1
tr đc nht
Lee Smolin
Nhiều thuyết trụ không chỉ xem trụ của chúng ta một trong nhiều trụ còn
khẳng định thời gian chẳng hề tồn tại. Lee Smolin không ủng hộ quan niệm đa trụ phi thời
gian đó.
Hồi ba thập kỉ trước, việc nói về những trụ khác không được đa số các nhà vật
xem là một bộ phận của khoa học. Đa số nghiên cứu trong ngành vật lí lí thuyết và vũ trụ học
bàn về những đặc điểm thể quan sát được trong vũ trụ của chúng ta và đa số các bài báo và
thuyết trình seminar đều nhắc đến các kết quả thực nghiệm. Tuy nhiên, kể từ đấy đã có một sự
chuyển hướng từ từ, trong đó ban đầu người ta trở nên chấp nhận nghiên cứu về những
thuyết không chỉ tả trụ của chúng ta, còn cả những trụ khả khác nữa, những
vũ trụ ít chiều hoặc nhiều chiều hơn, hoặc những vũ trụ có những loại hạt và loại lực khác.
Trong vài năm qua, chúng ta đã tiến xa hơn khỏi các lí thuyết của một vũ trụ của chúng ta, khi
những thế giới khác này phát triển từ thực tế có khả năng hợp lí đến thực tế giả thuyết. Giờ thì
người ta đã quen nghe nói về đa trụ - một trụ học lượng tử giả thuyết rằng trụ khả
kiến chúng ta trông thấy xung quanh mình chỉ một trong hằng sa số hay một số
hạn các vũ trụ.
nh: physicsworld.com
2
Giả thuyết đa vũ trụ thường đi song hành với một giả thuyết siêu hình học về bản chất
của thời gian. Nhiều chuyên gia cho rằng trong trụ học lượng tử thời gian không phải
một khái niệm bản, một khái niệm gần đúng phát sinh. Nếu điều này đúng, thì
chúng ta trải nghiệm thời gian trong một trụ phi thời gian những nguyên do tương tự
như nguyên do chúng ta, những người sống trong một trụ lượng tử, trải nghiệm thời gian
tuân theo vật lí học cổ điển: chúng ta gồm một số lượng rất lớn các hạt cơ bản và những sự hài
hòa thống kê phát sinh xác định phần nhiều cái chúng ta trải nghiệm.
Ngoài ra, việc kết hợp giả thuyết đa vũ trụ và giả thuyết phi thời gian thực sự mang lại
cho chúng ta một siêu trụ nh tại. Cho trụ của riêng chúng ta tiến triển theo thời
gian, thì một mức độ sâu sắc hơn, một phần của một tập hợp trụ phi thời gian, bất
diệt.
những giải hợp đưa đến những kết luận này, giống như nhiều người khác
trong ngành vũ trụ học lượng tử, tôi đã xem xét đến chúng. Tuy nhiên, trong vài năm vừa qua,
tôi đã đi đến chỗ tin rằng những kết luận này hết sức sai lầm. Cùng cộng tác với nhà triết
học người Brazil, Roberto Mangabeira Unger, chúng tôi đã thử tìm hiểu nguồn gốc của các
vấn đề phát triển một khái niệm thay thế khác của thời gian quy luật về quy trụ.
Nguyên do chúng tôi làm như thế một phần là do những lo ngại về những lí thuyết này không
biết có kiểm tra được hay không bằng những quan sát có thể làm được, một phần vì những kết
quả hiện nay của những nỗ lực nhằm hiện thực hóa cách tiếp cận phi thời gian và một phần do
những cân nhắc mang tính triết học.
Vấn đề đi cùng với đa vũ trụ phi thời gian
Trong một thế giới phi thời gian trong đó vũ trụ của chúng ta chỉ là một trong nhiều vũ
trụ thực ngang hàng nhau, các định luật vật lí phải rất khác với các định luật mà đa số các nhà
vật lí đã từng có thể nghĩ ra. Đây là vì các định luật vật không còn có thể xác định được bởi
cái chúng ta quan sát thấy trong trụ của riêng chúng ta, chúng phải áp dụng được cho
toàn bộ những tập hợp trụ khổng lồ kia. Một định luật cơ bản khi đó không còn bài trừ cái
xảy ra trong trụ của chúng ta nữa; thay vào đó, mang lại những phân bố xác suất cho
những tính chất của một tập hợp vũ trụ.
Để tìm hiểu nguyên do, thật hữu ích hãy phân biệt giữa khái niệm một định luật
bản một định luật hiệu lực. Một định luật bản được ấn định để giữ tính “siêu phổ
biến” từ những nguyên lí đầu tiên và phải là độc nhất. Lí thuyết dây, chẳng hạn, là một nỗ lực
nhằm khám phá ra những định luật bản như vậy của tự nhiên. Mặt khác, các định luật
hiệu lực thì chi phối những thí nghiệm ở quy mô chúng ta quan sát thấy trực tiếp bên trong
trụ của chúng ta, xuống tới những cấp độ nhỏ khảo sát bởi Máy Va chạm Hadron Lớn lên
tới những cấp độ khảo sát bởi những quan sát vphông nền vi sóng trụ. Chúng ta chỉ
thể quan sát thấy các định luật có hiệu lực, nhưng chúng ta hi vọng có thể suy luận ra chúng từ
những định luật bản nếu không thì cái vừa nói chẳng liên hệ với cái chúng ta quan
sát thấy. Nghi vấn chẳng biết mối liên hệ gián tiếp đó cung cấp đủ sở cho các phép
kiểm tra thực nghiệm các định luật bản sao cho chúng thích hợp với sự hiểu biết khoa học
của chúng ta về thế giới.
3
Thật không may, dường như nếu như lí thuyết dây, hay một lí thuyết tương tự, là đúng,
thì thuyết bản đó thật ra không tiên đoán được các định luật hiệu lực của tự nhiên
những định luật nào. Thay vào đó, làm phát sinh số kiểu hình của những định luật
hiệu lực khả khái niệm tôi đã giới thiệu trong cuốn sách của mình, Life of the Cosmos
(Cuộc sống của trụ - từ kiểu hình một sự liên tưởng tới những dạng thức tồn tại thích
ứng trong sinh học). Như vậy, chúng ta phải giả thuyết vcách thức các định luật hiệu
lực riêng lẻ tả trụ của chúng ta được chọn ra từ bản danh sách tận những khả năng
cho phép bởi thuyết bản. Đây là một trong những động chính cho sự tranh luận về đa
vũ trụ.
Một vài ý tưởng đã được đề xuất cho cách thức chọn ra những định luật có hiệu lực áp
dụng cho vũ trụ của chúng ta từ tập hợp lớn hơn các khả năng có thể. Một khả năng, đã được
nghiên cứu nhiều, là dàn đồng ca vũ trụ bị chi phối bởi các định luật bởi một quá trình thực sự
ngẫu nhiên. Một thí dụ là sự lạm phát vĩnh viễn. Trong kịch bản này, quá trình tạo ra dàn đồng
ca đó xảy ra ở những mức năng lượng cao đến mức làm mất hết tác dụng bất kì tiến trình nào
chúng ta truy xuất thực nghiệm đến. Kết quả một trụ giống như trụ của chúng ta,
được phân bố bởi những cấu trúc tùy thuộc vào điều kiện vật những thang năng lượng
thấp hơn nhiều, rất không điển hình trong dàn đồng ca trụ. Khi đó, người ta phải tùy
thuộc vào nguyên nhân bản để nhặt ra rất ít trụ thích hợp cho sự sống, chúng rất hiếm
trong dàn đồng ca thật sự. Chẳng có gì ngạc nhiên, biết rằng các đặc trưng của dàn đồng ca đó
không phải là đề tài cho các phép kiểm tra thực nghiệm, kết quả là chúng ta không thể đưa ra
các tiên đoán chính xác và rõ ràng về bất cứ thứ gì có thể quan sát thấy trong vũ trụ của riêng
chúng ta.
Một cách tiếp cận khác, thật sự đưa đến ít nhất là một vài tiên đoán, sự chọn lọc tự
nhiên trụ tôi đã đưa ra hồi năm 1992. Ý tưởng này dựa trên một kịch bản trụ học
được xây dựng tương tự như trong sinh học quần thể. Các trụ ra đời từ những “bất chợt”
sâu bên trong các lỗ đen, thế chỗ những dị của chúng, nơi thời gian được giả thuyết kết
thúc, với những trụ mới đang giãn nở. Ý tưởng này đưa đến một tiên đoán rằng một trụ
tiêu biểu một trụ trong đó các thông số được điều chỉnh để tối đa hóa sự hình thành các
lỗ đen. Thật vậy, bằng chứng cho thấy điều này đúng với các định luật chi phối trụ của
chúng ta. Quan trọng nhất, trong lí thuyết này, trụ của chúng ta được cho thuộc loại tiêu
biểu của dàn đồng ca, đưa đến một vài tiên đoán thật sự thể kiểm tra, toàn bộ chúng vẫn
được duy trì kể từ lần đầu tiên chúng được công bố, dụ như tiên đoán rằng giới hạn khối
lượng trên của các sao neutron bền là khoảng 1,6 khối lượng mặt trời.
Sự trái ngược giữa hai loại thuyết đa trụ này dẫn tới một nghi vấn: tại sao
thuyết dựa trên sự chọn lọc tự nhiên nh chất tiên đoán nhưng thuyết dựa trên sự sản
sinh ngẫu nhiên của các trụ thì không tính tiên đoán? Câu hỏi này giúp chúng ta tìm
hiểu tại sao tính xác thực của thời gian là cần thiết để giải thích xem các định luật vật được
chọn ra như thế nào.
ràng một kịch bản trong đó một quần thể trụ tiến hóa, thay chỉ một sự
phân bố ngẫu nhiên phi thời gian, cần đến một khái niệm thời gian có thật ở mức độ trên từng
vũ trụ cá lẻ. Nhưng để hiểu được tại sao bức tranh phi thời gian đó thất bại, chúng ta phải tiến
sâu hơn vào các cơ sở của thuyết lượng tử. Ví dụ, không có thời gian, không giả thuyết
4
rằng cái tồn tại trụ đơn nhất chúng ta quan sát thấy, thì khó đưa ra những phát
biểu có nghĩa về xác suất tương quan với cái chúng ta quan sát thấy trong vũ trụ của chúng ta.
học lượng tử một thuyết mang tính xác suất, cho nên chúng ta gặp phải rắc rối khi
cố mở rộng sang địa hạt trong đó xác suất dường như chẳng ý nghĩa gì. Một số tác giả
đã cố xử câu hỏi y, bằng cách đề xuất những số đo đặc biệt dùng để suy luận ra các tiên
đoán từ dàn đồng ca của các đa vũ trụ. Ít nhất thì cho đến thời khắc hiện tại, không có ai trong
số này được những người khác chứng minh là hợp lí ngoài yêu cầu phải tái dựng lại cái chúng
ta quan sát thấy.
Một vấn đề có liên quan là sự hồi sinh của không gian thời gian cổ điển, cái thuyết
tương đối rộng tả, một phần của một thuyết hiệu lực. Đây phải những mặt nổi
trội của một lí thuyết lượng tử cơ bản, giống hệt như các khái niệm cổ điển về một hạt nằm tại
một nơi xác định đang chuyển động theo những qu đạo xác định nổi lên từ học lượng
tử. Điều y không phải không quan trọng, các khái niệm không-thời gian lượng tử, phát
sinh trong các lí thuyết lượng tử của hấp dẫn, là rất khác.
Cho đến nay, những tiếp cận đến sự lượng tử hấp dẫn đều giả sử rằng cả không gian và
thời gian đều thất bại nét trước việc tái dựng lại không-thời gian chúng ta biết. Mặt
khác, hai phương pháp giả sử rằng thời gian là bản không rõ nét thì lại thành công, ít ra
trong chừng mực nào đó, trong việc tả cách thức không-thời gian thxuất hiện.
Được phát triển nhất trong số nàycác tam giác đạc động học nhân quả, chúngnhững kết
quả ấn tượng gợi đến sự xuất hiện của không-thời gian cổ điển. Một nỗ lực gần đây hơn,
graphity lượng tử, cũng những dấu hiệu bộ cho sự xuất hiện của không gian cho trước
sự tồn tại của thời gian. Ngoài ra, thời gian bản còn cần thiết để nhận thức xác suất
tả sự tiến hóa của các định luật có hiệu lực, chúng gắn liền với vấn đề đầu.
Những kết quả này là bằng chứng số một khiến tôi xét đến ý tưởng rằng có thể phải có
một khái niệm cơ bản chung của thời gian trong bất kì cấp tiếp cận hoàn toàn phù hợp nào với
sự hấp dẫn lượng tử thể hồi sinh thuyết tương đối rộng một cách gần đúng trong đó trụ
rộng lớn. Giả thuyết này được củng cố bởi những kết quả mới đây về sự hấp dẫn cải biến,
một số tác giả cho rằng giải được bài toán tồn tại lâu nay về hằng số trụ - cái cần thiết
cho một không-thời gian cổ điển lớn xuất hiện. Cái đáng chú ý, như đã chỉ bởi các nhà vật
Rafael Sorkin thuộc Viện Vật Lí thuyết Perimeter, William Unruh thuộc trường Đại học
British Columbia, Vancouver, những người khác, phương pháp y tả sự tiến a
trong một thời gian chung liên hệ với thể tích không-thời gian của quá khứ.
Hằng số vũ trụ là gì ?
Để tìm hiểu sự khác biệt giữa hai hình thời gian so với thời gian bản, chúng
ta cần phải đánh giá đúng bao nhiêu khái niệm thông thường của chúng ta về định luật vật
đã tiến triển về mặt lịch sử từ kinh nghiệm quan sát trong phòng thí nghiệm của chúng ta.
Trong phòng thí nghiệm, chúng ta không, bằng định nghĩa, nghiên cứu toàn bộ trụ. Chúng
ta nghiên cứu một hệ thống con nhỏ bé của vũ trụ mà, với một sự gần đúng có phần hợp lí,
thể xem lập (tách biệt khỏi thiết bị đo chúng ta sử dụng để quan sát nó). Khi chúng ta
làm như vậy, chúng ta khảo sát khả năng chúng ta có thể làm cho hệ đó kín mãi mãi, ở những
thời khắc khác và ở những địa điểm khác, với những yếu tố giống như vậy và những cấu hình
5
sắp xếp khác. Chúng ta rút ra các quy luật vật từ cái chung trong một tập hợp lớn các thí
nghiệm, và nghiên cứu cái trở nên khác đi khi những điều kiện ban đầu khác đi. Điều này cho
phép chúng ta đưa ra một sự phân biệt ràng giữa các định luật các điều kiện ban đầu.
Các định luật được giữ bất biến, ít nhất cấp độ thời gian không gian lớn hơn cấp độ
gắn với các thí nghiệm của chúng ta.
Tình huống này hầu như giống nhau đối với đa squan sát thiên văn học. Chúng ta
không thlàm cho các ngôi sao thiên vào bất trạng thái nào chúng ta muốn, nhưng
chúng ta thể quan sát số lượng khổng lồ của chúng chúng ta thể xem chúng là lập
một cách gần đúng. Vì thế, trong thiên văn học, chúng ta còn một minh chứng cho sự phân
biệt giữa các định luật và các điều kiện ban đầu.
Sự phân tách lời giải thích khoa học thành quy luật các điều kiện ban đầu dẫn tới
một trong những khái niệm thông dụng sức mạnh nhất trong vật học khái niệm
không gian cấu hình. Đây không gian của tất cnhững cấu hình, hay trạng thái, khả có,
của hệ. Trong vật cổ điển vật lượng tử, chúng ta giả sử rằng không gian tồn tại tiên
nghiệm nằm ngoài thời gian, người ta thể nghiên cứu độc lập các định luật của
chuyển động. Những định luật này sau đó sẽ chỉ rõ các quy tắc cho điểm tả các điều kiện
ban đầu trong không gian cấu hình tiến triển theo thời gian như thế nào. Chúng ta gọi đây
khuôn khổ Newton luận cho lời giải thích.
Khuôn khổ Newton luận sở cho khẳng định rằng thời gian không phải bản
trong trụ học. Từ quan điểm y, thời gian được xem đơn thuần một thông số trên một
quỹ đạo trong không gian cấu hình, không phải một bộ phận nội tại của quy luật vật lí.
Thời khắc hiện tại, thời gian chúng ta trải nghiệm, không chỗ trong tả y. Các nhà
triết học không tin vào dòng chảy của thời gian thì nhắm đến quỹ đạo trong không gian cấu
hình nói rằng thứ duy nhất thực đó toàn bộ lịch sử của trụ tồn tại độc lập với thời
gian cái trong thuyết tương đối rộng gọi bức tranh “vũ trụ tảng”. Nhiều nhà vật nhà
triết học đã sụp ngã sức cám dỗ của niềm tin vào bức tranh “vũ trụ tảng”. Với họ, kinh
nghiệm của chúng ta về dòng chảy của thời gian chỉ là một ảo tưởng.
Lập luận y thật sai lầm hai nguyên do. Thứ nhất, không chứng tỏ được rằng
thời gian không phải bản. Khi chúng ta quan sát chuyển động, chúng ta ghi lại một loạt
số đo vị trí của một hệ. Những vị trí này thể vẽ ra trên không gian cấu hình, mang lại một
đường cong biểu diễn số đo của chuyển động. Đồ thị này độc lập thời gian, biểu diễn
của một số đo của một chuyển động quá khứ, chuyển động đó, tất nhiên, không còn đang diễn
tiến. Sự tương ứng đó ở giữa một đối tượng toán học, là đối tượng tĩnh, và một loạt số ghi các
quan sát, cũng là đối tượng tĩnh. Thực tế chúng ta có thể tạo ra sự tương ứng này giữa một đối
tượng toán học một số ghi của chuyển động quá khứ không nói lên rằng chuyển động thật,
các quan sát thu được, phi thời gian. ng chẳng nói lên rằng đằng sau sự tiến triển
thật sự trong thời gian của một thế giới thật có tồn tại một sự tương ứng hoàn hảo với một đối
tượng toán học phi thời gian. Việc thừa nhận mối liên hệ mở rộng này là một liên tưởng thuần
túy siêu hình học, không được gợi lên bởi bất cứ thứ gì trong khoa học (Xem “Nguyên tắc
thứ tư: toán học và chủ nghĩa Platon”, phần bên dưới).