức một cách đúng đắn hơn và đã tạo
ra được vai trò của nó trong việc vận dụng hình thái kinh tế xã hội thông qua các
vấn đề sau:
1.Xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế mới.
Ngày nay không phải đơn thuần là sự phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp mà
còn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với sự đổi mới cơ bản về hình
thái kinh tế và tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Từ đó tạo ra sự cân đối hài hoà
giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc doanh.
Đổi mới cả tư duy suy nghĩ và hành động. Công cuộc đổi mới mà Đảng đ• lựa chọn
là đúng đắn, con đường đó là công nghiệp hoá - hiện đại hoá với việc hình thành và
chuyển dịch kinh tế.
* Phương hướng cụ thể.
Giải quyết là chuyển đổi cơ cấu “công - nông nghiệp và dịch vụ” phù hợp với xu
hướng “mở” của nền kinh tế. Vấn đề này được giải quyết tạo nền tảng vững chắc
cho việc phân công lại lao động hợp lý trong các ngành kinh tế và điều chỉnh hợp lý
với cơ cấu đầu tư.
Hướng chuyển dịch đó là giá trị các ngành dịch vụ tăng nhanh, tỉ lệ sản lượng chiếm
phần lớn trong GDP... Tỉ trọng giá trị sản lượng nông nghiệp giảm dần ( nhưng
lượng tuyệt đối tăng hàng năm).
+ Nông nghiệp (kể cả lâm ngư nghiệp): trong một số năm trước mắt vẫn được coi là
mặt trận hàng đầu. Nhà nước có những chính sách khuyến khích đầu tư vốn khoa
học công nghệ nhằm phát huy thế mạnh tiềm năng của các vùng, hình thành những
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

vùng chuyên canh... tạo cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lí đa dạng phù hợp với điều
kiện sinh thái ở nước ta .
+ Công nghiệp: Đã hình thành một số ngành công nghệ hiện đại có hàm lượng khoa
học - công nghệ hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở những tiền đề cần phảI đạt được đó
là: điện tử tin học, công nghiệp sinh học, vật liệu mới và cơ khí chính xác.
Đa dạng hoá các ngành thuộc kết cấu hạ tầng đi trước một bước gồm năng lượng
(Điện than, dầu khí) giao thông vận tải.
Từ nay đến năm 2010 Nhà nước ta phát triển tiếp một số ngành sản xuất tiêu dùng
và xuất khẩu đi đôi với việc hình thành một số công nghiệp tư liệu cần thiết.
+ Công nghiệp chế biến nông thổ thuỷ sản: đã được chú trọng nhằm nâng cao giá trị
của các mặt hàng lương thực thực phẩm nhằm thu hút khách hàng trên thị trường
quốc tế.
+ Dịch vụ: Đối với ta hiện nay phải hết sức coi trọng và phát huy thế mạnh của các
hoạt động dịch vụ đặc biệt là dịch vụ có thu ngoại tệ mạnh nên Nhà nước ta đ• nâng
cao chất lượng hoạt động của các Ngân hàng trên toàn quốc.
Nâng cao năng lực và trình độ hiện đaị và các ngành dịch vụ kỹ thuật, ngân hàng,
bưu chính viễn thông.
Các dịch vụ về hàng hải và hàng không có triển vọng to lớn, chúng ta chú trọng
phát triển các dịch vụ vận tải biển, dịch vụ vận tải biển quá cảnh.
Ngoài ra vấn đề phân công lại lao động xã hội và tranh thủ vốn đầu tư Nhà nước
cũng như vấn đề giải quyết sớm để phát triển kinh tế.
2.Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

Nước ta hiện nay là một Nhà nước với 80% dân cư đang sinh sống bằng sản xuất
nông nghiệp. Đây là một địa bàn tập trung đại bộ phận người nghèo. Vì vậy, phát
triển hình thái kinh tế xã hội nông thôn đã đang và sẽ là mối quan tâm hàng đầu của
chúng ta. Song nông nghiệp không thể tự mình thay đổi, đổi mới cơ sở vật chất kĩ
thuật công nghệ không có khả năng tăng trưởng nhanh để tạo thêm nhiều công ăn
việc làm cho nông dân mà phải có tác động mạnh mẽ của công nghiệp, dịch vụ . Chỉ
có như vậy sẽ xoá vỡ được trạng thái trì trệ của nền kinh tế nông nghiệp sản xuất
nhỏ xoá đói giảm nghèo nâng cao mức thu nhập bình quân.
Phần trên đã cho ta thấy Đảng và Nhà nước ta đã làm được những gì mà thực tế
trong mấy năm chuyển đổi sản xuất nông nghiệp được phát triển rõ rệt. Hơn nữa
theo kinh nghiệm của các nước Châu á - Thái Bình Dương sự phát triển công
nghiệp giai đoạn đầu chủ yếu được đưa vào nền tảng của nông nghiệp. Công nghiệp
hoá phải tạo cơ sở cho công nghiệp nông thôn phát triển.
Nhà nước đã khuyến khích cơ sở công nghiệp nông thôn thu hút công nghiệp chế
tạo và dịch vụ qua phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn. Chính vì những bước đó
mà việc phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội ở nông thôn là một việc làm cần
thiết trong thời gian trước mắt nhằm đẩy tới một bước công nghiệp hoá - hiện đại
hoá ở nước ta trong những năm tới.
* Chính sách đường lối để phát triển đẩy mạnh hơn nữa nền kinh tế Việt nam hiện
nay
Trong khu vực nông thôn và nông nghiệp phương hướng hàng chiến lược đó là thay
thế nhập khẩu và có hiệu quả thấp bằng hàng hoá có chất lượng cao để xuất khẩu.
Nhiều người cho rằng đây là hướng sai lầm nhưng thực tế không phải vậy.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

