VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CHU TRỌNG TRÍ
XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HÌNH THÀNH CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI
Chuyên ngành : Kinh tế Quốc tế
Mã số : 9 31.01.06
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI 2023
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CHU TRỌNG TRÍ
XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HÌNH THÀNH CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI
Chuyên ngành : Kinh tế Quốc tế
Mã số : 9 31.01.06
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS. Ngô Xuân Bình
2. PGS.TS. Nguyễn Huy Hoàng
HÀ NỘI 2023
HÀ NỘI 2023
HÀ NỘI 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu thu
thập, trích dẫn, xử lý từ các nguồn chính thức và của riêng tác giả. Kết quả nêu
trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác.
Tác giả luận án
Chu Trọng Trí
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN ........................................................................ 9
1.1. Nội dung tổng quan ............................................................................................ 9
1.1.1. Các nghiên cứu về sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may của Việt
Nam ..................................................................................................................... 9
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về sự hình thành các FTA thế hệ mới
và sự tham gia của Việt Nam ........................................................................... 20
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về tác động của FTAs thế hệ mới tới
xuất khẩu dệt may của Việt Nam. ..................................................................... 23
1.2. Đánh giá chung ................................................................................................. 30
1.2.1. Kết quả nghiên cứu đã đạt được của các công trình nghiên cứu
trước .................................................................................................................. 30
1.2.2. Khoảng trống nghiên cứu .............................................................. 31
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU DỆT MAY TRONG BỐI
CẢNH VIỆT NAM THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
THẾ HỆ MỚI ...................................................................................................... 33
2.1. Các khái niệm và lý thuyết về xuất khẩu ....................................................... 33
2.1.1. Các khái niệm liên quan đến xuất khẩu dệt may ........................... 33
2.1.2. Một số lý thuyết về xuất khẩu .......................................................... 35
2.2. Khái quát về xuất khẩu dệt may ..................................................................... 41
2.2.1. Vị trí, vai trò của ngành dệt may xuất khẩu dệt may trong nền kinh
tế ........................................................................................................................ 41
2.2.2. Đặc điểm của sản xuất và xuất khẩu dệt may ................................. 45
2.2.3. Vai trò của xuất khẩu dệt may đối với phát triển kinh tế ............... 47
2.2.4. Một số nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam . 49
2.2.5. Các phương thức xuất khẩu dệt may .............................................. 57
2.3. Khái quát về hiệp định thương mại tự do thế hệ mới ................................... 58
2.3.1. Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và sự hình thành các hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới .................................................................... 58
2.3.2. Khái niệm FTA thế hệ mới ................................................................ 60
2.3.3. Đặc điểm của FTA thế hệ mới .......................................................... 62
2.3.4. Tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tới nền
kinh tế của các quốc gia thành viên ................................................................. 67
Tiểu kết chương 2. ................................................................................................... 72
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM TRONG
BỐI CẢNH VIỆT NAM THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ
DO THẾ HỆ MỚI ............................................................................................... 73
3.1. Khái quát về ngành công nghiệp dệt may Việt Nam .................................... 73
3.1.1. Sự hình thành và phát triển của ngành dệt may Việt Nam ............ 73
3.1.2. Khái quát tình hình sản xuất của ngành dệt may Việt Nam ........... 74
3.1.3. Khái quát về các hiệp định tự do thế hệ mới Việt Nam tham gia .. 75
3.2. Thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam ............................................... 75
3.2.1. Kim ngạch xuất khẩu dệt may .......................................................... 81
3.2.2. Các thị trường xuất khẩu ................................................................. 86
3.2.3. Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu ................................................ 98
3.3. Nhận xét, đánh giá về thực trạng xuất khẩu dệt may Việt Nam ............... 102
3.3.1. Những thành công đã đạt được ..................................................... 102
3.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân .................................................... 105
3.4. Tác động của các FTA thế hệ mới tới kim ngạch xuất khẩu dệt may của
Việt Nam................................................................................................................. 112
3.4.1. Cam kết trong CPTPP và tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt
Nam ................................................................................................................. 112
3.4.2. Cam kết trong EVFTA và tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt
Nam ................................................................................................................. 116
3.4.3. Cam kết trong UKVFTA và tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt
Nam ................................................................................................................. 118
Tiểu kết chương 3 .................................................................................................. 120
CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT
KHẨU DỆT MAY TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM THỰC THI CÁC HIỆP
ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI ............................................... 122
4.1. Dự báo nhu cầu thị trường dệt may thế giới ............................................... 122
4.1.1. Các nhân tố tác động tới nhu cầu thị trường dệt may thế giới ...... 122
4.1.2. Dự báo nhu cầu thị trường dệt may thế giới .................................. 131
4.2. Quan điểm, định hướng và mục tiêu xuất khẩu dệt may Việt Nam .......... 133
4.2.1. Quan điểm, định hướng của Việt Nam về xuất khẩu dệt may ....... 133
4.2.2. Mục tiêu xuất khẩu dệt may đến năm 2030 ................................... 136
4.3. Phân tích SWOT xuất khẩu dệt may Việt Nam .......................................... 138
4.3.1. Cơ hội mang lại từ các FTA thế hệ mới đối với xuất khẩu dệt ma 138
4.3.2. Thách thức đối với xuất khẩu dệt may từ các FTA thế hệ mới ...... 144
4.3.3. Điểm mạnh của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam ..................... 153
4.3.4. Điểm yếu của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam ......................... 154
4.4. Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh
Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới ....................... 158
4.4.1. Nhóm giải pháp vĩ mô từ phía nhà nước ........................................ 158
4.4.2. Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp ........................................... 165
Tiểu kết chương 4.................................................................................................... 171
PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................................ 172
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 175
I. Tài liệu tiếng Việt ................................................................................................ 175
II. Tài liệu Tiếng Anh .............................................................................................. 180
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 189
A.Tổng hợp kết quả khảo sát .................................................................................. 189
B. Bảng Khảo Sát .................................................................................................... 194
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
EU: Liên minh châu Âu (European Union)
FTA: Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement)
VITAS: Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vietnam Textile and Apparel
Association)
CPTPP: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific
Partnership)
EVFTA: Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam
(Viet Nam- EURO Free Trade Agreement)
SWOT: Phân tích Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats
UNCOMTRADE: Cơ sở dữ liệu thống kê thương mại quốc tế của Liên hợp
quốc (United Nations Comtrade)
JICA: Tổ chức Hợp tác Quốc tế của Nhật Bản (The Japan
International Cooperation Agency)
NEU: Đại học Kinh tế Quốc dân (National Economics
University)
Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization) WTO:
Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (Vietnam VCCI:
Chamber of Commerce and Industry)
Chương trình phát triển dự án Mekong MPDF:
Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới FTAs:
Sở hữu trí tuệ ( Intellectual Property Right) IPR:
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investmen)
VKFTA: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- Hàn Quốc (Viet
Nam- Korean Free Trade Agreement)
RCEP: Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực ( Regional
Comprehensive Economic Partnership)
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT Bảng Tên Bảng Trang
83 Bảng 3.1 Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam 2009 -
2021
84 Bảng 3.2 Tình hình xuất khẩu các sản phẩm của ngành dệt
may 2020
92 Bảng 3.3 Kim ngạch Xuất khẩu dệt may sang EU (2009 -
2021)
94 Bảng 3.4 Giá trị và tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
sang Vương Quốc Anh giai đoạn 2009 - 2021
Bảng 3.5 96 Top 10 thị trường xuất khẩu dệt may của Việt Nam
năm 2021
Bảng 3.6 97 Xuất khẩu dệt may của Việt Nam đến một số thị
trường chính giai đoạn 2009-2021 (tỷ USD)
Bảng 3.7 Thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 2020 99
Một số chủng loại hàng dệt may xuất khẩu năm 2020 100 Bảng 3.8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
STT hình Tên hình Trang
68 Hình 2.1 Nhận định của người dân và doanh nghiệp về cơ hội
khi Việt Nam tham gia các FTA thế hệ mới
Hình 3.1 108 Nhập khẩu nguyên phụ liệu và xuất khẩu dệt may của
Việt Nam (tỷ USD)
Hình 3.2 110 Tỷ lệ nguyên phụ liệu nhập khẩu trên xuất khẩu của
ngành dệt may Việt Nam
Hình 3.3 Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may 111
124 Hình 4.1 Đánh giá tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối
với xuất khẩu dệt may của Việt Nam
126 Hình 4.2 Đánh giá tác động của xung đột thương mại Mỹ -
Trung đối với xuất khẩu dệt may Việt Nam
Hình 4.3 Các mục tiêu cụ thể của ngành dệt may đến năm 2030 136
Hình 4.4 Đánh giá cơ hội khi tham gia các FTA thế hệ mới 142
149 Hình 4.5 Đánh giá thách thức đối với xuất khẩu dệt may Việt
Nam
Hình 4.6 Thách thức khi Việt Nam thực thi các FTA thế hệ mới 151
Hình 4.7 Mức độ hiểu biết của người dân về các FTA thế hệ mới 152
159 Hình 4.8 Ưu tiên hỗ trợ từ nhà nước đối với doanh nghiệp xuất
khẩu dệt may
Hình 4.9 Ưu tiên thực hiện các giải pháp đối với doanh nghiệp 168
Hình 4.10 Dệt may và Liên kết thị trường 169
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là bước đi tất yếu đối với mọi
quốc gia hiện nay như là một xu thế khách quan và Việt Nam cũng không thể
đứng ngoài xu hướng đó. Trong những năm vừa qua, Việt Nam cho thấy vai
trò quan trọng trong một loạt các tổ chức, sáng kiến về thương mại không chỉ
trong phạm vi khu mà trên phạm vi toàn cầu, điển hình như Khu vực Mậu
dịch tự do ASEAN (AFTA), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Diễn đàn
Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp
định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Bên cạnh
đó, cũng phải kể đến một loạt các hiệp định thương mại song phương với các
đối tác quan trọng như Liên minh Châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung
Quốc. Nói cách khác, tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới diễn ra
sôi động trong dài gian qua của Việt Nam khẳng định quan điểm chiến lược
xuyên suốt của Đảng và Nhà nước; đồng thời, tái khẳng định chiến lược tăng
trưởng kinh tế lấy xuất khẩu làm trọng tâm. Trên bình diện chung, tất cả các
ngành kinh tế của Việt Nam cơ bản đều nhận được nhiều lợi ích từ các hiệp
định thương mại tự do. Tuy nhiên, có thể thấy các vấn đề của ngành dệt may
luôn được xem là nội dung trọng tâm trong đàm phán các hiệp định thương
mại tự do. Có một sự đồng thuận khách quan không chỉ riêng các chuyên gia,
người làm chính sách mà cả giới doanh nghiệp dệt may rằng ngành dệt may
của Việt Nam là ngành có tiềm năng thu được lợi ích lớn nhất khi các hiệp
định FTA được thực thi.
Theo dữ liệu thống kê xuất khẩu của Việt Nam, dệt may là lĩnh vực
xuất khẩu chiến lược của Việt Nam. Trên phạm vi toàn cầu, Việt Nam là nhà
xuất khẩu dệt may lớn thứ tư thế giới, đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ và
Bangladesh. Đáng chú ý, Việt Nam là nhà xuất khẩu dệt may duy nhất trên
1
thế giới duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn kinh tế toàn cầu
suy giảm 2008-2014, chứng tỏ năng lực của ngành xuất khẩu dệt may Việt
Nam đang ngày càng được cải thiện trên trường quốc tế. Theo số liệu thống
kê từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, thị phần xuất khẩu dệt may của Việt Nam
tại các thị trường chính đều tăng mạnh, đặc biệt thị phần tại thị trường chủ
chốt Hoa Kỳ đã tăng chỉ từ hơn 1% năm 2005 lên hơn 10% năm 2015, và đạt
đỉnh 45% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành. Thực tế cũng cho thấy
năng suất lao động kỹ thuật ngành dệt may Việt Nam cũng không ngừng được
cải thiện. Theo dữ liệu của Công đoàn Dệt may Việt Nam, thu nhập bình quân
của công nhân dệt may tăng từ 50 triệu VNĐ năm 2015 lên hơn 80 triệu VNĐ
năm 2019.
Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam vẫn hiện hữu nhiều hạn chế mang
tính căn bản, đặc biệt tỷ lệ sản xuất nguyên liệu nội địa thấp, phần lớn phụ
thuộc chính vào nguồn cung từ thị trường bên người. Kết quả là giá trị gia
tăng trong sản phẩm xuất khẩu chưa tương xứng với năng lực thực sự. Số liệu
từ VITAS chỉ ra một thực tế đáng buồn là năm 2015 Việt Nam nhập khẩu 7,8
tỷ USD nguyên liệu vải, tương đương 58% tổng giá trị nguyên liệu vải đầu
vào cho toàn ngành dệt may. Tình trạng trên càng đáng quan ngại hơn khi
năm 2019 để cung cấp đầu vào cho sản xuất dệt may, Việt Nam phải nhập
khẩu nguyên vải lên tới 11,4 tỷ USD. Thực tế đó cho thấy, mặc dù tốc độ tăng
trưởng giá trị lẫn số lượng xuất khẩu các mặt hàng dệt may cho thấy rất ấn
tượng, Việt Nam vẫn phụ thuộc quan trọng vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu
từ bên ngoài. Bên cạnh đó, các công đoạnh có giá trị gia tăng cao như, thương
hiệu sản phẩm, thiết kế, hay sở hữu các kênh phân phối còn rất hạn chế, cùng
với đó, tính liên kết thị trường còn yếu. Theo VITAS, tính đến năm 2019 Việt
Nam có hơn 6.000 doanh nghiệp dệt may, tuy nhiên có đến 90% tổng số đó
các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (dưới 500 công nhân) (theo Bộ Công
thương, con số này là hơn 8450 doanh nghiệp, bao gồm cả cách nghiệp
nghiệp hộ gia đình và cá thể). Thực tế này cho thấy, mô hình kinh doanh dệt
may của Việt Nam không phải là mô hình cạnh tranh hiệu quả, đặc biệt đặt
2
trong bối cảnh tính cạnh tranh ngành trên quy mô toàn cầu ngày càng khốc
liệt hơn. Ngoài ra, việc quy hoạch vùng trọng điểm phát triển doanh nghiệp
dệt may xuất khẩu chưa thực sự hiệu quả, trong đó phần lớn doanh nghiệp dệt
may sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực cắt và may, chỉ có số ít doanh nghiệp
hoạt động trong các khâu nhuộm, chế tạo vải sợi, đã và đang gây ra sự mất
cân đối nghiêm trọng của ngành dệt may.
Tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với Liên minh
châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình
dương (CPTPP), và các hiệp định thương mại song phương, ngành dệt may
của Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ nhờ việc các mặt
hàng dệt may dễ dàng tiếp cận các thị trường trên thuận lợi hơn. Đặc biệt, việc
tham gia casv FTA thế hệ mới cũng sẽ đòi hỏi các quốc gia thành viên phải
đảm bảo thực thi nguyên tắc xuất xứ (OR), điều này được xem như là một
trong những chỉ dấu sẽ có những tác động tích cực tới ngành dệt may Việt
Nam. Vấn đề đặt ra là, nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may phản
ứng ra sao để biến những lợi ích tiềm năng có được từ các hiệp định thương
mại tự do thế hệ mới trở thành nền tảng góp phần phát triển kinh tế, nhất là sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới không chỉ toàn màu hồng với Việt Nam mà còn
bao gồm nhiều rủi ro, thách thức từ sự cạnh tranh tăng lên, các yêu cầu về tiêu
chuẩn kỹ thuật chặt chẽ hơn... Để tận dụng tốt các cơ hội cũng như việc chuẩn
bị vững vàng vượt qua các thách thức trong bối cảnh mới, Việt Nam tất yếu
cần phải có chính sách, giải pháp hợp lý, đồng bộ để thúc đẩy hơn nữa xuất
khẩu các sản phẩm dệt may của Việt Nam. Vì thế, nghiên cứu sinh đã lựa
chọn đề tài “Xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh hình thành các
hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” làm đề tài cho luận án ngành Kinh
tế quốc tế. Những nghiên cứu, kiến nghị của luận án sẽ là một công trình khảo
cứu có ý nghĩa quan trọng cho các nhà làm chính sách, các doanh nghiệp dệt
may trong việc đưa ra các giải pháp, chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp
3
nhằm tận dụng tốt những lợi ích đến từ việc tham gia các FTA thế hệ mới.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu thực trạng xuất khẩu các mặt hàng dệt may
của Việt Nam trong thời gian qua, Luận án đề xuất một số giải pháp nhằm
thúc đầy xuất khẩu các mặt hàng dệt may trong bối cảnh hình thành các hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới .
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất khẩu dệt may trong bối
cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
- Phân tích và đánh giá tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong
bối cảnh hình thành các FTA thế hệ mới mà Việt Nam đang tham gia.
- Phân tích những cơ hội, khó khăn và thách thức mà xuất khẩu dệt may
Việt Nam sẽ phải đối mặt trong quá trình Việt Nam các FTA thế hệ mới.
- Đánh giá triển vọng xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Qua đó, luận án
đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt Nam trong
bối cảnh hình thành các FTA thế hệ mới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là thực trạng xuất khẩu dệt may của
Việt Nam trong bối cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng xuất khẩu
dệt may của Việt Nam 2009 đến nay (2021). Lý do chọn mốc thời gian này là:
Các FTA thế hệ mới như CPTPP; EVFTA; UKVFTA…được Việt Nam khởi
động đàm phán CPTPP (2019), tiếp theo đó là EVFTA và UKVFTA. Cụ thể:
khởi động tham gia TPP với tư cách là quan sát viên đặc biệt (2009). Sau 3
phiên đàm phán, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định này nhân Hội nghị
Cấp cao APEC tổ chức từ ngày 13 đến ngày 14 tháng 11 năm 2010 tại thành
4
phố Yokohama (Nhật Bản); Tiếp đến tháng 10/2010, Thủ tướng Chính phủ
Việt Nam và Chủ tịch Liên minh châu Âu (EU) đã đồng ý khởi động đàm
phán Hiệp định EVFTA sau khi hai bên hoàn tất các công việc kỹ thuật.
EVFTA là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới giữa Việt Nam
và 28 nước thành viên EU. Thực hiện chỉ đạo của hai nhà lãnh đạo, Việt Nam
và EU đã chính thức tuyên bố khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA vào
ngày 26/6/2012 và sau đó là UKVFTA.
Phạm vi nội dung: Với chủ đề: Xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối
cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Luận án sẽ tập
trung vào nội dung phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt
Nam trên các khía cạnh: Quy mô, kim ngạch xuất khẩu; Thị trường xuất khẩu
và cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu. Các nội dung phân tích này được đặt
trong bối cảnh một số FTA thế hệ mới mà Việt Nam tham gia đã được hình
thành và có hiệu lực. Như vậy, “bối cảnh hình thành FTA thế hệ mới” ở đây
được hiểu là quá trình kể từ khi Việt Nam khởi động đàm phán CPTPP (2009)
tính đến nay (10/2022). Trong giai đoạn này có các FTA thế hệ mới như
CPTPP, EVFTA, UKVFTA đã có hiệu lực và đang được Việt Nam triển khai
thực thi.
Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu các doanh nghiệp xuất khẩu
dệt may của Việt Nam. Tuy nhiên, ở một số trường hợp và bối cảnh cụ thể
không gian và thời gian có thể được mở rộng tương đối nhằm mục đích làm
nổi bật vấn đề nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu khoa học liên
ngành trong nghiên cứu khoa học xã hội như phương pháp phương pháp so
sánh, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê… Nói cách khác,
phương pháp nghiên cứu tại bàn là phương pháp chủ đạo của Luận án. Bên
cạnh đó, phương pháp phân tích SWOT sẽ được sử dụng để bổ sung cho
phương pháp nghiên cứu tại bàn. Đặc biệt, nhằm tăng tính khoa học và tính
chân thực của nghiên cứu, Luận án sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu hiện
5
trường, ở đây là phương pháp khảo sát. Đây sẽ là phương pháp được xem bổ
sung hữu ích và gia tăng tính khoa học cho các phương pháp nghiên cứu tại
bàn được sử dụng trong Luận án.
Dữ liệu sử dựng trong Luận án sẽ được lấy từ hai nguồn dữ liệu sơ cấp
và dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp được nghiên cứu sinh trích xuất từ các cơ
sở dữ liệu tin cậy, chủ yếu từ Tổng cục Tống kế Việt Nam, Tổng cục Hải
quan Việt Nam, Hiệp hội dệt may Việt Nam và Cơ sở dữ liệu thống kê thương
mại quốc tế của Liên hợp quốc (UN Comtrade). Trong khi đó, dữ liệu sơ cấp
được trích xuất từ khảo sát hiện trường thông qua phiếu điều tra khảo sát.
Cách tiếp cận: Luận án sẽ tiếp cận các vấn đề nghiên cứu theo cách tiếp
cận hệ thống, từ cơ sở lý luận đến thực tiễn vấn đề, từ cơ hội và thách thức
đến định hướng chiến lược và giải pháp phát triển.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án có những đóng góp quan trọng cả về lý luận về thực tiễn. Cụ
thể:
- Làm rõ cơ sở lý luận về xuất khẩu dệt may trong bối cảnh hình thành
các hiệp định tự do thế hệ mới. Luận án làm rõ đặc điểm và các nhân tố ảnh
hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Đồng thời, các khái niệm và sự
khác biệt giữa hiệp định thương mại tự do truyền thống và hiệp định thương
mại tự do thế hệ mới cũng được chỉ rõ.
- Phân tích bức tranh xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong bối cảnh
hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Trong đó, những cơ
hội và thách thức, điểm mạnh và điểm yếu của ngành dệt may Việt Nam nói
chung và xuất khẩu dệt may nói riêng được chỉ ra một cách cụ thể.
- Phân tích bối cảnh trong nước và thế giới tác động đến xuất khẩu dệt
may Việt Nam trong quá trình hình thành các hiệp định thương mại tự do thế
hệ mới.
- Phân tích quan điểm, định hướng và các giải pháp để thúc đẩy xuất
khẩu dệt may Việt Nam trong quá trình hình thành các hiệp định thương mại
6
tự do thế hệ mới.
- Từ góc độ tiếp cận đánh giá cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu dệt
may của Việt Nam trong bối cảnh hình thành các FTA thế hệ mới, Luận án đề
xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong
bối cảnh Việt Nam tham gia các FTAs thế hệ mới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận:
Trên cơ sở trình bày vị trí, vai trò cà đặc điểm của xuất khẩu dệt may,
Luận án chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam
trong bối cảnh Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu về lĩnh
vực kinh tế quốc tế nói chung và lĩnh vực thương mại quốc tế nói riêng.
Ý nghĩa thực tiễn:
Luận án đưa ra được cái nhìn tổng quát về tình hình xuất khẩu dệt may
Việt Nam trong bối cảnh hình thành và thực thi các hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới. Đặc biệt, trong bức tranh tổng quát đó, Luận án sẽ nêu bật
được thực trạng xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam, đồng
thời đưa ra được những điểm mạnh và điểm yếu của xuất khẩu dệt may Việt
Nam.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh hình thành và thực thi các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới, Luận án đi sâu xem xét những cơ hội và thách
thức đối với ngành sản xuất dệt may nói chung, trong đó đặc biệt tập trung
vào xuất khẩu dệt may Việt Nam. Trên cơ sở đó, Luận án đề xuất một số giải
pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa xuất khẩu dệt may Việt Nam trong quá trình
hình thành và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của
tác giả và danh mục tài liệu tham khảo, luận án bao gồm 4 chương:
Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề
7
luận án
Chương 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu dệt may trong bối cảnh Việt Nam
tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Chương 3. Thực trạng xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh Việt
Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Chương 4. Định hướng và một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may
Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam thực thi các hiệp định thương mại tự do
8
thế hệ mới
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN
1.1. Nội dung tổng quan
1.1.1. Các nghiên cứu về sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may của Việt
Nam
Ngành sản xuất và xuất khẩu dệt may của Việt Nam mặc dù có lịch sử
phát triển chưa lâu và chỉ thực sự được biết đến rộng rãi kể từ khi Việt Nam
gia nhập WTO, tuy nhiên với sự tăng trưởng bùng nổ cả về số lượng và chất
lượng sản phẩm cho nên chủ đề về sản xuất dệt may Việt Nam nói chung và
xuất khẩu dệt may Việt Nam nói riêng đặc biệt nhận được rất nhiều sự quan
tâm của không chỉ giới làm chính sách, các nhà đầu tư và cả các nhà nghiên
cứu trên thế giới. Chủ đề ngành dệt may Việt Nam nói chung và xuất khẩu dệt
may Việt Nam nói riêng theo đó được khai thác ở nhiều khía cạnh, trên nhiều
góc độ khác nhau, từ chủ trương chính sách, chiến lược phát triển, đến các
vấn đề liên quan đến thành tựu, thất bại, hạn chế, cũng như hạn chế triển vọng
trong tương lai. Trong khuôn khổ của luận án, nghiên cứu sinh sẽ tập trung
tổng quan các công trình tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất và liên quan gần nhất
đến đề tài nghiên cứu, qua đó, tổng quát hóa các vấn đề đã nghiên cứu và tìm
ra khoảng trống nghiên cứu.
Một trong những công trình tiêu biểu đầu tiên đề cập đến các vấn đề của
ngành sản xuất dệt may Việt Nam là tác phẩm của tác giả Phạm Thị Thu
Phương (2000). Trong cuốn sách chuyên khảo này, tác giả đã hệ thống hóa
toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn sản xuất dệt may của Việt Nam kể từ
khi đất nước đổi mới đến những năm cuối thế kỷ 20. Thông qua việc phân
tích tình hình thực tế, xem xét bối cảnh trong nước và quốc tế, và đồng thời
khảo sát kinh nghiệm phát triển của các quốc gia đi trước, tác giả đã phần nào
hệ thống hóa được chiến lược nâng cao hiệu quả phát triển của ngành dệt may
9
Việt Nam. Thông qua đó, tác giả đưa ra một số giải pháp căn cơ ở trên cả hai
cấp độ vĩ mô (nhà nước) và vi mô (doanh nghiệp) nhằm nâng cao hiệu quả
của ngành dệt may trong thời kỳ hội nhập mới của thế kỷ 21. Trong tác phẩm,
tác giả mặc dù đánh giá cao tiềm tăng phát triển của ngành dệt may Việt Nam,
tuy nhiên, để có thể tiến xa trong cuộc chơi toàn cầu, tác giả nhấn mạnh đến
hạn chế cố hữu của ngành sản xuất dệt may, đó là rào cản về tự chủ đối với
nguyên vật liệu đầu vào của ngành. Từ đó, tác giả cho rằng xây dựng và phát
triển mạng lưới cung cấp nguyên vật liệu đầu vào là việc làm tối quan trọng
để có thể dẫn tới những thành công trong tương lai.
Công trình của tác giả Dương Đình Giám (2001) cũng được xem là một
trong những tài liệu tham khảo hữu ích trong giai đoạn đầu của tiến trình xây
dựng ngành dệt may, đặc biệt đặt trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước. Tác giả Dương Đình Giám đầu tiên tập trung chủ yếu vào việc
phân tích thực trạng của ngành dệt may Việt Nam, sau đó, dựa trên trực trạng
và bối cảnh chung, tác giả đã nêu bật được những thành tựu và hạn chế của
ngành sản xuất dệt may. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những nguyên nhân
dẫn tới những kết quả đạt được, và những nguyên nhân còn tồn tại gây ra sự
yếu kém của sản xuất dệt may của Việt Nam. Trên cơ sở phân tích đó, tác giả
đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ngành dệt may của Việt Nam.
Không quá khó để nhận ra, công trình nghiên cứu này của Dương Đình Giám
có nhiều đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn, tuy nhiên chưa thoát khỏi
giới hạn phạm vi và lối nguyên cứu truyền thống là việc xem xét thực trạng,
phân tích hạn chế, và đưa ra giải pháp, cái đã được đề cập trong rấ nhiều các
nghiên cứu trước đó.
Cũng đề cập đến vấn đề chung của ngành dệt may Việt Nam, tuy nhiên
Nguyễn Hoàng Giang (2014) lại tiếp cận dưới góc độ chiến lược thương hiệu.
Tác giả cho rằng dù sản xuất dệt may của Việt Nam có đạt được nhiều thành
tựu về số lượng lẫn chất lượng nhưng nếu không có tầm nhiền chiến lược về
thương hiệu thì sẽ luôn bị thiệt thòi trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ với
các thương hiệu mạnh đến từ các quốc gia khác. Dựa trên việc xem xét tình
10
hình thực tế của việc xây dựng thương hiệu ở cấp quốc gia và cấp doanh
nghiệp hiện nay của Việt Nam, tác giả luận giải một số giải pháp với mong
muốn xác lập địa vị cho thương hiệu ngành dệt may Việt Nam trên bản đồ dệt
may thế giới.
Trần Thị Bích trong bài viết “Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của
các doanh nghiệp dệt may Việt Nam” trên Tạp chí Quản lý Kinh tế Quốc tế số
95 năm 2017 quan tâm đến vấn đề đánh giá hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp dệt may. Tác giả tiếp cận ngành dệt may dưới góc độ chỉ tiêu,
có nghĩa là phân tích cách thức đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doanh
nghiệp dệt may: dựa vào tốc độ tăng trưởng, khả năng áp dụng công nghệ,
chất lượng sản phẩm, hoặc sức mạnh thương hiệu. Tác giả kết luận rằng việc
đánh giá hiệu quả doanh nghiệp dệt may cần phải được xem xét trong bối
cảnh tổng thể của nhiều yếu tố, doanh nghiệp cần đồng thời thực hiện nó. Do
đó, chúng ta cần xây dựng bộ chỉ tiêu chung làm thước đo tiêu chuẩn trong
việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may.
Phùng Quỳnh Trang (2017) trong bài viết của mình tiếp cận sản xuất
ngành sản xuất dệt may dưới góc độ sản xuất đi liền với các vấn đề về môi
trường. Tác giả khẳng định việc tăng trưởng sản xuất cần phải gắn liền với
môi trường bền vững, nghĩa là việc sản xuất phải được xem xét bao gồm các
yếu tố bảo vệ môi trường. Tác giả cho rằng ngành dệt may là ngành có mức
độ gây ô nhiễm cao, tác động trực tiếp đến không chỉ hệ sinh thái tự nhiên và
cả đời sống của con người. Do đó, phát triển ngành dệt may bền vững (năng
lực cạnh tranh) của ngành dệt may phải được gắn mật thiết với các giải pháp
sản xuất sạch và thân thiệt với môi trường.
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu và các báo cáo chuyên đề ở những khía
cạnh khác nhau cũng nghiên cứu về xuất khẩu dệt may và tham gia chuỗi giá
trị toàn cầu của Việt Nam. Xuất khẩu dệt may đóng vai trò quan trọng trong
chiến lược xuất khẩu của Việt Nam cũng như ngành mũi nhọn tiên phong
giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các định chế thương mại khu vực thế
giới. Số liệu thống kê về xuất khẩu dệt may Việt Nam cho thấy những con số
11
tăng trưởng khá cao không chỉ về số lượng và chất lượng, mà còn cả sức
mạnh của thương hiệu, nhưng giá trị tăng của xuất khẩu dệt may lại không
tương đồng với bức tranh sôi động đó. Điều này được lý giải bởi thực tế là
Việt Nam hiện vẫn đang ở trong vị trí thấp trong chuỗi giá trị ngành dệt may
toàn cầu. Xuất phát từ nguyên nhân đó, có nhiều nhiều nghiên cứu đi sâu phân
tích xuất khẩu dệt may và chuỗi giá trị ngành dệt may toàn cầu, nhằm đưa ra
cái nhìn tổng quát về mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và giá trị thực tế mà
ngành dệt may của Việt Nam nhận được.
Công trình nghiên cứu do nhóm tác giả Oteifa, Dietmar Stiel, Roger
Fielding, Peter Davies (2000) là một trong những tác phẩm đầu tiên đi nghiên
cứu sâu về ngành dệt may Việt Nam. Bài viết đã đưa ra một bức tranh khái
quát tình hình sản xuất của ngành dệt may Việt Nam trong quá trình chuyển
đổi lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Oteifa và cộng sự tìm hiểu
những khó khăn liên quan đến hoạt động tác nghiệp và marketing của những
doanh nghiệp may tư nhân ở Việt Nam, từ đó đề xuất những hỗ trợ của
Chương trình phát triển dự án Mekong (MPDF) dành cho các doanh nghiệp
dệt may của Việt Nam. Bằng kỹ thuật phân tích SWOT, nghiên cứu chỉ ra
rằng ngành dệt may của Việt Nam đang nằm ở vùng trũng của chuỗi giá trị
dệt may toàn cầu. Thực tế này xuất phát từ nguyên nhân bản than nội tại của
ngành dệt trong nước thiếu tính cạnh tranh, đặc biệt là tính cạnh tranh khu vực
và toàn cầu; bên cạnh đó, quá phụ thuộc vào các đối tác nước ngoài trong các
hoạt động xuất khẩu. Một trong những nguyên nhân chủ chốt nữa là việc
ngành dệt may của Việt Nam là tình trạng thiếu lực lượng lao động lành nghề
trong hầu như tất cả các khâu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc hạn chế trong
tiếp cận thông tin và tiếp cận thị trường nước ngoài cũng ảnh hưởng nghiêm
trọng đến khả năng chuyển lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị ngành dệt
may toàn cầu của Việt Nam. Dựa trên nhưng phân tích đó, các tác giả kết luận
Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong sản xuất và xuất khẩu dệt may, tuy nhiên
để chuyển đổi thành công trong chuỗi giá trị ngành dệt may, Việt Nam cần
12
tăng cường chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các biện phát xúc
tiến đầu tư có hiệu quả hơn, chủ động trong việc tiếp cận thông tin thị trường
và đối tác.
Nghiên cứu quá trình chuyển đổi các mối quan hệ công nghiệp ở các
nước đang phát triển, Cox (2015) lấy trường hợp ngành dệt may của Việt
Nam làm trường hợp nghiên cứu điển hình. Tác giả cho rằng mối quan
chuyển đổi công nghiệp ở Việt Nam có tác động rất hạn chế lên vai trò và vị
thế của liên đoàn lao động. Nghiên cứu chỉ ra sự sung đột gia tăng giữa người
lao động và doanh nghiệp dệt may, mối quan hệ này có xu hướng gia tăng do
những ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa nhanh và sự chuyển đổi xã
hội từ nông nghiệp sang công nghiệp trong thời gian ngắn. Nghiên cứu kết
luận rằng điều kiện làm việc và tiếng nói đại diện của công nhân hoạt động
trong ngành dệt may cần phải được cải thiện hơn trong quá trình chuyển đổi.
Hoang and Jones (2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa lao động nữ và chuỗi
cung ứng quần áo của Việt Nam cũng cho rằng mặc dù lao động nữ chiếm
phần lớn lực lượng lao động, tuy nhiên điều kiện làm viêc của các lao động
nữ tương đối hà khắc. Nghiên cứu gới ý rằng việc cải thiện các điều kiện lao
động cũng như nâng cao tay nghề cho lao động là các giải pháp cấp thiết.
Vu and Pham (2016) phân tích lợi thế so sánh của ngành dệt may Việt
Nam và so sánh với trường hợp ngành dệt may Trung Quốc. Tác giả cho rằng
dệt may Việt Nam đóng vai tròn đầu tàu cho sự phát triển kinh tế và xã hội
của Việt Nam. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng mang
đến nhiều thách thức không nhỏ cho ngành dệt may Việt Nam. Phân tích
trường hợp của Việt Nam và Trung Quốc, tác giả cho rằng Việt Nam có ít lợi
thế so sánh hơn Trung Quốc trong hầu hết các phân đoạn của ngành dệt may.
Qua đó, tác giả gợi ý rằng để duy trì tốc độ tăng trưởng và xuất khẩu trong bối
cảnh mới, ngành dệt may Việt Nam cần phải có nhưng bước đi đột phá, có
chiến lược ưu tiên đặc biệt đối với công nghiệp phụ trụ cho ngành dệt may.
Trước đó, Pelzman and Sholam (2010) cũng đi so sánh ngành dệt may của
Việt Nam và Trung Quốc, tuy nhiên phân tích dưới góc độ phản ứng trước
13
việc Mỹ xóa bỏ rào cản hạn ngạch xuất khẩu đối với Trung Quốc và Việt
Nam. Tác giả cho rằng không giống như nhiều dự báo trước đó về việc Trung
Quốc chiếm ưu thế vượt trội trước các đối thủ cạnh trạnh. Bài viết khẳng định
sự cạnh trạnh gia tăng và ngày càng khốc liệt hơn giữa Việt Nam và Trung
Quốc ở giai đoạn có giá trị thấp của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Bên cạnh
đó, tác giả cũng chỉ ra rằng sự khác biệt về nền tảng kinh tế, nền tảng thể chế,
nền tảng văn hóa dẫn đến những chính sách khác nhau giữa chính phủ Việt
Nam và Trung Quốc.
Khác với nghiên cứu trên, xem xét sự thành công của ngành dệt may
trong chuỗi giá trị toàn cầu, Jacobs và cộng sự (2016) so sánh trường hợp của
Việt Nam và Bangladesh và khẳng định Việt Nam Việt Nam có nhiều phân
ngành đóng vai trò chủ chốt trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, trong khi đó
Bangladesh có lợi thế cạnh tranh về giá lao động rẻ. So sánh với Việt Nam,
các tác giả cho rằng Việt Nam là ví dụ điển hình cho Bangladesh trong việc
phát triển và tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Một nghiên cứu so
sánh khác là tác phẩm của tác giả Knutsen (2004) đề cập trường hợp của Việt
Nam và Sri Lanka. Tác giả cho rằng Việt Nam có thể là mô hình tốt cho Sri
Lanka học tập và phát triển, trong đó nhấn mạnh đến xây dựng mạng lướt
người tiêu dùng làm động lực cho phát triển.
Công trình của tác giả Gereffi và Memedovic (2003) đồng chủ biên
cũng đề cập đậm nét đến vai trò của dệt may trong chuỗi giá trị toàn cầu của
các nước đang phát triển. Nghiên cứu tuy không đề cập trực tiếp đến vấn đề
của ngành dệt may Việt Nam nhưng gián tiếp cho thấy thực tế của ngành dệt
may Việt Nam thông qua phân tích các quốc gia đang phát triển. Bài viết sử
dụng lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu để phân tích và giải thích cho sự
chuyển đổi sản xuất, thương mại, và chiến lược phát triển của các công ty dệt
may. Thông qua việc nghiên cứu các mô hình cạnh tranh của Mexico và của
các quốc gia Carribe, công trình đưa ra được bức tranh tổng quan về những cơ
hội và thách thức đối với ngành dệt may ở các nước đang phát triển. Đây là
14
công trình chứa dựng nhiều gợi ý chính sách và gợi mở về phương hướng
phát triển ngành dệt may đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt
Nam.
Một công trình tiêu biểu khác đề cập tới vấn đề ngành dệt may Việt
Nam và vị trí của nó trong chuỗi giá trị toàn cầu là nghiên cứu của Nadvi &
Thoburn (2003). Các tác giả nhấn mạnh rằng trong môi trường toàn cầu hóa
sâu rộng với những biến đổi khó đoán định, ngành dệt may Việt Nam phải đối
mặt với rất nhiều thử thách cam go. Theo các tác giả, mặc dù những thách
thức đó đương nhiên có những tác động lớn đến các doanh nghiệp sản xuất
dệt may ở những nước đang phát triển như Việt Nam, tuy nhiên nếu vượt qua
được những khó khăn đó, ngành dệt may Việt Nam sẽ có cơ hội xác lập vị thế
vững chắc trên thị trường dệt may toàn cầu. Các tác giả sử dụng mô hình
chuỗi giá trị toàn cầu để phân tích trường hợp ngành dệt may của Việt Nam,
cụ thể là mối quan hệ của ngành dệt may Việt Nam đối với thị trường tiêu thụ
toàn cầu và mối quan hệ nội ngành giữa doanh nghiệp dệt và doanh nghiệp
may. Thông qua các phân tích đó, tác giả đã đưa ra nhận định về sự ảnh
hưởng của quá trình toàn cầu hóa đến doanh nghiệp may Việt Nam. Mặc dù
khẳng định ngành dệt may Việt Nam còn tồn tại rất nhiều hạn chế, tuy nhiên,
nghiên kết luận rằng Việt Nam là một trong ít các quốc gia thành có khả năng
thành công trong việc thâm nhập vào chuỗi giá trị của ngành dệt may toàn
cầu.
Cũng đề cập ngành dệt may trong bối cảnh toàn cầu nhưng cụ thể hơn
là các thách thức đến từ Trung Quốc hậu MFA, Goto và cộng sự (2011) nhấn
mạnh rằng các thách thức đến từ Trung Quốc đối với ngành dệt may Việt
Nam là đương đối lớn. Lý giải cho điều này, tác giả cho biết Trung Quốc hiện
đã phát triển lên vị trí cao hơn của chuỗi dệt may toàn cầu, giá trị sản phẩm
cao, giá trị gia tăng đối với hang xuất khẩu cũng ở mức cao, đặc biệt Trung
Quốc có lợi thế về thị trường sản phẩm cuối, cũng như làm chủ được nguồn
cung nguyên vật liệu đầu vào. Do đó, Trung Quốc không chỉ có lợi thế trên
thị trường quốc tế mà còn có thể gây ảnh hưởng hoặc tác động trực tiếp lên
15
chiến lược sản xuất và xuất khẩu dệt may của Việt Nam thông qua việc điều
chỉnh (kiểm soát) nguồn cung nguyên vật liệu. Dựa trên thực tế đó, tác giả
nhận định hiện nay Việt Nam đang bị lùi lại phía sau trong việc tiếp cận chuỗi
giá trị dệt may toàn cầu, và cần phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp và
chiến lược để thu hẹp khoảng cách đó. Goto (2012) cũng đồng quan điểm với
nhận định trên khi cho rằng Việt Nam đang ở giao lộ trong việc chuyển đổi
lên vị trí cao hơn của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Bên cạnh đó, tác giả
khẳng định chuyển hướng từ xuất khẩu sang tập trung phát triển thị trường
nội địa là chiến lược cần được ưu tiên và đầu tư bài bản. Cũng đề cập đến hạn
chế, thách thức của việc phụ thuộc vào nguồn cung nguyên liệu đầu vào, Goto
(2013) nghiên cứu ngành sản xuất may mặc của Thành phố Hồ Chí Minh
phân tích vai trò và tầm quan trọng của các nhà thầu phụ trong việc xây dựng
và giữ ổn định chuỗi sản xuất.
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hoàng (2009) và Đỗ Thị Đông (2011) cũng
được xem là hai trong số nhiều công trình có ý nghĩa tham khảo hữu ích liên
quan đến mối quan hệ của xuất khẩu dệt may Việt Nam và chuỗi giá trị dệt
may toàn cầu. Về cơ bản, hai công trình trên đều đã tổng quát hóa các khái
niệm về chuỗi giá trị sản xuất và các khâu trong chuỗi giá trị sản xuất ngành
dệt may toàn câu; đồng thời các tác giả cũng chỉ ra được vị trí của các doanh
nghiệp may xuất khẩu dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu.
Đi sâu phân tích cụ, Nguyễn Hoàng (2009), tiếp cận chuỗi giá trị ở khía cạnh
năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp, có nghĩa là khả năng tiếp
cận của doanh nghiệp và chuối giá trị dệt may toàn cầu. Đặt trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đề xuất một số giải pháp và
kiến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam tham gia
sâu hơn vào chuỗi giá trị ngành, đồng thời có nâng cao khả năng ứng phó đối
với sự bành chướng của nhưng doanh nghiệp dệt may, thời trang lớn đến từ
các nước phát triển. Tác giả, ngoài ra cũng đề cập đến vị trí quan trọng của
nhà nước trong việc trợ giúp các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tham gia
vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khác với Nguyễn Hoàng, Đỗ Thị Đông (2011) đi
16
vào xem xét và đánh giá cách thức vận hành liên kết của các doanh nghiệp
may trong quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm dệt may tới khách hàng.
Tác giả cho rằng, nếu các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể thâm nhập
được vào chuỗi sản xuất và cung ứng ngành dệt may ở phạm vi toàn cầu thì
giá trị sản xuất và xuất khẩu sẽ được cải thiện và gia tăng đánh kể. Cũng
giống với Nguyễn Hoàng (2009), Đỗ Thị Đông (2011) trong luận án của mình
cũng cố gắng luận giải và đưa ra một số biện pháp xây dựng mạng lưới liên
kết giữa các doanh nghiệp dệt may nội địa nhằm tham gia sâu vào trong chuỗi
giá trị ngành dệt may toàn cầu.
Tiếp bước các nghiên cứu trước đó, tác giả Hà Văn Hội (2012) cũng tiến
hành xem xét trị trí ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị ngành. Xây
dựng luận cứ khoa học cho vấn đề nghiên cứu, tác giả trước tiên cung cấp nền
tảng lý thuyết về chuỗi giá trị ngành dệt may thế giới, trong đó cụ thể hóa các
trình tự và các giai đoạn của chuỗi giá trị ngành dệt may toàn cầu. Dựa trên
nền tảng lý thuyết và thực thế trên thế giới, tác giả kết luận rằng liên kết nội
ngành giữa các công đoạn trong sản xuất dệt may giữ vài trò hết sức quan
trọng trong việc tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Khác với cách
tiếp cận truyền thống, tác giả xem xét chuỗi giá trị dệt may dưới góc độ từ các
sản phẩm cuối cùng trong mỗi công đoạn của sản xuất dệt may, từ đó tiếp cận
các vấn đề nghiên cứu nhằm chỉ ra nguyên nhân giải thích cho thực tế: tại sao
Việt Nam có tốc độ tăng trưởng sản xuất dệt may cao nhưng lại nằm ở công
đoạn có giá trị thấp của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu.
Kế thừa nghiên cứu trên, tác giả Hà Văn Hội (2012) tiếp tục cung cấp
bức tranh tương đối phổ quát về những thách thức, hạn chế cũng như đề xuất
một số biện pháp nhằm giúp ngành xuất khẩu dệt may của Việt Nam chuyển
dịch lên những vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Tác giả
khẳng định rằng xuất khẩu dệt may của Việt Nam có tiềm năng rất lớn, tuy
nhiên hiện nay chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam đang thực sự tồn
tại nhiều vấn đề, không chỉ đối với các giai đoạn tạo ra giá trị cao như sản
xuất nguyên liệu nền hay phân phối sản phẩm, mà ngay trong giai đoạn mà
17
chúng ta tự tin là có lợi thế là cắt may. Tác giả kết luận rằng, xuất khẩu dệt
may phải đồng bộ chủ động tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, đồng
thời nhấn mạnh đến việc đầu tư cho tay nghề lao động, áp dụng khoa học kỹ
thuật, xây dựng thương hiệu, và chủ động tìm kiếm và mở rộng thị trường
xuất khẩu. Nguyễn Ngọc Sơn (2007) cũng có những phân tích và nhận định
khá tương đồng với Hà Văn Hội (2012). Điều này cho thấy rằng, việc cải
thiện năng lực ngành dệt may Việt Nam nhằm đưa nó lên những vị trí có giá
trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu còn nhiều khó khăn và chưa
thực sự có những bước tiến sắc nét, ít nhất là trước năm 2012.
Nguyễn Việt Khôi và Shashi Kant Chaudhary (2019) một mặt đồng tình
với nhận định rằng dệt may Việt Nam đang nằm ở giai đoạn thấp trong chuỗi
giá trị ngành, mặt khác các tác giả cũng khẳng định ngành dệt may Việt Nam
nói chung và xuất khẩu dệt may Việt Nam nói riêng gần đây đã có nhưng
bước tiến rõ rệt, cho thấy nhiều dấu hiệu rõ rệt không chỉ củng cố tốt hơn vị
trí hiện tại, mà đồng thời còn chuyển dịch lên những vị trí cao hơn của chuỗi
giá trị dệt may khu vực và toàn cầu. Đồng quan điểm với nghiên cứu trên,
Nguyễn Thị Lan (2016) thì cho rằng mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều bất cập
trong sản xuất phục vụ xuất khẩu, song ngành dệt may Việt Nam cho thấy
nhiều cơ hội để thay đổi vị trí trong bản đồ dệt may toàn cầu.
Công trình của tác giả Ngô Dương Minh (2017) khai thác xuất khẩu dệt
may Việt Nam trên khía cạnh rào cản khi tiếp cận thị trường thế giới. Tác giả
cho rằng sản xuất dệt may đang đôi diện nhiều thách thách làm làm cản trở
quá trình đi chuyển lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Các
rào cản đó đến không chỉ đến từ bản than doanh nghiệp mà còn đến từ cả cơ
chế chính sách đối với xuất khẩu dệt may còn chưa phù hợp. Tác giả khẳng
định việc không có các biện pháp vĩ mô ngay từ ban đầu trong việc xác định
chiến lược trọng điểm của ngành dệt may đã dẫn đến tình trạng dệt may Việt
Nam phát triển nhỏ lẻ, phụ thuộc lớn vào nguyền cung từ nước ngoài. Chính
điều này là cản trở lớn nhất đối với việc tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị dệt
may toàn cầu, bởi chúng ta không thể chủ động được trong sản xuất, không
18
chủ động được thị trường, không có thương hiệu đủ mạnh.
Nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn Văn Quang (2020) cũng đã phần
nào nêu được tình trạng của ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn
cầu. Nghiên cứu không đề cập đến chiến lược chung cho toàn ngành dệt may
mà chỉ tập trung phân tích ngành hàng may mặc của Việt Nam, tuy nhiên
cũng cho thấy được những nét phác họa chung cho toàn ngành dệt may. Sử
dụng phương pháp phân tích SWOT và phân tích CGT, tác giả kết luận rằng
để thành công trong việc nâng cấp ngành hàng dệt may của Việt Nam trong
chuỗi giá trị dệt may toàn cầu thì các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần
phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình nâng cao năng suất lao động, tay nghề lao
động, chất lượng sản phẩm, và áp dụng các biện pháp kỹ thuật cao, thân thiện
với môi trường. Tác giả cũng nhấn mạnh việc nâng cấp vị trí trong chuỗi giá
trị toàn cầu của ngành dệt may Việt Nam cần tiến hành từng bước, chắc chắn,
và tập trung cao độ và các khâu tạo ra giá trị gia tăng cao. Trước đó, Trương
Hồng Trình và cộng sự (2010) ở những khía cạnh nào đó cũng đề cập đến
việc nâng cấp chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam.
Bên cạnh đó, Bộ Công thương (2015, 2016, 2017, 2018, 2019) hàng năm
cũng cho ra các báo cáo về ngành dệt may Việt Nam, phần nào đề cập đến
bức tranh xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam trong bức tranh chung của
xuất khẩu Việt Nam và vị trí trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nước ngoài cũng có cách nhìn
nhận và đánh giá tương đồng với các nghiên cứu trong nước. Tuy nhiên, điểm
mạnh và cũng là đóng góp lớn nhất của các nghiên cứu này là về mặt phương
pháp định lượng, chứ chưa thể hiện được đặc trưng và bản chất bên trong của
ngành dệt may Việt Nam. Mặc dù vậy, đặt trong thực tế chung là các nghiên
cứu Việt Nam phần lớn sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính, các
nghiên cứu nước ngoài với các phương pháp pháp định lượng, lượng hóa cụ
thể các vấn đề liên quan đến sản xuất, xuất khẩu dệt may của Việt Nam góp
phần bổ sung và hoàn thiện hơn một bức tranh tổng thể về sản xuất ngành dệt
may Việt Nam nói chung và xuất khẩu dệt may Việt Nam nói riêng. Bên cạnh
19
đó, các nghiên cứu nước ngoài có xu hướng nghiên cứu Việt Nam đặt trong
bối cảnh của khu vực và thế giới, tức là cách tiếp cận rộng hơn mang tính khu
vực và thế giới; trong khi đó, các nghiên của Việt Nam tập khai thác các vấn
đề nội tại của dệt may Việt Nam. Như vậy, với việc kết hợp các nghiên cứu
trong nước và nước ngoài giúp chung cho có cách nhìn mang tính phổ quát,
đồng thời đưa ra được những nhận định, đánh giá có tính so sánh cao. Cũng
cần nhấn mạnh rằng, các nghiên cứu nước ngoài, đặc biệt là nghiên cứu so
sánh, giúp chung ta hiểu hơn về ngành dệt may Việt Nam trong sự tương quan
so sánh với các đối thủ cạnh tranh chính trên trường quốc tế. Tóm lại, các
nghiên cứu nước ngoài phần nào đã cung cấp luận cứ khoa học cho sự việc
phát triển sản xuất và xuất khẩu dệt may của Việt Nam, tuy nhiên, các nghiên
cứu về xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh hình thành và thực thi các
hiệp định thương mại tự do thế hệ mới còn hạn chế.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về sự hình thành các FTA thế hệ mới và
sự tham gia của Việt Nam
Cùng với quá trình cải cách, đổi mới và phát triển trong gần 4 thập niên
qua, Việt Nam cũng đã tích cực, kiên định và chủ động trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế. Từ chỗ ban đầu tham gia AFTA (1995), đến nay Việt
Nam đã lần lượt tham gia 17 hiệp định thương mại tự do song phương, nhất là
đa phương và gần đây đã tham gia 2 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là
CPTPP và EVFTA với nhiều tiêu chuẩn rất cao, ngặt nghèo và nhạy cảm đối
với nước ta một nước đang chuyển đổi, đang phát triển và đang kiện định xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong một thế giới
nhiều biến động và phân cực mạnh mẽ như hiện nay.
Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một hiệp ước giữa hai hay nhiều
quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một
hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó. Các nước tiến hành theo lộ trình việc cắt
và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành
lập một khu vực mậu dịch tự do, tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ
20
và đầu tư giữa các thành viên.
Bốn nội dung mà FTA đề cập đến thường bao gồm: Quy định về việc
cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan; Quy định danh mục mặt
hàng đưa vào cắt giảm thuế quan (thông lệ áp dụng chung là 90% thương
mại); Quy định lộ trình cắt giảm thuế quan, khoảng thời gian cắt giảm thuế
thường được kéo dài không quá 10 năm Quy định về quy tắc xuất xứ.
Được xem là “những hiệp định của thế kỷ 21”, các FTA thế hệ mới
hướng tới một sân chơi mới nhằm tạo ra các tiêu chuẩn mới cho thương mại,
đầu tư, hội nhập kinh tế quốc tế, sẽ tạo điều kiện cân bằng lại quan hệ thương
mại giữa Việt Nam với các khu vực thị trường trọng điểm, tránh phụ thuộc
quá mức vào một khu vực thị trường nhất định… Việt Nam cũng sẽ được
hưởng lợi lớn từ làn sóng đầu tư mới, tạo ra nhiều công ăn việc làm, hình
thành năng lực sản xuất mới để tận dụng các cơ hội xuất khẩu và tham gia các
chuỗi giá trị trong khu vực và toàn cầu do các FTA đem lại.Với các cam kết
sâu và rộng hơn WTO, các hiệp định cũng sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam phân
bổ lại nguồn lực theo hướng hiệu quả hơn, từ đó hỗ trợ tích cực cho quá trình
tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng. Do hướng tới môi trường cạnh
tranh bình đẳng, minh bạch hóa quy trình xây dựng chính sách và khuyến
khích sự tham gia của công chúng vào quá trình này sẽ có tác dụng rất tốt để
thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế cũng như tăng cường cải cách hành chính.
Tiêu Hải Vân (2021), Nguyễn Tuấn Việt và Ngô Văn Vũ (2019) đã chỉ
ra những nội dung cơ bản của Hiệp định EVFTA; Đánh giá các tác động tiêu
cực và tích cực của EVFTA tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam
và nhận định được Dệt may là ngành được hưởng lợi nhiều nhất.
Nghiêm Xuân Khoát (2019) đã tập trung phân tích, đánh giá cơ hội và
thách thức đối với Việt Nam trên một số lĩnh vực liên quan đến các hiệp định
thương mại như thương mại hàng hóa; xuất khẩu của Việt Nam sang EU; hải
quan và tạo thuận lợi thương mại; Các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động
thực vật; Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại; Phòng vệ thương mại; Đầu
tư; Sở hữu trí tuệ; Phát triển bền vững.
21
World Bank (2020) chỉ ra rằng EVFTA là hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới lớn nhất trong lịch sử và mang lại lợi ích trực tiếp đối với Việt
Nam. EVFTA sẽ mang lại nhiều lợi ích trước mắt quan trọng cho nền kinh tế
Việt Nam thông qua tăng trưởng nhanh hơn, thương mại lớn hơn và giảm
nghèo nhanh hơn. Bên cạnh đó, bài đề cập đến việc cần thực hiện các giải
pháp phục hồi sau đại dịch Covid-19 cho tất cả các ngành định hướng xuất
khẩu, nhưng nên ưu tiên đặc biệt cho những ngành quan trọng có đóng góp
nhiều nhất vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU trong
thời gian gần đây để tận dụng lợi thế khi thực hiện EVFTA.
Theo Đại sứ quán Việt Nam tại Anh (2020), việc thực thi Hiệp định
thương mại tự do Việt Nam-Anh (UKVFTA) sẽ góp phần tạo ra những động
lực mới cho phục hồi kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19.
Về ý nghĩa chiến lược, Hiệp định góp phần triển khai hiệu quả chủ trương đa
phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Nguyễn Bình Dương (2016) đã sử dụng mô hình trọng lực và phân tích
dữ liệu bảng, cho thấy việc giảm thuế quan trong khuôn khổ của FTA sẽ có tác
động tích cực đến thương mại song phương giữa Việt Nam và EU. Ngoài ra,
FTA Việt Nam - EU sẽ mang lại nhiều cơ hội mới nhưng cũng là thách thức
đối với Việt Nam. Bài báo này đề xuất một số khuyến nghị để Việt Nam được
hưởng lợi nhiều hơn.
Vũ Thanh Hương (2017) đã dựa trên cơ sở lý luận và thực nghiệm đánh
giá FTA, bài xây dựng khung chẩn đoán tác động EVFTA, Phân tích thương
mại Việt Nam - EU trong bối cảnh cập nhật mới: mở rộng thành viên EU,
Brexit,..., So sánh và phân tích hàng rào thuế quan và phi thuế quan VN-EU
trước và sau EVFTA có hiệu lực, Phân tích tác động của việc cắt giảm hàng
rào thuế quan, tác động hàng rào phi thuế quan ở nhóm ngành may mặc và
dược phẩm.
Theo báo cáo của Eurocham Vietnam (2019), EVFTA tác động đến
thuế như loại bỏ thuế quan đối với 65% giá trị hàng hóa EU xuất khẩu sang
Việt Nam kể từ khi có hiệu lực, hàng rào thuế sẽ giảm dần trong thời gian tới.
22
71% giá hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang EU được miễn thuế kể từ khi hiệp
định có hiệu lực, con số này sẽ tăng lên đến 99% sau 7 năm. Đối với thuế hải
quan: Thuế hải quan sẽ gần như được xóa bỏ trong thời gian chuyển tiếp 7
năm đối với hàng hóa Việt Nam và 10 năm đối với hàng hóa EU. Ngoài ra,
Việt Nam có khả năng tiếp cận với thị trường dịch vụ EU hơn.
Theo Bộ Công Thương Việt Nam (2020), trong bối cảnh Vương quốc
Anh đã chính thức rời khỏi Liên minh châu Âu và giai đoạn chuyển tiếp
chuẩn bị kết thúc (ngày 31 tháng 12 năm 2020), việc ký kết UKVFTA sẽ đảm
bảo thương mại song phương giữa Việt Nam và Vương quốc Anh không bị
gián đoạn sau khi kết thúc giai đoạn chuyển tiếp. Với UKVFTA, các lợi ích
trong mối quan hệ thương mại hiện có của hai bên tại EVFTA được duy trì.
Hiệp định song phương này là sự khởi đầu của một giai đoạn mới trong quan
hệ giữa hai nước đối với việc phát triển các lĩnh vực thương mại chủ chốt.
UKVFTA không chỉ tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, mà còn tích
hợp nhiều yếu tố quan trọng khác, chẳng hạn như hướng tới tăng trưởng xanh
và phát triển bền vững.
Tiến trình tham gia các FTA của Việt Nam được tiến hành từng bước
và có lộ trình với mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng. Hiện nay, Việt Nam
là nước ASEAN có mức thu nhập trung bình đầu tiên ký kết cả 2 hiệp định:
CPTPP và Việt Nam - EU. Việc ký kết tham gia các FTA thế hệ mới trong
khi xu hướng bảo hộ gia tăng đã làm gia tăng vị thế của Việt Nam với ưu thế
là một nền kinh tế mở, có nhiều FTA với các đối tác thương mại lớn. Khoảng
trên 80% thương mại xuất nhập khẩu của Việt Nam đến từ các quốc gia đã và
đang ký kết các FTA (Vũ Nhữ Thăng, Trần Thị Thu Huyền, 2022).
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về tác động của FTAs thế hệ mới tới
xuất khẩu dệt may của Việt Nam.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu khai thác và tìm hiểu chủ đề sản xuất
dệt may của Việt Nam nói chung, cũng như xuất khẩu dệt may của Việt Nam
trước và sau khi có các hiệp định thương mại tự do (FTA) nói riêng. Liên
quan đến xuất khẩu dệt may và các hiệp định thương mại tự do mới, bước đầu
23
cũng nhận được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà làm chính sách.
Trong đó, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề liên quan đến
Hiệp định TPP – CPTTP và và hiệp định EVFTA.
Như đã nêu trên, Việt Nam xem ngành dệt may là ngành công nghiệp
mũi nhọn, xuất khẩu dệt may là con đường quan trọng tiến ra thế giới, do đó,
việc xem xét xuất khẩu dệt may trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự
do được các học giả và người làm chính sách đặc biệt quan tâm. Các khía
cạnh chủ yếu được khai thác trong chủ đề này bao gồm cơ hội và thách thức
đối với xuất khẩu dệt may khi các hiệp định thương mại tự do được ký kết,
các vấn đề đàm phán liên quan đến xuất khẩu dệt may, các giải pháp nhằm tận
dụng cơ hội phát triển từ các hiệp định thương mại tự do…
Công trình nghiên cứu tiêu biểu đầu tiên kể đến là Báo cáo của nhóm tác
giả trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa trường Đại học Kinh tế Quốc dân
(NEU) và Tổ chức Hợp tác Quốc tế của Nhật Bản (JICA) năm 2004. Về cơ
bản, công trình nghiên cứu này của nhóm tác giả đến từ JICA và NEU có cấu
trúc khá tương đồng với các nghiên cứu trước đó trong các vấn đề liên quan
đến thực trạng sản xuất dệt may của Việt Nam, những thành tựu và hạn chế.
Tuy nhiên, công trình này đặt trong bối cảnh cập nhật hơn về thời gian, đồng
thời cũng phân tích các yếu tố liên quan đến quá trình hội nhập sâu hơn của
Việt Nam. Một điểm nhấn của công trình là nhóm tác giả dành một phần lớn
nội dung để phân tích các phương thức xuất khẩu của ngành dệt may ở Việt
Nam, tập trung chủ yếu vào phương thức gia công xuất khẩu và phương thức
xuất khẩu trực tiếp. Với cách tiếp cận từ tổng quát đến cụ thể, nhóm tác giả đã
đưa đề xuất chính sách đối với chính phủ Việt Nam nói chung và đối với các
công ty sản xuất dệt may Việt Nam nói riêng, đặc biệt là các công ty xuất
khẩu, nhằm phát triển ngành sản xuất dệt may và xuất khẩu dệt may của Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập được xem là bước đi khách quan không thể
trách khỏi.
Hoàng Thu Hằng và cộng sự đã (2018) đã chỉ ra tiềm năng ngành xuất
khẩu may mặc của Việt Nam sang EU với giả định trao đổi thương mại tự do
24
hoàn toàn. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình WITS- SMART và dự đoán
lượng xuất khẩu Việt Nam tăng 42% so với năm cơ sở trong vòng 8 năm tới.
Tác động của chệch hướng thương mại lớn hơn tác động của các nước tạo lập
thương mại, vì vậy Việt Nam sẽ có lợi hơn những nước không là thành viên
của hiệp định EVFTA.
Bên cạnh đó, khi áp dụng mô hình WITS-SMART để phân tích tác
động của EVFTA đối với mặt hàng giày, dép Việt Nam, (Thắng, 2018) với
giả thiết: i) Khi EVFTA có hiệu lực và thoả mãn nguyên tắc xuất xứ (thuế
xuất giảm về 0%), xuất khẩu mặt hàng giày dép của Việt Nam dự kiến tăng
trưởng 4,96% từ khoảng 3,98 tỷ USD lên đến 4,17 tỷ USD; ii) EVFTA có
hiệu lực và thoả mãn nguyên tắc xuất xứ (thuế xuất giảm về 0%) tuy nhiên
chính sách chống bán phá giá vẫn được tiếp tục áp dụng (thuế chống bán phá
giá 10%), dự kiến tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng giày, dép khoảng 4,18%.
Võ Thanh Thu và cộng sự (2016) xem xét các tác động tiềm tàng của
EVFTA đối với xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam. Phân tích được thực
hiện bằng mô hình WITS-SMART để xác định sự thay đổi của xuất khẩu hàng
may mặc của Việt Nam cũng như dự đoán một số sản phẩm bị ảnh hưởng
nhiều nhất nếu Hiệp định Thương mại Tự do Liên minh Châu Âu - Việt Nam
được áp dụng đầy đủ. Kết quả là, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang
Liên minh Châu Âu sẽ tăng đáng kể 42% so với năm cơ sở (2016) trong 8 năm
tới. Do chệch hướng thương mại chiếm ưu thế so với tác động tạo ra thương
mại, hàng may mặc của Việt Nam sẽ thu được nhiều lợi ích hơn so với các
nước không thuộc Liên minh Châu Âu. Tuy nhiên, kết quả này không phải do
sự phân bổ nguồn lực hiệu quả mà do phần lớn nhập khẩu của EU từ Việt
Nam gia tăng là do được xóa bỏ thuế. Tác giả cũng chỉ ra nên thực hiện một số
biện pháp khắc phục để nâng cao tính cạnh tranh của hàng may mặc Việt
Nam, giảm giá thành sản xuất để mang lại lợi thế cho cả Việt Nam và Châu
Âu.
(Lu, 2018) đánh giá tác động tiềm năng của CPTPP và EVFTA đối với
xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam. Trong bài nghiên cứu, tác giả không
25
chỉ đề cập đến kịch bản tăng trưởng xuất khẩu dệt may của Việt Nam sau khi
ký kết các FTA mà còn chỉ ra tác động đến việc làm trong ngành dệt may đặt
trong sự tương quan với các ngành khác. Phương pháp nghiên cứu được sử
dụng là mô hình GCE với để ước tính hai kịch bản sau: Kịch bản 1 (thuế suất
giảm từ mức năm 2015 xuống chỉ còn 0 đối với hàng dệt may giao dịch giữa
các thành viên CPTPP và EVFTA); Kịch bản 2 (thuế suất giảm từ mức năm
2015 xuống 0 đối với tất cả các sản phẩm giao dịch giữa các thành viên
CPTPP và EVFTA). Kết quả là: Thứ nhất, xuất khẩu hàng may mặc của Việt
Nam sẽ tăng đáng kể so với mức cơ sở ở năm 2015, các mặt hàng xuất khẩu
mở rộng sẽ sang các thành viên CPTPP và EVFTA. Thứ hai, ngành may mặc
sẽ chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng số việc làm tại Việt Nam khi việc xóa bỏ
thuế quan trong CPTPP và EVFTA chỉ áp dụng cho lĩnh vực T&A (Kịch bản
1). Tuy nhiên, khi việc xóa bỏ thuế quan áp dụng cho tất cả các ngành (Kịch
bản 2), ngành may mặc sẽ chỉ chiếm 3,5% tổng số việc làm tại Việt Nam,
giảm so với mức 4,0% của năm cơ sở. Sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay
gắt giữa ngành may mặc và các ngành khác của Việt Nam về lực lượng lao
động sau khi thực thi CPTPP và EVFTA. Thứ ba, xuất khẩu hàng may mặc
của Việt Nam sẽ tăng trưởng ít hơn trong Kịch bản 2 so với Kịch bản 1 khi
các ngành khác cũng cố gắng tận dụng hiệu ứng tạo thương mại của CPTPP
và EVFTA.
Bên cạnh đó, còn một số nghiên cứu tiêu biểu khác về tác động của Hiệp
định EVFTA đối với nền kinh tế của Việt Nam như nghiên cứu của Nguyễn Bình
Dương và nhóm cộng sự (2015) sử dụng mô hình trọng lực để phân tích tác động
của Hiệp định đối với hiệu quả thương mại và chệch hướng thương mại giữa
Việt Nam và EU, Lê Trung Ngọc Phát và Nguyễn Kim Hạnh (2019) chứng minh
rằng việc loại bỏ thuế quan trong lĩnh vực công nghiệp sẽ dẫn đến mức tăng
tiêu dùng của hộ gia đình, gia tăng các yếu tố sản xuất của khu vực nông nghiệp,
công nghiệp và dịch vụ; Nguyễn Thành Công, Phạm Hồng Nhung (2017)
cho rằng Hiệp định EVFTA sẽ mang đến nhiều tác động trái chiều cho nền
kinh tế Việt Nam, tạo thuận lợi cho đầu tư, xuất khẩu một số ngành hàng thủy
26
sản, dệt may, da giày, túi xách nhưng cũng tạo ra không ít khó khăn cho sản
xuất trong nước. Trong khi đó, những nghiên cứu về một số ngành hàng cụ thể
như nghiên cứu của Vũ Thanh Hương (2017) sử dụng mô hình SMART để
đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA đối với hoạt động nhập khẩu ô tô từ
EU, hoặc nghiên cứu của Võ Văn Thọ (2016) đã đưa ra những phân tích mang
tính định lượng và định tính nhằm xác định mức độ tác động của hai Hiệp định
CPTPP và EVFTA đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam.
Trong khi có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm chỉ ra tác động
của các Hiệp định thương mại tự do như CPTPP, EVFTA đối với nền kinh tế
nói chung, hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, cụ thể hơn là tác động tới một
số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da dày, thủy
sản…, các nghiên cứu đánh giá tác động của UKVFTA đối với hoạt động
xuất khẩu mặt hàng dệt may của Việt Nam sang Vương quốc Anh vẫn còn
hạn chế về mặt số lượng cũng như chưa có các phân tích định tác động về tác
động cảu Hiệp định này tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Xuất phát từ
thực tiễn này, nghiên cứu được thực hiện nhằm đưa ra những phân tích mang
tính hệ thống và cơ sở khoa học, từ đó đánh giá các tác động của Hiệp định
UKVFTA đối với hoạt động xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường
Vương quốc Anh. Từ đó, những hàm ý và đề xuất cho Việt Nam trong thực
thi Hiệp định nhằm tận dụng những cơ hội và khắc phục những hạn chế trong
xuất khẩu mặt hàng này sang Vương quốc Anh cả về quy mô và cơ cấu.
Đề cập đến các rào cản đối với xuất khẩu dệt may khi Việt Nam hội nhập
sâu hơn với thế giới, Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Lụa (2014) đã
tương đối khát quát đầy đủ những vấn đề mà ngành dệt may Việt Nam đang
gặp phải hiện nay. Điểm mới của Luận án là tiếp cận dưới góc độ kỹ thuật,
đồng thời hệ thống hóa các vấn đề luận về rào cản kỹ thuật mà xuất khẩu dệt
may của Việt Nam đã, đang và sẽ gặp phải trong giao thương với thế giới khi
mà các quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng hơn. Với việc phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến các vấn đề kỹ thuật, cũng như thách thức để vượt qua
các hàng rào kỹ thuật đó, tác giả gợi ý một số biện pháp giúp các doanh
27
nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam có thể thích ứng và vượt qua các rào cản
kỹ thuật. Kế thừa nghiên cứu trên, Trần Thị Thuận Giang và Ngô Nguyễn
Thảo Vi (2017) tiếp cận dưới góc độ rào cản thương mại từ góc độ các quy
định về xuất xứ. Tác giả luận giải rằng nếu Việt Nam không có các biện pháp
hữu hiệu để ứng với với các quy định về xuất xứ, tương lai ngành dệt may của
Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, tác
giả cũng lạc quan cho rằng nếu giải quyết tốt bài toán xuất xứ, triển vọng xuất
khẩu dệt may của Việt Nam được đánh giá tương đối xán lạn, đặc biệt hưởng
lợi lớn từ việc tiến trình hội nhập quốc tế.
Tiếp cận dưới góc độ năng lực cạnh tranh, Luận án tiến sỹ của tác giả
Nguyễn Xuân Thọ (2019) cũng đưa ra những kết luận tham thảo ý nghĩa đối
với doanh nghiệp dệt may trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối
cảnh hội nhập. Luận án, bên cạnh đó, cũng đưa ra được bức tranh tổng thể về
ngành sản xuất dệt may Việt Nam cũng như phân tích đánh giá được năng lực
cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam đặt trong sự tương quan với các
đối thủ trên thế giới.
Dưới góc độ cơ hội và thách thức, Phan Thanh Hoàn (2017) đã khái quát
cơ bản những thách thức và cơ hội mà ngành dệt may Việt Nam sẽ gặp phải
và đương đầu trong quá trình hội nhập. Công trình của tác giả Phạm Thùy
Linh và cộng sự (2017) cũng có những nhận định tương tự về cơ hội và thách
thức mà các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể phải vượt qua, tuy nhiên
đặt trong bối cảnh hội nhập mới. Một công trình khác cũng đề cập đến các
vấn đề của dệt may Việt Nam trong quá trình hội nhập là bài viết của tác giả
Vũ Quốc Dũng (2007). Tác giả cũng đã nêu bật được thực trạng của dệt may
Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đồng thời xác định một số mục
tiêu mà dệt may Việt Nam cần hướng tới.
Công trình của tác giả Hoàng Văn Châu (2014) phân tích sự thay đổi vị
thế của Việt Nam trong việc đàm phán các hiệp định thương mại tự do quốc
tế. Tác giả cho rằng, Việt Nam đã chủ động hơn, có vai trò lớn hơn, bình đẳng
hơn trong quá trình đàm phán với các đối tác trong TPP. Lấy Hoa Kỳ làm
28
trường hợp phân tích nếu Việt Nam tham gia vào TPP, tác giả một mặt đánh
giá các vấn đề mà Việt Nam phải đối mặt trong đàm với Hoa Kỳ như quy tắc
xuất xứ “từ sợ trở đi”, một mặt tác giả kiến nghị một số giải pháp trong quá
trình đàm phán đối với tất cả các bên liên quan từ phía Việt Nam như đoàn
đàm phán, cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp dệt may.
Thu Hoài (2016) và Vũ Thanh Hương và Nguyễn Thị Minh Phương
(2016) xem xét tiền thân của CPTTP và EVFTA dưới khía cạnh tác động. Ở
cả hai công trình, các giả tổng quan sơ lược các vấn đề liên quan đến TPP và
EVFTA, trên cơ sở đó phân tích các tác động có thể xảy ra đối với dệt may
Việt Nam khi các hiệp định này có hiệu lực. Cũng bàn về tác động của TPP
đến dệt may Việt Nam, tuy nhiên Nguyễn Hoàng Khởi và Luu Tiến Thuận
(2015) và Ngô Thị Hải Xuân (2012) chỉ đề cập đến xuất khẩu dệt may của
Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ. Các tác giả cho rằng trở ngại lớn nhất và
cũng có tác động lớn nhất đến xuất khẩu dệt may Việt Nam sang thị trường
Mỹ là vấn đề xuất xứ hàng hóa. Đây là vấn đề mang tính then chốt quyết định
đến sự thành công của doanh nghiệp dệt may Việt Nam thâm nhập và chiếm
vị thế ở thị trường lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ. Đi vào phân tích cụ thể hơn và
mang tính kỹ thuật hơn, Phan Thanh Hoàn (2017) đã khai thác dữ liệu xuất
khẩu dệt may của Việt Nam và lượng hóa các tác động của TPP đối với xuất
khẩu dệt may của Việt Nam. Tác giả đồng thuận với nhận định rằng hiệp định
TPP có tác động rất lớn đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Không đi
phân tích riêng lẻ ngành dệt may và tác động của EVFTA, tuy nhiên Đỗ Thị
Hòa Nhã và cộng sự (2019) cũng phần nào chỉ ra được những tác động của
EVFTA đến ngành xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường EU.
Liên quan đến các vấn đề chuẩn bị và định hướng phát triển đối với
doanh nghiệp dệt may trong quá trình hình thành các hiệp định thương mại tự
do mới, Nguyễn Thị Cẩm Loan (2014), Võ Thanh Thu và Ngô Thị Hải Xuân
(2015), và Nguyễn Thị Thúy (2014) cơ bản làm rõ và cung cấp được luận
chứng khoa học bước đầu. Trong đó, nếu Nguyễn Thị Cẩm Loan (2014) tập
trung phân tích những chuẩn bị của ngành dệt may Việt Nam trước thềm TPP,
29
Võ Thanh Thu và Ngô Thị Hải Xuân (2015) đề cập đến định hướng phát triển
của ngành dệt may Việt Nam nhằm đáp ứng và tương thích với các yêu cầu
hội nhập của TPP, thì Nguyễn Thị Thúy (2014) tiếp cận ở khía cạnh giải pháp
đối với doanh nghiệp Việt Nam nó chung và doanh nghiệp dệt may nói riêng
khi gia nhập TPP.
Bên cạnh đó, cũng phải nhấn mạnh rằng Trung tâm WTO và Phòng
Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng liên tục cập nhật tình
hình liên quan đến các vấn đề hiệp định thương mại tự do mới, không chỉ trên
bình diện chung mà còn đặc biệt quan tâm chú ý đến ngành dệt may.
1.2. Đánh giá chung
1.2.1. Kết quả nghiên cứu đã đạt được của các công trình nghiên cứu
trước
Qua tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế có thể thấy, các
công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau và có những
đóng góp nhất định trong việc phát triên và đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may
Việt Nam trong thời gian qua cũng như định hướng trong thời kỳ hội nhập
mới. Cụ thể, các công trình trên đã làm rõ một vấn đề sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã nêu được cơ sở lý luận phát triển
ngành dệt may có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ở các quốc gia
đang phát triển. Các nghiên cứu nhìn chung đều khẳng định rằng ở giai đoạn
đầu phát triển, ngành dệt may là trung tâm, là động lực cho việc tiến lên giai
đoạn công nghiệp hóa. Thực tế cũng cho thấy, các quốc gia có dân số trẻ, lực
lực lao động dồi dào, tỷ trọng khu vực nông nghiệp cao đều lấy dệt may là
khâu đột phá ở giai đoạn đầu phát triển.
Thứ hai, các nghiên cứu cũng chỉ ra được vài trò vai trò đặc biệt quan
trọng của ngành sản xuất dệt may và xuất khẩu dệt may đối với sự phát triển
kinh tế cũng như quá trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu cũng đã hệ thống hóa bức tranh tổng
thể về sản xuất dệt may và xuất khẩu dệt may của Việt Nam thời gian quá.
30
Các vấn đề về thực trạng, cơ hội, thách thức và chiến lược phát triển sản xuất
và xuất khẩu dệt may của Việt Nam được phân tích và thảo luận tương đối
đầy đủ.
Thứ tư, các công trình nghiên cứu trước đó cũng đồng thuận rằng dệt
may Việt Nam đang ở vị trí thấp của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Đặc biệt,
rào cản về chủ động trong khâu nguyên vật liệu, khó chuyển dịch lên các khâu
có giá trị gia tăng cao sẽ là bài toán hóc búa trong quá trình hội nhập.
Thứ năm, liên quan đến vấn đề hội nhập, các nghiên cứu cũng đưa ra
được những nhận định và đánh giá có ý nghĩa về sản xuất và xuất khẩu dệt
may của Việt Nam trong quá trình hội nhập.
Các kết quả nghiên cứu trên đây là những tài liệu tham khảo hữu ích mà
Luận án có thể kế thừa trong quá trình triển khai các nghiên cứu về xuất khẩu
hàng dệt may trong bối cảnh Việt Nam tham gia các FTA thế hệ mới.
1.2.2. Khoảng trống nghiên cứu
Bên cạnh những vấn đề đã được giải quyết trong các nghiên cứu trước
đó, vẫn còn một số vấn đề quan trọng mà các công trình nghiên cứu trước đó
chưa giải quyết được:
Thứ nhất, các nghiên cứu trên chưa tổng kết và hệ thống hóa được sự
khác nhau và giống nhau giữa các hiệp định thương mại tự do truyền thống và
các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Do đó, chưa có cách nhìn tổng
quát về các vấn đề liên quan đến ngành dệt may, xuất khẩu dệt may trong bối
cảnh hình thành và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Cũng
từ nguyên nhân trên, các công trình trên chưa xem xét nội dung của các hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới liên quan trực tiếp tới việc xuất khẩu hàng
dệt may của Việt Nam.
Thứ hai, các công trình nêu trên chủ yếu phân tích tình hình sản xuất dệt
may và xuất khẩu dệt may của Việt Nam, cũng đưa ra đề xuất pháp để thúc
đẩy phát triển ngành dệt may Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, đặc biệt là
trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO mà chưa đi sâu xem xét các vấn đề
31
của xuất khẩu dệt may trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới, cũng như tác động (cả tích cực và tiêu cực) của
các FTAs thế hệ mới này đến xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam.
Thứ ba, các công trình trên chưa có quan điểm thống nhất về tác động và
triển vọng của xuất khẩu dệt may trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương
mại tự do thế hệ mới. Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu xem xét đánh
giá triển vọng của xuất khẩu dệt may trong bối cảnh Việt Nam tham gia các
hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng và triển vọng của xuất khẩu dệt may
Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới là hết sức cần thiết. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tác động
cụ thể của các FTA thế hệ mới tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam, có khả
năng áp dụng cao, có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tế trong việc phát
triển ngành sản xuất dệt may Việt Nam nói chung và thúc đẩy xuất khẩu hàng
dệt may nói riêng.
Trong đó, luận án sẽ tập trung phân tích tình hình xuất khẩu hàng hóa dệt
may Việt Nam thời gian qua, đặc biệt là xuất khẩu sang các thị trường lớn
như Hoa Kỳ, EU… Đồng thời, nhấn mạnh đến các nước và khu vực thị
trường mà Việt Nam đã ký kết các FTAs thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và
UKVFTA, thông qua sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp, phương
pháp SWOT, phương pháp phỏng vấn sâu. Trên cơ sở đó, Luận án sẽ đưa ra
các đánh giá về thành công và hạn chế cũng như các cơ hội và thách thức thúc
đẩy xuất khẩu hàng hóa dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hình thành và
32
thực thi FTA thế hệ mới.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU DỆT MAY TRONG
BỐI CẢNH VIỆT NAM THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI
TỰ DO THẾ HỆ MỚI
2.1. Một số lý thuyết về xuất khẩu
2.1.1. Các khái niệm liên quan đến xuất khẩu dệt may
2.1.1.1. Khái niệm về xuất khẩu
Xuất khẩu đã được xuất hiện từ rất lâu trước đây thông qua hình thức
sơ khai chỉ là hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia hay vùng lãnh
thổ. Theo thời gian cùng sự phát triển của nền kinh tế, cũng như khoa học, kỹ
thuật, hoạt động xuất khẩu đã và đang ngày càng mở rộng mạnh mẽ với nhiều
hình thức đa dạng khác nhau. Hoạt động này diễn ra trên nhiều lĩnh vực,
ngành nghề của nền kinh tế cả với hàng tiêu dùng cũng như với tư liệu sản
xuất. Tuy nhiên, chung quy lại tất cả những hoạt động này đều nhằm mục
đích đem lại lợi ích cho các quốc gia khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu.
Như vậy, xuất khẩu được hiểu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho một
quốc gia khác, trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương thức thanh toán. Tiền tệ
ở đây có thể là đồng tiền của một trong hai quốc gia của người mua, người
bán hoặc của một quốc gia thứ ba khác. Chẳng hạn: Việt Nam xuất khẩu hàng
hóa sang Mỹ, sử dụng đồng tiền thanh toán là USD. Trong trường hợp này
USD là ngoại tệ đối với Việt Nam nhưng là đồng tiền nội tệ của Mỹ. Còn
trong trường hợp Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, và cũng
thành toán bằng USD thì đồng USD ở đây là ngoại tệ đối với cả hai quốc gia
xuất và nhập khẩu.
Khái niệm xuất khẩu theo Luật thương mại 2005 thì được nêu cụ thể tại
Điều 28, khoản 1 như sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa
ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ
Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.
33
2.1.1.2. Khái niệm ngành dệt may và xuất khẩu dệt may
Ngành hàng dệt may là một trong những ngành chủ đạo của công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, liên quan đến việc sản xuất sợi, dệt nhuộm,
vải, thiết kế sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và cuối cùng là phân phối hàng
may mặc đến tay người tiêu dùng. Ngành dệt may góp phần đảm bảo nhu cầu
tiêu dùng, cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt; là một ngành
đem lại thặng dư xuất khẩu cho nền kinh tế; góp phần giải quyết việc làm;
tăng phúc lợi xã hội.
Hàng may mặc là một trong những hàng hóa đầu tiên được con người
đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường và nó cũng chính là mặt hàng đáp
ứng những nhu cầu cơ bản của mọi tầng lớp dân cư. Cùng với sự phát triển
của đời sống người dân, nhu cầu về hàng may mặc cũng đã có nhiều thay đổi
theo hướng nâng cao về thẩm mỹ, vừa mang tính thủ công truyền thống, vừa
mang tính hiện đại. Sản phẩm dệt may có những đặc trưng như:
- Tính thời vụ:tùy thuộc vào các mùa, chu kì thay đổi của thời tiết mà
kế hoạch sản xuất cũng như xuất khẩu hàng may mặc có sự biến đổi. Sản
phẩm may mặc có những yêu cầu rất phong phú phụ thuộc vào người tiêu
dùng nó: do người tiêu dùng có sự khác nhau về văn hóa, tôn giáo, phong tục
tập quán, tuổi tác…do đó họ có những nhu cầu về sản phẩm là hoàn toàn khác
nhau.
- Có tính thời trang cao nghĩa là các sản phẩm phải đáp ứng được các
nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng về kiểu dáng, màu sắc, mẫu mã, chất
liệu…việc nắm bắt được tâm lý khách hàng là yếu tố hết sức quan trọng quyết
định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp.
- Các sản phẩm may mặc gắn liền với tên hiệu, thương hiệu. Khi một
sản phẩm được gắn với một thương hiệu nổi tiếng, điều này cũng đồng nghĩa
với việc giá trị của sản phẩm hàng may mặc đó được tăng lên rất nhiều.
Không chỉ có vậy việc gắn nhãn hiệu đối với sản phẩm hàng may mặc còn là
khẳng định tên tuổi, uy tín của doanh nghiêp kinh doanh.
Sự ra đời của ngành công nghiệp may mặc gắn liền với sự hình thành
34
và phát triển của chủ nghĩa tư bản, với đặc thù về sản xuất như sử dụng nhiều
lao động, đòi hỏi về vốn và công nghệ không cao, xuất khẩu hàng may mặc đã
và đang được nhiều quốc gia trên thế giới coi trọng và coi đó là ngành công
nghiệp tiên phong, tạo đà cho các ngành công nghiệp nhẹ khác phát triển.
Trong quá trình phát triển, ngành công nghiệp sản xuất hàng may mặc
đã trải qua hai cuộc chuyển dịch lớn: chuyển từ các nước công nghiệp phát
triển sang các nước công nghiệp mới và chuyển từ các nước công nghiệp mới
sang các nước có nguồn nhân công dồi dào với giá rẻ, nguyên liệu sẵn
có…Thêm vào đó là cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á làm cho việc xuất
khẩu các mặt hàng may mặc có xu hướng tăng chậm lại. Tuy nhiên thì tổng
kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc vẫn tăng đều qua các năm và chiếm một
tỷ trọng khá cao. Theo thống kê hiện nay thì kim ngạch buôn bán hàng may
mặc của thế giới hàng năm đạt khoảng 400-550 tỷ USD chiếm 10% tổng kim
ngạch buôn bán thế giới, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt khoảng
20%.
Hiện nay trên thế giới ngành công nghiệp hàng may mặc chủ yếu tập
trung ở hai khu vực chính là Châu Á-Thái Bình Dương (chiếm khoảng 70%)
và Châu Âu, các nước thuộc khu vực khác như Bắc Mỹ, Tây Âu, Trung
Đông chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong thị trường xuất khẩu.
Các nước Châu Á với những ưu thế về lao động và tài nguyên, thêm
vào đó là sự tận dụng tốt những kinh nghiệm cũng như lợi thế của các nước đi
trước đã không ngừng phát triển, nâng cao hoạt động xuất khẩu hàng may
mặc ra thị trường thế giới. Kinh doanh hàng may mặc ở khu vực Châu Á đang
được mở rộng với tốc độ tăng trưởng gấp 2 lần tốc độ tăng trưởng của thế
giới.
Dựa trên khái niệm xuất khẩu nói chung, có thể hiểu: Xuất khẩu dệt
may là hoạt động kinh doanh buôn bán các mặt hàng dệt may trên phạm vi
quốc tế, là quá trình trao đổi hàng dệt may giữa các quốc gia dựa trên
nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ làm trung gian thanh toán.
2.1.2. Một số lý thuyết về xuất khẩu
35
2.1.2.1. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Năm 1776 Adam Smith đưa ra tác phẩm “Tài sản quốc gia”, đây là tác
phẩm kinh điển đưa ra rất nhiều các lý thuyết kinh tế. Trong cuốn này Adam
đưa ra thuyết Lợi thế tuyệt đối.Adam phản đối quan điểm chủ nghĩa trọng
thương mà mong muốn tự do hóa thương mại. Thông qua bàn tay vô hình các
nước sẽ sản xuất những mặt hàng có lợi thế lớn nhất đối với họ bằng các
nguồn lực hữu hạn. Khi đó các nước sẽ được hưởng lợi nhiều nhất. Adam cho
rằng mỗi một loại hàng hóa đều có khác biệt về chi phí sản xuất. Trong cuốn
Mối quan hệ trong các tác nhân kinh tế là hai bên đều có lợi. Bằng
sách của mình, Adam Smith cho rằng:
cách tối ưu lợi ích cá nhân, các tác nhân kinh tế đã làm gia tăng phúc lợi xã
Mối quan hệ giữa hai nước là cùng phát triển: Mỗi nước có lợi thế
hội
riêng vì vậy sản xuất ra các hàng hóa với chi phí khác nhau. Bằng cách trao
đổi hàng hóa giữa các quốc gia, mỗi nước sẽ thu được lợi lớn nhất với chi phí
Quan điểm về sự giàu có của một quốc gia: là việc người dân của
thấp nhất.
anh ăn gì, mặc gì, có hạnh phúc không chứ không phải là vàng bạc trong két.
Adam Smith cổ vũ xóa bỏ mọi rào cản thương mại (Hạn ngạch, thuế,..).
Đây là một bước chuyển rất lớn, từ bảo hộ mậu dịch chuyển sang tự do
thương mại.
2.1.2.2. Lý thuyết lợi thế so sánh (David Ricardo 1817
Học thuyết của David Ricardo ra đời trong thời kì cách mạng công
nghiệp đã hoàn thành, khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xác lập
địa vị thống trị hoàn toàn với hai giai cấp tư sản và vô sản đối lập nhau; phân
công lao động xã hội phát triển, mâu thuẫn giai cấp bộc lộ rõ ràng hơn. sống
trong thời kì này, David Ricardo có thể nhìn nhận và phân tích các quy luật
vận động của chủ nghĩa tư bản và nhìn rõ hơn mâu thuẫn giai cấp trong xã hội
tư bản chủ nghĩa cũng như vạch ra cơ sở kinh tế của những mâu thuẫn đó.
36
Ông đã nhận thấy những hạn chế trong học thuyết của Adam Smith và phát
triển nó thành học thuyết lợi thế so sánh/lợi thế tương đối (comparative
advantage).
Ý tưởng về lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) được đề cập đến lần đầu
tiên bởi Robert Torrens (1780 - 1864, người Anh) vào năm 1815 trong bài
viết về thương mại mặt hàng ngô (An essay on the external com trade).
Robert kết luận rằng, nước Anh có lợi khi sản xuất các mặt hàng khác để đổi
lấy ngô từ Ba Lan cho dù Anh có thể sản xuất ngô rẻ hơn Ba Lan. Tuy nhiên,
lý thuyết lợi thế so sánh chỉ thật sự gắn liền với tên tuổi của David Ricardo
khi ông phát triển nó trong tác phẩm nổi tiếng năm 1817 “Những nguyên lý
của kinh tế chính trị và thuế khóa”.
Nếu thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith không giải thích được
quan hệ thương mại diễn ra giữa hai nước mà lợi thế tuyệt đối dồn hết về một
bên, thì theo David Ricardo:
- Thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữa hai quốc gia mà lợi thế
tuyệt đối dồn hết về một phía. Một nước có hiệu quả sản xuất thấp hơn (chi
phí cao hơn) trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì vẫn có thể tham gia
vào phân công lao động quốc tế và trao đổi ngoại thương, thông qua chuyên
môn hóa sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm có lợi thế so sánh.
- Một quốc gia có lợi thế so sánh khi quốc gia đó có khả năng sản xuất
một hàng hóa với mức chi phí cơ hội thấp hơn so với các quốc gia khác; Chi
phí cơ hội của việc sản xuất ra một hàng hóa là số lượng hàng hóa khác phải
hi sinh khi chúng ta sử dụng nguồn lực để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa
đó. Lợi thế so sánh xác định thông qua tính toán chi phí cơ hội để sản xuất ra
một đơn vị sản phẩm trên cơ sở so sánh chi phí sản xuất các loại sản phẩm
khác nhau.
Thuyết lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) tiến bộ hơn rất nhiều so với
thuyết lợi thế tuyệt đối (lợi thế tuyệt đối trở thành trường họp đặc biệt của lợi
thế so sánh). Do đó, thuyết này được ứng dụng rất rộng và phát triển cho đến
ngày nay. Có thể nói thương mại quốc tế giữa các nước hiện nay chủ yếu dựa
37
trên khai thác các mặt hàng có lợi thế so sánh.
Ngoài ứng dụng trong thương mại quốc tế, thuyết lợi thế so sánh còn
được ứng dụng trong nghiên cứu phân công lao động giữa các vùng, địa
phương, thậm chí các tổ đội, cá nhân trong doanh nghiệp, tổ chức.
2.1.2.3. Mô hình Heckscher – Ohlin (mô hình H-O)
Mô hình này do hai nhà kinh tế là Eli Heckscher (1919) và Bertil Ohlin
của Thụy Điển đồng nghĩ ra vì vậy tên gọi mô hình là nối của hai cái tên.Mô
hình này đưa ra hai yếu tố ảnh hưởng tới thương mại giữa các quốc gia:
- Mức độ dồi dào và rẻ của các yếu tố sản xuất
- Mỗi một mặt hàng lại cần tỷ lệ các yếu tố đầu vào khác nhau.
Một quốc gia nên xuất khầu các hàng hóa mà mình dồi dào yếu tố sx
cho hàng hóa đó và nhập về những hàng hóa ngược lại. Trường hợp cụ thể vì
Việt Nam dồi dào lao động nhưng vốn ít vì vậy nên sản xuất giầy dép,
vài,…Còn Nhật bản nhiều vốn nhưng ít lao động thì nên sản xuất và xuất
khẩu thép và nhập về vải. Trong thực tế thì ngày nay các nước đều theo chủ
nghĩa Tân trọng thương có nghĩa là khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ mậu
dịch trong nước thông qua các hàng rào thuế quan, kỹ thuật. Vì vậy ta sẽ thấy
là thuế xuất khẩu thì luôn thấp thậm chí bằng 0 nhưng thuế nhập khẩu thì lại
cao có thể lên tới 100%.
Tại Việt Nam chính phủ sẽ phải xác định mặt hàng xuất khẩu/nhập
khẩu tập trung trong từng thời kỳ. Cụ thể từ 2011 tới 2020 Việt nam tập trung
nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất, nguyên liệu vì vậy con số này thực
tế chiếm 90%; còn lại tiêu dùng là 10%. Đối với xuất khẩu thì chúng ta tập
trung vào xuất khẩu các hàng hóa cần lượng lớn lao động (dầy da, may mặc,..)
và tài nguyên theo hướng tăng hàm lượng chế biến.
Các học thuyết cổ điển về thương mại quốc tế đều nhấn mạnh yếu tố
cung, coi quá trình sản xuất trong mỗi nước là yếu tố quy định hoạt động
thương mại quốc tế. Trong các học thuyết này, giá cả mặt hàng không được
hiển thị bằng tiền, mà được tính bằng số lượng hàng hóa khác, và thương mại
giữa các nước được thực hiện theo phương thức hàng đổi hàng. Những giả
38
định này khiến cho việc phân tích trở nên đơn giản hơn, nhung vẫn giúp giải
thích được nguồn gốc sâu xa của thương mại quốc tế. Tuy nhiên, thực tế
thương mại quốc tế hiện nay cho thấy, yếu tố từ phía cầu cũng tạo ra động lực
rất lớn cho trao đổi thương mại giữa các nước.
Về mặt chính sách, các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng sự can thiệp
của Nhà nước sẽ dẫn đến làm giảm lợi ích tiềm năng từ thương mại. Do vậy,
ngoại trừ học thuyết trọng thương chưa thấy được vai trò của tự do hóa
thương mại, hai học thuyết còn lại đã khuyến khích các nước chuyên môn hóa
sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế, Nhà nước chỉ can thiệp vào
nền kinh tế ở mức hạn chế. Đặc biệt, học thuyết về lợi thế so sánh của David
Ricardo còn được coi là nền tảng cho sự vận hành của Tổ chức Thương mại
thế giới (WTO).
Hạn chế lớn nhất của các học thuyết cổ điển về thương mại quốc tế,
theo các nhà kinh tế, đó là chúng được xây dựng trên cơ sở học thuyết giá trị
lao động, theo đó lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và đồng nhất trong tất
cả các ngành sản xuất. Do tính chất phi thực tế này đòi hỏi tiếp tục có các học
thuyết ra đời tiếp theo để giải thích chính xác hơn nữa bản chất của thương
mại quốc tế.
2.1.2.4. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter
Thuyết lợi thế cạnh hanh quốc gia do Michael Porter (Michael Porter,
sinh ngày 23/5/1947, là giáo sư của Đại học Harvard, Mỹ; Ông là nhà tư
tưởng chiến lược và là một trong những “bộ óc” quản trị có ảnh hưởng nhất
thế giới; là chuyên gia hàng đầu về chiến lược và chính sách cạnh tranh của
thế giới; là cố vấn trong lĩnh vực cạnh tranh cho lãnh đạo nhiều nước như Mỹ,
Ireland, Nga, Singapore, Anh), giáo sư của Đại học Harvard (Mỹ) đưa ra vào
năm 1990, đây là công trình nghiên cứu của một tập thể các nhà khoa học ở
12 nước bắt đầu từ năm 1986, với tổng cộng các ngành được nghiên cứu lên
tới con số hàng trăm. Mục đích của thuyết là giải thích tại sao một số quốc gia
lại có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một số sản phẩm, hay nói cách
khác, tại sao lại có những quốc gia có khả năng cạnh tranh cao về một số sản
39
phẩm. Ví dụ, tại sao Nhật Bản rất nổi tiếng trong ngành sản xuất ô tô? Tại sao
Thụy Sỹ nổi tiếng trong sản xuất và xuất khẩu các thiết bị chính xác và các
loại dược phẩm? Tại sao Đức và Mỹ làm rất tốt trong ngành công nghiệp hóa
chất?
Thuyết này được xây dựng trên cơ sở lập luận rằng khả năng cạnh tranh
của một ngành công nghiệp được thể hiện tập trung ở khả năng sáng tạo và
đổi mới của ngành đó. Và điều này được khái quát hóa cho một thực thể lớn
hơn - một quốc gia. Học thuyết của M. Porter đã kết hợp được các cách giải
thích khác nhau trong các học thuyết của thương mại quốc tế trước đó và
đồng thời đã đưa ra một cách tiếp cận rất quan trọng - khả năng cạnh tranh
quốc gia.
Theo thuyết này, khả năng cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên
kết của bốn nhóm yếu tố. Mối liên kết của bốn nhóm tạo thành mô hình có tên
là mô hình kim cương (mô hình mô phỏng cấu trúc tinh thể kim cương có độ
bền cao để chỉ khả năng chịu đựng của một quốc gia trước môi trường cạnh
tranh gay gắt). Bốn nhóm yếu tố bao gồm: điều kiện về các yếu tố sản xuất;
điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; chiến lược,
cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành. Cả bốn nhóm yếu tố này tác động
qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnh tranh của một quốc gia.
Ngoài bốn yếu tố trên, còn có hai yếu tố rất quan trọng, đó là yếu tố tác động
của chính phủ và cơ hội kinh doanh. Đây là yếu tố có thể chi phối cả bốn
nhóm yếu tố cơ bản kể trên.
Thuyết cạnh tranh quốc gia của M. Porter đứng trên quan điểm quản trị
ngành, tức ông coi khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào khả
năng cạnh tranh của ngành và cụ thể hơn nữa là cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong ngành. Không có một nước nào lại có khả năng hơn một nước
khác, chỉ có doanh nghiệp nước này có khả năng cạnh tranh cao hơn doanh
nghiệp nước khác. Đây là quan điểm được đánh giá phù hợp thực tế. Như vậy,
thuyết của M. Porter có sự gắn kết các cấp độ doanh nghiệp, ngành công
40
nghiệp và các quốc gia, trong khi các học thuyết khác chỉ đề cập đến một
hoặc hai cấp độ. Học thuyết có giá trị cao đối với các chính phủ trong việc
xây dựng chiến lược phát triển ngành, phát triển cụm công nghiệp.
Thuyết này đã đưa ra một cách giải thích mới về các yếu tố quyết định
đến khả năng cạnh tranh quốc gia. Nếu như ở thuyết H - o, mặc dù cũng đề
cập đến sự khác biệt về nguồn lực giữa các quốc gia, nhưng mới chỉ giới hạn
ở nhóm các yếu tố cơ bản được đề cập trong thuyết của M. Porter, về khía
cạnh này, M. Porter đi xa hơn khi khẳng định rằng chính các yếu tố tiên tiến
mới đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành lợi thế cạnh tranh của
doanh nghiệp, và cao hơn là lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Thuyết đưa ra mô hình xem xét khả năng cạnh tranh quốc gia dưới
trạng thái động, nghĩa là khả năng này có thể thay đổi theo thời gian. Thuyết
có giá trị trong việc định hướng xây dựng chính sách cạnh tranh của các chính
phủ và việc hoạch định chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp nhìn vào mô hình để đánh giá vị trí của doanh nghiệp trong một
ngành, xem xét tiềm năng thị trường, các mối liên hệ bên trong một nhóm
ngành, cơ cấu ngành, các yếu tố sản xuất, chính sách của chính phủ và cơ hội
kinh doanh để xây dựng chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn, xác định
đúng đắn các khâu trọng yếu để tập trung đầu tư, hay điều chỉnh hợp lý.
Chính phủ nên có các chính sách hỗ trợ để cải thiện khả năng cạnh tranh của
các ngành không có hoặc khả năng cạnh tranh thấp, và khuyến khích phát
triển các ngành có lợi thế cạnh tranh cao.
2.2. Khái quát về xuất khẩu dệt may
2.2.1. Vị trí, của ngành dệt may xuất khẩu dệt may trong nền kinh tế
Dệt may là một trong những ngành công nghiệp có lịch sử lâu đời trên
thế giới. Ngành công nghệ dệt may hiểu đơn giản là ngành liên quan đến lĩnh
vực thiết kế nhằm đáp những ứng nhu cầu về thời trang, may mặc của con
người. Ngành dệt may được coi là một trong những ngành đóng vai trò chủ
đạo trong sản xuất hàng tiêu dùng, thông qua những công đoạn liên quan đến
việc làm vải và thiết kế sản phẩm và may hoàn thiện để đưa đến người tiêu
41
dùng. Có thể thấy, ngành dệt may có một tầm quan trọng rất lớn trong việc
đảm bảo các nhu cầu đời thường của con người, còn là ngành đem lại thặng
dư xuất khẩu cho nền kinh tế, tăng phúc lợi xã hội và góp phần giải quyết tình
trạng thất nghiệp nói chung. Đây là một ngành hàng chủ đạo của công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng, liên quan đến sản xuất ra các sản phẩm phục vụ nhu
cầu thiết yếu của con người như vải, quần áo và các sản phẩm từ vải và sợi.
Với lợi thế là ngành sản xuất yêu cầu vốn đầu tư cố định thấp, lực lượng
lao đông phổ thông cao, do đó, ngành dệt may là một trong những ngành đem
lại giá trị thặng dư xuất khẩu lớn cho nền kinh tế, góp phần tạo việc làm và
giải quyết các vấn đề an sinh xã hội (Nguyệt A. Vũ, 2014). Kể từ khi đổi mới
đến nay, ngành dệt may Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đặc
biệt là kể từ sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới năm
2007, thu hút được lượng vốn đầu tư lớn, tạo việc làm cho người dân, đồng
thời là ngành kinh tế chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển ngành
công nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung (Nguyễn Hoàng
Giang, 2014; Phạm Thị Lụa, 2014). Lịch sử phát triển kinh tế cũng chỉ ra rằng
ngành dệt may là ngành khởi đầu cho chiến lược công nghiệp hóa của mỗi
quốc gia theo định hướng xuất khẩu, thể hiện vai trò nền tảng tập trung tích
lũy tư bản cho quá trình phát triển kinh tế sau này.
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), tính đến hết năm 2021, Việt
Nam hiện có tổng cộng khoảng hơn 5.200 doanh nghiệp dệt may lớn nhỏ với
hơn 2.5 triệu người trực tiếp tham gia lao động sản xuất và gần 2 triệu lao
động gián tiếp làm việc trong các ngành nghề liên quan như kho bãi, vận
chuyển… Cũng theo VITAS, thu nhập trung bình của người lao động trong
ngành dệt may hiện nay của Việt Nam là từ 4-4.5 triệu/tháng (tương đương
48-54 triệu/năm). Cũng theo số liệu của VITAS, năm 2019 số lượng doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may ở Việt Nam đã tăng lên gần 6.000
doanh nghiệp; thu nhập bình quân đầu người của lao động hoạt động trong
ngành dệt may đạt xấp xỉ 80 triệu VNĐ/năm. Theo các chuyên gia và các nhà
hoạch định chính sách, số lượng các doanh nghiệp dệt may gia nhập thị
42
trường được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong các năm tới, do làn sóng đầu tư trực
tiếp nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản
có xu hướng gia tăng (Le, Tran & Nguyen Duc, 2022).
Có thể thấy rằng xu hướng này xuất phát từ xu hướng chuyển dịch cơ
cấu ngành dệt may từ Trung Quốc sang các nước có lợi thế so sánh về dệt
may như Việt Nam. Thực tế này cho thấy vai trò của ngành dệt may đối với
kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục có những đóng góp tích cực và quan
trọng trong thời gian tới. Như vậy, ngành dệt may không chỉ giúp nền kinh tế
giải quyết bài toán tạo công ăn việc làm mà đồng thời còn giúp người dân cải
thiện thu nhập, gia tăng an sinh phúc lợi xã hội. Đặc biệt, với chiến lược quy
hoạch vùng sản xuất dệt may, trong những năm gần đây xu hướng dịch
chuyển sản xuất các sản phẩm dệt may đến các vùng nông thôn, vùng sâu,
vùng xa góp phần xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ người dân thích ứng dần với
môi trường làm việc công nghiệp, cũng như rút ngắn khoảng cách phát triển
giữa nông thông và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi.
Bên cạnh tạo công ăn việc làm, giúp cải thiện các vấn đề an sinh xã hội,
ngành dệt may còn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược xuất khẩu của Việt
Nam. Trong thời gian tới, Việt Nam không chỉ chú trọng phát triển ngành dệt
may hiện có mà còn tập trung nâng cấp ngành dệt may, đặc biệt trong các
công đoạn có giá trị gia tăng cao, thâm dụng vốn và công nghệ; bên cạnh đó
ngành dệt may cũng được xác định là ngành mũi nhọn tận dụng lợi thế về lao
động để tham gia sâu hơn vào sân chơi thương mại toàn cầu. Như là một tất
yếu khách quan, ngành dệt may sẽ tiếp tục chiếm giữ vị trí là một trong những
ngành công nghiệp chiến lược đóng góp lớn cho kim ngạch thương mại của
Việt Nam, đồng thời cũng là ngành công nghiệp trọng điểm đóng góp phần
quan trọng cho phát triển kinh tế và giải quyết bài toán việc làm cho Việt
Nam trong thời gian tới.
Qua phân tích ở trên, có thể thấy rõ được vai trò của hoạt động xuất
khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt may đối với nền kinh tế
43
nước ta:
Thứ nhất, xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt may
sẽ tạo nguồn thu nhập, tích luỹ cho Nhà nước một nguồn vốn ngoại tệ lớn cho
việc nhập khẩu thiết bị sản xuất hiện đại, nguyên phụ liệu…để phát triển sản
xuất phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước. Đồng thời
cũng giúp cho mỗi doanh nghiệp có cơ sở để tự hiện đại hoá sản xuất của
mình. Khi xuất khẩu các sản phẩm dệt may nước ta sẽ có một nguồn thu ngoại
tệ lớn cho nền kinh tế quốc dân, đáp ứng cho việc nhập khẩu các mặt hàng mà
chúng ta cần để đảm bảo cho sự phát triển cân đối, ổn định của nền kinh tế;
giúp chúng ta khai thác tối đa tiềm năng của đất nước.
Thứ hai, xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá nói
chung và sản phẩm dệt may nói riêng được xem là một yếu tố để thúc đẩy
phát triển và tăng trưởng kinh tế vì nó cho phép mở rộng quy mô sản xuất,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước, gây phản ứng dây truyền kéo theo một
loạt các ngành khác có liên quan phát triển theo. Khi ngành dệt may đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu thì sẽ buộc phải mở
rộng quy mô sản xuất và cần nhiều nguyên liệu hơn để phục vụ cho ngành dệt
và may, điều đó sẽ dẫn theo sự phát triển của ngành trồng bông và các ngành
có liên quan đến việc trồng bông như phân bón, vận tải…
Thứ ba, việc ngành dệt may đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng
thị trường xuất khẩu sẽ giúp Nhà nước và chính bản thân các doanh nghiệp sử
dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực có sẵn và các lợi thế vốn có của quốc gia
cũng như của doanh nghiệp, đồng thời tiếp cận với sự phát triển của khoa
học-công nghệ trên mọi lĩnh vực để nâng cao chất lượng, tăng sản lượng và
hướng tới sự phát triển bền vững cho đất nước và doanh nghiệp.
Thứ tư, tiến hành các hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất
khẩu sản phẩm dệt may góp phần giúp Nhà nước giải quyết vấn đề công ăn
việc làm, nâng cao mức sống người dân, đưa quốc gia thoát khỏi sự đói nghèo
và lạc hậu. Việc ngành dệt mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường
xuất khẩu đồng nghĩa với việc mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng
44
sản phẩm, khi đó ngành dệt may sẽ thu hút được nhiều hơn nữa lao động và
giúp họ có được một mức thu nhập cao và ổn định, tay nghề của người lao
động được nâng cao do họ sẽ được đưa vào đào tạo một cách bài bản và có kế
hoạch cụ thể, đồng thời có cơ hội tiếp cận với những công nghệ sản xuất dệt
may hiện đại.
Thứ năm, để việc đẩy mạnh xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu
có hiệu quả cao, các doanh nghiệp dệt may phải không ngừng đầu tư vào
trang thiết bị máy móc, công nghệ sản xuất để vừa nâng cao chất lượng sản
phẩm vừa tăng năng xuất thì mới tạo ra được những sản phẩm có tính cạnh
tranh cao trên thị trường quốc tế. Như vậy xuất khẩu và mở rộng thị trường
xuất khẩu còn có vai trò kích thích đổi mới công nghệ sản xuất cho nền kinh
tế nói chung và cho ngành dệt may nói riêng.
Thứ sáu, nhờ có hoạt động xuất khẩu và công tác mở rộng thị trường
xuất khẩu mà sự hợp tác kinh tế giữa nước ta với các nước khác ngày càng
phát triển bền chặt và thân thiện. Điều đó là do xuất khẩu chính là sự trao đổi
giữa các quốc gia, là sự thể hiện mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các
quốc gia và là hình thức ban đầu của các hoạt động đối ngoại. Không chỉ thế
nó còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng cường tiếp cận với thế giới
bên ngoài, từ đó có một nguồn thông tin vô cùng phong phú và nhạy bén với
cơ chế thị trường; thiết lập được nhiều mối quan hệ và tìm được nhiều bạn
hàng trong kinh doanh hợp tác xuất nhập khẩu.
Như vậy đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất
khẩu sản phẩm dệt may có vai trò rất quan trọng đối với không chỉ bản thân
mỗi doanh nghiệp dệt may mà còn đối với cả nền kinh tế quốc dân. Chính vì
thế mà nó được xem như là một hướng phát triển có tính chiến lược để góp
phần hiện đại hoá nền công nghiệp nước ta.
2.2.2. Đặc điểm của sản xuất và xuất khẩu dệt may
Thứ nhất, đặc điểm về nhu cầu và tiêu thụ
Nhu cầu hàng dệt may. là một trong những nhu cầu thiết yếu của con
45
người. Sản phẩm may mặc là một trong những hàng hoá đầu tiên tham gia vào
mậu dịch quốc tế. Hàng dệt may có những đặc trưng tiêu dùng riêng biệt ảnh
hưởng đến sản xuất và buôn bán trao đổi trên thị trường đó là:
Sản phẩm may mặc là loại sản phẩm có yêu cầu rất phong phú, đa
dạng về chủng loại và chất liệu tuỳ theo yêu cầu đối tượng tiêu dùng. Sự khác
biệt về văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo, khí hậu, tuổi tác, giới tính sẽ tạo
nên sự khác biệt về nhu cầu tiêu dùng. Nghiên cứu thị trường để nắm rõ nhu
cầu của từng đối tượng tiêu dùng có ýnghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiêu
thụ sản phẩm .
Sản phẩm dệt may mang tính thời trang cao. Để tiêu thụ sản phẩm
phải nắm bắt được xu hướng thời trang của thế giới, thị trường muốn tiếp cận
thường xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, mầu sắc, chất liệu để đáp ứng tâm
lý thích đổi mới, độc đáo gây ấn tượng đối với người tiêu dùng.
Sản phẩm dệt may mang tính thời vụ cao. Căn cứ trên sự thay đổi
của thời tiết trong năm ở từng khu vực, từng thị trường. Vấn đề này có liên
quan trực tiếp đến thời hạn giao hàng, mặt hàng dệt may phải được giao đúng
thời hạn nếu không muốn bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu.
Nhãn mác cũng là yếu tố quan trọng đối với hàng dệt may. Người tiêu
dùng có xu hướng thích sử dụng những mặt hàng mang nhãn hiệu của các
hãng nổi tiếng trên thế giới bởi vì đa số người tiêu dùng tin rằng nhãn hiệu đó
là biểu hiện của chất lượng sản phẩm và uy tín của nhà sản xuất.
Thu nhập bình quân đầu người và cơ cấu tiêu dùng chi cho hàng dệt
may là yếu tố quan trọng khi xác định xu hướng tiêu thụ mặt hàng này.
Ngoài ra, cũng như các mặt hàng khác, đặc điểm tiêu thụ hàng dệt may
còn chịu ảnh hưởng của đặc điểm xã hội, thói quen tiêu dùng của từng thị
trường.
Thứ hai, đặc điểm về thị trường
Hàng dệt may là hàng có qui mô thị trường lớn, hầu như nước nào, khu
vực nào cũng có xuất khẩu và nhập khẩu hàng maymặc nhằm đa dạng hoá
mặt hàng và đáp ứng nhu cầu tiêudùng. Châu Á, Tây Âu và Bắc Mỹ là ba
46
trung tâm buôn bán chính mặt hàng may mặc chiếm khoảng 80 – 90% kim
ngạch xuất nhập khẩu hàng may mặc của thế giới. Các nước xuất khẩu lớn
cũng đồng thời là các nước nhập khẩu lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ,
EU...
Các sản phẩm may mặc là một trong những mặt hàng được bảo hộ chặt
chẽ. Hiệp định về hàng dệt may là kết quả quan trọng của vòng đàm phán
Uruguay (ATC – Agreement Textile) ra đời và phát huy tác dụng việc buôn
bán quốc tế các sản phẩm dệt may được điều chỉnh theo những thể chế thương
mại đặc biệt mà nhờ đó phần lớn các nước nhập khẩu thiết lập các hạn chế số
lượng để hạn chế nhập khẩu hàng dệt may. Thêm vào đó mức thuế phổ biến
đánh vào hàng dệt may còn cao hơn so với các hàng hoá công nghiệp khác
(sẽ trình bày ở phần sau). Bên cạnh đó từng nước nhập khẩu còn đề ra nhiều
quy định riêng đối với hàng dệt may nhập khẩu như những qui định về nhãn
mác, giấy phép nhập khẩu và các tiêu chuẩn quốc tế khác. Tất cả những hàng
rào đó ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và buôn bán hàng dệt may trên thế giới.
2.2.3. Vai trò của xuất khẩu dệt may đối với phát triển kinh tế
Việt Nam xác định ngành dệt may là một trong những ngành mũi nhọn
đối với chiến lược phát triển kinh tế và hội nhập thế giới. Ngày 11/04/2014,
Bộ Công thương ban hành Quyết định 3218/QĐ-BCT phê duyệt quy hoạch
phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030. Theo đó, ngành dệt may được xác định là ngành công nghiệp mũi
nhọn, không chỉ phục vụ tiêu dùng trong nước mà định hướng xuất khẩu, có
vai trò đòn bẩy nâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia, mũi tiên phong đóng
góp cho quá trình hội nhập. Vậy, đâu là nguyên nhân mà Việt Nam lựa chọn
ngành dệt may như là mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế, cũng như
được đặc biệt chú trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tính tất yếu
của phát triển ngành dệt may ở Việt Nam có thể được giải thích cặn kẽ, hợp lý
ở các góc độ lý thuyết và thực tiễn bởi lý thuyết/mô hình đàn nhạn bay (đàn
sếu bay) của nhà kinh tế học người Nhật Akamatsu Kaname (flying-geese
47
paradigm).
Akamatsu quan sát sự phát triển của ngành sản xuất sợi bông của Nhật
Bản đầu thế kỷ 20 và khám phá ra thực tế là nền công nghiệp dệt may của
Nhật Bản ban đầu phụ thuộc vào nhập khẩu sợi bông, sau đó sợi bông được
phát triển và tiến đến sản xuất trong nước, tiếp đến nhập khẩu sợi bông giảm
dần do được thay thế bởi sợi bông sản xuất trong nước và sợi bông xuất khẩu
cũng tiếp đà tăng, cuối cùng cả nhập khẩu và xuất khẩu sợi bông đều giảm.
Akamatsu quan sát sự phát triển của ngành sợi bông và đưa ra ý tưởng sự phát
triển của một ngành kinh tế bất kỳ có thể diễn ra theo cấu trúc đàn nhạn bay
(Akamatsu, 1962). Từ ý tưởng về phát triển ngành, Akamatsu đi đến nhận
định rằng một quốc gia đang phát triển có thể áp dụng mô hình đàn nhạn bay
cho chiến lược phát triển kinh tế của mình, trong đó quá trình công nghiệp
hóa được bắt đầu bằng việc phát triển các ngành nghề thâm dụng lao động, tài
nguyên với mục đích tích lũy tư bản, sau đó phát triển ngành sản xuất và có
thể tiến tới xuất khẩu. Khát quát hóa ý tưởng của Akamatsu, các nhà kinh tế
sau này nhận định rằng các nước đang phát triển có thể phát triển những
ngành công nghiệp hạ nguồn, sau đó mới phát triển các ngành công nghiệp
thượng nguồn, tức là phát triển những ngành sơ khai rồi mới phát triển các
ngành sản xuất tiêu dùng và tư liệu sản xuất (Kojima, 2000). Dẫn chứng thực
tế cho lý thuyết này, Kojima (2000) khẳng định sự thành công của Đông Á
bắt đầu bởi Nhật Bản, rồi đến Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kong, Singapore,
tiếp theo là Trung Quốc, Thái Lan và hiện nay là Ấn Độ và Việt Nam (nhiều ý
kiến cho rằng tương lai có thể sẽ là một số các quốc gia Đông Nam Á khác
như Campuchia, Myanmar; thậm chí là một số nước châu Phi) được dẫn dắt
và lý giải bởi mô hình đàn nhạn bay (Vũ Kim Dũng, 2015).
Sau gần 40 năm đổi mới và mở cửa, không nghi ngờ gì về sự hội nhập
sâu rộng của Việt Nam vào kinh tế khu vực và toàn cầu, đặc biệt là những
bước chuyển dịch quan trong của kinh tế ngành. Tuy nhiên, cũng không thể
phủ nhận thực tế Việt Nam vẫn là một quốc gia đang phát triển, kinh tế phụ
thuộc vào các ngành thâm dụng nhiều lao động, ít thâm dụng vốn và các
48
ngành công nghiệp chứa đựng hàm lượng công nghệ tương đối đơn giản. Với
đặc trưng cần lượng lớn lao động tay nghề thấp, vốn đầu tư vào sản xuất
tương đối thấp so với các ngành công nghiệp khác, cùng với đó là yêu cầu
không cao về nhà xưởng, máy móc và trang thiết bị, kết hợp với chu kỳ sản
xuất kinh doanh ngắn, phát triển ngành dệt may xuất khẩu được xem là chiến
lược phát triển phù hợp, là hướng đi đúng đắn trong tương quan với điều kiện
kinh tế và xã hội của Việt Nam hiện có. Phát triển ngành dệt may sẽ cho phép
Việt Nam khai thác tối đa lợi thế so sánh về nguồn nhân lực dồi dào (đặc biệt
là lao động phổ thông), giải quyết được bài toán về sự hạn chế của nguồn lực
vốn và khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó, theo lý thuyết đàn nhạn bay, các nước
phát triển trong khu vực và thế giới đã tiến lên mức cao hơn đối với sản xuất
yêu cầu lao động trình độ tay nghề, thâm dụng vốn, hàm lượng khoa học kỹ
thuật và lợi thế về giá nhân công dần mất đi, do đó, ngành dệt may dần được
chuyển dịch sang các nước đang phát triển, nơi có nguồn nhân lực phổ thông
dồi dào và giá nhân công tương đối rẻ. Để lấp vào khoảng trống do quá trình
dịch chuyển cơ cấu ngành mà các nước đi trước để lại, Việt Nam là quốc gia
hội tụ đủ các điều kiện để đón đầu và khỏa lấp khoảng trống về sự phát triển
của phân công lao động tầm khu vực và quốc tế.
Như vậy, đến đây có thể khẳng định Việt Nam phát triển xuất khẩu dệt
may là yêu cầu tất yếu khách quan phù hợp với điều kiện hiện có trong nước,
đặc biệt là nguồn nhân công phổ thông dồi dào giá rẻ, và cũng tương thích với
xu hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong khu vực, tức là
đón đầu làn sóng chuyển dịch cơ cấu ngành dệt may hiện nay từ các nước đi
trước trong khu vực và thế giới.
2.2.4. Một số nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam
2.2.4.1. Nhóm nhân tố thuộc về thị trường nước ngoài
Thứ nhất, sự biến động của kinh tế thế giới. Ở cấp độ khu vực và thế
giới, thực tiễn những năm gần đây cho thấy tình hình kinh tế có sự biến động
lớn với cường độ mạnh hơn, sự ổn định không mang tính dài hạn, trong khi
đó suy thoái mang tính biến thiên với tần suất nhiều hơn. Dễ dàng quan sát sát
49
rằng, chỉ chưa tới 5 năm kể từ cuộc đại khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2008-09, thế giới tiếp tục đối mặt với sự mất cân bằng về nguồn cung ứng cho
sản xuất năm 2013-14; kế đến năm 2016 thế giới bắt đầu lo sợ với những
thông tin về một cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới,
và chỉ chưa đầy 3 năm sau, chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc
đã làm đảo lộn nhiều trật tự, và ảnh hưởng nghiêm trọng tới thương mại toàn
cầu. Năm 2019, thế giới tiếp tục chứng kiến đại dịch Covid-19, không chỉ làm
thay đổi phương thức giao thương giữa các quốc gia, mà còn ảnh hưởng trực
tiếp đến các vấn đề thương mại toàn cầu. Thực tế cho thấy, ngành dệt may
Việt Nam phụ thuộc lớn vào các thị trường xuất khẩu, sự bất ổn kinh tế toàn
cầu sẽ tác động mạnh tới thương mại ngành dệt may của Việt Nam. Bên cạnh
đó, các thị trường xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam như Mỹ, EU, Nhật Bản
cũng có những biến động lớn về điều chỉnh chính sách tỷ giá, vì vậy, những
thay đổi trên sẽ có tác động rất lớn đến kim ngạch xuất khẩu ngành hàng dệt
may của Việt Nam.
Thứ hai, nhu cầu thị trường nước ngoài. Đây nhóm nhân tố có ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát triển xuất khẩu. Tìm hiểu rõ được nhu cầu của thị
trường xuất khẩu sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các cơ hội, phòng
tránh rủi ro, nâng cao hiệu quả. Sự ảnh hưởng từ thị trường các nước, được
đánh giá trên hai phương diện là nhu cầu thị trường và cơ chế chính sách của
thị trường EU.
Nhu cầu của thị trường thể hiện quy mô dân số, cơ cấu dân số và đặc
điểm nhu cầu của người dân, các yêu cầu về các tiêu chuẩn sản phẩm như
chất lượng, bảo vệ sức khỏe và an toàn cho người tiêu dùng, thương hiệu sản
phẩm dề các sản phẩm may mặc tại thị trường đó. Những đặc điểm thuộc về
nhu cầu của thị trường nước ngoài có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát
triển xuất khẩu hàng may mặc. Đó thực sự là một thách thức không dễ vượt
qua. Nhưng nếu đáp ứng được thị hiếu và yêu cầu này sẽ mở ra một thị trường
vô cùng rộng lớn.
Cơ chế chính sách kiểm soát hàng may mặc nhập khẩu của quốc gia
50
nhập khẩu mặt hàng dệt may như: Rào cản kỹ thuật. Ví dụ đối với thị trường
EU: Để đảm bảo cho người tiêu dùng, EU kiểm tra sản phẩm ngay từ nơi sản
xuất và có hệ thống báo động về chất lượng hàng hóa giữa các nước thành
viên. Hàng may mặc Việt Nam có thể bán được ở thị trường chung châu Âu
phải đảm bảo được các tiêu chuẩn sau: Phải bảo vệ sức khỏe và an toàn người
tiêu dùng; phải bảo vệ các lợi ích kinh tế của người tiêu dùng; người tiêu dùng
có quyền đối với thông tin để so sánh. Bên cạnh đó là chính sách bảo hộ sản
xuất nội khối. Nhằm tránh sự thâm nhập mạnh vào thị trường may mặc từ các
nước khác trên thế giới, một số quốc gia đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi
cho các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc trong nước, đồng thời đưa ra
nhiều tiêu chuẩn, quy định khắt khe đối với các doanh nghiệp nước ngoài.
2.2.4.2. Nhóm nhân tố về chính sách của Việt Nam
Thứ nhất, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Trong thời
gian qua, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đánh dấu
bằng việc Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do, trong đó có các
FTA thế hệ mới. Cùng với xu thế toàn cầu hóa, xu thế hội nhập, các hiệp định
thương mại tự do (FTA) cũng gia tăng nhanh chóng. Các hiệp định FTA ngày
càng phát triển sâu rộng, gắn kết với phát triển bền vững, thúc đẩy tăng
trưởng và liên kết toàn cầu. Các FTA khi có hiệu lực sẽ ảnh hưởng tới nền
kinh tế, thương mại của các nước tham gia, đặc biệt các FTA khu vực sẽ giúp
các nước tham gia cơ cấu lại thị trường xuất nhập khẩu theo hướng tích cực,
không bị phụ thuộc quá mức vào một thị trường, thương mại hai chiều sẽ tăng
cao sau khi FTA thực thi. Tham gia các FTA khu vực, song phương tạo ra sự
phát triển thương mại với các thị trường các quốc gia lớn và tạo bước phát
triển mạnh mẽ trong xuất khẩu. Khi tham gia các FTA sẽ được hưởng ưu đãi
thuế quan, cải thiện môi trường đầu tư góp phần thu hút đầu tư nước ngoài,
tạo ra nhiều công ăn việc làm, hình thành năng lực sản xuất cao hơn trong
ngành dệt may và tham gia chuỗi giá trị dệt may trong khu vực và toàn cầu.
Bên cạnh đó, tham gia các FTA cũng góp phần chuyển dịch lao động từ các
51
ngành không còn lợi thế so sánh sang ngành có lợi thế hơn như dệt may.
Thứ hai, phát triển hàng may mặc xuất khẩu tất yếu chịu ảnh hưởng từ
luật pháp của nước nhập khẩu. Tuy nhiên, luật pháp trong nước cũng có
những tác động nhất định đến sự phát triển này. Tác động mạnh nhất đến phát
triển xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường thế giới là những điều luật liên
quan đến cấp phép xuất-nhập khẩu. Bởi vì các doanh nghiệp dệt may Việt
Nam vẫn phải thường xuyên nhập khẩu nguyên phụ liệu từ bên ngoài. Một hệ
thống luật pháp khắt khe sẽ cản trở trực tiếp đến hoạt động xuất-nhập khẩu
của doanh nghiệp. Ngược lại, hệ thống luật pháp thông thoáng, cởi mở sẽ có
tác dụng hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh được hoạt động xuất-nhập khẩu của
mình, qua đó ảnh hưởng tích cực đến phát triển xuất khẩu.
Ngoài ra, các bộ luật doanh nghiệp, luật thương mại…cũng có những
ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển xuất khẩu hàng may mặc thông
qua chức năng điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi cho
phép, phòng chống gian lận thương mại, tạo ra sân chơi bình đẳng cho các
doanh nghiệp dệt may nâng cao sức cạnh tranh.
Thứ ba, quan điểm chính sách của nhà nước về xuất khẩu dệt may. Với
lợi thế vốn có của mình, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định ngành dệt
may là một trong các ngành được ưu tiên trọng điểm về mặt quan điểm đường
lối chính sách cho phát triển. Trong quyết định số 36/QD-TTg ngày
14/3/2008 về phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Dệt may
Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Việt Nam đặt mục tiêu
phát triển ngành dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng
điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong
nước; tạp nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập
vững chắc kinh tế khu vực và thế giới. Do đó, ngành dệt may Việt Nam trong
thời gian tới sẽ được ưu tiên phát triển. Cụ thể :
- Ưu đãi lớn nhất của Chính phủ đó là chính sách về thuế : Mức thuế
suất áp dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc trung bình là 10-
15% thấp hơn mặt bằng chung hiện nay là 25%. Ngoài ra các doanh nghiệp
52
này còn được hưởng thời hạn miễn thuế lên đến 2 năm và 2 năm tiếp theo
giảm 50%. Đây thực sự là một hỗ trợ rất lớn cho các doanh nghiệp phát triển
xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU.
- Tiếp đến là chính sách về tín dụng khi Nhà nước hỗ trợ các doanh
nghiệp xuất khẩu hàng may mặc tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi ODA, vay
với lãi suất thấp.. Cụ thể Doanh nghiệp đầu tư vào các khâu trong ngành dệt
may, sản xuất nguyên phụ liệu được vay vốn ưu đãi với lãi suất bằng 50% lãi
suất thông thường cho 50% số vốn vay. Thời gian vay là 12 năm và ân hạn 3
năm. Đây thực sự là một hỗ trợ mạnh mẽ cho các doanh nghiệp phát triển
xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU khi tình trạng lãi suất vay vốn
hiện nay rất cao.
Tiếp đến, ngày 11/4/2014, Bộ Công thương ban hành Quyết định
321/QĐ-BCT về Phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, nhấn mạnh đến bốn mục
tiêu tổng quát, trong đó bao gồm 1 mục tiêu được đề cập trong Quyết định
36QĐ-TTg và 3 mục tiêu mới, cụ thể: đảm bảo cho ngành dệt may phát triển
bền vững, hiệu quả trên cơ sở công nghiệp hiện đại, hệ thống quản lý chất
lượng, quản lý lao động, quản lý môi trường theo các chuẩn mực quốc tế;
phân bố dệt may ở các vùng phù hợp, thuận lợi về nguồn cung lao động, giao
thông, cảng biển; và đến năm 2020, ngành dệt may xây dựng được một số
thương hiệu nổi tiếng.
Một trong những điểm nghẽn của ngành dệt may Việt Nam nói chung
và xuất khẩu dệt may nói riêng là nguồn nguyên liệu đầu vào. Nhận thức được
tầm quan trọng của việc đảm bảo nguồn cung đầu vào cho ngành sản xuất và
xuất khẩu dệt may của Việt Nam, ngày 6/78/2020, Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Nghị quyết số 115/NQQ-CP về các giải pháp thúc đẩy phát triển
công nghiệp hỗ trợ. Đây được xem là một trong những chính sách được kỳ
vọng sẽ tháo gỡ những khó khăn, giải quyết bài toán nguồn cung nguyên liệu
cho ngành dệt may. Nghị quyết 115 nêu rõ, năm 2025 Việt Nam phải đảm bảo
được 65% nguồn nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất toàn ngành dệt may.
53
Đây là bước đi quan trọng về mặt hoạch định chiến lược cấp quốc gia, hứa
hẹn sẽ mang lại nhiều hiệu ứng tích cực cho bài toán ổn định và bền vững
nguồn nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu của ngành dệt may Việt
Nam.
Các chính sách kinh tế vĩ mô khác như tỷ giá hối đoái, lãi suất tín dụng,
đầu tư công… tùy theo mức độ cũng có những ảnh hưởng nhất định đến sự
phát triển xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường các nước. Sự ảnh hưởng
này có thể là tích cực với những chính sách hỗ trợ, có lợi cho xuất khẩu hoặc
có thể kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp khi Chính phủ cắt giảm đầu tư
công, nâng mặt bằng lãi suất, thay đổi tỷ giá hối đoái..
Như vậy, với nền tảng quan điểm đường lối cho phát triển, ngành dệt
may là một trong số ít ngành có được chiến lược rõ ràng, cụ thể với những ưu
tiên vượt trội. Do đó, ngành dệt may Việt Nam kỳ vọng sẽ có những biến
chuyển tích cực trong thực tế thời gian tới. Bên cạnh đó, do được hỗ trợ về
mặt đường lối chính sách nên các vấn đề liên quan đến thể chế như thủ tục hải
quan, chính sách thuế phí, các biện pháp hành chính bổ trợ cũng sẽ được đơn
giản hóa nhằm thúc đẩy các hoạt động sản xuất và xuất khẩu ngành hàng dệt
may.
2.2.4.3. Nhóm nhân tố về năng lực cạnh tranh của ngành dệt may và năng lực
các ngành liên quan
Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của ngành hàng may mặc Việt Nam.
Năng lực cạnh tranh của ngành hàng may mặc chính là thước đo nội lực của
ngành được thể hiện thông qua năng lực của đội ngũ lao động, trình độ công
nghệ, cơ sở vật chất hạ tầng, mạng lưới phân phố, năng lực tài chính. Có thể
thấy năng lực cạnh tranh của ngành hàng may mặc nước ta vừa mạnh lại vừa
yếu. Đó chính là vì sự phát triển không đồng đều giữa các nguồn lực trong
ngành:
- Điểm mạnh: Ngành dệt may nước ta có lợi thế rất lớn về lao động.
Việt Nam có một nguồn lao động dồi dào, khéo léo, cần cù, chịu khó trong
khi tiền gia công sản phẩm lại rẻ, chi phí nhân công thấp. Điều này làm cho
54
chi phí sản xuất thấp, giá thành sản phẩm rất cạnh tranh. Bên cạnh đó, hàng
may mặc của Việt Nam được các nước nhập khẩu đánh giá khá cao, ngày
càng nhận được sự tín nhiệm của bạn hàng. Đặc biệt hiện tại khi Việt Nam đã
trở thành thành viên của WTO sẽ được hưởng những ưu đãi thuế quan về thuế
suất khi xuất khẩu hàng may mặc vào các nước khác. Điều này tạo ra nhiều
lợi thế cạnh tranh cho ngành hàng may mặc nước ta.
- Điểm yếu: Sức cạnh tranh của ngành còn hạn chế. Cụ thể lao động có
tay nghề cao, giàu kinh nghiệm còn chiếm tỷ lệ nhỏ. Bên cạnh đó, mức độ ổn
định của nguồn lao động trong ngành may mặc không cao khiến cho các
doanh nghiệp may mặc thường xuyên phải quan tâm đến việc tuyển dụng lao
động mới. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển xuất khẩu hàng may mặc gây
ra tính bất ổn định trong hoạt động xuất khẩu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp
dệt may trong nước hiện nay chủ yếu là thực hiện gia công cho các doanh
nghiệp nước ngoài nên giá trị gia tăng của ngành may còn thấp. Ảnh hưởng
đến hiệu quả phát triển của ngành này.
Một yếu tố nữa xét dưới phương diện kinh tế cũng có những tác động
lớn đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam là việc các doanh nghiệp trong nước
phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu từ bên ngoài. Số liệu từ
Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, hiện nay Việt Nam đang phụ thuộc gần
70% nguyên phụ liệu nhập khẩu. Không chủ động được nguồn nguyên liệu
đầu vào sẽ là yếu điểm cho các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam trong
việc chủ động các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như xuất khẩu của
mình. Cùng với đó là hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ làm kéo dài thời gian
vận chuyển hàng hóa, phương thức thanh toán còn lạc hậu trong tương quan
với khu vực và thế giới làm chậm tiến độ giao dịch và chậm nguồn tiền xoay
vòng; hạ tầng khoa học kỹ thuật đơn giản trở thành rào cản trong việc ứng
dựng khoa học công nghệ cao trong sản xuất; cuối cùng là trình độ lao động
ngành phần lớn chỉ dừng ở mức phổ thông sẽ khó đáp ứng được các yêu cầu
cao khi chuyển dịch các lĩnh vực ngành dệt may sang các công đoạn thâm
55
dụng nhiều vốn, trí tuệ và công nghệ.
Thứ hai, năng lực của các ngành liên quan. Ngành may cũng như bất cứ
một ngành kinh tế nào đều không thể tự tồn tại và phát triển riêng rẽ được.
Cùng với xu hướng phân công lao động ngày càng sâu xắc thì mối liện hệ
giữa các ngành càng trở nên khăng khít. Ảnh hưởng đến sự phát triển của
ngành may mặc là các ngành dệt, tài chính ngân hàng, giao thông vận
tải…đều liên quan đến ngành dệt may. Trong đó công nghiệp phụ trợ cho
ngành dệt may là quan trọng nhất. Khi nói đến ngành công nghiệp phụ trợ cho
ngành may cần phải nói đến ngành dệt đầu tiên. Có thể nói ngành dệt là “anh
em” của ngành may bởi sự liên quan chặt chẽ của hai ngành này. Ngành dệt
cung cấp nguyên phụ liệu trực tiếp cho ngành may sản xuất thành phẩm cuối
cùng. Ngành may chỉ có thể phát triển mạnh mẽ nếu như có ngành dệt hỗ trợ
phát triển tương xứng. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, sự phát khập khiễng
giữa hai ngành này là một thực trạng đã có từ lâu và vẫn chưa có dấu hiệu cải
thiện. Sự phát triển yếu kém của ngành dệt Việt Nam được thể hiện khi năng
lực sản xuất chỉ bằng 30% so với các nước dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ,
Pakistan, Bangladesh.. Cùng với trình độ phát triển kém cỏi của ngành dệt thì
ngành công nghiệp phụ trợ ở nước ta cũng trong tình trạng tương tự. Nguyên
nhân sự yếu kém của ngành công nghiệp phụ trợ nước ta xuất phát từ sự lạc
hậu về công nghệ, chậm đổi mới đầu tư phát triển đã ảnh hưởng tiêu cực đến
sự phát triển của ngành may. Bằng chứng là hiện nay, ngành may vẫn phải
nhập khẩu đến 80% nguyên phụ liệu từ bên ngoài khiến chi phí đầu vào rất
cao, năng lực cạnh tranh suy giảm.
2.2.4.4. Các nhân tố khác
Thực tế cho thấy xu hướng tiêu dùng ngành hàng dệt may có sự thay
đổi và dịch chuyển theo xu thế của sự phát triển kinh tế xã hội, khi đời sống
kinh tế - xã hội phát triển, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm hàng dệt may theo
đó cũng thay đổi. Sự hạn chế về trình độ nhân lực phục vụ trong ngành dệt
may, cùng với kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu trong tương quan với các đối
thủ trực tiếp như Trung Quốc, Ấn Độ sẽ là rào cản lớn đối với Việt Nam trong
56
việc chuyển hướng đến các yếu tố mang tính thị hiếu của người tiêu dùng như
mẫu mã, nhãn mác, thương hiệu (Nguyễn Hoàng Giang, 2014). Sự cạnh tranh
trực tiếp từ các đối thủ, thậm chí ngay tại thị trường nội địa sẽ có tác động lớn
đến chiến lược chiếm lĩnh thị trường dệt may khu vực và thế giới của Việt
Nam.
2.2.5. Các phương thức xuất khẩu dệt may
Hàng dệt may Việt Nam chủ yếu xuất khẩu theo hai phương thức là
CMT và FOB đơn giản như sau:
- Phương thức gia công hàng xuất khẩu - CMT (Cut - Make - Trim): là
phương pháp xuất khẩu đơn giản nhất. Khi hợp tác theo phương thức này, các
khách mua, các đại lý mua hàng và các tổ chức mua hàng cung cấp cho doanh
nghiệp gia công toàn bộ đầu vào để sản xuất sản phẩm bao gồm mẫu thiết kế,
nguyên liệu, vận chuyển. Các nhà sản xuất chỉ thực hiện việc cắt, may và
hoàn thiện sản phẩm. Doanh nghiệp thực hiện việc xuất khẩu theo CMT chỉ
cần có khả năng sản xuất và một chút khả năng thiết kế để thực hiện mẫu sản
phẩm.
- Phương thức xuất khẩu FOB (Free On Board): FOB là một phương
thức xuất khẩu ở bậc cao hơn so với CMT. Thuật ngữ FOB trong ngành dệt
may được hiểu là một hình thức theo kiểu mua đứt - bán đoạn. Theo phương
thức FOB, các doanh nghiệp phải chủ động tham gia vào quá trình sản xuất,
từ việc mua nguyên liệu đến cho ra sản phẩm cuối cùng. Khác với CMT, các
nhà sản xuất theo FOB sẽ chủ động mua nguyên liệu đầu vào cần thiết thay vì
được cung cấp từ người mua của họ. Các hoạt động theo phương thức FOB
thay đổi đáng kể dựa theo các hình thức quan hệ hợp đồng thực tế giữa nhà
cung cấp với khách mua hàng nước ngoài.
Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam hiện nay chủ yếu may gia công
theo hình thức CMT (cut, make and trim) đơn giản cho các hãng nước ngoài.
Tỷ trọng xuất khẩu dưới hình thức này chiếm khoảng 70% kim ngạch xuất
khẩu của ngành. Do vậy, tốc độ tăng trưởng của ngành cao nhưng giá trị gia
57
tăng của ngành còn thấp.
2.3. Khái quát về hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
2.3.1. Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và sự hình thành các hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới
Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những phương diện của quá trình
toàn cầu hóa, trong đó các quốc gia có những kết nối và hợp tác mạnh mẽ để
phát triển kinh tế. Sự ra đời của các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã góp
phần đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa; đặt mỗi quốc gia, nhất là các nước
đang phát triển trước những cơ hội và thách thức. Mức độ hội nhập kinh tế thể
hiện ở các cấp độ từ hợp tác song phương, đa phương đến liên kết ở cấp độ
toàn cầu. Khảo sát cho thấy, số lượng các hiệp định thương mại song phương
và đa phương đang có chiều hướng tăng lên nhanh chóng. Đến năm 2019, trên
thế giới đã có 178 hiệp định song phương và 76 hiệp định đa
phương. FTA được hình thành trên cơ sở kết nối thị trường không chỉ những
quốc gia có vị trí địa lý gần nhau, ở cùng một khu vực mà còn cả những nước
có khoảng cách địa lý xa nhau. Lĩnh vực kết nối tập trung chủ yếu vào nội
dung thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ, tuy nhiên, các vấn đề phi
truyền thống cũng được đưa vào nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc
gia như: vấn đề về môi trường, lao động, mua sắm chính phủ, sở hữu trí tuệ,
doanh nghiệp (DN) nhà nước… Cùng với các lĩnh vực hợp tác, sự phát triển
của khoa học công nghệ càng làm cho sự kết nối, hợp tác được mở rộng hơn
và ở những hình thức liên kết phức tạp, đa dạng hơn.
Song song với quá trình hình thành sự kết nối chung của tự do thương
mại và dịch vụ toàn cầu, các khu vực và các quốc gia trên thế giới cũng đẩy
mạnh tìm kiếm, hợp tác sâu rộng hơn để tháo gỡ những bế tắc trong các
khuôn khổ hợp tác đa phương kể từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Vì
vậy, các mô hình liên kết kinh tế khu vực như: Liên minh châu Âu, Khu vực
thương mại tự do Bắc Mỹ, Khu vực thương mại tự do ASEAN… các FTA
song phương và đa phương lần lượt ra đời phát triển với tốc độ nhanh chóng.
Các nước ASEAN hình thành khu vực thương mại tự do từ năm 1993
58
nhằm mở rộng thị trường, tăng cường thu hút đầu tư từ các đối tác ngoài
Khối. Đây là khu vực năng động nhất trong khu vực các nước Đông Á trong
mở rộng thương mại thông qua các hiệp định khu vực và đối tác.
Khi các nước Đông Á bắt đầu tìm kiếm các khu vực mậu dịch tự do
mới, thì một số nước thuộc Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình
Dương bắt đầu thảo luận về việc hình thành khu vực mậu dịch tự do xuyên
Thái Bình Dương. Từ sự khởi đầu này, đến nay đã hình thành Hiệp định Tiến
bộ và Toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) sau khi Hoa kỳ rút khỏi
Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Hiệp định CPTPP với
11 nước thành viên tham gia (gồm Japan, Australia, New Zealand, Malaysia,
Brunei, Singapore, Canada, Chile, Mexico, Peru và Việt Nam) đã được ký
vào ngày 8/3/2018 tại Santiago (Chile). Hiệp định CPTPP đã mở ra một khái
niệm mới, đó là FTA thế hệ mới. Ngoài các lĩnh vực hợp tác truyền thống như
các FTA trước đây thì FTA thế hệ mới đã đề cập đến nhiều nội dung phi
truyền thống như lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ…
Như vậy, có thể khẳng định, CPTPP là một hình mẫu cho tiến trình hội nhập
mới, cam kết sâu hơn và nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực hơn.
Quá trình liên kết kinh tế và khu vực trong thời gian gần đây đã chứng
kiến một số quan điểm mới của một số quốc gia về hợp tác, từ đa phương
chuyển sang song phương khi Hoa Kỳ rút khỏi TPP vào năm 2017; tiếp theo
là sự leo thang của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và những căng
thẳng thương mại ở một số nhóm nước khác. Sự va chạm quyết liệt giữa các
nước lớn đặt ra yêu cầu cần có sự cải tổ hơn nữa trong các luật chơi chung
toàn cầu. Chủ nghĩa bảo hộ mặc dù đang tiếp tục gia tăng (con số tranh chấp
thương mại năm 2018 gia tăng lên 35 vụ kiện, nhiều nhất trong vòng 16 năm
qua), nhưng xu hướng hợp tác và liên kết kinh tế vẫn tiếp tục được thúc đẩy ở
nhiều mức độ khác nhau tại các diễn đàn đa phương lớn như: CPTPP được ký
kết; Trung Quốc thúc đẩy các sáng kiến liên kết kinh tế, nâng cấp các FTA
với một số nước; EU tiếp tục đẩy mạnh liên kết kinh tế quốc tế, hướng tới các
đối tác tại châu Á và Mỹ La tinh; Nga tiếp tục kết nối Liên minh kinh tế Á-Âu
59
với các nước, ký FTA với Trung Quốc, thúc đẩy FTA với ASEAN…
Nằm trong khu vực Đông Á năng động, mở cửa và ký kết các FTA,
Việt Nam là một trong những quốc gia hội nhập ngày càng sâu rộng. Đến
nay,Việt Nam đã tham gia đàm phán và ký kết 17 Hiệp định thương mại tự do
(FTA), trong đó có 15 FTA đã ký kết và đi vào hiệu lực và 02 FTA đang đàm
phán (Gồm các FTA: Việt Nam - EFTA và Việt Nam - Israel). Các FTA này
đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn và có
quan hệ thương mại với trên 230 thị trường, trong đó có FTA với 60 nền kinh
tế, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp (DN) của Việt Nam
mở rộng tiếp cận thị trường toàn cầu, là cơ hội để Việt Nam kết nối và tham
gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Có thể thấy 03
thế hệ hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement - FTA) nối tiếp
nhau đã diễn ra trong quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa. Theo đó :
- FTA thế hệ thứ nhất tập trung ở việc tự do hóa lĩnh vực thương mại
hàng hóa (cắt giảm thuế quan, loại bỏ các rào cản phi thuế quan);
- FTA thế hệ thứ hai mở rộng phạm vi tự do hóa sang các lĩnh vực dịch
vụ nhất định (xóa bỏ các điều kiện tiếp cận thị trường trong các lĩnh vực dịch
vụ liên quan);
- FTA thế hệ thứ ba tiếp tục mở rộng phạm vi tự do về dịch vụ, đầu tư
và cả các vấn đề phi thương mại.
2.3.2. Khái niệm FTA thế hệ mới
Trải qua chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, các hiệp định thương
mại tự do không chỉ gia tăng đáng kể dưới nhiều hình thức ký kết khác nhau
cả về số lượng mà cả về nội dung và hình thức. Theo tổ chức thương mại thế
giới - WTO, hiện nay trên thế giới có hơn 200 hiệp định thương mại tự do
được ký kết và có hiệu lực giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc các khối
thương mại. Tổ chức Thương mại Thế giới cũng khẳng định rằng số lượng
hiệp định thương mại tự do giữa các quốc gia châu Á có tốc độ gia tăng nhanh
nhất. Điều này phản ảnh đúng xu hướng phát triển kinh tế nhanh và quá trình
hội nhập khu vực và thế giới sâu rộng của các quốc gia ở khu vực này trong
60
những năm gần đây. Với sự phát triển không ngừng cả về chất và lượng, bản
thân các hiệp định thương mại tự do truyền thống đã có những bước tiến quan
trọng về bản chất, điều mà gần đây được biết đến với tên gọi mới các hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới.
Thuật ngữ “FTA thế hệ mới” được sử dụng lần đầu tiên từ năm 2007
với các hiệp định thương mại tự do mà Liên minh châu Âu đã đàm phán với
các đối tác thương mại của mình. Việc các thành viên của WTO thiếu đi sự
đồng thuận dẫn đến sự bế tắc trong các vòng đàm phán Doha kể từ năm 2001.
Đây được cho là nguyên nhân chính để thúc đẩy EU thực thi một chiến lược
thương mại mới và chiến lược này chính thức được công bố từ năm 2006.
Theo đó, EU cam kết phát triển và nâng cao quan hệ thương mại song phương
với các đối tác. Từ đó, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại của
các nước EU trên toàn cầu. Với mục tiêu đó, vào năm 2007, EU bắt đầu khởi
động các vòng đàm phán các hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới” với các
nước là đối tác thương mại của mình như Ấn Độ, Hàn Quốc và các nước
ASEAN với cách tiếp cận toàn diện, gồm nhiều nội dung đổi mới về sở hữu
trí tuệ, cạnh tranh, đầu tư, mua sắm chính phủ, hay phát triển bền vững.
Kể từ đó, thuật ngữ “FTA thế hệ mới” được sử dụng một cách tương
đối để phân biệt các FTA được ký kết trong phạm vi toàn diện hơn so với
những khuôn khổ tự do hoá thương mại đã được thiết lập trong các hiệp
WTO hay FTA truyền thống.
Như vậy, hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là hiệp định thương mại
tự do có phạm vi cam kết toàn diện hơn, vượt ra khỏi phạm vi cam kết của các
hiệp định thương mại tự do truyền thống. Hiểu một cách giản đơn hơn, các
hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có khả năng điều chỉnh cả các vấn đề
gián tiếp liên quan đến thương mại, như các vấn đề lao động, các vấn đề môi
trường, các vấn đề minh bạch, hay các vấn đề tranh chấp và giải quyết tranh
chấp thương mại. Một số hiệp định FTA thế hệ mới hiện nay như Hiệp định
thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và
tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác thương mại và
61
đầu tư xuyên Đại Tây Dương, Các hiệp định thương mại tự so giữa ASEAN
và đối tác (ASEAN+1), Thị trường chung Châu Âu (EU), Thị trường chung
Nam Mỹ (Mercosur).
Về bản chất FTA thế hệ mới là các FTA truyền thống được nâng cấp lên,
thể hiện phạm vi cam kết rộng hơn không chỉ liên quan đến các vấn đề về
thương mại hàng hóa và dịch vụ mà còn đối với cả các vấn đề phi thương mại
và phi dịch vụ.
Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là khái niệm mang tính tương
đối, phản ánh quá trình phát triển ngày càng mạnh và đa dạng của vấn đề tự
do hóa thương mại và liên kết sản xuất trên toàn thế giới thông qua kênh các
hiệp định thương mại khu vực, trong bối cảnh thỏa thuận đa phương toàn cầu
chưa khắc phục được sự bế tắc cùng với sự nảy sinh những quan ngại, thậm
chí là chống lại quá trình toàn cầu hóa ở không ít quốc gia. Các FTA thế hệ
mới có phạm vi rộng hơn, có cả những quy định "phi thương mại" hay "kinh
tế chính trị". Các FTA này khi có hiệu lực sẽ ảnh hưởng rất mạnh tới thể chế
của các bên liên quan.
Có thể thấy, tiến trình tham gia các FTA của Việt Nam được tiến hành
từng bước và có lộ trình với mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng. Hiện nay,
Việt Nam là nước ASEAN có mức thu nhập trung bình đầu tiên ký kết cả 2
hiệp định: CPTPP và Việt Nam - EU. Việc ký kết tham gia các FTA thế hệ
mới trong khi xu hướng bảo hộ gia tăng đã làm gia tăng vị thế của Việt Nam
với ưu thế là một nền kinh tế mở, có nhiều FTA với các đối tác thương mại
lớn. Khoảng trên 80% thương mại xuất nhập khẩu của Việt Nam đến từ các
quốc gia đã và đang ký kết các FTA.
2.3.3. Đặc điểm của FTA thế hệ mới
Cũng giống như các Hiệp định thương mại tự do truyền thống, các Hiệp
định tự do thương mại thế hệ mới, trước hết mang đầy đủ bản chất và đặc
trưng điển hình của các Hiệp định thương mại tự do truyền thống. Tuy nhiên,
62
nó được nâng cấp và bổ sung tạo thành những nét đặc thù riêng biệt, không
chỉ giúp bản thân nó khác với các hiệp định thương mại tự do cũ về tên gọi
mà còn được nâng cấp cả về nội dung và bản chất bên trong.
2.3.3.1. Bao gồm các vấn đề phi thương mại
Các FTA thế hệ mới bao gồm cả các nội dung “phi thương mại”. Các
nội dung này trước đây do lo ngại sẽ dựng nên các rào cản đối với thương mại
nên đã từng bị các bên đam phán đưa ra khỏi các vòng đàm phán WTO. Tuy
nhiên, hiện nay trong bối cảnh mới lại được quan tâm bởi nó có ảnh hưởng
ngày càng lớn đến vấn đề thương mại của các quốc gia. Những vấn đề “phi
thương mại” trên có thể kể đến như lao động, phát triển bền vững, môi
trường, quản trị doanh nghiệp, mua sắm của chính phủ…
Đây là một trong các đặc trưng nổi bật nhất của các FTA thế hệ mới với
các nội dung cam kết vượt ra ngoài phạm vi của các hoạt động thương mại
hàng hóa và dịch vụ, hay có thể tóm gọi trong thuận ngữ “phi thương mại”
như các vấn đề liên quan đến hầu hết các khía cạnh của đời sống kinh tế như
đầu tư, cạnh tranh, mua sắm công, thương mại điện tử, tự vệ thương mại, quy
tắc xuất xứ, minh bạch hóa, chống tham nhũng, các vấn đề lao động, môi
trường, giải quyết chanh chấp giữa chính phủ và các nhà đầu tư….Thực tế
cho thấy rằng, trong chương trình nghị sự của WTO về vấn đề tiêu chuẩn lao
động và các vấn đề liên quan đến môi trường đã không được đưa ra thảo luận
kể từ Hội Nghị Seattle ở Hoa Kỳ năm 1999. Lý giải cho điều này, các nước
đang phát triển cho rằng các cam kết này không mang tính thực tế, đặc biệt nó
bị nghi ngờ là một trong các biện pháp bảo hộ hay các hàng rào bảo hộ mới
của các quốc gia phát triển nhằm bảo vệ thương mại trước các nước đang phát
triển. Về mặt lý luận, người lao động là chủ thể trực tiếp tạo ra sản phẩm
trong thương mại quốc tế nên trước hết họ phải là đối tượng được bảo vệ các
quyền cơ bản cũng như các lợi ích thiết yếu trong cuộc sống cũng như trong
hoạt động lao động sản xuất. Vì lý do đó, quyền lợi của người lao động trong
bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sâu rộng như ngày nay càng được
phải coi trọng và bảo vệ. Do đó, cách tiếp cận của các FTA thế hệ mới xem
63
vấn đề lao động cũng như các vấn đề môi trường là một trong các nội dung
quan trọng trong đàm phán, cũng là xu thế trong các hiệp định FTA mới hiện
nay. Cách tiếp cận vấn đề lao động của các FTA thế hệ mới không đơn thuần
chỉ là đảm bảo quyền và lợi ích của chủ thể lao động mà sâu sa còn là cam kết
đảm bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng giữa các quốc gia khi tham gia
đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Theo đó, nếu
một quốc gia duy trì các tiêu chuẩn lao động thấp (như điều kiện lao động
thấp, tiền lương cơ sở thấp, sử dụng lao động vị thành niên, phúc lợi người
lao động thấp…) sẽ dẫn tới kết quả là tạo ra môi trường cạnh tranh không
lành mạnh đối với các quốc gia áp dụng tiêu chuẩn cao về lao động (phúc lợi
lao động bền vừng). Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
đang diễn ra một cách mạnh mẽ và ngày càng sâu rộng hơn đã và đang tạo ra
một thị trường lao động mang tính toàn cầu (sự cạnh tranh công bằng giữa các
thị trường lao động), do đó, sự công bằng về các điều khoản liên quan đến lao
động nên được áp dụng trong các cam kết về thương mại nhằm xây dựng
những chuẩn mực thương mại mới trong các hiệp định thương mại tự do thế
hệ mới. Tùy thuộc vào từng FTA thế hệ mới mà các vấn đề về lao động được
đưa vào ở những cấp độ khác nhau. Cần lưu ý rằng, có một xu hướng chung
là các tiêu chuẩn về lao động của Tổ chức Lao động Thế giới và các tiêu
chuẩn của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển bền vững sẽ được sử
dụng như những tiêu chuẩn nền tảng cho việc xác lập các điều khoản trong
đàm phán của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Cũng cần nhấn
mạng rằng xu hướng toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu, nó tạo động lực mạnh
mẽ cho các quốc gia tham vào liên kết sản xuất toàn cầu, tức là mức độ hợp
tác và phụ thuộc lẫn nhau trở nên không thể tránh khỏi. Quá trình hội nhập
như là kết quả thúc đẩy quá trình hình thành mạng lưới sản xuất và chuỗi giá
trị ngành toàn cầu mang tính chất thống nhất, có phạm vi bao trùm toàn cầu.
Do đó, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới không thể chỉ bao hàm các
vấn đề thương mại thuần túy, mà cần phải chứa đựng cả các vấn đề liên quan
đến các hoạt động phi sản xuất và quản trị ở cả cấp độ quản trị doanh nghiệp,
64
quản trị nhà nước và quản trị toàn cầu.
Như vậy, trong tương quan với các hiệp định thương mại tự do truyền
thống, các FTA thế hệ mới được xem là các hiệp định WTO plus (WTO cộng)
với những nội dụng vốn bị đưa ra khỏi đàm phán hoặc từng bị từ chối đàm
phán trước đây thì nay lại được chấp nhận và đặc biệt quan trọng trong đàm
phán. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được xem là giải pháp mới
cho sự thay đổi lớn và không ngừng của bối cảnh thương mại thế giới ngày
nay.
2.3.3.2. Phạm vi địa lý được mở rộng
Ở giai đoạn đầu của phát triển, các FTA truyền thống có xu hướng
thường xuyên được ký kết bởi các quốc gia gần kề địa lý. Minh chứng cho
thực tế này là các hiệp định thương mại khu vực được kết ở hầu hết các lục
địa trên thế giới. Tuy nhiên, không gian địa lý gần đây trong các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới được mở rộng, không bị giới hạn bởi rào cản địa
lý giữa các quốc gia. Quá trình toàn cầu hóa ngày nay diễn ra sâu rộng, không
một thực thể kinh tế nào có thể tách rời khỏi quá trình đó. Sự hội nhập sâu
rộng đó dẫn tới hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, các kênh phân phối và
tiêu thụ sản phẩm, đồng thời cho thấy sự phụ thuộc chặt chẽ vào nhau giữa
các quốc gia. Như một đòi hỏi tất yếu, phạm vi không gian địa lý và phạm vi
điều chỉnh trong chuỗi sản xuất và giá trị toàn cầu của các hiệp định thương
mại tự do mới cũng vì thế mà được mở rộng hơn.
2.3.3.3. Mức độ cam kết sâu
Nhìn từ góc độ cam kết rộng hơn của các hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới, bản thân nó tự thân cũng thể hiện được mức độ cam kết sâu hơn.
Điều này được thể hiện đậm nét trong các điều khoản về cắt giảm thuế quan
của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Theo đó, tùy theo lộ trình cắt
giảm giữa các bên tham gia, mức cắt giảm thuế quan hàng hóa và dịch vụ đều
thể hiện xu hướng tiếp cận mức độ tự do hoàn toàn (mức thuế xuất bằng 0).
Như vậy, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng đồng
nghĩa với việc hàng hóa và dịch của các quốc gia này sẽ được tự do luân
65
chuyển trao đổi giữa các thành viên mà không bị giới hạn bởi các hàng rào
thương mại vật lý truyền thống. Điều này cũng gián tiếp cho thấy mức độ tự
do hóa kinh tế rất cao nếu các quốc gia tham gia các hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới.
Cần chú ý rằng, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới phần lớn sẽ
loại bỏ các loại thuế quan liên quan đến thương mại hàng hóa, trong khi đó
thương mại dịch vụ và đầu tư sẽ được cam kết cao hơn so với các quy định
được cam kết trong WTO. Mức độ rộng hơn của các hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới còn được thể hiện ở việc chú trọng đến các vấn đề về khuyến
khích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như hỗ trợ kỹ thuật cho
các nước đang và chậm phát triển.
2.3.3.4. Cơ chế giám sát chặt chẽ
Một trong các đặc trưng nổi bật của các hiệp định thương mại tự do thế
hệ mới là cơ chế giám sát và thực hiện hết sức chặt chẽ. Khác với các hiệp
định FTA truyền thống, các hiệp định FTA thế hệ mới áp dụng dựa trên cơ
chế pháp lý quốc tế để giải quyết các vấn đề tranh chấp liên quan phát sinh
trong quá trình thực hiện giữa các thành viên. Điều đó có nghĩa rằng mọi mâu
thuẫn (có thể) xảy ra đều phải được xử lý trên cơ sở bình đẳng lẫn nhau dưới
hệ thống luật pháp quốc tế hiện hành hoặc dưới các điều khoản pháp lý mà
các quốc gia tham gia hiệp định ký kết và thông qua. Một điểm quan trọng
nữa đối với các FTA thế hệ mới là vai trò của nhà nước sẽ bị điều chỉnh bởi
các nguyên tắc và luật lệ đề ra được các bên tham gia ký kết. Điều này có
nghĩa là doanh nghiệp có thể kiện chính phủ nếu chính phủ sở tại vi phạm các
điều khoản gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh
nghiệp. Ở chiều ngược lại, chính phủ các nước cũng có thể kiện doanh nghiệp
nước ngoài và các nhà đầu tư nếu họ vị phạm các điều khoản được quy định
trong khuôn khổ luật định.
Mặc dù, các FTA thế hệ mới có cơ chế giám sát và thực hiện chặt chẽ,
tuy nhiên, các FTA thế hệ mới không làm mất đi tính linh hoạt trong các cam
kết của nó. Điều này xuất phát từ thực tế là trình độ phát triển cũng như vị trí
66
trong chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu giữa các quốc gia là tương đối
khác nhau, nếu không nói là có những cách biệt lớn. Sự linh hoạt trong các
cam kết giúp các quốc gia có mức độ phát triển kém hơn hoặc đứng ở vị trí
thấp trong chuỗi sản xuất có điều kiện chuẩn bị cũng như điều chỉnh chiến
lược hướng tới sự tương thích với lộ trình thực hiện của các FTA thế hệ mới.
Không khó để quan sát rằng, các FTA truyền thống thường có lộ trình với chu
kỳ 10 năm để cắt giảm thuế quan; trong khi đó lộ trình các FTA thế hệ mới
thường ngắn hơn, thậm chí là cắt giảm ngay lập tức đối với các mặt hàng có
sự tương đồng về mức độ phát triển hoặc hội nhập giữa các quốc gia, tuy
nhiên cũng có những mặt hàng khoảng cách phát triển lớn, lộ trình cắt giảm
thuế quan có thể kéo dài tới 10 năm như các FTA truyền thống.
Qua các điểm khác nhau kể ở trên thì trong số các Hiệp định Thương
mại tự do mà Việt Nam có ba hiệp định được coi là “FTA thế hệ mới” bao
gồm Hiệp định Đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và
Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định thương
mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len
(UKVFTA).
2.3.4. Tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tới nền
kinh tế của các quốc gia thành viên
Tranh luận về xu hướng hình thành và phát triển của các hiệp định
thương mại tự do, Jagdish (1998) cho rằng quá trình hình thành các dạng thức
khác nhau của các hiệp định thương mại tự do trên thế giới tạo ra mê cung
hỗn độn về ưu đãi và quy tắc xuất xứ, do có sự đan xen lẫn nhau về nội dung
của các hiệp định được ký kết bởi các quốc gia liên quan. Ông gọi đó là hiệu
ứng bát mì spaghetti. Như là một thực tế khách quan, không quá khó để khẳng
định các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới hiện nay cũng đồng thời tạo
ra ma trận hệ thống các bộ quy tắc khác nhau, có sự đan xen, tương hỗ, nhưng
thậm chí cũng là có sự mâu thuẫn lẫn nhau giữa các điều khoản trong các hiệp
định được các bên tham gia ký kết. Do đó, cũng giống với các FTA truyền
thống, các FTA thế hệ mới đồng thời mang đến cả tác động tích lẫn tiêu cực
67
cho các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, dưới góc độ so
sánh lợi ích, các FTA thế hệ mới mang lại nhiều cơ hội lớn cho tất cả các bên
tham gia.
Hình 2.1: Nhận định của người dân và doanh nghiệp về cơ hội khi Việt
Nam tham gia các FTA thế hệ mới
Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát.
Số liệu khảo sát người dân và doanh nghiệp nhận định về cơ hội Việt
Nam tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới cho thấy Việt Nam theo đuổi các
hiệp định FTA thế hệ mới có tác động lớn đến nền kinh tế nói chung và doanh
nghiệp nói riêng. Trong đó, 17.18% số người trả lời có tác động tích cực
(triển vọng), 25.48% cho rằng tác động rất tích cực (rất triển vọng), 9.65%
nhận định khó không triển vọng, và chỉ chưa đến 6.76% cho rằng khó nhận
định (không biết) (số liệu từ khảo sát của Luận án). Như vậy, ở những mức độ
khác nhau việc tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới đều được người dân và
doanh nghiệp đánh giá có tác động tương đối tích cực đối với nền kinh tế nói
chung và doanh nghiệp nói riêng.
2.3.4.1. Tác động tới với tiến trình tự do hóa thương mại
Như đã đề cập ở trên, phần lớn các FTA thế hệ mới đều loại bỏ hầu hết
các loại thuế quan và phi thuế liên quan đến thương mại hàng hóa và dịch vụ,
đồng thời mở rộng các cam kết đối với các vấn đề phi thương mại. Do đó, các
FTA thế hệ mới được cho là sẽ làm tăng cơ hội kinh doanh đối với các doanh
nghiệp, tạo cơ hội mới cho xuất khẩu và cơ cấu lại thị trường qua đó thúc đẩy
68
tăng trưởng kinh tế. Xét về khía cạnh kinh tế, việc các FTA thế hệ mới mang
đến sự gia tăng hay giảm sút phúc lợi kinh tế hiện chưa thể khẳng định bởi
các cam kết trong các FTA thế hệ mới hiện vẫn còn nhiều tranh cãi liên quan
đến lợi ích của tất cả các bên có thể giành được. Tuy nhiên, sự chuyển dịch
lợi thế so sánh xuất phát từ việc thành lập FTA thế hệ mới chỉ là tạm thời,
diễn ra cho đến khi các FTA thế hệ mới đưa cân bằng thị trường trở lại điểm
ban đầu của nó. Vì thế, chưa chắc sẽ là ý tưởng hay khi đầu tư những nguồn
lực khan hiếm vào đàm phán các FTA thế hệ mới mà chỉ thu được sự thay đổi
lợi thế so sánh ngắn hạn trên một số lượng hạn chế các thị trường, thay vì mở
rộng tiếp cận thị trường ở phạm vi toàn cầu. Bên cạnh đó, lợi ích các FTA thế
hệ mới mang lại cũng chính là sự tăng sức ép cạnh tranh cho toàn bộ nền kinh
tế quốc gia, khu vực và toàn cầu. Về mặt xã hội, cạnh tranh tăng lên khi tham
gia các FTA thế hệ mới có thể làm một số doanh nghiệp ở các nước đang phát
triển, trước hết là các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp có công nghệ
sản xuất lạc hậu rơi vào tình trạng khó khăn, kéo theo đó là khả năng thất
nghiệp trong một bộ phận lao động. Bên cạnh các tác động tích nêu trên các
FTA thế hệ mới cũng mang lại những thách thức trong việc thực thi tự do hóa
thương mại của các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam:
(i) Sự chuyển dịch lợi thế so sánh xuất phát từ việc thành lập FTA chỉ
là tạm thời, diễn ra cho đến khi các FTA đưa cân bằng thị trường trở lại điểm
ban đầu của nó. Vì thế, chưa chắc sẽ là ý tưởng hay khi đầu tư những nguồn
lực khan hiếm vào đàm phán các FTA mà chỉ thu được sự thay đổi lợi thế so
sánh ngắn hạn trên một số lượng hạn chế các thị trường, thay vì mở rộng tiếp
cận thị trường ở phạm vi toàn cầu.
(ii) Khó khăn lớn nhất do các FTA mang lại chính là tăng sức ép cạnh
tranh cho toàn bộ nền kinh tế quốc gia, khu vực và toàn cầu. Về mặt xã hội,
cạnh tranh tăng lên khi tham gia FTA có thể làm một số doanh nghiệp ở các
nước đang phát triển, trước hết là các doanh nghiệp nhà nước, các doanh
nghiệp có công nghệ sản xuất lạc hậu rơi vào tình trạng khó khăn, kéo theo đó
là khả năng thất nghiệp trong một bộ phận lao động.
69
2.3.4.2. Tác động đối với hệ thống pháp luật
Các hiệp định FTA thế hệ mới đòi hỏi các thành viên phải thực hiện rà
soát toàn bộ hệ thống pháp luật của nước mình, trước hết là các lĩnh vực
thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ - IPR, cạnh tranh của doanh nghiệp nhà
nước, lao động, đấu thầu, thương mại điện tử, môi trường, giải quyết tranh
chấp... Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật giúp các thành viên cải thiện môi
trường pháp lý và kinh doanh, qua đó giúp bảo vệ các nhà đầu tư trong và
ngoài nước, thiết lập sân chơi công bằng cho mọi loại hình doanh nghiệp,
giảm thiểu các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính, minh bạch hóa các
hoạt động của doanh nghiệp và nhà nước, chú trọng và đề cao các vấn đề liên
quan đến bảo vệ sở hữu trí tuệ… (Nguyễn Thanh Tâm, 2016).
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật sẽ góp phần giúp các quốc gia thành
viên cải thiện môi trường pháp lý và kinh doanh, cụ thể:
(i) Bảo vệ nhà đầu tư trong nước và nước ngoài khỏi sự can thiệp trái
pháp luật;
(ii) Tạo “sân chơi” công bằng cho doanh nghiệp nhà nước và doanh
nghiệp tư nhân;
(iii) Thuận lợi hóa các thủ tục hải quan;
(iv) Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong kinh doanh;
(v) Thuận lợi hóa việc công nhận các tiêu chuẩn sản phẩm;
(vi) Mở cửa thị trường mua sắm công cho các doanh nghiệp có vốn đầu
tư từ các thành viên của FTA;
(vii) Minh bạch hóa hoạt động các cơ quan nhà nước;
(viii) Bảo hộ IPR của cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài.
Bên cạnh thuận lợi mà các FTA thế hệ mới mang lại đối với sự hoàn
thiện hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thì bản thân các hiệp định FTA thế
hệ mới cũng mang đến nhiều khó khăn tiềm ẩn, đặc biệt là vấn đề thực thi
pháp luật đối với các nước thành viên là các nước đang phát triển. Sự chênh
lệch nền tảng pháp lý giữa các quốc gia chậm, đang và đã phát triển là rất lơn.
Những lĩnh vực pháp luật nêu trên đều là những lĩnh vực mới và khó đối với
70
Việt Nam và các nước đang phát triển. Việc gò ép các quốc gia đang phát
triển theo các chuẩn mực cao hơn trong các hiệp định FTA thế hệ mới nếu
không được xử lý khéo sẽ gây ra rào cản lớn hơn cho các quốc gia này thực
hiện thành công quá trình cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình.
2.3.4.3. Tác động đối với thể chế, chính sách của các thành viên
Các FTA thế hệ mới cũng đòi hỏi các thành viên phải thực hiện rà soát
toàn bộ hệ thống chính sách kinh tế-xã hội, văn hóa của nước mình, để thực
hiện minh bạch chính sách; cải cách hành chính; cải cách tư pháp; xử lý mối
quan hệ giữa thương mại quốc tế với những vấn đề vốn được coi là phi
thương mại - các giá trị xã hội, như: thương mại và quyền con người, bảo vệ
người lao động trong thương mại quốc tế, thương mại và môi trường, thương
mại và văn hóa, thương mại và an ninh, bảo đảm an toàn thực phẩm, thương
mại và phát triển bền vững và quản trị tốt; quyền của nhà đầu tư nước ngoài
khởi kiện Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, minh bạch chính sách, quyền tự
do internet... Việc rà soát toàn bộ hệ thống chính sách kinh tế-xã hội, văn hóa
của nước mình, nhất là đối với các nước đang phát triển sẽ giúp hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường của các nước bị hạn chế bởi các yếu tố thị trường thị tự
do. Với tiêu chuẩn rất cao về quản trị minh bạch và hành xử vô tư, các FTA
thế hệ mới sẽ giúp các nước đang phát triển kiện toàn, cải thiện hơn nữa bộ
máy nhà nước theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường trách
nhiệm, kỉ luật, kỉ cương của công chức nhà nước, từ đó hỗ trợ cho tiến trình
đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế. Đặc biệt, việc hoàn
thiện và tăng cường công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ mở ra cơ hội thu
hút đầu tư vào những lĩnh vực có hàm lượng tri thức cao (Nguyễn Thanh
Tâm, 2016). Tuy nhiên, các FTA thế hệ mới cũng tiềm ẩn nhiều hệ quả quan
trọng không chỉ đối với hệ thống pháp luật của các thành viên mà còn liên
quan tới các chính sách xã hội, văn hoá, kinh tế của các nước này. Các tiêu
chuẩn cao về quản trị minh bạch và hành xử vô tư của bộ máy nhà nước sẽ đặt
ra những thách thức lớn cho các cơ quan nhà nước ở những quốc gia có hạn
chế về năng lực và khả năng tiếp cận thông tin. Bên cạnh đó, Chính phủ các
71
thành viên tham gia ký kết các FTA thế hệ mới sẽ phải đối diện với nhiều
chính sách đầy khó khăn khi phải cân bằng giữa các tiêu chuẩn của thương
mại quốc tế với những vấn đề vốn được coi là phi thương mại.
Tiểu kết chương 2.
Việt Nam phát triển ngành dệt may định hướng xuất khẩu là yêu cầu tất
yếu khách quan phù hợp với điều kiện hiện có trong nước, đặc biệt là nguồn
nhân công giá rẻ, và cũng tương thích với xu hướng phát triển và chuyển dịch
cơ cấu ngành nghề trong khu vực và trên thế giới. Thực tế chứng minh, ngành
dệt may hiện nay giữ vị trí và vai trò trọng yếu trong phát triển kinh tế của đất
nước. Bên cạnh việc tạo việc làm, giúp cải thiện các vấn đề an sinh xã hội,
ngành dệt may còn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược xuất khẩu của Việt
Nam.
Với vị trí trọng yếu của mình, ngành dệt may Việt Nam đã được Chính
phủ nhìn nhận và đặc biệt chú trọng ưu tiên trong việc đàm phán các hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới. Trong bối cảnh các Hiệp định EVFTA và
CPTPP được thực thi, xuất khẩu dệt may của Việt Nam sẽ chịu nhiều tác động
tích cực cũng như tiêu cực mà các hiệp định này mang lại. Tuy nhiên, trong
dài hạn đó là cơ hội không thể tốt hơn cho xuất khẩu dệt may của Việt Nam
72
chuyển dịch cơ cấu và chiếm lĩnh thị trường quốc tế.
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH
THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI
3.1. Khái quát về ngành công nghiệp dệt may Việt Nam
3.1.1. Sự hình thành và phát triển của ngành dệt may Việt Nam
Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam ra đời từ rất sớm và kể từ khi
Đổi mới đến nay, luôn gắn liền với công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế mà
Đảng và nhà nước ta đã đề ra.
Giai đoạn 1945 – 1975, các ngành công nghiệp của Việt Nam vẫn chịu
sự chi phối của nền kinh tế kế hoạch nhà nước nên sự lưu thông hàng hóa và
chủ động trong sản xuất hàng dệt may còn bị hạn chế. Các sản phẩm dệt may
chủ yếu tiêu thụ trong nội địa và xuất sang một số quốc gia tại khu vực Đông
Âu.
Lịch sử ngành dệt may Việt Nam thực sự bước sang trang mới vào năm
1976 khi lần đầu tiên xuất khẩu sang các nước Đông Âu, điển hình là Liên
Xô. Lần hợp tác mang tính bước ngoặt này chúng ta nhận bông, nguyên liệu
từ Liên Xô, sau đó gia công, sản xuất và trao trả bằng thành phẩm. Đến năm
1979, thị trường Đông Âu được mở rộng khi Việt Nam đã xuất khẩu sang
Tiệp Khắc, Hungary, Đông Đức.
Hình thức hoạt động CMT thực sự phát triển và ảnh hưởng nhiều đến
ngày nay được cho là vào năm 1986 khi Liên Xô đồng ý cung cấp toàn bộ
nguyên vật liệu cũng như mẫu thiết kế. Khi đó, ngành dệt may Việt Nam
chính thức thể hiện năng lực sản xuất vượt trội để đạt những mục tiêu xuất
khẩu đề ra.
Vào những năm 1987 đến 1990, ngành dệt may Việt Nam chuyển mình
rõ rệt hơn cả với sự ra đời của hàng ngàn công ty lớn nhỏ trên khắp đất nước.
Tuy nhiên, không lâu sau đó, chúng ta thực sự rơi vào khủng hoảng khi Liên
73
Xô tan rã kéo theo sự đi xuống của các thị trường xuất khẩu chính. Nguồn
cung nguyên vật liệu, thiết bị sản xuất bị hạn chế, để rồi 2 năm sau đó, các
doanh nghiệp phải giảm tối thiểu mức sản xuất và đứng trước nguy cơ phá
sản. Lúc này cũng chính là thời điểm cần tạo ra sự thay đổi.
Không còn phụ thuộc nhiều vào nguồn hàng nước ngoài, đó chính là
cách để những doanh nghiệp may Việt Nam đi lên. Đến những năm 2003,
2004, ngành dệt may Việt Nam nhanh chóng phát triển trở lại và trở thành
một ngành công nghiệp quan trọng bậc nhất. Hiện nay, việc liên tục cập nhật
công nghệ, thiết bị mới khiến dệt may ngày càng đi lên và là một trong những
ngành doanh thu xuất khẩu lớn nhất cả nước.
3.1.2. Khái quát tình hình sản xuất của ngành dệt may Việt Nam
Ngành Công nghiệp dệt may Việt Nam trong những năm gần đây được
đánh giá đã có những bước tiến tích cực cả về sản xuất và xuất khẩu. Trong
đó, tốc độ tăng trưởng trong sản xuất của ngành dệt may bình quân giai đoạn
2016 - 2020 đạt 7,9%/năm, riêng năm 2018 tăng trên 33%. Năm 2020, ngành
Dệt May là một trong những ngành chịu nhiều tác động tiêu cực và kéo dài
của đại dịch Covid-19.
Do ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, nên chỉ số sản xuất công nghiệp
ngành Dệt giảm 0,5%; ngành Sản xuất trang phục giảm 4,9%, làm đứt gãy
nguồn cung nguyên liệu, thu hẹp thị trường tiêu thụ các sản phẩm may mặc,
nhu cầu sản phẩm dệt may giảm sút mạnh khi người tiêu dùng trên thế giới
chỉ quan tâm đến đồ dùng thiết yếu và phòng chống dịch. Để khắc phục khó
khăn, bù đắp cho các đơn hàng bị đứt gãy trong mua dịch bệnh, ngành dệt
may đã tăng sản xuất các sản phẩm bảo hộ, sản phẩm y tế, khẩu trang (cả nội
địa và nước ngoài) do nhu cầu sử dụng tăng, tuy nhiên Ngành cần phải tìm
cách tồn tại, phát triển phù hợp lâu dài trong bối cảnh mới.
Trong năm 2021, ngành dệt may đã có nhiều tín hiệu khởi sắc hơn so
với cùng kỳ năm trước nhờ chuỗi sản xuất phục hồi với đơn hàng truyền
thống tăng trở lại. Chỉ số sản xuất ngành Dệt và Sản xuất trang phục trong 9
tháng năm 2021 đều tăng so với cùng kỳ năm 2020, trong đó, chỉ số sản xuất
74
ngành Dệt tăng 7,8%; ngành Sản xuất trang phục tăng 4,8%. Chỉ số sản xuất
của một số sản phẩm trong 9 tháng năm 2021 đều tăng so với cùng kỳ năm
2020, như: vải dệt từ sợi tự nhiên ước tính đạt 501,5 triệu m2, tăng 3,9% so
với cùng kỳ năm 2020; sản xuất vải dệt từ sợi tổng hợp và sợi nhân tạo đạt
860,4 triệu m2, tăng 4,9%; quần áo mặc thường đạt 3.411,2 triệu cái, tăng
4,5%.
Đáng chú ý, so với cùng thời điểm trước đại dịch (9 tháng đầu năm
2019), sản xuất vải dệt từ sợi tự nhiên của Việt Nam tăng 5,4%; trái lại, sản
xuất vải dệt từ sợi nhân tạo hoặc tổng hợp và sản xuất trang phục giảm lần
lượt là 2,4% và 10%. Cùng với sản xuất, xuất khẩu toàn ngành Dệt, May mặc
của Việt Nam cũng đã đạt được kết quả đáng khích lệ trong những năm gần
đây.
3.1.3 Khái quát về các hiệp định tự do thế hệ mới Việt Nam tham gia
Trong phần này, Luận án tập trung nghiên cứu Hiệp định Đối tác toàn
diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP, tên cũ TPP); Hiệp định
Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định thương mại tự do
Việt Nam - Vương quốc Anh & Bắc Ai Len (UKVFTA), đây là các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới quan trọng nhất mà Việt Nam đã tham gia.
3.1.3.1. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
a) Quá trình hình thành CPTPP
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt
là Hiệp định CPTPP, là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới,
gồm 11 nước thành viên là: Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật
Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam.
Hiệp định đã được ký kết ngày 08 tháng 3 năm 2018 tại thành phố San-
ti-a-gô, Chi-lê, và chính thức có hiệu lực từ ngày 30 tháng 12 năm 2018 đối
với nhóm 6 nước đầu tiên hoàn tất thủ tục phê chuẩn Hiệp định gồm Mê-hi-
cô, Nhật Bản, Xinh-ga-po, Niu Di-lân, Ca-na-đa và Ốt-xtrây-lia. Đối với Việt
Nam, Hiệp định có hiệu lực từ ngày 14 tháng 01 năm 2019.
Khởi đầu của CPTPP là Hiệp định TPP có 4 nước tham gia là Bru-nây,
75
Chi-lê, Niu Di-lân, Xinh-ga-po và vì vậy được gọi tắt là Hiệp định P4.
Ngày 22 tháng 9 năm 2008, Hoa Kỳ tuyên bố tham gia vào P4 nhưng
đề nghị không phải trong khuôn khổ Hiệp định P4 cũ, mà các bên sẽ đàm
phán một Hiệp định hoàn toàn mới, gọi là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình
Dương (TPP). Ngay sau đó, các nước Ốt-xtrây-lia và Pê-ru cũng tuyên bố
tham gia TPP.
Năm 2009, Việt Nam tham gia TPP với tư cách là quan sát viên đặc
biệt. Sau 3 phiên đàm phán, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định này
nhân Hội nghị Cấp cao APEC tổ chức từ ngày 13 đến ngày 14 tháng 11 năm
2010 tại thành phố Yokohama (Nhật Bản). Cùng với quá trình đàm phán, TPP
đã tiếp nhận thêm các thành viên mới là Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Ca-na-đa và
Nhật Bản, nâng tổng số nước tham gia lên thành 12.
Trải qua hơn 30 phiên đàm phán ở cấp kỹ thuật và hơn 10 cuộc đàm
phán ở cấp Bộ trưởng, các nước TPP đã kết thúc cơ bản toàn bộ các nội dung
đàm phán tại Hội nghị Bộ trưởng tổ chức tại Át-lan-ta, Hoa Kỳ vào tháng 10
năm 2015. Ngày 04 tháng 02 năm 2016, Bộ trưởng của 12 nước tham gia
Hiệp định TPP đã tham dự Lễ ký để xác thực lời văn Hiệp định TPP tại
Auckland, Niu Di-lân. Tuy nhiên, vào ngày 30 tháng 01 năm 2017, Hoa Kỳ
đã chính thức tuyên bố rút khỏi Hiệp định TPP. Trước sự kiện này, các nước
TPP còn lại đã tích cực nghiên cứu, trao đổi nhằm thống nhất được hướng xử
lý đối với Hiệp định TPP trong bối cảnh mới. Tháng 11 năm 2017, tại Đà
Nẵng, Việt Nam, 11 nước còn lại đã thống nhất đổi tên hiệp định TPP thành
Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình dương gọi tắt là hiệp
định CPTPP.
Ngày 08 tháng 3 năm 2018, các Bộ trưởng của 11 nước tham gia Hiệp
định CPTPP đã chính thức ký kết Hiệp định CPTPP tại thành phố San-ti-a-gô,
Chi-lê.
b) Nội dung chính của Hiệp định CPTPP
Hiệp định CPTPP gồm 07 Điều và 01 Phụ lục quy định về mối quan hệ
với Hiệp định TPP đã được 12 nước gồm Ốt-xtrây-lia, Bru-nây Đa-rút-xa-
76
lam, Ca-na-đa, Chi-lê, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân,
Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam ký ngày 06 tháng 2 năm 2016 tại Niu Di-lân;
cũng như xử lý các vấn đề khác liên quan đến tính hiệu lực, rút khỏi hay gia
nhập Hiệp định CPTPP.
Về cơ bản, Hiệp định CPTPP giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP
(gồm 30 chương và 9 phụ lục) nhưng cho phép các nước thành viên tạm hoãn
20 nhóm nghĩa vụ để bảo đảm sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các
nước thành viên trong bối cảnh Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP. 20 nhóm
nghĩa vụ tạm hoãn này bao gồm 11 nghĩa vụ liên quan tới Chương Sở hữu trí
tuệ, 2 nghĩa vụ liên quan đến Chương Mua sắm của Chính phủ và 7 nghĩa vụ
còn lại liên quan tới 7 Chương là Quản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương
mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn
thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng. Tuy nhiên, toàn bộ
các cam kết về mở cửa thị trường trong Hiệp định TPP vẫn được giữ nguyên
trong Hiệp định CPTPP.
3.1.3.2. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)
a) Quá trình hình thành
EVFTA được khởi động đàm phán vào năm 2012, kết thúc đàm phán
kỹ thuật vào năm 2015. Hiệp định đã được hai bên chính thức ký kết vào ngày
30 tháng 6 năm 2019 tại Hà Nội. Việc kết thúc đàm phán thành công và từ đó
tiến tới ký kết Hiệp định là một chặng đường dài với sự nỗ lực, cố gắng và
quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Quốc hội và Chính phủ với mục tiêu
nâng mối quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Liên minh châu Âu
lên một tầm cao mới nói riêng và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam nói chung, góp phần vào công cuộc đổi mới và hiện đại hóa đất
nước.
b) Nội dung chính của Hiệp định
Hiệp định gồm 17 Chương, 8 Phụ lục, 2 Nghị định thư, 2 Biên bản ghi
nhớ và 4 Tuyên bố chung điều chỉnh nhiều vấn đề truyền thống như cắt giảm
thuế quan, mở cửa lĩnh vực dịch vụ và đầu tư… và phi truyền thống như phát
77
triển bền vững, mua sắm của Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước…
Với mức độ cam kết đạt được, EVFTA được coi là một Hiệp định toàn
diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU,
đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO), cũng như đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai bên.
Tháng 10 năm 2010: Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch EU
đã đồng ý khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA.
Tháng 6 năm 2012: Bộ trưởng Công Thương Việt Nam và Cao ủy
Thương mại EU đã chính thức tuyên bố khởi động đàm phán Hiệp
định EVFTA.
Tháng 12 năm 2015: Kết thúc đàm phán và bắt đầu rà soát pháp lý để
chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định.
Tháng 6 năm 2017: Hoàn thành rà soát pháp lý ở cấp kỹ thuật
Tháng 9 năm 2017: EU chính thức đề nghị Việt Nam tách riêng nội
dung bảo hộ đầu tư và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước với nhà
đầu tư (ISDS) ra khỏi Hiệp định EVFTA thành một hiệp định riêng do phát
sinh một số vấn đề mới liên quan đến thẩm quyền phê chuẩn các hiệp định
thương mại tự do của EU hay từng nước thành viên. Theo đề xuất này,
EVFTA sẽ được tách thành hai hiệp định riêng biệt, bao gồm:
- Hiệp định Thương mại tự do bao gồm toàn bộ nội dung EVFTA hiện
nay nhưng phần đầu tư sẽ chỉ bao gồm tự do hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Với Hiệp định này, EU có quyền phê chuẩn và đưa vào thực thi tạm thời.
- Hiệp định Bảo hộ đầu tư (Hiệp định IPA) bao gồm nội dung bảo hộ
đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư. Hiệp định IPA này phải được sự phê
chuẩn của cả Nghị viện Châu Âu và của Nghị viện các nước thành viên thì
mới có thể thực thi.
Tháng 6 năm 2018: Việt Nam và EU đã chính thức thống nhất việc tách
riêng EVFTA thành hai hiệp định gồm Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam
– EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA); chính thức kết thúc toàn
bộ quá trình rà soát pháp lý Hiệp định EVFTA; và thống nhất toàn bộ các nội
78
dung của Hiệp định IPA; Tháng 8 năm 2018: Hoàn tất rà soát pháp lý Hiệp
định IPA; Ngày 17 tháng 10 năm 2018: Ủy ban châu Âu đã chính thức thông
qua EVFTA và IPA; Ngày 25 tháng 6 năm 2019: Hội đồng châu Âu đã phê
duyệt cho phép ký Hiệp định; Ngày 30 tháng 6 năm 2019: Việt Nam và EU
chính thức ký kết EVFTA và IPA; Ngày 21 tháng 1 năm 2020: Ủy ban
Thương mại Quốc tế Liên minh châu Âu thông qua khuyến nghị phê chuẩn
EVFTA; Ngày 30 tháng 3 năm 2020: Hội đồng châu Âu thông qua Hiệp định
EVFTA; Ngày 08 tháng 6 năm 2020: Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Hiệp
định EVFTA và EVIPA.
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) là một FTA thế
hệ mới giữa Việt Nam và 27 nước thành viên EU. EVFTA, cùng với CPTPP,
là hai FTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của Việt
Nam từ trước tới nay. Ngày 01/12/2015, EVFTA đã chính thức kết thúc đàm
phán và đến ngày 01/02/2016, văn bản hiệp định được công bố. Ngày
26/06/2018, một bước đi mới của EVFTA được thống nhất. Theo đó, EVFTA
được tách làm hai Hiệp định, một là Hiệp định Thương mại (EVFTA), và một
là Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA); đồng thời chính thức kết thúc quá trình
rà soát pháp lý đối với Hiệp định EVFTA. Tháng 08/2018, quá trình rà soát
pháp lý đối với EVIPA cũng được hoàn tất. Hai Hiệp định được ký kết ngày
30/06/2019. EVFTA và EVIPA được phê chuẩn bởi Nghị viện châu Âu vào
ngày 12/2/2020, và được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn vào ngày 8/6/2020.
Ngày 30/3/2020, Hội đồng châu Âu cũng đã thông qua EVFTA. Đối với
EVFTA, do đã hoàn tất thủ tục phê chuẩn, Hiệp định này đã chính thức có
hiệu lực từ ngày 1/8/2020. Đối với EVIPA, về phía EU, Hiệp định sẽ còn phải
được sự phê chuẩn tiếp bởi Nghị viện của tất cả 27 nước thành viên EU mới
có hiệu lực.
3.1.3.3. Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc
Anh và Bắc Ai-len (UKVFTA)
a) Quá trình hình thành
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc
79
Anh và Bắc Ai-len (sau đây gọi tắt là Hiệp định) được Việt Nam và Anh khởi
động đàm phán năm 2018, sau khi Anh khởi động tiến trình rời khỏi Liên
minh châu ÂU (EU). Hiệp định được xây dựng và đàm phán trên cơ sở kế
thừa Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu
(EVFTA) với những điều chỉnh phù hợp để đảm bảo việc thực hiện các cam
kết tự do hóa thương mại được thông suốt. Hai bên đã tiến hành 6 Phiên làm
việc chính thức và 5 Phiên làm việc kỹ thuật trong giai đoạn 2018 – 2020.
Ngày 29 tháng 12 năm 2020, Hiệp định UKVFTA được ký bởi đại diện được
ủy quyền của Chính phủ hai bên tại Luân Đôn, Anh.
b) Nội dung chính của Hiệp định
Hiệp định gồm 9 điều khoản (Điều 1 – Định nghĩa và giải thích; Điều 2
– Việc tích hợp Hiệp định EVFTA; Điều 3 – Mục tiêu; Điều 4 – Lãnh thổ áp
dụng; Điều 5 – Dẫn chiếu tới đồng Euro; Điều 6 – Tiếp tục các khoảng thời
gian; Điều 7 – Quy định khác liên quan tới Ủy ban Thương mại; Điều 8 – Rà
soát hạn ngạch thuế quan gạo; Điều 9 – Các điều khoản cuối cùng); 01 Phụ
lục sửa đổi một số điều của lời văn EVFTA; 01 Nghị định thư và 01 thư song
phương trao đổi giữa Việt Nam và Anh.
Ngày 31/12/2020, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số
190/NQ-CP về việc áp dụng tạm thời Hiệp định UKVFTA. Theo đó, Hiệp
định được áp dụng tạm thời từ 06 giờ sáng ngày 01 tháng 01 năm 2021 giờ
Việt Nam.
Ngày 12/3/2020, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số
31/NQ-CP phê duyệt “Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên
hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len”. Hiệp định chính thức có hiệu lực ngày
01/5/2021.
3.2. Thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam
Trong nội dung này, Luận án phân tích thực trạng xuất khẩu dệt may
của Việt Nam sang thị trường thế giới nói chung qua các năm, sau đó nhấn
mạnh đến thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường
80
CPTPP, EU, Vương quốc Anh & Bắc Ai Len, là các nước và khu vực mà Việt
Nam đã ký các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là CPTPP, EVFTA,
UKVFTA.
3.2.1. Kim ngạch xuất khẩu dệt may
Dệt may là một trong các ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam và
được xác định là ngành công nghiệp trọng điểm trong quá trình phát triển
kinh tế của Việt Nam (Nguyễn Hoàng Giang, 2014; Nguyễn Thị Cẩm Loan,
2014; Võ Thanh Thu và Ngô Thị Hải Xuân, 2015). Số liệu thống kê của Tổng
cục Hải quan Việt Nam cho thấy xuất khẩu toàn ngành dệt may của Việt Nam
trong giai đoạn 2009 – 2019, đây là giai đoạn trước khi các FTA thế hệ mới
được ký kết và có hiệu lực, có bức tranh với gam màu sáng và những con số
hết sức ấn tượng cả về số lượng lẫn tốc độ tăng trưởng.
Về mặt giá trị tuyệt đối, kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng hơn 4,4 lần
từ mức chỉ đạt 9,1 tỷ USD năm 2009 lên mức hơn 40,4 tỷ USD năm 2021.
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ngành bình quân hàng năm đạt 12,78% cho giai
đoạn 2009-2021, trong đó, giai đoạn 2009-2019 là 14,64%, riêng năm 2020
kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sụt giảm 10,26% do ảnh hưởng
của đại dịch covid-19, nhưng lại phục hồi và tăng trở lại vào năm 2021 với
15,43%. Số liệu công bố bởi VITAS chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2009-2021,
ngành dệt may luôn luôn góp đóng hơn 10% giá trị sản xuất công nghiệp của
Việt Nam, là ngành giữ vị trí xuất khẩu số 1 của Việt Nam trong giai đoạn
2007-2012, và vị trí số 2 trong giai đoạn 2013-2021. Trên thị trường xuất
khẩu dệt may toàn cầu, Việt Nam luôn duy trì vị trí là quốc gia xuất khẩu dệt
may lớn thứ 4 thế giới với khoảng 5% thị phần, đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ
và Bangladesh giai đoạn 2009-2019, đặc biệt vượt qua Bangladesh để trở
thành nhà xuất khẩu dệt may lớn thứ 3 thế giới từ năm 2018 (Tổng cục Hải
quan, 2022).
Số liệu từ Vitas cho thấy, năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt
may đạt 39 tỷ USD, tăng trưởng khoảng 7,55% so với năm 2018. Kết quả này
kém 1 tỷ USD so với mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD đặt ra từ đầu năm. Trong
81
đó, kim ngạch nhập khẩu dệt may cả năm đạt 22,38 tỷ USD, tăng 2,21%. Giá
trị nhập khẩu phục vụ cho xuất khẩu đạt 19,26 tỷ USD, tăng 4,96%. Giá trị
nội địa tăng thêm (thặng dư thương mại) của hàng hóa dệt may xuất khẩu đạt
19,73 tỷ USD, tăng 10,19%; xuất siêu 16,62 tỷ USD, tăng 2,25 tỷ USD.
Năm 2020, tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm của ngành dệt may
đạt khoảng 35 tỷ USD, giảm 10,1% so với năm 2019. Trong đó, xuất khẩu
hàng dệt may đạt 29,8 tỷ USD, giảm 9,2% so với năm 2019. Xuất khẩu sợi
đạt 3,74 tỷ USD, giảm 10,5%; xuất khẩu nguyên phụ liệu dệt may đạt 1,0 tỷ
USD, giảm 16% và vải mành, vải kỹ thuật khác đạt 456 triệu USD, giảm
22,6%.
Năm 2021, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành hàng dệt may đạt 40,4 tỷ
USD, tăng 15,43% so với năm 2020, trong đó, xuất khẩu hàng dệt may của
khối doanh nghiệp FDI đạt 24,3 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm
trước và chiếm 60,3% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc của cả
nước. Trong đó, hàng dệt, may đạt 32,8 tỷ USD tăng 9,9% so với năm trước,
xơ sợi đạt 5,6 tỷ USD, tăng 50,2%.
Trong 6 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu dệt may ước đạt
khoảng 22,3 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2021. Các mặt hàng
xuất khẩu chủ lực là hàng may mặc, kim ngạch xuất khẩu đạt 16,94 tỷ USD,
tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước; xuất khẩu vải đạt 1,4 tỷ USD, tăng
20,8%; xuất khẩu xơ sợi đạt 2,76 tỷ USD, tăng 4,4%; xuất khẩu phụ liệu dệt
may đạt 734 triệu USD, tăng 22,3%; xuất khẩu vải không dệt đạt 452 triệu
USD, tăng 25,5%.
Cũng theo VITAS, giai đoạn 6 tháng cuối năm 2022, tình hình xuất
nhập khẩu ngành dệt may chững lại do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ lạm phát,
cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine, chính sách “Zero COVID” của Trung
Quốc khi Việt Nam đang nhập khẩu trên 40% nguyên phụ liệu từ thị trường
này cùng những yêu cầu khắt khe từ phía các quốc gia nhập khẩu về cam kết
phát triển bền vững, chống biến đổi khí hậu…Trước những khó khăn đó, kim
ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam vẫn giữ mức tăng trưởng tốt, ước đạt 42
82
tỷ USD, tăng 3,8% so với năm 2021.
Bảng 3.1: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam 2009 - 2021
Năm Kim ngạch xuất Tỷ trọng So với năm
khẩu (Tỷ USD) (%) trước (%)
2008 9,1
2009 0,09 0 9,1
2010 23,08 23,08 11,2
2011 41,07 41,07 15,8
2012 7,59 7,59 17,0
2013 17,65 18,24 20,1
2014 3,98 3,98 20,9
2015 9,09 9,09 22,8
2016 23,25 23,25 28,1
2017 13,17 13,17 31,8
2018 16,4 13,84 36,2
2019 7,55 7,73 39,0
2020 -10,26 35,0
2021 12 15,43 40,4
Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Hải Quan, 2022
Như vậy, trong giai đoạn 2009 - 2021 mặc dù có một số biến động của
thị trường thế giới ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam như
khủng khoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 hay hiện tượng Brexit ở Anh
nhưng kim ngạch xuất khẩu dệt may nhìn chung vẫn duy trì mức tăng trưởng
cao, đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, thông
qua đó góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và
thúc đẩy các vấn đề an sinh xã hội.
83
Bảng 3.2. Tình hình xuất khẩu các sản phẩm của ngành dệt may 2020
Mặt hàng Năm 2020 (triệu Tăng/ giảm so với năm
USD) 2019 (%)
Tổng 35.014 -9,8
Hàng dệt, may 29.810 -9,2
Xơ, sợi dệt các loại 3.737 -10,5
Nguyên phụ liệu dệt may 1.012 -16,0
Vải mành, vải kỹ thuật khác 456 -22,6
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan
Nhìn chung, năm 2020, xuất khẩu dệt may sang hầu hết thị trường giảm
so với năm 2019. Nguyên nhân là do đại dịch covid-19 làn rộng ra toàn cầu,
khiến các quốc gia phải vật lộn, chống chọi với Đại dịch. Giảm nhiều phải kể
đến một số thị trường như Tanzania giảm 77%; Angola giảm 75%; Argentina
giảm 44%; Senegan, Philippines, Slovakia cùng giảm hơn 39%; một số thị
trường châu Âu giảm đáng kể khác như Anh, Hy Lạp, Phần Lan, Tây Ban
Nha, Na Uy, Áo giảm từ 28 - 37%. Những tháng đầu năm 2021, thị trường dệt
may toàn cầu có xu hướng hồi phục bởi các gói hỗ trợ về kinh tế và thông tin
tích cực về triển khai vắc xin phòng dịch Covid-19; nhu cầu các mặt hàng nói
chung và may mặc nói riêng đã phần nào hồi phục trở lại. Việc chuyển dịch
đơn hàng từ các quốc gia cạnh tranh, đặc biệt là từ Myanma giúp cho Việt
Nam đón nhận một lượng đơn hàng đột biến ngay từ quý I/2021. Ngoài ra,
trong năm 2021, các doanh nghiệp dệt may không gặp phải vấn đề nguồn
nguyên liệu bị đứt gãy như trong những tháng đầu năm 2020. Đơn hàng dồi
dào, kết hợp với những lợi thế trên thị trường xuất khẩu đã giúp dệt may Việt
Nam dần hồi phục, với kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng theo từng tháng cho
đến giữa năm 2021.
Các nhóm hàng cụ thể:
Về nhóm hàng may mặc: Trong năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng
may mặc của Việt Nam đạt 32,8 tỷ USD, tăng 9,9% so với năm 2020, trong
84
đó xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt 20,1 tỷ USD, tăng 12,7% so với
năm 2020, chiếm 61,5% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này, tăng so với tỷ
trọng 60% của năm 2020. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của
Việt Nam vào các thị trường Hoa Kỳ, EU, ASEAN, Nga… tăng, trong khi
xuất khẩu sang thị trường CPTPP, Đài Loan…đều giảm.
Đáng chú ý, xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, ASEAN trở thành động
lực tăng trưởng xuất khẩu của mặt hàng này. Xuất khẩu hàng may mặc của
Việt Nam được nhận định sẽ tiếp tục hồi phục trong năm 2022 nhờ kinh tế
toàn cầu hồi phục, tỷ lệ tiêm phủ vắc xin trên toàn thế giới tiếp tục tăng cao,
cuộc sống trở lại trạng thái bình thường “mới”, chi tiêu đối với hàng may mặc
sẽ tăng sau giai đoạn bị “đè nén” do dịch Covid-19,...
Về nhóm hàng xơ, sợi, dệt: Trong năm 2021, xuất khẩu xơ, sợi dệt các
loại của Việt Nam đạt 5,6 tỷ USD, tăng 50,2% so với năm 2020. Các thị
trường xuất khẩu chính của xơ, sợi dệt Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc, Hàn
Quốc, Bangladesh. Các thị trường hầu hết đều tăng trưởng, trong đó,
Bangladesh và Đài Loan là 2 thị trường tăng mạnh nhất, mức tăng lần lượt là
248% và 122%. Thị trường Trung Quốc tăng trưởng 39% so với năm trước
với trị giá gần 3 tỷ USD. Xuất khẩu xơ sợi sang Trung Quốc tăng mạnh do
Trung Quốc tăng nhập khẩu sợi từ Việt Nam để sản xuất hàng may mặc xuất
khẩu sang Hoa Kỳ và EU. (Trung tâm thông tin – Bộ Công thương).
Như vậy, có thể thấy, năm 2021, ngành dệt may có nhiều thuận lợi
trong xuất khẩu hàng dệt may do Việt Nam nhận được nhiều đơn hàng: (i)
Đơn hàng chuyển từ các nước gặp khó khăn do yếu tố dịch bệnh hoặc yếu tố
chính trị nội bộ. (ii) Xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ, EU, xuất khẩu xơ
sợi sang Trung Quốc thuận lợi. (iii) Nhu cầu nhập khẩu hàng may mặc của thị
trường thế giới đặc biệt là tại các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như
Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản… tăng trở lại, sau thời gian giãn cách do dịch Covid-
19. Các nước mở cửa trở lại đã làm tăng nhu cầu đối với các sản phẩm dệt
may.
Dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động xuất khẩu của
85
ngành dệt may, tuy vậy, đây là chỉ là sự gián đoạn trong ngắn hạn, dự báo,
xuất khẩu toàn ngành dệt may sẽ lấy lại đà tăng trưởng trong năm 2022. Theo
Báo cáo của Hiệp hội dệt may Việt Nam (Vitas) cho thấy, trong 6 tháng đầu
năm 2022, kim ngạch xuất khẩu dệt may ước đạt khoảng 22,3 tỷ USD, tăng
17,7% so với cùng kỳ năm 2021. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là hàng
may mặc với kim ngạch 16,94 tỷ USD tăng 19,5% so cùng kỳ; xuất khẩu vải
đạt 1,4 tỷ USD, tăng 20,8%; xuất khẩu xơ sợi đạt 2,76 tỷ USD, tăng 4,4%;
xuất khẩu phụ liệu dệt may đạt 734 triệu USD tăng 22,3%; xuất khẩu vải
không dệt đạt 452 triệu USD tăng 25,5%. Tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên,
phụ liệu dệt may 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 13,4 tỷ USD tăng 9,8% so
cùng kỳ 2021. Kim ngạch xuất siêu đạt 8,86 tỷ USD, tăng 32% so với 6 tháng
2021.
3.2.2. Các thị trường xuất khẩu
3.2.2.1. Thị trường Hoa Kỳ
Trong suốt giai đoạn giai đoạn 2009-2021, Hoa Kỳ luôn là thị trường
lớn nhất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Xét về giá trị tuyệt đối, kim
ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường Hoa Kỳ tăng trưởng ổn định từ mức
4,5 tỷ USD năm 2009, lên 6,12 tỷ USD năm 2010; 10,96 tỷ USD năm 2015;
13,99 tỷ năm 2020 và 16,09 tỷ năm 2021. Tính riêng 10 tháng đầu năm 2022,
xuất khẩu dệt may sang thị trường Mỹ đạt 13,9 tỷ USD (Hiệp hội dệt may
Việt Nam). Chỉ trong vòng hơn một thập niên, kim ngạch xuất khẩu dệt may
của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đã tăng trưởng gần 3,45 lần. Mặc dù có
sự sụt giảm về tỷ trọng xuất khẩu dệt may, nhưng không phản ánh sự sụt giảm
vai trò và vị trí quan trọng của thị trường Hoa Kỳ đối với xuất khẩu dệt may
của Việt Nam
Sự sụt giảm tỷ trọng đối với thị trường Hoa Kỳ đơn giản do nguyên nhân
Việt Nam đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, do đó, thị phần ở các thị trường
khác tăng trưởng tương đối tốt bù đắp vào phần suy giảm của thị trường Mỹ.
Điều này được minh chứng rõ hơn khi xem xét xu hướng giảm tỉ trọng cũng
đồng thời xảy ra đối với các thị trường xuất khẩu dệt may chủ lực khác của
86
Việt Nam là EU. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng sự gia tăng về giá trị xuất
khẩu bất chấp tỷ trọng thị phần co lại, ở những khía cạnh nào đó ngụ ý rằng
xuất khẩu sản phẩm dệt may của Việt Nam phần nào cho thấy chiều hướng
phát triển tích cực hơn, chú trọng hơn vào các sản phẩm trung và cao cấp (giá
trị gia tăng cao hơn tương đối trong so sánh với các sản phẩm phổ thông)
(Phan Thanh Hoàn, 2017; Phùng Thị Quỳnh Trang, 2017).
3.2.2.2. Thị trường các nước CPTPP
Giá trị xuất khẩu hàng dệt may sang CPTPP năm 2019 đạt 5,3 tỷ USD,
tăng 7,4% so với năm 2018. Năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19,
xuất khẩu dệt may sang các nước thuộc khu vực thị trường này giảm 9,6% so
với năm 2019, đạt 4,8 tỷ USD (Tổng cục Hải quan Việt Nam 2022). Cũng
theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong tháng 5/2021, kim ngạch xuất khẩu
hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường các nước CPTPP đạt 398,1 triệu
USD, tăng 21,3% so với tháng 5/2020. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2021, kim
ngạch xuất khẩu đạt 1,94 tỷ USD, tăng 2,03% so với 5 tháng đầu năm 2020 và
chỉ còn giảm 3,97% so với 5 tháng đầu năm 2019, cho thấy xuất khẩu mặt
hàng này của Việt Nam sang thị trường CPTPP hồi phục chậm hơn so với các
thị trường lớn khác như Hoa Kỳ, EU…
Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang
các nước thành viên CPTPP tăng trưởng khá và đặc biệt là các thị trường
Canada, Australia, New Zealan có thể trở thành “cửa ngõ” để sản phẩm may
mặc của Việt Nam mở rộng thị phần tại châu Mỹ và châu Đại dương. Mặc dù
tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang các thị
trường này khá cao, nhưng tỷ trọng hàng dệt may của Việt Nam tại các thị
trường này vẫn còn hạn chế do các biến cố khách quan như tình hình căng
thẳng thương mại toàn cầu hay đại dịch Covid-19. Xuất khẩu hàng dệt may
sang thị trường các nước CPTPP như sau:
a) Nhật Bản
Nhật Bản là đối tác nhập khẩu và xuất khẩu hàng dệt may lớn của Việt
Nam trong khối CPTPP. Việt Nam nhập khẩu vải, xơ sợi và nguyên phụ liệu
87
ngành may trong khi xuất khẩu thành phẩm sang Nhật Bản. Với việc sử dụng
nguyên liệu nhập khẩu từ Nhật, Việt Nam có thể hưởng lợi lớn từ CPTPP
trong lĩnh vực dệt may do yêu cầu xuất xứ “từ sợi trở đi” có thể đáp ứng.
Theo Tổng cục Hải quan, xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào thị trường
Nhật Bản chiếm khoảng 8,97% thị phần năm 2007 với khoảng 0,7 tỷ USD
tăng lên 10,38% thị phần năm 2017 với hơn 3,3 tỷ USD, và giảm nhẹ xuống
10,77% nhưng duy trì mức tăng giá trị đạt mức 4,2 tỉ USD năm 2019. Đến
năm 2020 và 2021, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào thị
trường này là 3,53 tỷ USD và 3,23 tỷ USD, có suy giảm so với 2019, do ảnh
hưởng của đại dịch covid-19.
b) Canada
Việt Nam được xếp trong nhóm nước xuất khẩu mặt hàng may mặc
nhiều nhất vào thị trường Canada trong năm 2017, trong đó Trung Quốc dẫn
đầu khi chiếm thị phần 40% trên tổng thị phần nhập khẩu, tiếp theo là
Bangladesh (12%), Campuchia (9%) và Việt Nam (8%). Tuy nhiên, có thể
thấy rằng lượng hàng may mặc của nhóm các nước dẫn đầu này xuất khẩu
sang thị trường Canada chiếm thị phần xấp xỉ bằng ½ thị phần của riêng
Trung Quốc. Tuy nhiên, trong khi thị phần nhập khẩu từ Trung Quốc giảm
dần thì các nước xuất khẩu lớn khác lại tăng dần. Trong các chủng loại hàng
may mặc nhập khẩu tại Canada thì mảng hàng giá thấp đến trung bình chiếm
thị phần đáng kể. Hơn nữa, người tiêu dùng Canada luôn có nhu cầu về hàng
may mặc làm từ sợi tự nhiên, ở mức giá cạnh tranh vì họ cho rằng, sử dụng
quần áo chất liệu tự nhiên vừa thoáng mát , có lợi cho sức khỏe. Với nhu cầu
và thị hiếu này của người tiêu dùng Canada, đây là thị trường tiềm năng đối
với mặt hàng may mặc xuất khẩu Việt Nam.
c) Australia
Tại thị trường Australia (Úc), Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ 3 về
hàng dệt may (chỉ sau Trung Quốc và Bangladesh), tuy nhiên, xét về toàn bộ
quy mô thị trường Úc, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam tương
đối nhỏ (chỉ khoảng 3%). Đối thủ cạnh tranh của Việt Nam tại thị trường này
88
là Trung Quốc, Bangladesh, Việt Nam, Indonesia...
Lợi thế nổi trội nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu
sang Úc đó là có vị trí địa lý khá gần so với các nước xuất khẩu khác. Tuy
nhiên, Úc là thị trường ít dân và đã phát triển khá lâu, không có đơn hàng lớn
như Mỹ, Châu Âu nhưng họ lại đòi hỏi rất cao về nguồn gốc xuất xứ và chất
lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp xuất khẩu có thể đáp ứng yêu cầu về xuất
xứ và chất lượng lại ưu tiên xuất khẩu với quy mô đơn hàng lớn sang Mỹ,
Châu Âu. Do đó kim ngạch xuất khẩu tại thị trường Úc rất thấp.
d) Mexico
Theo Bộ Công thương, thuế suất vào thị trường Mexico hiện đang ở
mức khá cao 30%. Khi CPTPP được thực thi, kim ngạch xuất khẩu dự kiến có
thể tăng 30 - 40% ngay trong năm đầu tiên và sau khoảng 3 - 4 năm, kim
ngạch sẽ tăng gấp đôi, đặc biệt với những mã hàng Mexico đang có nhu cầu
lớn từ các nhà cung cấp Việt Nam như quần áo may sẵn, hàng dệt kim…
e) Malaysia
Malaysia là quốc gia có quan hệ hai chiều trong lĩnh vực dệt may với
Việt Nam, trong đó, năm 2017 tổng kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu từ
Malayxia là 111 triệu USD và 91 triệu USD. Trong số 11 quốc gia thành viên
CPTPP, Malaysia là nước duy nhất có khả năng cạnh tranh với Việt Nam
trong xuất khẩu hàng may mặc sang các thị trường. Xét về quy mô xuất khẩu,
hàng dệt may Malaysia không có khả năng cạnh tranh với Việt Nam. Tốc độ
tăng trưởng bình quân hàng dệt may xuất khẩu sang Malaysia đạt 15%/năm.
Dự kiến năm 2018 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tại thị trường này đạt
165 triệu USD.
f) New Zealand
New Zealand là thị trường tương đối tiềm năng do hàng dệt may quốc
gia này phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. Tuy nhiên, tương tự tại thị trường Úc,
tại New Zealand, hàng dệt may Việt Nam chỉ chiếm tỉ trọng trong tổng kim
ngạch nhập khẩu (3%), sau Trung Quốc (71%) và Bangladesh (6%). Kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may tại thị trường này được kì vọng tăng trưởng
89
thấp ở mức 5%/năm đạt 20 triệu USD năm 2018.
g) Chile
Kể từ năm 2014, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tại
Chile tăng đột biến dưới ảnh hưởng của Hiệp định thương mại tự do Việt
Nam - Chile. Tuy nhiên, tại Chile, hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn
chiếm đa số (75%), giảm đáng kể so với năm 2013 (82%). Hàng hóa Trung
Quốc vào thị trường này được hưởng ưu đãi thuế theo Hiệp định thương mại
tự do Trung Quốc - Chile. Theo đó, 2 bên Trung Quốc và Chile đã ký một
Thỏa thuận Nâng cấp Thương mại Tự do vào T11/2017.
Nhìn chung, CPTPP không đem lại cơ hội thị trường vượt trội cho Việt
Nam tại thị trường Chile, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tại thị trường
này chỉ tăng trưởng ở mức trung bình 13%/năm, đạt 100 triệu USD vào năm
2018.
h) Singapore
Singapore nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc, Malayxia,
Bangladesh, Indonexia, Việt Nam... Trong đó, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung
Quốc chênh lệch không đáng kể so với các quốc gia khác. Đây là thị trường
tiềm năng với hàng may mặc phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. Hàng hóa xuất
khẩu sang Singapore được cắt giảm thuế nhập khẩu về 0% tại hầu hết các sản
phẩm, do đó, xét về ưu đãi thuế quan, CPTPP không mang lại nhiều cơ hội
vượt trội cho xuất khẩu hàng may mặc. Tính tới năm 2017, kim ngạch xuất
khẩu mặt hàng này đạt 88 triệu USD và được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng với
tốc độ 20%/năm, đạt 100 triệu USD năm 2018.
i) Brunei và Peru
Brunei và Peru vốn không phải là đối tác nhập khẩu hàng dệt may lớn
của Việt Nam. Brunei chủ yếu nhập sản phẩm dêt may từ Malaysia,
Singapore, Trung Quốc, trong khi Peru chủ yếu nhập khẩu sẩn phẩm dệt may
từ Trung Quốc, Bangladesh và Colombia. Người tiêu dùng Brunei vốn quen
với các sản phẩm nhập khẩu từ Malaysia, là nước cũng tham gia CPTPP và
cùng thuộc khối ASEAN với Việt Nam. Đồng thời Malayxia cũng có khả
90
năng sản xuất hàng may mặc. Do đó, kì vọng tăng trưởng từ thị trường Brunei
ở giai đoạn đầu không quá lớn, chủ yếu giới thiệu và quảng bá sản phẩm. Tuy
nhiên, hiện tại Việt Nam chưa kí thỏa thuận song phương nào với Peru, do đó,
CPTPP được kì vọng sẽ đem lại cơ hội thị trường Peru cho các doanh nghiệp
dệt may Việt Nam.
3.2.2.3. Thị trường EU
Tương đồng với Hoa Kỳ, đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam
về xuất khẩu các sản phẩm dệt may là EU cũng cho thấy sự gia tăng về khối
lượng và giá trị nhưng cùng xu hướng giảm về thị phần. Thực tế đối với thị
trường EU cũng được lý giải tương tự như với thị trường Hoa Kỳ, nếu đặt
trong so sánh với các đối tác khác như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc,
nơi mà thị phần đã tăng lên đáng kể trong bức tranh xuất khẩu ngành hàng dệt
may của Việt Nam (Đỗ Thị Hòa Nhà và cộng sự, 2019). Số liệu thống kê từ
Tổng cục Hải Quan cho biết, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào
thị trường EU tăng trưởng ấn tượng từ mức 1,6 tỷ USD năm 2009 tăng lần
lượt lên mức 4,4 tỷ USD năm 2019 (kỷ lục), bất chấp đối diện với nhiều thách
thức đến từ bối cảnh thị trường ảm đạm chung toàn cầu.
Nhìn chung, giá trị kim ngạch xuất khẩu dệt may sang EU có xu hướng
tăng trong giai đoạn 2009 – 2019. Tuy nhiên, năm 2019 do hiệp định EVFTA
chưa được ký kết, nên XK dệt may chưa tạo ra mức tăng trưởng bứt phá. Năm
2019 KNXK hàng dệt và may mặc sang thị trường EU đạt 4,4 tỷ USD, tăng
2,23% chiếm tỷ trọng 11,28%, trong đó mặt hàng vải và may mặc đạt 4,25 tỷ
USD chỉ tăng 2,95% so với năm 2018 (Thu Hoài, 2019).
Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang EU giảm hơn 1 tỷ USD
còn 3,07 tỷ USD. Năm 2020, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU
giảm so với năm 2019, chủ yếu do xuất khẩu nhiều chủng loại mặt hàng giảm
như mặt hàng quần, áo sơ mi, đồ lót… Đáng chú ý, xuất khẩu mặt hàng áo
Jacket, đồ lót, quần, áo sơ mi giảm mạnh đã ảnh hưởng lớn tới tốc độ xuất
khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU. Trong đó, kim ngạch
xuất khẩu áo Jacket của Việt Nam sang EU đạt 841 triệu USD, giảm tới 152,5
91
triệu USD so với năm 2019, bằng 33,84% phần kim ngạch xuất khẩu giảm
sang thị trường này. Tương tự mặt hàng đồ lót và quần cũng bằng 18,31% và
18,41% phần kim ngạch xuất khẩu giảm sang thị trường EU.
Bảng 3.3 Kim ngạch Xuất khẩu dệt may sang EU (2009 – 2021)
Kim ngạch xuất khẩu
Tỷ trọng
Tổng KNXK dệt may
Năm
sang EU
(%)
(Đơn vị: Tỷ USD)
2008 1,70 9,1
2009 1,60 -14,89 9,1
2010 1,88 17,50 11,2
2011 2,51 33,51 15,8
2012 2,36 -5,98 17
2013 2,73 15,68 20,1
2014 3,40 24,54 20,9
2015 3,48 2,35 22,8
2016 3,50 0,57 28,1
2017 3,73 6,57 31,8
2018 4,09 9,65 36,2
2019 4,40 7,58 39
2020 3,12 -14,29 35
2021 3,46 10,90 40,4
(Tác giả tổng hợp nguồn từ Vụ thị trường Âu Mỹ; Vitas; Tổng cục Hải Quan)
Đặc biệt, trong khi xuất khẩu hầu hết các chủng loại hàng dệt may
thông thường của Việt Nam sang thị trường EU giảm thì xuất khẩu mặt hàng
quần áo bảo hộ lao động (bao gồm cả đồ bảo hộ y tế) tăng cao trong năm
2020. Năm 2020, xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang EU đạt 227,9
triệu USD, tăng thêm 72,49 triệu USD so với năm 2019, bằng 21,2% kim
ngạch xuất khẩu giảm tất cả các mặt hàng, hỗ trợ vào việc làm chậm lại đà
suy giảm xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU.
Đến năm 2021 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang EU có tăng
92
trưởng trở lại với 3,7 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2020 nhưng không bằng
mức năm 2019. (Bảng 3.2). Đặc biệt, trong 5 tháng đầu năm 2022, giá trị kim
ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may của nước ta sang thị trường EU tăng
mạnh, đạt mức 1,66 tỷ USD tăng 36,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó,
xuất khẩu hàng dệt may sang Đức đạt 409 triệu USD, tăng tới 44% và sang
Hà Lan đạt 376 triệu USD, tăng 43%,... (Tổng cục Hải Quan, 2022).
3.2.2.4. Thị trường Vương quốc Anh
Giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Vương Quốc Anh tăng dần qua
các năm từ năm 2009-2019. Sản phẩm xuất khẩu nhiều nhất của Việt Nam
sang Vương Quốc Anh chủ yếu là mặt hàng quần áo thuộc 2 mã HS61 và
HS62 khi chiếm tổng tỷ trọng tới hơn 90% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang UK đạt trị giá 829,911
triệu USD vào năm 2019 và giảm đáng kể vào năm 2020, giảm 38,91% xuống
còn 506,96 triệu USD do các hạn chế và lệnh đóng cửa biên do sự lây lan của
đại dịch Covid-19. Xuất khẩu hàng may mặc trung bình hàng tháng giảm
xuống còn 42,25 triệu USD trong năm 2020. Năm 2021 xuất khẩu dệt may
sang UK phục hồi và tăng trở lại theo xu hướng tăng của kim ngạch xuất khẩu
dệt may sang các nước và khu vực trên thế giới.
Bước sang năm 2022, dệt may là một trong những ngành hàng thế
mạnh xuất khẩu hàng đầu sang thị trường Anh trong những tháng đầu năm.
Tiếp đến là mặt hàng dệt may, trong 6 tháng đầu năm 2022 đạt 378,3 triệu
USD, tăng 39%, chiếm tỷ trọng 12,9%. Điều này cho thấy rằng tiềm năng
phát triển xuất khẩu dệt may từ Việt Nam sang Vương Quốc Anh là rất lớn.
Hiện nay Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu dệt may sang Anh lớn nhất
tuy nhiên 5 năm qua tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt
may vào thị trường Anh giảm 8%. Bên cạnh Trung Quốc, các thị trường cung
cấp sản phẩm dệt may cho Anh còn có Bangladesh, Campuchia và Pakistan
đều có lợi thế hơn so với Việt Nam về thuế suất (Bangladesh được hưởng chế
độ miễn thuế nhập khẩu theo chương trình EBA, Pakistan cũng được miễn
93
thuế nhập khẩu theo chương trình GSP+. Bởi vậy, FTA giữa Việt Nam và
Anh sẽ mang lại các ưu đãi thuế quan giúp hàng hóa của ta có lợi thế cạnh
tranh hơn so với các đối thủ. Hiện nay các mặt hàng dệt may của Việt Nam
đang được hưởng trung bình mức thuế ưu đãi trung bình là 9% theo quy chế
ưu đãi thuế quan phổ cập.
Bảng 3.4. Giá trị và tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang
Tốc độ tăng
Giá trị xuất khẩu dệt may của
Tỷ trọng trong xuất khẩu
trưởng
Năm
Việt Nam sang Vương Quốc
mặt hàng dệt may của
Anh (Triệu USD)
Việt Nam (%)
(%)
373,309
2009
368,737
2,77
1,24
2010
486,175
2,90
1,32
2011
500,989
2,76
1,03
2012
515,589
2,39
1,03
2013
638,444
2,53
1,24
2014
740,148
2,71
1,16
2015
755,281
2,63
1,02
2016
746,033
2,35
0,99
2017
805,723
2,2
1,08
2018
829,911
2,11
1,03
2019
506,960
1,45
-38,91
2020
633,700
1,57
25,00
2021
Vương Quốc Anh giai đoạn 2009 – 2021
Nguồn: Tính toán của tác giả từ nguồn dữ liệu của Trademap
3.2.2.5. Thị trường, Hàn Quốc và Trung Quốc
94
Hàn Quốc và Trung Quốc là các đối tác xuất khẩu lớn tiếp theo của
ngành dệt may Việt Nam. Cùng đà tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu giống
Hoa Kỳ và EU, song tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2007-2019 cao hơn tương
đối ở các thị trường Hàn Quốc và Trung Quốc, do đó, xuất khẩu dệt may của
Việt Nam đến các thị trường Hàn Quốc và Trung Quốc đã gia tăng thị phần
một cách đáng kể.
Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Hàn Quốc hiện
nay có kích cỡ thị phần và khối lượng gần tương đương với Nhật Bản nhưng
tốc độ tăng trưởng cao hơn so với Nhật Bản. Năm 2017, thị trường Hàn Quốc
chiếm 9.75% thị phần xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam với gần 3.1 tỷ
USD; Năm 2019, cả thị phần và giá trị xuất khẩu vào Hàn Quốc đều tăng, lần
lượt chiếm 10.26% thị phần và đạt hơn 4.0 tỉ USD. Đến năm 2020 và 2021,
kim ngạch xuất khẩu dệt may cảu Việt Nam sang Hàn Quốc lần lượt đạt
2,85tyr USD và 2,95 tỷ USD. Tương tự như các thị trường khác, do ảnh
hưởng của đại dịch covid-19, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam
sang thị trường này cũng giảm sút so với 2019. Tuy nhiên, nếu so sánh với
con số của năm 2009 chỉ là 2,64% thị phần với gần 0,24 tỷ USD, cho thấy sự
phát triển ấn tượng của dệt may Việt Nam tại thị trường Hàn Quốc.
Trong số các đối tác lớn nhất về xuất khẩu dệt may của Việt Nam, Trung
Quốc là thị trường tăng trưởng ấn tượng nhất cả về giá trị và thị phần. Theo số
liệu thống kê của UN Comtrade, năm 2005 kim ngạch xuất khẩu dệt may của
Việt Nam sang Trung Quốc chỉ đạt 49,62 triệu USD, con số này năm 2007
tăng lên là 89,82 triệu USD. Tuy nhiên, số liệu của Tổng cục Hải quan về
xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Trung Quốc những năm tiếp theo cho
thấy sự gia tăng theo cấp số nhân. Theo đó nếu như năm 2013 xuất khẩu dệt
may của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc chỉ dừng ở mức 0,36 tỷ USD
chiếm 1,79% thị phần, thì con số này đã lên thành 3,45 tỷ USD với 10,85%
thị phần trong năm 2017 và đạt 4,25 tỉ USD chiếm 10,9% thị phần năm 2019.
Đến năm 2020, do ảnh hưởng của chính sách đóng cửa biên giới cũng như các
chính sách hạn chế khác nhằm đối phó với dịch bệnh, kim ngạch xuất khẩu
95
dệt may của Việt Nam sang Trung Quốc, chỉ bằng 32% so với năm 2019. Tuy
nhiên, đến năm 2021, xuất khẩu dệt may sang Trung Quốc đang tăng trưởng
mạnh đạt 4,46 tỷ USD , tăng hơn 3,2 lần so với năm 2020. Hiện tại, đây là thị
trường lớn thứ hai của dệt may Việt Nam, chỉ sau thị trường Mỹ.
Cơ cấu xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Trung Quốc cũng cho thấy
Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng xơ sợi, trong đó các mặt hàng may
mặc chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm ngành
dệt may của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc. Cơ cấu xuất khẩu các mặt
hàng may mặc (sản phẩm cuối của ngành dệt may) sang Trung Quốc chiếm tỷ
lệ nhỏ, ngược lại với bức tranh thương mại sôi động của ngành dệt may giữa
Việt Nam và Trung Quốc xuất phát từ nguyên nhân cả hai quốc gia cùng có
lợi thế so sánh về sản phẩm cuối của ngành dệt may, là đối tác cạnh tranh trực
tiếp trên trường quốc tế đối với ngành hàng may mặc. Thực tế này cũng cho
thấy bức tranh phụ thuộc tương đối của ngành dệt may Việt Nam vào thị
trường Trung Quốc, không chỉ là thị trường đầu ra cho ngành dệt may mà còn
là nguồn cung đầu vào cho toàn ngành dệt may nói chung và xuất khẩu dệt
may nói riêng (Le và cộng sự, 2019; Nayak, Akbari and Far, 2019).
Bảng 3.5: Top 10 thị trường xuất khẩu dệt may của Việt Nam năm 2021
Kim ngạch (tỷ Tăng trưởng so với Tỷ trọng (%) Thị trường năm 2016 (%) USD)
16,09 Hoa Kỳ 7,14 39,32
3,7 EU 6,46 12,56
4,46 Trung Quốc 25,57 10,84
3,23 Nhật Bản 8,56 10,44
2,95 Hàn Quốc 15,57 9,76
0,55 Campuchia 33,6 1,74
0,57 Canada 7,02 1,81
0,49 Hồng Kong 3,67 1,55
0,33 Đài Loan -1,18 1,05
0,42 Indonesia 30,70 1,31
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ dữ liệu của Tổng cục Hải Quan. 96
Tóm lại, xuất khẩu dệt may Việt Nam ghi nhận sự tăng trưởng liên tục,
các thị trường chính đều chứng kiến sự tăng trưởng tốt. Trong đó, xuất khẩu
các sản phẩm của ngành dệt may đến thị trường Hoa Kỳ giai đoạn 2009 –
2019 có sự tăng trưởng liên tục và chiếm tỷ trọng bình quân trên 40% trong
tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Năm 2020 xuất khẩu dệt
may bị suy giảm nhẹ do ảnh hưởng của đại dịch covid-19, nhưng lại tiếp tục
tăng cao vào năm 2021 với 16,09 tỷ USD (Bảng 3.6)
Bảng 3.6: Xuất khẩu dệt may của Việt Nam đến một số thị trường
chính giai đoạn 2009-2021 (tỷ USD)
Hoa Kỳ EU Nhật Bản Hàn Quốc Trung Quốc Năm XK TT XK TT XK TT XK TT XK TT
2009 4,50 49,45 1,60 17,58 0,95 10,44 0,24 2,64 - -
2010 6,12 54,64 1,88 16,79 1,15 10,27 0,72 6,43 - -
2011 6,87 43,48 2,51 15,89 1,68 10,63 1,19 7,53 - -
2012 7,43 43,71 2,36 13,88 1,96 11,53 1,30 7,65 - -
2013 8,61 42,84 2,73 13,58 2,38 11,84 1,64 8,16 0,36 1,79
2014 9,82 46,99 3,40 16,27 2,62 12,54 2,09 10,00 0,47 2,25
2015 10,96 48,07 3,68 16,14 2,79 12,24 2,13 9,34 0,67 2,94
2016 11,70 41,64 3,80 13,52 3,10 11,03 2,70 9,61 2,80 9,96
2017 12,50 39,31 3,99 12,55 3,30 10,38 3,10 9,75 3,45 10,85
2018 13,7 44,9 4,11 13,4 3,81 12,5 3,30 10,8 1,54 5,1
2019 15,2 38,97 4,4 11,28 4,2 10,77 4,0 10,26 4,25 10,9
2020 13,99 46,93 3,07 10,3 3,53 11,84 2,85 9,56 1,37 4,59
2021 16,09 39,82 3,70 9,16 3,23 7,99 2,95 7,3 4,46 11,04
https://infographics.vn/interactive-xuat-khau-det-may-cua-viet-nam-
vao-hoa-ky-tang-truong-cao-nhat-trong-vong-10-nam/73952.vna
Ghi chú: NK: Giá trị xuất khẩu; TT: Thị phần xuất khẩu (%)
97
Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả từ Tổng cục Hải Quan, 2022.
Không những đứng trong TOP đầu kim ngạch xuất khẩu với 40,4 tỷ
USD năm 2021, chiếm 12% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, dệt may còn
là ngành xuất siêu lớn của Việt Nam, với 16,2 tỷ USD năm 2021 và 11 tỷ
USD 7 tháng năm 2022.Trong đó, Hoa Kỳ luôn dẫn đầu trong kim ngạch xuất
khẩu của ngành dệt may Việt Nam, chiếm gần 42% (năm 2021), tiếp theo là
Trung Quốc (11,04%), Hàn Quốc (9,05%), Nhật Bản (8,58%), EU
(8,56%)...Tính trong 10 tháng đầu năm 2022, ngành dệt may Việt Nam đã đạt
37,9 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 17,2% so với cùng kỳ; xuất khẩu sang
66 quốc gia, vùng lãnh thổ với 47-50 mặt hàng khác nhau, trong đó, Mỹ vẫn
chiếm tỷ trọng lớn nhất với 42%, tiếp đến là Trung Quốc 11%, Nhật Bản và
Hàn Quốc cùng chiếm 9%...(Bảng 3.2)
3.2.3. Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu
Như đã trình bày ở phần trên, ngành sản xuất dệt may của Việt Nam tập
trung chủ yếu ở lĩnh vực sản xuất dệt may, đúng hơn là ở công đoạn cắt và
may, trong khi đó sản xuất các loại xơ sợi (nguyên liệu đầu vào cho sản xuất
dệt may) chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong sản xuất của toàn ngành
(Nguyen, 2016; Phan, Doan và Nguyen, 2020). Do đó, cơ cấu mặt hàng xuất
khẩu của ngành dệt may Việt Nam cũng chủ yếu tập trung và các sản phẩm
dệt may.
Số liệu công bố bởi Tổng cục Hải Quan cho thấy trong năm 2013 tỷ
trọng xuất khẩu các sản phẩm dệt may chiếm hơn 89.3%, trong khi đó, xuất
khẩu các sản phẩm xơ sợi chỉ chiếm khoảng 10.7% trong tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam. Cũng theo số liệu từ Tổng cục Hải Quan, năm 2017 tỷ
trọng xuất khẩu các sản phẩm dệt may giảm xuống còn 81.89%, trong khi đó,
xuất khẩu các sản phẩm xơ sợi và nguyên phụ liệu khác tăng lên 11.3% trong
tổng xuất khẩu toàn ngành. Số liệu từ Bộ Công thương (2019) cho thấy năm
2018 và 2019 ngành hàng may mặc tuy có giảm nhẹ nhưng tiếp tục chiếm tỷ
lệ tuyệt đối trong tổng xuất khẩu toàn ngành dệt may của Việt Nam.
Về cơ cấu các sản phẩm dệt may xuất khẩu, chiếm tỷ trọng lớn nhất
98
trong giai đoạn 2009-2021 là áo jacket, kế đến là áo thun và quần, tiếp là áo
sơ mi, váy và quần áo trẻ em (Bộ Công thương, 2019). Số liệu thống kê từ
VITAS cho thấy năm 2013 xuất khẩu sản phẩm áo jacket chiếm 21.6% thị
phần xuất khẩu các sản phẩm dệt may, tiếp đến là áo thun với 20.9% và quần
với 16.8%. Trong khi đó, Áo sơ mi, váy và quần áo trẻ em chiếm tỷ lệ thấp
99
hơn lần lượt 5.7%, 5.5% và 5.0%.
Bảng 3.7. Thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 2020
Thị trường Kim ngạch XK Tăng/ giảm so Tỷ trọng trong
2020 (Triệu với năm 2019 XK dệt may cả
nước (%) USD) (%)
Tổng 29.809 -9,21 100
Hoa Kỳ 13.987 - 5,77 46,92
Khu vực EU 3.075 -11,7 10,32
Nhật Bản 3.531 -11,40 11,85
Hàn Quốc 2.855 -14,82 9,58
Trung Quốc 1.368 -14,09 4,59
Khu vực ASEAN 1.346 -7,56 4,55
Canada 793 -2,03 2,66
Đài Loan 271 -6,35 0,91
Australia 248 -2,74 0,83
Nga 242 -4,69 0,81
0,77 Hồng Kông (Trung 229 -20,51
Quốc)
Chile 94 -35,70 0,32
Mexico 88 -27,32 0,30
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải Quan
Năm 2020, cơ cấu xuất khẩu mặt hàng dệt may có sự thay đổi lớn. Các
mặt hàng truyền thống như áo jacket, quần, áo các loại và các loại quần áo
thời trang, hàng cao cấp đều giảm xuống. Do đại dịch Covid-19 lan rộng trên
toàn cầu từ đầu quý II/2020, nhu cầu mua sắm thời trang trên thế giới đã giảm
mạnh, nhường chỗ cho các mặt hàng thiết yếu, các mặt hàng phòng chống
dịch bệnh. Các doanh nghiệp Việt Nam đã xoay chuyển từng bước để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của thế giới và duy trì sản xuất, xuất khẩu giữ chân người
100
lao động qua việc chuyển sang sản xuất và tăng xuất khẩu các nhóm hàng cần
thiết cho phòng chống dịch và sản phẩm sử dụng nhiều trong nhà để bù đắp
lượng đơn hàng xuất khẩu truyền thống thiếu hụt gồm: Khẩu trang đạt khoảng
817 triệu USD; đồ bảo hộ lao động đạt 757 triệu USD (tăng 283%, tương
đương 559 triệu USD); màn, rèm, thảm đạt 415 triệu USD (tăng 3,7%, tương
đương 15 triệu USD); quần áo ngủ đạt 222 triệu USD (tăng 12,5%, tương
đương 25 triệu USD); quần áo y tế đạt 161 triệu USD (tăng 17,5%, tương
đương 23 triệu USD).
Bảng 3.8: Một số chủng loại hàng dệt may xuất khẩu năm 2020
Chủng loại Năm 2020 (triệu Tăng/ giảm so với năm
USD) 2019 (%)
Khẩu trang 817 -
Đồ bảo hộ lao động 757 283
Màn, rèm, thảm 415 3,66
Quần áo ngủ 222 12,5
Quần áo y tế 161 17,5
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan
Về xơ, sợị dệt các loại: Xuất khẩu sợi đạt 3,74 tỷ USD, giảm 10,5% về
giá trị nhưng tăng 1,2% về số lượng so với năm 2019. Giá xuất khẩu bình
quân năm đạt khoảng 2.150 USD/tấn, giảm 11,6% so với năm 2019.
Xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt gần 1,2 triệu tấn, tương đương
2,7 tỷ USD, tăng 5,1% về số lượng nhưng giảm 7,2% về trị giá.
Năm 2020 là năm khó khăn cho ngành xơ sợi, ngoài việc phải chịu tác
động tiêu cực từ đại dịch toàn cầu, ngành xơ sợi còn phải chịu ảnh hưởng do
các vụ việc điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại từ các
nước nhập khẩu. Trong năm 2020, ngành xơ sợi đã bị Hoa Kỳ và Ấn Độ tiến
hành điều tra chống bán phá giá và Thổ Nhĩ Kỳ điều tra tự vệ toàn cầu.
Từ cuối năm 2020, hầu hết các doanh nghiệp xơ sợi đều không có đơn
hàng mới từ thị trường Trung Quốc hoặc khách trả giá thấp. Các thị trường
khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Đài Loan
101
tuy vẫn có đơn hàng nhưng số lượng rất ít, đồng thời giá bán vẫn theo xu
hướng giảm và chưa có dấu hiệu phục hồi. Nguyên nhân do sự cạnh tranh về
giá từ các đối thủ, có dấu hiệu phá giá để tránh tồn kho, đồng thời
Trung Quốc bán ra thị trường lượng bông dự trữ với số lượng lớn khiến giá
bông giảm mạnh.
Xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ giảm do tác động tiêu cực từ các vụ việc
áp thuế chống lẩn tránh đối với sợi POY và chống bán phá giá đối với sợi dún
polyester và sợi nhân tạo. Đây cũng là thị trường áp dụng biện pháp phòng vệ
thương mại nhiều nhất đối với Việt Nam.
3.3. Nhận xét, đánh giá về thực trạng xuất khẩu dệt may Việt Nam
3.3.1. Những thành công đã đạt được
3.3.1.1. Về kim ngạch xuất khẩu
Nhìn tổng thể về tình hình xuất khẩu ngành dệt may trong những năm
gần đây thấy rằng, tăng trưởng trong xuất khẩu dệt may biến động theo xu
hướng xuất khẩu chung của cả nước. Mặt hàng may Việt Nam lần đầu tiên
vượt kim ngạch xuất khẩu vào năm 2019 và lần đầu tiên vượt ngưỡng 40 tỷ
USD vào năm 2020 mặc dù phải vật lộn chống dịch Covid-19.
Tính chung trong giai đoạn 2009 - 2021 mặc dù có một số biến động của
thị trường thế giới ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam như:
Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung; Đại dịch Covid-19, nhưng kim ngạch
xuất khẩu dệt may của Việt Nam nhìn chung vẫn duy trì mức tăng trưởng cao.
Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2009 -2019 đạt 16,1%. Trong giai đoạn từ
2020 đến nay, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dệt may là -10,26% do ảnh
hưởng của đại dịch Covid-19. Bước sang năm 2021 xuất khẩu dệt may của
Việt Nam có xu hướng hồi phục, đạt 40,4 tỷ USD tăng 15,43% so với 2020 và
tăng nhẹ so với năm 2019.
Có được kết quả trên là do ngành dệt may Việt Nam đã và đang nỗ lực
không ngừng để bắt kịp với xu hướng thế giới. Trong đó, nổi bật nhất là sự
chủ động của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã chủ
động nâng cao năng lực sản xuất; nâng cao trình độ tay nghề; chuyển hướng
102
sản xuất từ hình thức chỉ nhận gia công sang hình thức tự chủ nguồn nguyên
liệu, tự thiết kế và hoàn thành sản phẩm. Đặc biệt, việc các doanh nghiệp tiếp
tục đầu tư vào thiết bị, công nghệ tự động hóa cũng là một trong những yếu tố
góp phần tạo nền tảng để ngành dệt may chống chịu được những áp lực của
thị trường về chất lượng, về điều kiện cần phải giao hàng nhanh,…
Các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may đã bước đầu tận dụng có hiệu quả
các lợi thế từ các FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến
bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt
Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)… Bên cạnh đó, ngành dệt may đã tận
dụng được lợi thế lao động dồi dào, có kỹ năng và tay nghề, cùng vị trí địa lý
thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài.
Từ năm 2016, ngành dệt may xuất khẩu tạo ra một giá trị gia tăng 14,4
tỷ USD, đến năm 2019 đã lên tới gần 20 tỷ USD. Điều này giúp tạo ra giá trị
gia tăng trên lãnh thổ Việt Nam, trong khi ngành dệt may xuất khẩu giữ vững
ở mức độ 51% trong tổng hàng xuất khẩu trong 4 năm vừa qua. Đó là nỗ lực
rất lớn của ngành dệt may.
Bên cạnh đó, chất lượng của ngành dệt may đã nâng lên, phân khúc
ngành dệt may ngắm đến các thị trường ngoài đã có sự thay đổi rõ rệt. Hàng
dệt may xuất khẩu của Việt Nam ta là hàng trung bình và trung bình khá. Yếu
tố này có ý nghĩa rất to lớn đối với giá trị gia tăng của ngành.
3.3.1.2. Về thị trường xuất khẩu
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam (2020) như đã nêu
trên cho thấy, thị trường xuất khẩu các sản phẩm dệt may của Việt Nam ra thị
trường thế giới đã được mở rộng tới 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy
nhiên, giá trị xuất khẩu dệt may Việt Nam chủ yếu vẫn tập trung vào 5 đối tác
chủ lực là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Nhìn chung, thị trường xuất khẩu của ngành dệt may đã có sự đa dạng
hóa tương đối rộng, cụ thể, trong thời kỳ 2016-2019, tổng kim ngạch xuất
khẩu vào Hoa Kỳ tăng 30%, vào EU tăng được 25%, vào thị trường các nước
CPTPP tăng 53%, Trung Quốc tăng 58,4% và thị trường ASEAN tăng 76%.
103
Điều đó cho thấy, trong những năm qua, ngành dệt may đã hết sức nỗ lực để
đa dạng hóa thị trường. Cơ cấu thị trường đã có sự dịch chuyển. Nếu giữ được
đà này, trong thời gian tớicơ cấu xuất khẩu thị trường dệt may sẽ tiếp tục đa
dạng hơn.
Nhìn chung, trong thời gian qua, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và
Trung Quốc sẽ có sự xáo trộn nhất định về cơ cấu tỷ trọng thị phần nhưng vẫn
duy trì là các thị trường xuất khẩu lớn nhất các sản phẩm dệt may của Việt
Nam trong thời gian tới (Bộ Công thương, 2019; Sacombank, 2020). Trong
bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới các thị trường
như Hoa Kỳ và EU được kỳ vọng sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian tới.
Ngoài ra, nhờ công tác khống chế dịch bệnh hiệu quả đã giúp Việt Nam
là nước duy nhất trong top 5 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới không
bị cách ly và không bị dừng sản xuất cũng đã góp phần giúp ngành dệt may
Việt Nam giữ vững được thị phần tại các thị trường xuất khẩu lớn
3.3.3. Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Ngoài các sản phẩm dệt may truyền thống thì các mặt hàng có giá trị
tăng cao như: vải, xơ sợi, vải địa kỹ thuật, phụ liệu dệt may cũng có sự tăng
trưởng rất tốt. Tuy nhiên, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng này
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành vẫn chưa cải thiện nhiều, dù
giá trị tuyệt đối cũng tăng trưởng khá cao.
Hàng may mặc vẫn là nhóm hàng có tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu lớn
nhất và mang tính chi phối chiếm trên 83% đối với toàn ngành dệt may Việt
Nam trong thời gian qua và những năm tiếp theo.
Cơ cấu chủng loại hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam trong giai
đoạn 2016 – 2019 tương đối ổn định với một số chủng loại chính như áo thun,
áo Jacket, quần, quần áo trẻ em, vải, áo sơ mi, đồ lót… Đáng chú ý, trong giai
đoạn này, một số chủng loại có tốc độ tăng trưởng bình quân rất cao như quần
áo trẻ em, vải, đồ lót, quần áo bảo hộ lao động, áo len, quần áo bơi… những
mặt hàng may mặc thông thường, có tính tiện dụng cao sẽ là những mặt hàng
có triển vọng xuất khẩu cao, đặc biệt là trong giai đoạn dịch Covid-19 bùng
104
phát, tỷ trọng xuất khẩu những mặt hàng này càng có xu hướng tăng nhanh.
Như vậy, với xu hướng dịch chuyển xuất khẩu do căng thẳng trong
quan hệ thương mại Mỹ - Trung Quốc, việc tham gia sâu rộng vào các Hiệp
định Thương mại thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, UKVFTA và bản thân nội
tại của ngành sản xuất dệt may không ngừng được nâng cấp, cải thiện sẽ tạo
cơ hội cho hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục mở rộng thị phần
trên thị trường thế giới.
Giai đoạn 2020 đến nay, đứng trước những thách thức và đòi hỏi của
thị trường, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã nhanh nhạy nắm bắt được
sự thay đổi này, từng bước xoay chuyển để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thế
giới và duy trì sản xuất. Điều này đã làm thay đổi lớn cơ cấu xuất khẩu mặt
hàng dệt may của Việt Nam. Các mặt hàng truyền thống như: Áo jacket, quần,
áo các loại và các loại quần áo thời trang, hàng cao cấp đều giảm xuống
nhường chỗ cho các mặt hàng thiết yếu, các mặt hàng phòng chống dịch bệnh.
Tóm lại, trong những năm vừa qua, đặc biệt là những năm 2020, 2021
cho thấy sức chống chịu của ngành dệt may Việt Nam rất cao. Trong đại dịch
covid ngành dệt may đã linh hoạt và kịp thời chuyển đổi sang các mặt hàng
thay thế để đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động. Điều đó cho thấy,
ngành dệt may đã trưởng thành, hết sức linh hoạt và có đủ sức để chống chọi
với các cú sốc. Ngành dệt may đã rất thành công trong giai đoạn 2016-2020,
đặc biệt trong việc phòng chống dịch bệnh và duy trì sản xuất năm 2020. Sự
thành công này có dấu ấn của Hiệp hội VITAS, khi có nhiều kiến nghị gửi
đến Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành báo cáo tác động của dịch bệnh và
chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, tháo gỡ vướng mắc về xuất khẩu thời
trang, liên kết các doanh nghiệp…
3.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
3.3.2.1. Mạng lưới doanh nghiệp nhỏ, xuất khẩu phụ thuộc lớn vào khối FDI
Xuất khẩu ngành hàng dệt may hiện nay của Việt Nam vẫn phụ thuộc
vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Có một thực tế đáng buồn là
mặc dù số lượng doanh nghiệp dệt may nội địa gia tăng nhanh hơn về số
105
lượng so với doanh nghiệp dệt may có vốn đầu tư nước ngoài nhưng xuất
khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn
hơn, duy trì hơn 55% trong giai đoạn 2010-2017 (Bộ Công thương, 2017;
Nguyệt A. Vũ, 2014). Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, tính đến năm 2017,
Việt Nam có hơn 5.200 doanh nghiệp dệt may và phần lớn là các doanh
nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (dưới 500 lao động). Số liệu đưa ra bởi VCCI
(2017) cho thấy trong tổng số hơn 5.200 doanh nghiệp dệt may thì có đến
70% là các doanh nghiệp may, 17% là doanh nghiệp dệt/đan, chỉ 6% là các
doanh nghiệp se sợi và 3% là các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ. Trong
khi đó, 84% các doanh nghiệp dệt may là doanh nghiệp tư nhân, 15% là
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 1% là doanh nghiệp nhà nước, tuy
nhiên năm 2016 khối doanh nghiệp FDI chiếm tới 57.7% tổng kim ngạch xuất
khẩu ngành hàng dệt may của Việt Nam, con số này năm 2017 là gần 57.86%
(Bộ Công thương, 2018). Như vậy, sự manh mún trong sản xuất cùng sự phụ
thuộc quá lớn vào các doanh nghiệp FDI một mặt không chỉ cho thấy thực tế
các doanh nghiệp dệt may trong nước còn non yếu, chưa thực sự đủ tiềm lực
để làm trụ đỡ vững chắc cho toàn ngành dệt may cũng như động lực thúc đẩy
xuất khẩu các sản phẩm dệt may của cả nước, và đặc biệt sẽ gặp rất nhiều khó
khăn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất các sản phẩm dệt may theo
các yếu tố thâm dụng vốn, kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm giá trị gia tăng
cao. Số liệu mới nhất từ VINTAS năm 2020 cho biết, tốc độ tăng trưởng số
lượng doanh nghiệp hoạt động ngành dệt may của Việt Nam là rất đáng khích
lệ, tăng lên hơn 6000 doanh nghiệp năm 2019, tuy nhiên VINTAS cũng thừa
nhận rằng mặc dù có sự gia tăng về số lượng nhưng số lượng doanh nghiệp
dệt may trở thành các doanh nghiệp lớn vẫn còn rất hạn chế và khiêm tốn.
Bên cạnh đó, sự phụ thuộc lớn vào các doanh nghiệp FDI trong xuất khẩu
cũng chỉ ra thực tế đáng buồn rằng quá trình hội nhập và tham gia vào chuỗi
sản xuất dệt may toàn cầu của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn tương đối
yếu. Cuối cùng, một thực tế nhức hối vẫn tồn tại trong chiến lược thu hút FDI
của Việt Nam là phần lợi nhuận có được nhờ xuất khẩu dệt may không được
106
tái đầu tư ngành, không đóng góp nhiều cho cải thiện an sinh xã hội mà được
chuyển về các quốc gia nguồn (Phùng Thị Quỳnh Trang, 2017; Nguyễn Văn
Quang, 2020; Ho and Watanabe, 2020).
3.3.2.2. Thiếu chủ động nguồn cung đầu vào cho sản xuất phục vụ xuất khẩu
Việt Nam đã và đang nhận thức được tầm quan trọng của việc chủ động
nguồn nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất dệt may, do đó, trong các chiến
lược sản xuất và thu hút FDI đối với ngành dệt may, sản xuất nguyên phụ liệu
được đặc biệt chú ý coi trong. Tuy nhiên, có một thực tế rằng sản xuất dệt
may của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu.
Vải và các nguyên phụ liệu phục vụ cho xuất khẩu của ngành hàng dệt may
của Việt Nam phần lớn nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan.
Năm 2021, tổng kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng nguyên phụ liệu
dệt may và giày dép là 26,37 tỉ đô la Mỹ, tăng 22,4%, tương ứng tăng 4,83 tỉ
đô la so với năm 2020.Các quốc gia và lãnh thổ nhập khẩu chủ yếu trong năm
2021 cũng là Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ và ASEAN. Riêng 5 thị
trường chủ lực nêu trên đạt 21,44 tỉ đô la, chiếm 81% tổng kim ngạch nhập
khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da, giày của cả nước trong năm 2021.
https://thesaigontimes.vn/ty-trong-nhap-nguyen-phu-lieu-det-may-va-da-giay-
107
tu-trung-quoc-tiep-tuc-tang-cao/.
Hình 3.1: Nhập khẩu nguyên phụ liệu và xuất khẩu dệt may của Việt
Nam (tỷ USD)
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải Quan, 2022
Theo VCCI (2021), tỉ lệ nguyên phụ liệu sản xuất trong nước chỉ mới
đáng ứng hơn một nửa, phần còn lại phụ thuộc lớn vào nguồn hàng nhập
khẩu. Trong khi đó, theo VINTAS mặc dù tỉ lệ nhập khẩu nguyên phụ liệu
cho ngành dệt may phát đi nhiều tín hiệu tích cực, tuy nhiên Việt Nam tính
đến năm 2021 vẫn phải nhập khẩu hơn 40% nguyên phụ liệu từ nước ngoài.
Cần phải nhấn mạnh rằng, có đến 70% lượng vải nhập khẩu được sử dụng
làm nguyên liệu cho may xuất khẩu, có nghĩa là xuất khẩu dệt may phụ thuộc
rất lớn vào nguồn nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài. Số liệu thống kê của
Tổng cục Hải quan cho thấy, năm 2009 Việt Nam chi gần 6.4 tỷ USD để nhập
khẩu nguyên phụ liệu phục vụ cho quá trình sản xuất của ngành dệt may trong
nước, con số này đã tăng lên gần gấp đôi sau 5 năm đạt mức 11.4 tỷ USD năm
2012, và liên tục tăng vào các năm tiếp theo. Cho đến năm 2021, kim ngạch
nhập khẩu nguyên phụ liệu cho ngành dệt may xuất khẩu đã lên tới 26,37 tỷ
USD, chiếm hơn 65% tổng kim ngạch xuất khẩu cảu ngành dệt may.
Về quy mô của doanh nghiệp dệt may xuất khẩu. Số liệu từ Bộ Công
108
thương (2020) cho biết trong tổng số hơn 8.450 doanh nghiệp dệt may có đến
hơn 85% là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ (vốn đầu tư dưới 50
tỷ đồng), hơn 12% là các doanh nghiệp có quy mô trung bình (quy mô vốn
dưới 500 tỷ đồng), và chỉ có chưa đến 3% là các doanh nghiệp có quy mô vốn
hơn 500 tỷ đồng. Trong khi đó, suất đầu tư tiêu chuẩn cho một nhà máy sản
xuất vải có sản lượng 10 triệu m/năm là 700 tỷ đồng. Điều này đồng nghĩa với
việc đầu tư cho sản xuất nguyên phụ đầu vào vượt ngoài khả năng của hầu hết
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may ở Việt Nam hiện nay.
Xét ở khía cạnh tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu trên tổng giá trị xuất khẩu
của toàn ngành dệt may Việt Nam, tính toán trên số liệu của Tổng cục Hải
quan cho thấy tỷ lệ này có xu hướng giảm trong suốt giai đoạn 2007-2019.
Tuy nhiên tỷ lệ này lại tăng lên vào năm 2021. Trong bối cảnh sản phẩm dệt
may của Việt Nam chủ yếu phục vụ xuất khẩu, tỷ lệ nhập khẩu nguyên phụ
liệu trên tổng giá trị xuất khẩu ngành cao cho thấy thực tế là Việt Nam được
hưởng lợi ích tương đối nhỏ trong thành tựu của xuất khẩu dệt may, do phải
khấu trừ phần lớn chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu. Có một điếm sáng trong
bức tranh cần được chú ý là trong bối cảnh hình thành các FTA thế hệ mới, đó
là tỷ lệ nguyên phụ liệu nhập khẩu trên xuất khẩu đã giảm đi một cách đáng
kể, chứng tỏ các doanh nghiệp trong nước đang có xu hướng chuyển mình
đón đầu cơ hội mới khi các FTAs thế hệ mới có hiệu lực. Điều này cũng có
thể nhận định việc đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành dệt may ở trong
nước đang được chú trọng hơn kể từ khi các Hiệp định FTAs thế hệ mới được
hình thành (Bộ Công thương, 2021; VCCI, 2021). Theo thông tin từ Bộ Công
thương giai đoạn hình thành các FTAs thế hệ mới cũng là giai đoạn các doanh
nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư mạnh mẽ hơn vào
sản xuất sợi với quy mô lớn và công nghệ hiện đại hơn (Bộ Công thương,
109
2022).
Hình 3.2: Tỷ lệ nguyên phụ liệu nhập khẩu trên xuất khẩu của ngành dệt
may Việt Nam
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải Quan, 2022.
3.3.2.3. Giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Trong chuỗi giá trị ngành dệt may, Việt Nam mới chỉ tham gia ở những
khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp, do đó, việc các doanh nghiệp trong nước tự
thiết kế, sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm của riêng mình gần như chiếm tỷ
lệ rất nhỏ (Đỗ Thị Đông, 2011; Lê Xuân Sang và Nguyễn Thị Thu Huyền,
2011; Nadvi et al., 2004; Trương Hồng Trình, 2010). Cơ cấu xuất khẩu ngành
hàng dệt may của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào phương thức CMT (gia
công hoàn toàn theo mẫu thiết kế và nguyên phụ liệu do khách hàng cung
cấp) chiếm tới hơn 85% tổng kim ngạch xuất khẩu; trong khi đó tỷ trọng xuất
khẩu theo phương thức FOB (gia công theo mẫu thiết kế do khách hàng cung
cấp, doanh nghiệp gia công chủ động nguyên phụ liệu đầu vào) chỉ chiếm
13%, và đặc biệt phương thức ODM (doanh nghiệp tự thiết kế, sản xuất và
xuất khẩu theo thương hiệu riêng của mình) chỉ chưa tới 2% (Nguyệt A. Vũ,
2014; VCCI, 2017). Một thực tế đáng buồn nữa là việc các doanh nghiệp dệt
may của Việt Nam cũng chưa tiếp cận được với các khách hàng là các công ty
có các kênh phân phối, bán lẻ sản phẩm và có thương hiệu riêng ở các thị
110
trường xuất khẩu chính như Hoa Kỳ và EU, nguồn hàng xuất khẩu của Việt
Nam phụ thuộc lớn vào các công ty dịch vụ làm trung gian, chủ yếu đến từ
Đài Loan, Hàn Quốc hay Hồng Kông (Bộ Công thương, 2019; Phùng Thị
Quỳnh Trang, 2017). Trong bối cảnh các nhiều hiệp định FTA thế hệ mới sắp
có hiệu lực, phương thức xuất khẩu này của Việt Nam sẽ tác động tiêu cực tới
bức tranh chung của ngành dệt may, mà trực tiếp là lợi ích có được của các
doanh nghiệp xuất khẩu dệt may.
Hình 3.3: Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may
Nguồn: Thiết kế của tác giả dựa trên dữ liệu của Kenta (2012)
Đối với sản xuất các sản phẩm ngành hàng dệt may, các doanh nghiệp
của Việt Nam phần lớn chỉ tham gia trong chuỗi cung ứng dệt may (cắt và
may), và hầu như chưa tham gia sâu vào các khâu thiết kế, quảng bá sản phẩm
và phân phối, điều này được thể hiện rõ ở con số 75% kim ngạch xuất khẩu
của ngành là sản phẩm gia công, 22% là sản phẩm thông thường và chỉ 3% là
các sản phẩm khác (Bộ Công thương, 2017; Nguyệt A. Vũ, 2014; VCCI,
111
2017). Số liệu công bố của VCCI (2017) cũng cho thấy giá trị gia tăng của
ngành hàng dệt may của Việt Nam chỉ quang ngưỡng 5-10%, trong khi đó chỉ
số năng xuất lao động của Việt Nam chỉ đạt 2.4 thấp tương đối so với các
quốc gia trong khu vực như Trung Quốc là 6.9 và Indonesia là 5.2. Như vậy,
trong bối cảnh thực hiện các FTA thế hệ mới khi yêu cầu cao hơn về chất
lượng nguyên phụ liệu dùng để sản xuất thành phẩm dệt may, sự khắt khe về
tính thân thiện với môi trường, các yêu cầu về nhãn mác, đồng thời tính cạnh
tranh cũng sẽ gia tăng, sự chuyển dịch cơ cấu ngành dệt may sẽ là một thách
thức không hề nhỏ đối với sự phát triển toàn ngành dệt may của Việt Nam nói
chung và xuất khẩu nói riêng.
3.4. Tác động của các FTA thế hệ mới tới kim ngạch xuất khẩu dệt may
của Việt Nam
Như đã nêu trên, cho đến nay, Việt Nam đã tham gia các FTA thế hệ
mới như CPTPP (có hiệu lực 14/1/2019); EVFTA (01/8/2020) và UKVFTA
(01/5/2021). Các cam kết về cắt giảm thuế quan, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn
kỹ thuật…liên quan đến hàng dệt may trong mỗi Hiệp định có những điểm
khác nhau và đã có những tác động nhất định tới xuất khẩu dệt may của Việt
Nam. Sau đây Luận án sẽ phân tích những cam kết cụ thể liên quan đến hàng
dệt may trong CPTPP, EVFTA, UKVFTA, từ đó đánh giá tác động từ những
cam kết này tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam.
3.4.1. Cam kết trong CPTPP và tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt
Nam
3.4.1.1. Các cam kết cụ thể liên quan đến hàng dệt may
a) Cam kết về cắt giảm thuế quan
Khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực toàn bộ sản phẩm dệt may của Việt
Nam xuất khẩu vào các nước CPTPP sẽ được giảm thuế sâu, thấp nhất là về
0%. Hiện tại, hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam chiếm 10% và da giày
chiếm 7% trong các nước CPTPP. Riêng hai mặt hàng này, nhờ lợi thế từ
Hiệp định CPTPP, các doanh nghiệp xuất khẩu đã có lợi thế về thuế quan từ
112
10-20% so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Ví dụ:
Nhật Bản có cam kết thuế quan với các mặt hàng dệt may của Việt
Nam như sau: Thuế suất đối với thị trường Nhật Bản vẫn duy trì mức ưu đãi
0% như đang được áp dụng dành cho các sản phẩm dệt may xuất khẩu của
Việt Nam hiện nay (Bộ Công Thương, 2015). Đồng thời, xóa bỏ thuế nhập
khẩu ngay khi CPTPP có hiệu lực với 1946/1975 (tương đương 98,5%) dòng
thuế dệt may của Việt Nam Cắt giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình 11 năm kể
từ khi Hiệp định có hiệu lực với 24/1975 dòng thuế thuộc các Chương 61, 62
(tơ tằm kén, các chi tiết của quần áo, tơ obi…) Giữ nguyên mức thuế MFN
với 5/1975 dòng thuế có mã HS 500100.010, 500200.211, 500200.215,
500200.216, 500200.217 thuộc 02 Phân nhóm kén tơ tằm và tơ tằm thô (chưa
xe).
Australia có cam kết thuế quan với các mặt hàng dệt may của Việt Nam
như sau: Thuế nhập khẩu hàng hóa dệt may từ Việt Nam sẽ áp dụng mức thuế
suất 5% trong ba năm đầu và lập tức giảm xuống 0% kể từ năm thứ tư trở đi
tính từ thời điểm Hiệp định có hiệu lực đối với các sảm phẩm thuộc phân loại
HS (6203, 6204 và 6206). Xóa bỏ thuế quan ngay khi CPTPP có hiệu lực với
745/911 (tương đương khoảng 81,8%) dòng thuế dệt may của Việt Nam. Cắt
giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình 3-4 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với
166 dòng thuế còn lại, cụ thể: Lộ trình 3 năm với 22/911 dòng thuế (quần áo
đồng bộ từ sợi tổng hợp, áo jacket và áo khoác thể thao, các loại áo ngủ và bộ
pyjama, bộ quần áo thể thao từ bông hoặc sợi tổng hợp…) Lộ trình 4 năm với
144/911 dòng thuế, chủ yếu thuộc các mặt hàng may mặc
New Zealand có cam kết thuế quan với các mặt hàng dệt may của Việt
Nam như sau: Xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi CPTPP có hiệu lực với
851/1045 (tương đương khoảng 81,4%) dòng thuế dệt may của Việt Nam Cắt
giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình 5-7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với
194 dòng thuế còn lại.
Canada có cam kết thuế quan với các mặt hàng dệt may của Việt Nam
như sau: Các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam vào Canada sẽ được
113
hưởng thuế suất 0% sau 3 năm, trong đó 42.9% kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam sẽ được miễn thuế vào năm đầu tiên và 57.1% kim ngạch sẽ có thuế suất
bằng 0% vào năm thứ 4. Đồng thời, xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi CPTPP
có hiệu lực với 1068/1203 (tương đương khoảng 88,8%) dòng thuế dệt may
của Việt Nam Cắt giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình 4-6 năm kể từ khi Hiệp
định có hiệu lực với 135 dòng thuế còn lại.
Cũng theo cam kết của CPTPP, xuất khẩu dệt may Việt Nam vào thị
trường Mexico và Peru sẽ được hưởng thuế suất 0% vào năm thứ 16 (VCCI,
2019)
b) Cam kết về quy tắc xuất xứ
Quy tắc xuất xứ về dệt may Quy tắc xuất xứ chủ đạo đối với hàng dệt
may trong CPTPP là “yarn-forward” (“từ sợi trở đi’), hay còn gọi là quy tắc
“ba công đoạn”. Quy tắc này được hiểu một cách chung nhất là tất cả các
công đoạn sản xuất hàng dệt may từ sợi trở đi, bao gồm (i) kéo sợi, dệt và
nhuộm vải; (ii) cắt và (iii) may quần áo phải được thực hiện trong nội khối
CPTPP. CPTPP chỉ chấp nhận 03 mặt hàng được áp dụng quy tắc “cắt và
may” là vali, túi xách; áo ngực phụ nữ; và quần áo trẻ em bằng sợi tổng hợp.
Ngoài ra, Chương Dệt may của CPTPP cũng quy định một số ngoại lệ và linh
hoạt đối với quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” (ví dụ nguyên tắc tỷ lệ tối thiểu,
các mã nguyên liệu thuộc danh mục nguồn cung thiếu hụt…).
Theo quy định của CPTPP thì các trường hợp sau đây vẫn được coi là
có xuất xứ CPTPP:
- Các sản phẩm dệt may ngoài các Chương từ 61 đến 63 không đáp ứng
được các quy tắc xuất xứ về chuyển đổi mã HS quy định trong Phụ lục A-
Chương 4 của Hiệp định, nhưng khối lượng các nguyên liệu không đáp ứng
được quy tắc chuyển đổi mã HS đó không vượt quá 10% tổng khối lượng của
sản phẩm;
- Các sản phẩm dệt may từ các Chương 61 đến 63 không đáp ứng được
các quy tắc xuất xứ về chuyển đổi mã HS quy định trong Phụ lục A-Chương 4
của Hiệp định, nhưng khối lượng của các nguyên liệu sợi không đáp ứng quy
114
tắc chuyển đổi mã số HS được dùng trong sản xuất ra thành phần quyết định
mã HS của sản phẩm dệt may đó có không vượt quá 10% tổng khối lượng của
thành phần thì sản phẩm dệt may đó. Chú ý là trong cả hai trường hợp trên,
nếu các sản phẩm dệt may chứa nguyên liệu là sợi đàn hồi (elastomeric yarn)
mà nguyên liệu này quyết định phân loại của sản phẩm thì sẽ sản phẩm đó chỉ
được coi là có xuất xứ nếu sợi đàn hồi đó được sản xuất toàn bộ trong khu
vực CPTPP.
c) Cam kết về hàng rào kỹ thuật
Hiệp định CPTPP cam kết về hàng rào kỹ thuật đối với dệt may được
quy định trong nội dung biện pháp tự vệ và hợp tác hải quan. Theo đó, Hiệp
định cho phép các quốc gia nhập khẩu tăng thuế trở lại nếu xuất khẩu của đối
tác trong khối có khả năng gây ra các thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành
sản xuất trong nước của nước nhập khẩu. Tuy nhiên, khi thực hiện biện pháp
tự vệ này, các quốc gia áp dụng biện pháp tự vệ phải có các biện pháp đền bù
tổn thất về kinh tế tương thích mà quốc gia xuất khẩu phải gánh chịu do
không được hưởng mức thuế suất ưu đãi như cam kết trong Hiệp định (Bộ
Công Thương, 2015). Bên cạnh đó, Hiệp định cũng quy định rằng các quốc
gia thành viên có trách nhiệm và nghĩa vụ hợp tác hải quan để chống các hành
vi gian lận hưởng lợi từ chính sách ưu đãi thuế quan nhằm phòng chống gian
lận thương mại.
3.4.1.2. Tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam
Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
(CPTPP) đã tạo ra bước đột phá cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam nói
chung và xuất khẩu dệt may nói riêng. CPTPP là khu vực có quy mô thị
trường lớn với GDP năm 2017 đạt 10,275 tỷ USD (chiếm 13% toàn cầu) và
dân số đạt 506 triệu người (chiếm 7% toàn cầu). Đối với lĩnh vực dệt may,
CPTPP là khu vực thị trường lớn thứ 2, chỉ sau Mỹ (47%). Canada, Nhật Bản,
Mexico, Australia, New Zealand, Singapore là các quốc gia phụ thuộc lớn vào
hàng dệt may nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc. Trong khi đó, Việt Nam
chưa kí kết hiệp định thương mại song phương nào với Canada, Mexico và
115
Peru, do đó, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam tại các thị trường này còn yếu và
CPTPP sẽ tạo lợi thế vượt trội cho Việt Nam mở rộng và khai thác thị trường
sang thị trường Canada đã tăng trưởng tới trên 50% so với cùng kỳ năm 2021. (Thống kê
các nước CPTPP. Đơn cử như dệt may, 9 tháng đầu năm 2022, xuất khẩu mặt hàng này
của Hải quan Việt Nam, 2022).
Tóm lại, sau hơn 3 năm chính thức có hiệu lực, Hiệp định Đối tác toàn
diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được đánh giá là đã tác
động tích cực tới hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam, cùng với
đó giúp Việt Nam có cơ hội cơ cấu lại thị trường xuất khẩu theo hướng cân
bằng hơn, giảm tập trung vào thị trường Nhật Bản và tăng tỷ trọng xuất khẩu
sang các thị trường Canada, Australia, Singapore....
3.4.2. Cam kết trong EVFTA và tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt
Nam
3.4.2.1. Các cam kết cụ thể liên quan đến hàng dệt may
a) Cam kết cắt giảm thuế quan
Với EVFTA, 100% các mặt hàng dệt may của Việt Nam sẽ được giảm
thuế nhập khẩu về 0% sau tối đa 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Cụ
thể, EU sẽ xóa bỏ thuế quan với 77,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sau 5 năm và 22,7% kim ngạch còn lại sẽ được xóa bỏ sau 7 năm. (VCCI,
2022).
Như vậy, tham gia EVFTA, hàng dệt may Việt Nam sẽ có lợi thế cạnh
tranh hơn Trung Quốc và lợi thế cạnh tranh về thuế của các quốc gia cạnh
tranh như Bangladesh, Campuchia, Pakistan sẽ không còn trong thời gian tới.
Campuchia đang đứng trước thách thức sẽ chính thức bị loại khỏi chương
trình ưu đãi thuế quan GSP ngay từ tháng 8/2020 và thuế nhập khẩu hàng dệt
may của Campuchia vào EU sẽ tăng lại 12% do vi phạm một số nguyên tắc về
theo quy định của EU.
https://vinatex.com.vn/tac-dong-cua-hiep-dinh-evfta-doi-voi-nganh-det-
may-viet-nam/
116
b) Cam kết về quy tắc xuất xứ
Hiệp định EVFTA dành riêng Chương 4 để nói về các điều kiện quy tắc
xuất xứ mà hàng hóa của các bên tham gia phải tuân thủ để được hưởng mức
ưu đãi về thuế quan. Đối với ngành dệt may, ngoài các quy tắc xuất xứ chung
áp dụng cho toàn bộ các ngành xuất khẩu, thì Hiệp định cũng quy định rõ
ràng các quy tắc riêng áp dụng cho sản phẩm sử dụng một phần nguyên liệu
không xuất xứ (VCCI, 2017). Quy tắc từ vải trở đi (quy tắc 2 công đoạn)
được áp dụng như là tiêu chuẩn để xác định các sản phẩm được hưởng ưu đãi
thuế suất như trong cam kết của Hiệp định. Theo đó, các sản phẩm ngành dệt
may được xem là có nguồn gốc xuất xứ theo Hiệp định phải thỏa mãn các
điều kiện (1) vải được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất sản
phẩm may mặc phải có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam hoặc EU và (2) việc
tiến hành sản xuất (cắt/may) các sản phẩm dệt may phải được tiến hành bên
trong lãnh thổ của Việt Nam hoặc các thành viên của EU. Bên cạnh đó, Hiệp
định cũng cho phép thực hiện nguyên tắc cộng gộp về quy tắc xuất xứ dựa
trên thực tế cả hai bên cùng có FTA đối với đối tác thứ ba. Theo đó, vải xuất
xứ từ Hàn Quốc cũng được xem như có xuất xứ từ Việt Nam và EU vì Việt
Nam và Hàn Quốc đều có FTA đối với EU (VCCI, 2017). Để giải quyết các
vấn đề có thể xảy ra trong tương lai liên quan đến các FTA mới đối với đối
tác thứ ba, Hiệp định EVFTA cũng quy định nếu trong tương lai có đối tác
cùng ký kết FTA với Việt Nam và EU, Ủy ban Hải quan của EVFTA sẽ là
đơn vị được ủy nhiệm cao nhất trong việc quyết định có áp dụng nguyên tắc
cộng gộp hay không.
c) Cam kết về hàng rào kỹ thuật
Khác với CPTPP, trong Hiệp định EVFTA hầu như không có quy định
riêng biệt áp dụng liên quan đến các cam kết về hàng rào kỹ thuật (TBT), các
cam kết chủ yếu xoay quanh vấn đề hợp tác chung hoặc minh bạch hóa các
hàng rào kỹ thuật. Một số cam kết liên quan đến TBT đáng chú ý trong
EVFTA như cam kết ghi nhãn hàng hóa, hợp tác trong việc công nhận quy
trình đánh giá sự phù hợp của mỗi bên…(VCCI, 2019).
117
3.4.2.2. Tác động đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam
Ngoài việc hưởng lợi thế về thuế suất, Hiệp định này còn hứa hẹn mang
lại cho doanh nghiệp dệt may Việt Nam cơ hội nhập khẩu máy móc chất
lượng cao, tiếp cận nguồn nguyên liệu đạt chuẩn tại EU. Như vậy, trong dài
hạn EVFTA sẽ mang lại lợi ích về mọi mặt cho ngành dệt may Việt Nam.
Những lợi ích mà EVFTA mang lại cho ngành dệt may Việt Nam từ khi
EVFTA có hiệu lực tới nay được thể hiện thông qua sự tăng trưởng kim ngạch
xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang EU. Cụ thể như sau: Trước những
tác động của đại dịch Covid-19, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang
EU những tháng đầu năm 2020 giảm mạnh. 7 tháng đầu năm 2020, kim ngạch
xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU đạt 1,68 tỷ USD, giảm
15,98% so với cùng kỳ năm 2019. Mặc dù tình hình kinh tế trong nước và thế
giới có những biến động phức tạp, khó lường dưới tác động của đại dịch
Covid-19, dệt may là một trong những ngành hàng chịu thiệt hại trực tiếp lớn
nhất, nhưng kể từ tháng 8 năm 2020 (thời điểm Hiệp định EVFTA bắt đầu có
hiệu lực) đã góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp dệt may nước ta vượt lên
khó khăn, giá trị kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này bắt đầu cải thiện và tiếp
tục duy trì đà tăng trưởng tốt trong năm 2020 và 2021. Cụ thể, năm 2020 kim
ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may của Việt Nam sang EU đạt 3,07 tỷ USD
(Đỗ Thị Bích Thuỷ, 2020). Còn năm 2021, kim ngạch xuất khẩu dệt may của
Việt Nam sang thị trường EU đạt 3,7 tỷ USD, tăng 14% (Bộ Công thương,
2021). Đặc biệt, trong 5 tháng đầu năm 2022, giá trị kim ngạch xuất khẩu sản
phẩm dệt may của nước ta sang thị trường EU tăng mạnh, đạt mức 1,66 tỷ
USD tăng 36,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu hàng dệt
may sang Đức đạt 409 triệu USD, tăng tới 44% và sang Hà Lan đạt 376 triệu
USD, tăng 43%,... (Tổng cục Hải Quan, 2022).
3.4.3. Cam kết trong UKVFTA và tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt
Nam
3.4.3.1. Các cam kết cụ thể liên quan đến mặt hàng dệt may
118
a) Về cắt giảm thuế quan
Với UKVFTA, thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam
sang UK. Việc thực hiện cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa nói chung và
hàng dệt may nói riêng của Việt Nam sang Vương quốc Anh sau khi
UKVFTA có hiệu lực, sẽ góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
may của Việt Nam sang thị trường này. Mặc dù hàng năm Việt Nam xuất
khẩu đạt tới hàng chục tỷ USD (35,2 tỷ USD năm 2020) song hiện kim ngạch
sản phẩm dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Vương quốc Anh mới
chiếm chưa tới 3% tổng kim ngạch xuất khẩu. Khi UKVFTA có hiệu lực, các
mặt hàng dệt may của Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0% theo lộ
trình sau 4 – 8 năm, trong đó một số sản phẩm từ mức 12% có thể sẽ ngay lập
tức giảm xuống 0%. Như đã nêu trên, UKVFTA kế thừa những nội dung cơ
bản của EVFTA và cam kết giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình trong EVFTA
và UKVFTA là giống nhau. Với EVFTA, 100% các mặt hàng dệt may của
Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0% sau tối đa 7 năm kể từ khi
Hiệp định có hiệu lực. Cụ thể, đối với mặt hàng dệt may, EU sẽ xóa bỏ thuế
quan với 77,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sau 5 năm và 22,7% kim
ngạch còn lại sẽ được xóa bỏ sau 7 năm. Do đó, những lợi ích này cũng sẽ
nhìn thấy được từ thị trường Anh thông qua UKVFTA (Hoi, 2021). Hiện tại,
xuất khẩu của ngành dệt may của Việt Nam sang Anh chỉ chiếm khoảng 2%
tổng lượng nhập khẩu vào thị trường Anh. Do đó ngành này vẫn còn dư địa
rất lớn để phát triển và gia tăng kim ngạch. Với những cam kết về cộng gộp
đối với nguyên liệu vải từ Hàn Quốc và EU sẽ giúp các sản phẩm dệt may
thúc đẩy mở rộng nguồn cung nguyên liệu trong ngành này để tận hưởng ưu
đãi, tránh bị phụ thuộc vào một số thị trường nhất định.
b) Về quy tắc xuất xứ
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 20/NQ-CP năm 2022 về ký công
hàm trao đổi với Hàn Quốc để triển khai nguyên tắc cộng gộp xuất xứ theo
UKVFTA. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng ban hành Thông tư
02/2021/TT-BCT quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa trong UKVFTA. Cụ
119
thể, trong Thông tư này, để hưởng ưu đãi thuế quan theo UKVFTA, chứng từ
chứng nhận xuất xứ hàng hóa phải được nộp cho cơ quan hải quan Việt Nam
trong thời gian 2 năm kể từ thời điểm nhập khẩu. Cơ quan hải quan có thể yêu
cầu bản dịch nếu chứng từ chứng nhận xuất xứ không phải bằng tiếng Anh.
Theo thông tư này, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam có trị giá dưới 6.000
Euro, nhà xuất khẩu được phép tự chứng nhận xuất xứ; đối với lô hàng có trị
giá trên 6.000 Euro, áp dụng cơ chế C/O do cơ quan, tổ chức được Bộ Công
Thương ủy quyền cấp. Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, lô hàng có trị giá
dưới 6.000 Euro, nhà xuất khẩu được phép tự chứng nhận xuất xứ; lô hàng có
trị giá trên 6.000 Euro, chỉ có nhà xuất khẩu đủ điều kiện theo quy định của
UK mới được tự chứng nhận xuất xứ.
Đối với nhà xuất khẩu tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo quy định
khi hàng hóa có xuất xứ Việt Nam và đáp ứng quy định khác của UKVFTA,
Thông tư nêu rõ, nhà xuất khẩu tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trên hóa đơn,
phiếu giao hàng hoặc chứng từ thương mại khác có đủ thông tin về hàng hóa,
bằng cách đánh máy, đóng dấu hoặc in nội dung lời văn khai báo xuất xứ
hàng hóa trên chứng từ.
3.4.3.2. Tác động đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam
Hiệp định này giúp Việt Nam và Vương quốc Anh & Bắc Ireland duy
trì các điều kiện thương mại ưu đãi và lợi ích kinh tế thông qua các cam kết
mở cửa thị trường đã có trong EVFTA. Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng gần
2,5% giá trị nhập khẩu của Anh về hàng dệt may, Anh nhập nhiều nhất từ
Trung Quốc với tỷ trọng 21% và Bangladesh tỷ trọng là 15%. Giá trị kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Anh chỉ chiếm gần 2% tổng giá trị xuất
khẩu dệt may của Việt Nam. Năm 2021, giá trị này đạt 628 triệu USD, tăng
5% so với năm 2020. Đầu năm 2022, tăng trưởng xuất khẩu dệt may sang
Anh tăng 58%. Sau đại dịch Covid-19 với sự hồi phục kinh tế và cùng với
những cơ hội mang lại từ UKVFTA, giá trị xuất khẩu hàng dệt may sang Anh
120
dự báo sẽ tăng trưởng mạnh trong những năm tới
Tiểu kết chương 3
Bức tranh xuất khẩu toàn ngành dệt may của Việt Nam trong giai đoạn
2009-2021 với gam màu sáng với những con số hết sức ấn tượng cả về số
lượng lẫn tốc độ tăng trưởng. Về thị trường, xuất khẩu các sản phẩm ngành
dệt may của Việt Nam đã được mở rộng tới 180 quốc gia và vùng lãnh thổ
nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào 5 thị trường chủ lực là Hoa Kỳ, EU, Nhật
Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Về cơ cấu, ngành hàng xuất khẩu chính chủ
yếu là các sản phẩm may, trong khi đó các loại sản phẩm xơ sợi chiếm tỷ
trọng tương đối nhỏ. Trong bối cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới, mặc dù còn nhiều hạn chế cần khắc phục nhưng xuất khẩu dệt
may của Việt Nam tiếp tục cho thấy sự gia tăng, đặc biệt là các mặt hàng chất
lượng cao, đồng thời có sự dịch chuyển cơ cấu tích cực, thể hiện sự nắm bắt
cơ hội khi các FTAs thế hệ mới có hiệu lực.
Tuy vậy, xuất khẩu ngành hàng dệt may hiện nay của Việt Nam vẫn phụ
thuộc vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thiếu chủ động nguồn
cung đầu vào cho sản xuất, và trong chuỗi giá trị ngành dệt may mới chỉ tham
gia ở những khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp, cơ cấu xuất khẩu ngành hàng dệt
may chủ yếu phụ thuộc vào phương thức gia công xuất khẩu sẽ là những
thách thức hết sức đáng quan ngại cho sự phát triển ngành. Tuy nhiên, bằng
các chính sách ở tầm vĩ mô của nhà nước, và nhận thức đúng đắn về con
đường phát triển ở tầm vi mô của các doanh nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu
ngành dệt may theo hướng hiện đại, thân thiện với môi trường và bền vững
nhằm tận dụng các lợi thế mà các FTAs thế hệ mới mang lại được xem là
hướng đi đúng đắn và phù hợp nhằm phát triển sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu
121
dệt may của Việt Nam trong thời gian tới.
CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
XUẤT KHẨU DỆT MAY TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM THỰC THI
CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI
4.1. Dự báo nhu cầu thị trường dệt may thế giới
4.1.1. Các nhân tố tác động tới nhu cầu thị trường dệt may thế giới
Việt Nam xác định ngành dệt may không chỉ là ngành công nghiệp mũi
nhọn trong chiến lược xuất khẩu của mình mà còn là ngành công nghiệp
quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề mang
tính trọng đại của quốc gia như việc làm và các vấn đề an sinh xã hội. Do
đó, định hướng xuất khẩu dệt may của Việt trong bối cảnh thực hiện các
FTA thế hệ mới có sự tương tác và tác động lớn bởi bối cảnh kinh tế và
chính trị của khu vực và thế giới cũng như những xu hướng mang tính thời
đại hiện nay. Tựu chung lại, định hướng xuất khẩu của Việt Nam phải được
đặt trong điều kiện và diễn biến của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, xu
hướng bảo hộ thương mại gia tăng, khả năng Mỹ quay trở lại tham gia Hiệp
định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và xung đột
thương mại Mỹ - Trung để xác định mục tiêu chiến lược trong thời gian tới
(bao gồm cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn).
4.1.1.1. Cách mạng công nghiệp 4.0
Thế giới đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp tuy nhiên cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0 lần này có những sự khác biệt và ở tầm thay đổi
mang tính vĩ đại hơn. Nó là sự kết hợp cao độ giữa hệ thống siêu kết nối vậy
lý và kỹ thuật số với tâm điểm là mạng không gian vận vật và trí tuệ nhân
tạo. Cách mạng công nghiệp 4.0 được đánh giá sẽ có phạm vi, quy mô và tốc
độ tác động lớn, ảnh hưởng tất cả mọi lĩnh vực và tới toàn bộ nền kinh tế.
Trong đó, cuộc cách mạng này sẽ mang lại sự thay đổi rất mạnh mẽ về năng
suất, quy mô và cách thức quản lý; đồng thời, hướng tới các nguồn năng
lượng mới thay thế và khai thác hiệu quả nguồn năng lượng này. Như vậy,
122
công nghiệp 4.0 đồng thời mang lại cả cơ hội và thách thức cho Việt Nam
trên chặng đường phát triển phía trước, tuy nhiên, với Việt Nam dường như
thách thức nhiều hơn cơ hội (Lo Thi and Guzikova, 2020; Lê Thanh Thủy,
2019).
Cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra với cường độ mạnh mẽ trên thế giới
và Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế đó. Cách mạng 4.0 sẽ ảnh hưởng
tới mọi lĩnh vực của kinh tế ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên ngành dệt
may được cho là một trong những ngành sẽ bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất bởi
đặc trưng thâm dụng lao động của ngành. Theo Báo cáo của Tổ chức Lao
động thế giới, cách mạng công nghiệp 4.0 có thể sẽ thay thế 85% lao động
ngành dệt may của Việt Nam chỉ trong vài thập kỷ tới. Về mặt lý thuyết, dệt
may với nhiều công đoạn, đồng thời mang tính thời trang cao (yêu cầu yếu
tố con người) do đó, sẽ là bất khả khi để thay thế lao động chân tay trong
thời gian ngắn, tuy nhiên, tác động của công nghiệp 4.0 vẫn sẽ làm gia tăng
nguy cơ mất việc đối với lao động dệt may, đặc biệt là lao động trình độ thấp
và lao động ở những công đoạn có thể dễ dàng thay thế được bằng máy móc.
Theo đánh giá của Tổ chức Lao động Thế giới, trong vòng một thập kỷ tới
sản xuất xơ sợi hóa học có khả năng sẽ được thay thế dần bằng máy móc;
trong khi đó, các công đoạn sản xuất tơ, sợi tự nhiên, dệt, vải không dệt và
nhuộm có thể sẽ hoàn tất quá trình thay thế con người bằng máy móc. Báo
cáo cũng cho rằng các công đoạn may do thị hiếu và mang đặc trưng thời
trang cao nên sự thay thế sẽ ở những mức độ khác nhau tùy thuộc vào thời
vụ, đặc tính sản phẩm, nhu cầu hay kiểu dáng. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0 sẽ cho phép các quốc gia phát triển và cũng là những thị
trường xuất khẩu dệt may chính của Việt Nam như các nước thuộc EU, Nhật
Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ quay trở lại sản xuất các sản phẩm dệt may do
được sản xuất bằng may móc. Do đó, định hướng chiến lược ngành dệt may
cần phải tính đến yếu tố của cuộc cách mạng 4.0. Trong định hướng chiến
lược ở cấp độ nhà nước và doanh nghiệp, cần nhìn nhận đúng đắn cơ hội và
123
thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong sự tương tác đối với
ngành dệt may để có cái nhìn khách quan về bức tranh chung của toàn
ngành.
Hình 4.1: Đánh giá tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với xuất
khẩu dệt may của Việt Nam
Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát
Kết quả khảo sát của Luận án cũng cho thấy kết quả tương đồng với
nhận định rằng cách mạng công nghiệp 4.0 có tác động lớn đối với xuất
khẩu dệt may Việt Nam. Trong tổng số 518 người được hỏi có đến 160
người, tương đương với 30.89% trả lời cách mạng công nghiệp 4.0 tác động
rất lớn đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam; trong đó, tỷ lệ số người
hoạt động trong ngành dệt may là 32.35% so với con số 29.64% số người
không hoạt động trong ngành dệt may. Số người được hỏi trả lời cách mạng
công nghiệp 4.0 có tác động lớn đối với xuất khẩu dệt may cũng chiếm tỷ lệ
rất cao, lần lượt là 25.1%, 23.11% và 26.79% đối với toàn bộ mẫu, đối tượng
hoạt động trong lĩnh vực dệt may và đối tượng không hoạt động trong ngành
dệt may.
Số liệu khảo sát cũng chỉ ra rằng chỉ có 11.78% số người được hỏi cho
rằng cách mạng công nghiệp 4.0 không có tác động đến hoạt động xuất khẩu
124
dệt may của Việt Nam. Số liệu từ cuộc khảo sát phần nào khẳng định thêm
cho nhận định cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ giữ một vai trò rất lớn trong
việc định hình cấu trúc xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong tương lai.
4.1.1.2. Xung đột thương mại Mỹ - Trung
Một diễn biến mới hiện nay mà ngành xuất khẩu dệt may Việt Nam
trong định hướng chiến lược phát triển cần phải chú ý đó là cuộc chiến tranh
thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đang diễn ra dữ dội và rất khó đoán
định. Trong ngắn hạn, cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung có thể ít tác
động tới ngành dệt may Việt Nam (trong gói 50 tỷ USD Mỹ đưa ra để trừng
phạt Trung Quốc thì chưa có liên quan đến ngành dệt may) nhưng về trung
và dài hạn, ngành dệt may cũng là một trong các ngành sẽ chịu nhiều tác
động từ cuộc chiến thương mại trên. Mới nhất, gói 200 tỷ USD mà chính
quyền Mỹ đưa ra để trừng phạt Trung Quốc đã có một số loại vải bị áp thuế
trừng phạt. Và khả năng trong các biện pháp tiếp theo của Mỹ cũng như
những biện pháp phản đòn của Trung Quốc sẽ có nhiều sản phẩm của ngành
dệt may bị áp thuế trừng phạt. Việc áp thuế của Mỹ lên các ngành hàng dệt
may của Trung Quốc sẽ tạo áp lực cạnh tranh lên sản phẩm của Việt Nam
với Trung Quốc trên các thị trường bởi lẽ Trung Quốc sẽ phải tìm kiếm các
thị trường thay thế. Song song với đó, Trung Quốc là thị trường xuất nhập
khẩu chính về nguyên phụ liệu dệt may của Việt Nam (70-80% mặt hàng sợi
của Việt Nam được xuất sang Trung Quốc, tương tự gần 75% nguyên phụ
liệu được nhập khẩu từ thị trường này). Khi cuộc chiến tranh thương mại Mỹ
- Trung lan rộng, các mặt hàng dệt may xuất nhập khẩu chủ lực như vải và
sợi sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp.
Về mặt lý thuyết, xung đột thương mại Mỹ - Trung ở khía cạnh nào đó
có thể tạo cơ hội cho Việt Nam gia tăng thị phần xuất khẩu dệt may vào thị
trường Hoa Kỳ. Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, trong số 20 mặt hàng dệt
may của Trung Quốc có nguy cơ bị gia tăng áp thuế nhập khẩu tại thị trường
Mỹ thì có 5 mặt hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh, bao gồm vải canvas,
vải mành làm lốp xe, vải dệt thoi từ sơ xợi, sợ xo tổng hợp PE. Tuy nhiên,
125
khi bị áp thuế, Trung Quốc sẽ có xu hướng đầu tư ra nước ngoài nhằm tránh
nhãn xuất xứ, Việt Nam là quốc gia láng giềng, đồng thời hội tụ đủ yêu cầu
để phát triển ngành dệt may Lê Quang Thuận, 2019; Lê Hồng Thuận, 2017).
Do đó, không chuẩn bị tốt, ngành dệt may của Việt Nam sẽ bị cạnh tranh với
các công ty dệt may của Trung Quốc ngay chính trên sân nhà của mình. Một
vấn đề nữa cũng cần phải được nghiên cứu trong cuộc xung đột thương mại
Mỹ - Trung là khả năng Trung Quốc sẽ giảm giá đồng Nhân dân tệ để cạnh
tranh với các nước xuất khẩu khác. Và như hệ quả tất yếu, xuất khẩu dệt
may của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng tương đối.
Hình 4.2: Đánh giá tác động của xung đột thương mại Mỹ - Trung đối
với xuất khẩu dệt may Việt Nam
Nguồn: từ khảo sát của tác giả
Xem xét đánh giá của người dân về mức độ tác động của xung đột
thương mại Mỹ - Trung đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam, kết quả
khảo sát của Luận án cho thấy có độ nhiễu khác nhau trong các đánh giá của
người dân đối với xung đột thương mại Mỹ - Trung. Tuy nhiên, có một điểm
chung là có đến gần 80.12% số người được hỏi khẳng định cuộc chiến
thương mại Mỹ - Trung sẽ có tác động lên xuất khẩu dệt may của Việt Nam
theo những chiều hướng khác nhau, chỉ có hơn 19.88% số người được hỏi
cho rằng không ảnh hưởng. Một điểm đánh chú ý là trong tổng số hơn 415
người trả lời có ảnh hưởng thì có đến hơn 63.49% cho rằng cuộc chiến
thương mại Mỹ - Trung sẽ mang lại cơ hội cho xuất khẩu dệt may hơn là 126
những tác động tiêu cực, chỉ có 11.59% người được trả lời cho rằng ảnh
hưởng tiêu cực chiếm ưu thế, và có tới 24.82% số người được hỏi trả lời có
ảnh hưởng nhưng không có sự khác biệt giữa tích cực và tiêu cực.
Như vậy, tác động của cuộc xung đột thương mại Mỹ - Trung lên
ngành dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng của Việt Nam là
không thể tránh khỏi. Yêu cầu bức thiết phải chuẩn bị các kịch bản ứng phó
với những tác động tiêu cực, đồng thời phải xác định chiến lược phù hợp
nhằm khai thác lợi thế mà nó mang lại.
4.1.1.3. Ảnh hưởng của đại dịch covid -19
Ngành dệt may ở tất cả các nước đang gia công sản xuất đều đang hứng
chịu những hệ luỵ nặng nề từ đại dịch COVID-19. Đại dịch COVID-19 đã
làm thay đổi cả chuỗi sản xuất của ngành dệt may toàn cầu. Những nền công
nghiệp gia công và xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới như Ấn Độ,
Bangladesh hay Việt Nam đang phải chịu những tổn thương liên tiếp khi
nguồn cung nguyên phụ liệu lớn nhất thế giới là Trung Quốc và nguồn cầu
lớn nhất thế giới là châu Âu và Mỹ đang nằm trong tình trạng đóng cửa.
Thương mại dệt may toàn cầu đã sụp đổ trong nửa đầu năm 2020, đặc
biệt ở các nước mà ngành dệt may chiếm tỷ trọng lớn hơn trong xuất khẩu.
Ngoài ra, xuất khẩu sang các khu vực mua hàng lớn ở Liên minh châu Âu,
Hoa Kỳ và Nhật Bản giảm khoảng 70%. Ngành công nghiệp này cũng bị gián
đoạn chuỗi cung ứng do thiếu bông và các nguyên liệu thô khác.
Ngành công nghiệp dệt may là thị trường có tốc độ phát triển nhanh
chóng. Với các đối thủ cạnh tranh chính là Trung Quốc, Liên minh Châu Âu,
Hoa Kỳ và Ấn Độ. Trung Quốc là nước sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may
thô hàng đầu thế giới. Hoa Kỳ là nước sản xuất và xuất khẩu bông thô hàng
đầu, đồng thời cũng là nước nhập khẩu hàng dệt may thô hàng đầu. Ngành
công nghiệp dệt may của Liên minh châu Âu bao gồm Đức, Tây Ban Nha,
Pháp, Ý và Bồ Đào Nha dẫn đầu với giá trị hơn 1/5 ngành dệt may toàn cầu.
Ấn Độ là nền công nghiệp sản xuất dệt may lớn thứ ba và chiếm hơn 6% tổng
127
sản lượng dệt may trên toàn cầu. Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng ở
các nước phát triển và đang phát triển cùng với công nghệ phát triển đang
giúp ngành dệt may có những cơ sở lắp đặt hiện đại có khả năng sản xuất vải
hiệu quả cao. Những yếu tố này đang giúp ngành dệt may ghi nhận nhiều
doanh thu hơn trong giai đoạn nghiên cứu và được kỳ vọng sẽ giúp ngành
tăng trưởng hơn nữa trong giai đoạn dự báo.
Tác động của COVID-19 đến ngành thời trang may mặc rất rõ ràng, cụ
thể sản lượng ngành dệt may ở châu Âu giảm 26,9% trong giai đoạn từ tháng
4 đến tháng 6 năm 2020, khi đại dịch bùng nổ trên toàn cầu đạt đỉnh điểm.
Trong lĩnh vực quần áo, sản xuất suy thoái mạnh trong giai đoạn từ tháng 1
đến tháng 4 năm 2020. Đến tháng 5, thương mại bán lẻ hàng may mặc, dệt
may và giày dép mới có sự khởi sắc ở châu Âu, khi các chính phủ dần dỡ bỏ
các biện pháp khóa cửa và hoạt động kinh doanh tiếp tục với tốc độ tương tự
như mức bình thường được biết đến trước khi bùng phát COVID-19. Nhập
khẩu các sản phẩm dệt của EU lại tăng mạnh, tăng 154,2% so với cùng kỳ
năm trước. Điều này có thể là do việc nhập khẩu thiết bị bảo vệ cá nhân (PPE)
cần thiết trong thời kỳ đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng COVID-19 ở châu
Âu.
Đối với mảng thời trang và phụ kiện, nhiều quốc gia Châu Âu, bao gồm
Anh , Đức và Ý đã chứng kiến mức tăng trưởng doanh thu và lượng đặt hàng
cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Dựa trên kết quả hoạt động hàng tuần
hàng năm, hoạt động bán lẻ trực tuyến ở các quốc gia này đã tăng đột biến
trong tháng 4, các cửa hàng truyền thống tiếp tục kinh doanh và người tiêu
dùng không còn phải phụ thuộc vào các kênh trực tuyến.
Châu Á là một trong những thị trường lớn nhất của ngành dệt may trên
thế giới, đã phải hứng chịu những hạn chế kéo dài cùng với sự sụt giảm đột
ngột nhu cầu quốc tế đối với sản phẩm của khu vực. Tổn thất này đặc biệt cao
ở các nước mà ngành dệt may chiếm tỷ trọng lớn hơn trong xuất khẩu.
Ngành dệt may Ấn Độ được ước tính có tốc độ tăng trưởng kép hàng
năm (CAGR) là 10% từ năm tài chính 2016 đến năm tài chính 2021. Xuất
128
khẩu trong ngành dệt may dự kiến sẽ đạt 300 tỷ USD vào năm 2024. Tuy
nhiên, đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tốc độ tăng trưởng
của ngành dệt may nước này khi nhiều đơn vị dệt may đã ngừng sản xuất.
Cuộc khủng hoảng đã khiến các doanh nghiệp dệt may phải đưa ra những
quyết định khó khăn như sa thải, cắt giảm lương và yêu cầu nhân viên nghỉ
việc không lương. Tất cả những điều này đã dẫn đến việc người lao động bị
kiệt sức về mặt cảm xúc, gây ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần
của họ.
Vải không dệt được sử dụng để làm các sản phẩm khác nhau trong
ngành chăm sóc sức khỏe, chẳng hạn như áo choàng phẫu thuật, tạp dề, màn,
các bộ phận của mặt nạ và băng vết thương. Chúng cũng được sử dụng trong
các sản phẩm vệ sinh, chẳng hạn như khăn vệ sinh, băng vệ sinh, tã trẻ em và
lót khăn ăn. Việc gia tăng các ca phẫu thuật và việc xây dựng các cơ sở y tế
mới là động lực chính cho thị trường ngành công nghiệp không dệt phát triển.
Ngoài ra, do sự bùng phát COVID-19, nhu cầu về khẩu trang không dệt đã gia
tăng đáng kể để ngăn chặn sự lây lan của vi rút. Điều này đã dẫn đến sự gia
tăng nhu cầu về vải không dệt trên toàn thế giới, với tốc độ cấp số nhân.
Châu Á – Thái Bình Dương dự kiến sẽ chứng kiến sự gia tăng đáng kể
các sản phẩm vệ sinh, do nhu cầu sử dụng ngày càng tăng ở các nước như Ấn
Độ và Trung Quốc. Tại Ấn Độ, theo BCH (Hiệp hội ngành hàng không dệt
Ấn Độ), tỷ lệ thâm nhập thị trường của băng vệ sinh đã tăng 18% so với năm
2014. Hiện ước tính có hơn 60% phụ nữ Ấn Độ không sử dụng các sản phẩm
chăm sóc vệ sinh. Điều này chủ yếu là do lượng dân cư sống ở nông thôn cao.
Với sự gia tăng tỷ lệ thâm nhập của các sản phẩm chăm sóc vệ sinh, do các
biện pháp phòng ngừa vệ sinh ngày càng tăng.
Tại Trung Quốc, thị trường dành cho các sản phẩm phụ nữ và tã trẻ em
đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, do sự gia tăng các mối quan tâm liên
quan đến vệ sinh. Sự gia tăng dân số, dân số già ngày càng tăng và sự bùng
phát COVID-19 trên toàn thế giới đang thúc đẩy nhu cầu về vải không dệt
129
trong ngành chăm sóc sức khỏe.
4.1.1.4. Các yếu tố khác
Một số yếu tố khác có thể ảnh hưởng tới thị trường dệt may thế giới
như xu hướng quay trở lại của bảo hộ thương mại, vai trò của các tập đoàn
xuyên quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các vấn đề môi trường và an sinh
xã hội, đặc biệt là khả năng Mỹ quay trở lại Hiệp định Đối tác toàn diện và
Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Dệt may được cho là ngành
hưởng lợi nhiều nhất khi Hiệp định Kinh tế đối tác xuyên Thái Bình Dương
được ký kết. Việc Mỹ rút khỏi TPP mặc dù nhiều ý kiến cho rằng sẽ không
tác động nhiều tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam, tuy nhiên, không thể
không phủ nhận lợi ích thu được của ngành dệt may sẽ bị giảm sút do Mỹ là
thị trường lớn luôn chiếm gần 50% thị phần đối với xuất khẩu dệt may của
Việt Nam (Lu, 2018; Nguyen and Le, 2019). Quan điểm xuất khẩu dệt may
không bị tác động nhiều khi Mỹ rút khỏi TPP có lẽ xuất phát từ nội dung của
hiệp định liên quan đến dệt may là yêu cầu về quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi.
Thực tế ở Việt Nam cho thấy, các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam phần
lớn nhập khẩu sợi, do đó, chúng ta sẽ không được hưởng lợi từ quy tắc xuất
xứ này. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh
mẽ, và ngành dệt may cũng đang chuyển mình theo sự thay đổi đó. Do đó,
xu hướng các doanh nghiệp trong nước nội địa hóa xơ sợi, đầu tư phát triển
ngành công nghiệp phụ trợ, cũng như làn sóng đầu tư từ nước ngoài vào
ngành dệt may được dự báo sẽ trở thành xu hướng mới trong thời gian tới
(Nguyễn Xuân Thọ, 2019). Do đó, kịch bản Mỹ trở lại Hiệp định Đối tác
Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương cần được xem xét trong định
hướng chiến lược phát triển ngành dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may
nói riêng của Việt Nam. Một bối cảnh nữa cũng có thể tác động lớn đối với
xuất khẩu dệt may Việt Nam là việc Trung Quốc thực hiện chiến lược Nhất
đới – Nhất lộ, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc phát triển vùng sản xuất
dệt may ở khu vực hạ lưu Lan Thương, một cách nào đó, sẽ có tác động nhất
định đến chiến lược phát triển ngành dệt may của Việt Nam và xuất khẩu
130
ngành hàng dệt may của Việt Nam (Le et al. 2019; Ngo, 2017).
4.1.2. Dự báo nhu cầu thị trường dệt may thế giới
Theo các nhà phân tích kinh tế, lạm phát gia tăng và thắt chặt tài chính
đã phủ bóng đen lên kinh tế Mỹ, châu Âu, dẫn đến sự suy giảm nhu cầu toàn
cầu kể từ quý II/2022. Việc Mỹ, EU lạm phát đang tác động tiêu cực đến xuất
khẩu dệt may của các doanh nghiệp Việt bởi đây là hai thị trường truyền
thống- chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu xuất khẩu toàn ngành này.
Thị trường Hoa Kỳ:
Tại Hoa Kỳ, lạm phát tăng cao, xu hướng giảm mua hàng may mặc để
tiết kiệm chi tiêu… có thể ảnh hưởng không nhỏ đến mục tiêu xuất khẩu hàng
dệt may Việt Nam. Con số tăng trưởng xuất khẩu khả quan của dệt may Việt
Nam sang Hoa Kỳ trong 5 tháng đầu năm được dự báo khó duy trì trong 2
quý còn lại của năm 2022. Bởi lẽ, nhu cầu nhập khẩu dệt may của Hoa Kỳ dự
báo sẽ giảm 12 tỷ USD trong thời gian tới, tương ứng 7-10% tổng cầu dệt
may của thị trường này. Tập đoàn Dệt may Việt Nam cũng đã dẫn kết quả
khảo sát của ThredUP (Website bán đồ thời trang cũ): 44% người tiêu dùng
Mỹ và 34% thế hệ Z (sinh từ sau năm 1996) sẽ cắt giảm chi tiêu cho hàng
may mặc, mức cắt giảm nhiều nhất trong số 5 nhóm hàng họ sẽ cắt giảm chi
tiêu gồm: Lương thực, thực phẩm, xăng dầu, nhà hàng, chi phí sinh hoạt cho
hộ gia đình.
Khi kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng chậm lại, người tiêu dùng thận trọng
hơn trong việc chi tiêu tùy ý cho quần áo để ưu tiên các nhu cầu thiết yếu
khác. Đáng chú ý, ngay trong quý đầu tiên của năm 2022, quần áo chỉ chiếm
3,9% tổng chi tiêu của người tiêu dùng Hoa Kỳ, giảm từ 4,3% vào năm 2019
trước đại dịch.
Thực tế, ngày càng có nhiều người tiêu dùng Hoa Kỳ chuyển sang mua
sắm đồ cũ để tiết kiệm chi tiêu. Thị trường đồ cũ của Hoa Kỳ dự kiến sẽ tăng
hơn gấp đôi vào năm 2026, đạt 82 tỷ USD. Doanh số bán hàng may mặc đã
qua sử dụng dự kiến sẽ tăng nhanh hơn 16 lần so với lĩnh vực quần áo bán lẻ
131
ở Hoa Kỳ vào năm 2026.
Một cuộc khảo sát với quy mô 2.000 người trưởng thành tham gia, thực
hiện vào tháng 4/2022 tại Hoa Kỳ cũng cho thấy 44% người tiêu dùng cho
biết họ đang cắt giảm mua hàng may mặc; 80% cho biết họ đang mua cùng
một số lượng hoặc nhiều hơn các mặt hàng quần áo cũ và 25% cho biết họ sẽ
cân nhắc mua nhiều mặt hàng quần áo cũ hơn nữa nếu giá tiếp tục tăng.
Những kết quả khảo sát và dự báo trên một lần nữa cho thấy triển vọng
xuất khẩu không mấy sáng của dệt may Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ trong
những tháng còn lại của năm 2022. Thực tế, thị phần xuất khẩu hàng may mặc
của Việt Nam vào Hoa Kỳ quý I/2022 so với cùng kỳ đã giảm từ 19,7%
xuống 18,3%. (Công thương.vn, 2022)
Thị trường EU: là một thị trường rộng lớn, đa dạng và có nhiều tiềm
năng đối với sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam, với 28 quốc gia
thành viên, hơn 500 triệu người, chiếm 43% tổng nhập khẩu sản phẩm dệt
may toàn cầu. Hiện nay EU đang có xu hướng chiến lược tăng cường mở rộng
quan hệ với các nước châu Á, theo chiều hướng này Việt Nam ngày càng có
vị thế quan trọng trong chiến lược mới của Châu Âu. Tuy vậy, các vấn đề về
truy xuất nguồn gốc xuất xứ, chất lượng, nhãn hiệu, trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp dệt may,…là những yêu cầu khắt khe tại thị trường hết sức tiềm
năng như EU. Với thói quen và thị yếu cấp cao đòi hỏi các sản phẩm dệt may
cao cấp có vẻ như được ưa chuộng và tiêu dùng tốt hơn các sản phẩm bình
dân. Bên cạnh đó, các sản phẩm dệt may ít chứa hóa chất, có nguồn gốc từ
thiên nhiên, có tính năng bảo vệ sức khỏe,..là những đặc tính mà cư dân EU
rất ưa chuộng và thường xuyên lựa chọn. Ngoài ra, tính thời trang và phong
cách đôi khi cũng được đặt lên hàng đầu, thay vì các tiêu chí khác thậm chí là
giá thành. Sự thay đổi nhanh chóng và kịp thời nắm bătd các xu thế tiêu dùng
tại nơi luôn được coi như là kinh đô thời trang EU rất cần được xem xét kỹ
lưỡng trong chiến lược kinh doanh sản phẩm. Đặc biệt, khi FTA Việt Nam –
EU có hiệu lực, với việc cắt giảm thuế từ 12 % xuống còn 0% chắc chắn sẽ là
132
động lực tăng trưởng cho dệt may Việt Nam vào EU trong thời gian tới.
Thị trường các nước CPTPP: Dệt May Việt Nam là ngành nghề duy
nhất đồng hành cùng 7 năm đàm phán hiệp định TPP (nay là CPTPP) và các
doanh nghiệp hết sức vui mừng khi các nỗ lực của Ngành đã có thành quả.
Theo báo cáo của World bank, đây là 2 thị trường có sự phát triển cao, sử
dụng dệt may khá lớn với khoảng 10 tỷ USD một năm trong khi thị phần xuất
khẩu của dệt may Việt Nam còn nhỏ chỉ khoảng đến 500 triệu USD [134].Vì
vậy, Dệt May Việt Nam vẫn nhìn thấy CPTPP có một cơ hội để mở rộng kim
ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may vào 2 thị trường này để đóng góp vào mục
tiêu tăng trưởng trên 10% của Ngành.
Trong các nước CPTPP, thị trường Nhật Bản tiêu thụ trung bình mỗi
năm Nhật Bản khoảng 4 tỷ USD cho hàng dệt may, là một trong những thị
trường nhập khẩu lớn đối với sản phẩm dệt may Việt Nam. Quy trình sản
phẩm nhập khẩu từ nước ngoài thường thông qua Công ty thương mại trước
khi đến với người mua và cuối cùng là người tiêu dùng tại Nhật Bản. Luật
nhãn hiệu cùng với tiêu chuẩn nghiêm ngặt về đảm bảo sức khỏe, ít sử dụng
chất gây phản ứng độc hại với da là những quy định ngặt nghèo đối với các
sản phẩm dệt may muốn xuất khẩu vào Nhật Bản. Quan hệ căng thẳng bởi
tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Nhật Bản trong thời gian qua đang
làm xu thế nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc, quốc gia xuất khẩu hàng
dệt lớn nhất tại thị trường Nhật Bản bị suy giảm. Giảm dần sự phụ thuộc vào
các khâu trung gian và tuân thủ tối đa quy định chặt chẽ về chất lượng và độ
an toàn của sản phẩm là hướng di cần thiết để Việt Nam gia tăng thị phần tại
Nhật Bản khi cả 2 quốc gia đều là thành viên của CPTPP.
4.2. Quan điểm, định hướng và mục tiêu xuất khẩu dệt may Việt Nam
4.2.1. Quan điểm, định hướng của Việt Nam về xuất khẩu dệt may
Với lợi thế so sánh của mình, những năm qua ngành dệt may Việt Nam
nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng luôn được Chính phủ đặc biệt chú
trọng đầu tư và phát triển. Thực tế chứng minh rằng xuất khẩu dệt may của
Việt Nam trong những năm gần đây luôn cho thấy xuất khẩu dệt may đóng
133
góp tỷ phần rất lớn trong cơ cấu xuất khẩu chung của Việt Nam, đồng thời
dệt may cũng chiếm giữ vai trò và vị trí chiến lược quan trọng trong quá
trình tiến ra thị trường quốc tế của hàng hóa Việt Nam (Luong, 2001; Lo and
Guzikova, 2020; Lee and Linda, 2016). Do đó, nhằm tạo lập khung sườn cho
chiến lược phát triển của ngành, Chính phủ đặc biệt quan tâm đến các vấn đề
pháp lý, trong đó nhấn định đến quan điểm, đường lối và chiến lược phát
triển. Hai văn bản có tính chất pháp lý cao nhất nhằm định hướng chiến lược
cho phát triển sản xuất và xuất khẩu của ngành dệt may là Quyết định
36/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 10/03/2008 và Quyết định
3218/QĐ-BCT của Bộ Công thương ngày 11/04/2014. Trong đó, nội dung
Quyết định 3218/QĐ-BCT là văn bản thể hiện quan điểm mới nhất, cập nhập
bối cảnh mới nhất và có tính cấp thiết nhất trong chiến lược xuất khẩu dệt
may đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Quyết định này nêu rõ quan điểm phát
triển ngành dệt may theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững; Chuyển
mạnh sản xuất từ gia công sang mua nguyên liệu, bán thành phẩm, đảm bảo
nâng cao chất lượng, đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu…Mục tiêu phát
triển Xây dựng ngành công nghiệp dệt may trở thành một trong những ngành
công nghiệp mũi nhọn, hướng về xuất khẩu và có khả năng đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng trong nước ngày càng cao; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao
khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc vào nền kinh tế khu vực và thế
giới…
Giai đoạn 2013 đến 2015: tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất công
nghiệp toàn ngành đạt 12% đến 13%/năm, trong đó ngành dệt tăng 11% đến
12%/năm, ngành may tăng 13% đến 14%/năm. Tăng trưởng xuất khẩu đạt
10% đến 11%/năm. Tăng trưởng thị trường nội địa đạt 9% đến 10%/năm.
Giai đoạn 2016 đến 2020: tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất công
nghiệp toàn ngành đạt 12% đến 13%/năm, trong đó ngành dệt tăng 13% đến
14%/năm, ngành may tăng 12% đến 13%/năm. Tăng trưởng xuất khẩu đạt 9%
đến 10%/năm. Tăng trưởng thị trường nội địa đạt 10% đến 12%/năm.
Giai đoạn 2021 đến 2030: tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất công
134
nghiệp toàn ngành đạt 9% đến 10%/năm. Trong đó ngành dệt tăng 10% đến
11%/năm, ngành may tăng 9% đến 10%/năm. Tăng trưởng xuất khẩu đạt 6%
đến 7%/năm. Tăng trưởng thị trường nội địa đạt 8% đến 9%/năm. Cơ cấu
ngành dệt, ngành may trong cơ cấu toàn ngành dệt may: đến năm 2015, ngành
dệt chiếm tỷ trọng 45%, ngành may chiếm tỷ trọng 55%; năm 2020, tỷ trọng
ngành dệt tăng lên 47%, ngành may giảm còn 53%; năm 2030, ngành dệt tăng
lên 49%, ngành may còn 51% trong toàn bộ cơ cấu ngành dệt may.
Theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn 2030 cho thấy Chính phủ Việt Nam coi trọng việc phát
triển ngành dệt may theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững, chuyển đổi
phương thức sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng sản
phẩm. Bên cạnh việc đáp ứng thị trường tiêu dùng trong nước, xuất khẩu dệt
may được xác định là phương thức cơ sở, nền tảng cho sự phát triển của toàn
ngành. Nhấn mạnh sự chuyển dịch cơ cấu phục vụ chiến lược xuất khẩu sản
phẩm dệt may, Việt Nam sẽ thiết lập các cơ chế tập trung phát triển các sản
phẩm công nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu, nâng cao giá trị gia tăng
của sản phẩm. So với Quyết định 36/2008/QĐ-TTg có sự thay đổi căn bản
về quan điểm xuất khẩu dệt may, nếu như trước kia Việt Nam xem xét xuất
khẩu dệt may như là mục tiêu cho phát triển và mở rộng thị phần thì tầm
nhìn đến năm 2030 của Việt Nam trong Quyết định 3218/QĐ-BCT xác định
xuất khẩu dệt may là phương thức phát triển ngành. Như vậy, trong quan
điểm về thúc đẩy xuất khẩu dệt may đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, Việt
Nam ở những khía cạnh nào đó đã đặt trong bối cảnh thực thi các Hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới với các cam kết và điều khoản được dự báo sẽ
135
thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu dệt may của Việt Nam.
Hình 4.3: Các mục tiêu cụ thể của ngành dệt may đến năm 2030
Chỉ tiêu ĐVT 2015 2020 2030
1. Kim ngạch XK Tỷ USD 23-24 36-38 64-67
Tỷ lệ XK so cả nước % 15-16 13-14 9-10
2. Sử dụng lao động 1.000 ng 2.500 3.300 4.400
3. Sản phẩm chủ yếu
- Bông xơ 1000 Tấn 8 15 30
- Xơ, sợi tổng hợp 1000 Tấn 400 700 1.500
- Sợi (kéo từ xơ cắt ngắn) 1000 Tấn 900 1.300 2.200
- Vải các loại Tr. m2 1.500 2.000 4.500
- Sản phẩm may Tr. SP 4.000 6.000 9.000
4. Tỷ lệ nội địa hóa % 55 65 70
Nguồn: Quyết định 3218/QĐ-BCT
Ngày 6/8/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số
115/NQ-CP về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ, trong đó
đặc biệt nhấn mạnh đến việc phát triển và xây dụng mạng lưới liên kết cung
cấp nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất dệt may, phục vụ cho chiến lược
xuất khẩu dệt may. Theo đó, Nghị quyết 115/NQ-CP vạch rõ mục tiêu đến
năm 2025 Việt Nam phải đảm bảo được it nhất 65% nguồn nguyên vật liệu
đầu vào cho sản xuất toàn ngành dệt may. Đây là bước đi chính sách mang
tầm chiến lược, kỳ vọng sẽ mang lại nhiều hiệu ứng tích cực đối với xuất
khẩu dệt may của Việt Nam.
4.2.2. Mục tiêu xuất khẩu dệt may đến năm 2030
Trên cơ sở quan điểm định hướng, Việt Nam xác định các mục tiêu cụ
thể cho sản xuất ngành dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng.
Mục tiêu xuất khẩu dệt may đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 của ngành dệt
may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng được thể hiện cụ thể và rõ nét
trong Quyết định 3218/QĐ-BCT của Bộ Công thương. Trong đó, mục tiêu
chung nhất vẫn là xây dựng được ngành dệt may trở thành ngành mũi nhọn
hướng đến xuất khẩu với khả năng cạnh tranh cao, hội nhập với khu vực và
thế giới. Để thực hiện được mục tiêu hướng về xuất khẩu, Việt Nam cũng xác 136
định phải phát triển ngành dệt may theo hướng bền vững dựa trên đội ngũ lao
động tay nghề, công nghệ cao và thân thiện với môi trường. Trong mục tiêu
chung đó, Việt Nam cũng xác định từ năm 2020 phải xây dựng được một số
thương hiệu sản phẩm dệt may vượt tầm biên giới, tức là xác lập được thương
hiệu quốc gia về một số sản phẩm dệt may.
Về mục tiêu cụ thể, Việt Nam xác định xuất khẩu dệt may của Việt
Nam đến năm 2030 phải đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân đạt
10%/năm, trong đó tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm giai đoạn 2013-
2015 đạt 10% đến 11%, giai đoạn 2016-2020 trong khoảng 9% đến 10% và
giai đoạn 2021-2030 là từ 6% đến 7%. Về giá trị tuyệt đối, Việt Nam đặt
mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu đến năm 2020 là khoảng 36-38 tỷ
USD/năm và đến năm 2030 đạt 64-67 tỷ USD/năm. Để thực hiện được mục
tiêu xuất khẩu đề ra, Việt Nam tiến hành xây dựng chương trình sản xuất
phục vụ xuất khẩu, trong đó nhấn mạnh đến phát triển các sản phẩm có khả
năng gắn kết với sản xuất sợi, may mặc nhằm tận dụng và phát huy các lợi
thế của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như các mặt hàng dệt
kim, dệt thoi.
Trong Dự thảo “Chiến lược phát triển ngành dệt may, da giày Việt Nam
đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035”, dự kiến kim ngạch xuất khẩu bình
quân sẽ tăng từ 5% - 6%/năm trong giai đoạn đến năm 2030 (năm 2030 dự
kiến 68 – 70 tỷ USD); tăng từ 2-3%/năm trong giai đoạn từ 2031 đến 2045
(năm 2045 đạt khoảng 95 – 100 tỷ USD). Từ nay đến năm 2030, ngành
chuyển dần trọng tâm sang phát triển bền vững, kinh doanh tuần hoàn. Từ
năm 2030 – 2045, phát triển hiệu quả, bền vững theo mô hình kinh tế tuần
hoàn. Hoàn thiện chuỗi giá trị trong nước và tham gia ở vị trí có giá trị cao
trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Xuất khẩu và tiêu thụ trong nước bằng các
thương hiệu riêng mang tầm khu vực và thế giới. Đây là cơ hội để nâng chất
thị trường dệt may Việt Nam, nâng tính cạnh tranh với các quốc gia xuất khẩu
137
dệt may trong khu vực và trên thế giới.
4.3. Phân tích SWOT xuất khẩu dệt may Việt Nam
4.3.1. Cơ hội mang lại từ các FTA thế hệ mới đối với xuất khẩu dệt may
Các FTA thế hệ mới là các hiệp định có mức độ cam kết mở cửa thị
trường cao hơn so với các cam kết trong WTO và các FTA truyền thống. Các
FTA thế hệ mới có thể được xem như là các hiệp định WTO plus (WTO
cộng), bao gồm các điều khoản vốn trước đây đã từng bị từ chối, nay lại được
chấp nhận. Các FTA thế hệ mới bao gồm cả những vấn đề vượt ra ngoài vấn
đề thương mại truyền thống, có thể liệt kê như các vấn đề về đầu tư, lao động,
môi trường, minh bạch chính sách, cải cách thể chế,... nên sẽ tạo ra sức ép to
lớn để hội nhập. Các hiệp định FTA thế hệ mới đang là chiến lược chủ đạo, và
toàn cầu hóa đang trở thành chiến lược bị áp đảo ở các nước trên thế giới hiện
nay (Nguyễn Thanh Tâm, 2016). Hầu hết các nước khác cũng đang nỗ lực
như Việt Nam để đi đến thoả thuận cho một luật chơi mới, khi mà sân chơi
WTO dường như đã không đáp ứng được các yêu cầu thời đại. Các hiệp định
FTA thế hệ mới được đánh giá là đang đặt ra rất nhiều thách thức cho các
thành viên FTA nói chung và Việt Nam nói riêng, cũng như trật tự thương
mại toàn cầu. Tuy nhiên, thách thức càng lớn cũng cho thấy cơ hội càng lớn,
và không phải mọi thách thức đều đến từ FTA thế hệ mới, mà đến từ chính
bản thân mỗi thành viên. Từ một nước nông nghiệp phải nhờ vào viện trợ của
nước ngoài, hiện nay Việt Nam đã trở thành quốc gia hàng đầu về xuất khẩu
các sản phẩm nông nghiệp như gạo, tiêu, điều, cafe. Điều đó cho thấy Việt
Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh được trong môi trường thương mại quốc tế
đầy thách thức. Việt Nam lẽ tất yếu phải học cách thích nghi và sinh tồn cùng
với những biến đổi càng càng mạnh mẽ hơn của thương mại quốc tế ngày này.
Hội nhập khu vực đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong chính sách đối ngoại
của Việt Nam, và tham gia các FTA thế hệ mới là quyết định chủ động của
Việt Nam, nhằm nâng cao vị thế của đất nước, nhất là vị thế trong một khu
vực năng động và rất nhạy cảm như khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nơi
đang diễn ra cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. So với 10 nước
138
ASEAN, Việt Nam là nước chủ động và tích cực đàm phán, ký kết các FTA
thế hệ mới, cho thấy Việt Nam thực sự thể hiện được sự thích ứng nhanh với
những thay đổi về luật chơi, cách chơi và sân chơi trong thương mại toàn cầu.
Tuy nhiên, đối với ngành dệt may, Việt Nam vẫn đang gặp phải nhiều vấn đề
khó khăn cần những giải pháp và bước đột phá mới.
Như đã nêu trên, các hiệp định thương mại tự do thế hệ với nội dung
cam kết rộng hơn, mức độ sâu hơn, đặc biệt đề cập đến các vấn đề phi thương
mại. Xuất khẩu dệt may được xem là chiến lược chủ đạo trong phát triển kinh
tế cũng như hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, do đó, trong quá trình
hình thành và thực thi các hiệp định FTA thế hệ mới, ngành dệt may nói
chung và xuất khẩu dệt may của Việt Nam nói riêng đồng thời đón nhận nhiều
cơ hội mới:
Thứ nhất, việc tham gia các FTA thế hệ mới với các ưu đãi về cắt giảm
thuế quan sâu sẽ giúp tăng trưởng xuất khẩu dệt may Việt Nam, hàng dệt may
sẽ được hưởng thuế xuất nhập khẩu ưu đãi tới 0% mang lại lợi thế cạnh tranh
lớn. Giảm và xóa bỏ thuế dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nguồn hàng dệt
may nhập khẩu giữa các nước tham gia do giá thành rẻ hơn, chất lượng và
mẫu mã phong phú hơn. Giảm thuế cũng giúp cho việc mở rộng thị phần hàng
dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang các nước trong khu vực thương mại tự
do hay các nước đã cùng ký kết FTA. Theo đánh giá của Sacombank (2020),
giá trị xuất khẩu ngành hàng dệt may của Việt Nam có thể tăng trưởng thêm
hơn 4% hàng năm nhờ vào lợi thế từ thuế quan của chỉ riêng hai hiệp định
CPTPP và EVFTA (Vazentti and Huong, 2014). Một trong các đặc trưng tiêu
biểu của các hiệp định FTA thế hệ mới là hầu hết các loại thuế quan liên quan
đến thương mại hàng hóa, trong đó có nhóm hàng dệt may sẽ được giảm hoặc
loại bỏ hoàn toàn theo lộ trình.
Tóm lại, việc cắt giảm thuế quan tạo ra thuận lợi lớn trong cạnh tranh
về giá cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, giúp tăng thêm quy mô sản
xuất cũng như giá trị xuất khẩu, lực lượng lao động tham gia vào ngành dệt
may sẽ cao hơn kéo theo chất lượng lao động tốt hơn, tạo đà cho doanh
139
nghiệp dệt may tăng trưởng và phát triển.
Thứ hai, lợi ích từ quy tắc xuất xứ. Yêu cầu về nguồn gốc xuất xứ khắt
khe trong các hiệp định FTA thế hệ mới, thoạt nhìn sẽ là rào cản đối với xuất
khẩu dệt may của Việt Nam, nhưng sâu sa lại là cơ hội không thể tốt hơn cho
ngành dệt may Việt Nam tranh thủ phát triển ngành sản xuất nguyên phụ liệu,
vốn là nút thắt nghẽn trong chiến lược phát triển bền vững của ngành sản xuất
dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng của Việt Nam. Bên cạnh
đó, hiện nay làn sóng đầu tư (bao gồm cả đầu tư trong nước và đầu tư trực
tiếp nước ngoài) vào các ngành sản xuất xơ sợi, vải, phụ liệu cho ngành dệt
may tại Việt Nam nhằm đón đầu lợi ích khi các hiệp định FTA thế hệ mới mà
Việt Nam đang theo đuổi có hiệu lực, đặc biệt là CPTPP và EVFTA (Nguyễn
Hoàng Khởi và Lưu Tiến Thuận, 2015). Làn sóng đầu tư này không chỉ tạo cơ
hội cho Việt Nam chuyển đổi cơ cấu ngành như đã đề cập ở trên mà còn tạo
điều kiện cho phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may của Việt
Nam vốn không chỉ yếu mà còn thiếu (Nguyễn Đức Kiên, 2018). Tóm lại, với
những quy định “nới rộng” về quy tắc xuất xứ, sản xuất và xuất khẩu dệt may
Việt Nam sẽ tận dụng được những ưu đãi khi EVFTA và UKVFTA có hiệu
lực.
Thứ ba, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư vào các lĩnh
vực mà ngành còn yếu kém như nguyên phụ liệu đầu vào, dệt, nhuộm...Các
FTA thế hệ mới mang lại những điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng
môi trường kinh doanh, phát triển kinh tế theo hướng bền vững. Trong các
Hiệp định CPTPP, EVFTA và UKVFTA đều có những quy định về môi
trường, đây là sức ép lớn yêu cầu Việt Nam phải cải thiện vấn đề này trong
trao đổi thương mại với các thị trường lớn hầu hết đã ký FTA thế hệ mới với
Việt Nam. Các tiêu chuẩn cao về môi trường mà các quốc gia thành viên của
các FTA thế hệ mới đang tuân thủ khi xuất khẩu vào Việt Nam tạo nên thế
mạnh cạnh tranh của riêng các nước này. Các doanh nghiệp Việt từ đó cũng
phải tuân thủ các quy tắc này và có những sự thay đổi trong nhận thức về môi
trường cũng như thay đổi chiến lược kinh doanh cho phù hợp. Thông qua các
140
FTA thế hệ mới, các doanh nghiệp có cơ hội nhập khẩu các sản phẩm thiết bị
máy móc tiên tiến với giá thành rẻ hơn từ Vương quốc Anh, một trong những
trung tâm khoa học - kỹ thuật hàng đầu của thế giới. Các thiết bị được nghiên
cứu ngày càng có giá thành cạnh tranh hơn, ứng dụng công nghệ mới nâng
cao năng suất lao động, giảm tác hại tiêu cực đến môi trường. Đây là cơ hội
để các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng những phương thức sản xuất hiện đại
để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm áp lực đến môi trường và định hướng
nền kinh tế phát triển bền vững.
Trong thời gian đàm phán EVFTA và UKVFTA, nhiều doanh nghiệp
FDI đã coi Việt Nam như điểm đến mới quan trọng để đầu tư, chuyển giao
công nghệ và kỹ năng quản lý. Nhờ đó, Việt Nam được tiếp thu nhiều công
nghệ kỹ thuật hiện đại, tay nghề của người lao động cũng được nâng cao để
đáp ứng kịp tiến trình sản xuất. Nhờ đó, ngành công nghiệp dệt may Việt
Nam có những bước phát triển vượt bậc, tỷ lệ nội địa hóa ngày càng được
tăng cao. Các doanh nghiệp trong ngành tận dụng được các ưu đãi về xuất xứ
cho sản phẩm dệt may trong Hiệp định.
Đồng thời, với việc lợi thế cạnh tranh tăng lên nhờ giảm thuế nhập
khẩu, việc Việt Nam gia nhập CPTPP cũng là cơ hội lớn để thu hút đầu tư cho
lĩnh vực Dệt may. Hiện nhiều doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp FDI
và doanh nghiệp nhà nước lớn như Vinatex đã triển khai các dự án đầu tư, đặc
biệt là khâu đầu tư vào sản xuất nguyên liệu đầu vào như xe sợi, dệt, nhuộm
và in vải.
Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam đang ngày càng đa dạng hóa nguồn
cung cấp nguyên liệu thông qua nhập khẩu từ Nhật Bản và Hàn Quốc để xuất
khẩu sang Anh với thuế suất ưu đãi, đây sẽ là thế mạnh mà nhiều nước thành
viên ASEAN không có, từ đó, sẽ giúp Việt Nam có được năng lực cạnh tranh
141
tốt hơn so với các đối thủ từ Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN.
Hình 4.4: Đánh giá cơ hội khi tham gia các FTA thế hệ mới
Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát.
Thứ tư, thu hút và nâng cao chất lượng lao động. Với đặc thù là một
ngành thâm dụng nhân công, việc thực thi các cam kết trong các FTA thế hệ
mới, thị trường lao động ngành dệt may sẽ có cơ hội gia tăng về số lượng và
nâng cao về chất lượng (Ngô Dương Minh, 2017; Lê Thị Kiều Oanh và Đỗ
Thị Thu Hồng, 2017). Khía cạnh gia tăng về số lượng lao động dệt may (giúp
giải quyết bài toán việc làm ở nông thôn) có thể dễ dàng nhìn thấy bởi cơ hội
tăng trưởng lớn đối với ngành xuất khẩu dệt may sẽ đi kèm với nhu cầu về lao
động ngành dệt may gia tăng. Như đã bàn luận, các tiêu chuẩn mới về lao
động, môi trường và quản trị trong các hiệp định FTA thế hệ mới đòi hỏi
những cải thiện căn bản đối với lao động dệt may ở những mức độ lớn hơn, ít
nhất là đối với các tiêu chuẩn về lao động và môi trường hiện nay của Việt
Nam. Như là một hệ quả tất yếu, lao động ngành dệt may đứng trước cơ hội
không thể tốt hơn để cải thiện chất lượng, nâng cao tay nghề, tiếp cận gần hơn
với trình độ của các nước tiên tiến. Lao động Việt Nam không những phải
đảm bảo tác phong lao động công nghiệp theo yêu cầu của doanh nghiệp mà
còn phải đảm bảo yêu cầu của các đối tác, doanh nghiệp đầu tư và thị trường
nước ngoài. Bên cạnh đó, làn sóng đầu tư mới vào ngành công nghiệp phụ trợ
tại Việt Nam (lĩnh vực yêu cầu tay nghề lao động cao hơn) cũng sẽ giúp cải
thiện chất lượng và nâng tầm chất lượng lao động dệt may trong tương lai. 142
Theo đánh giá sơ bộ của Sacombank (2020), chỉ riêng lợi thế từ hai hiệp định
CPTPP và EVFTA có thể tạo thêm từ 20.000 đến 26.000 việc làm mới hàng
năm cho ngành dệt may Việt Nam.
Thứ năm, cải thiện quá trình thực thi các quy định áp dụng cho hàng
xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước thành viên FTA thế hệ mới.
Trên cơ sở các cam kết trong FTAs thế hệ mới sẽ tạo cơ sở pháp lý cho các
hoạt động trao đổi thương mại giữa Việt Nam với thị trường các nước thành
viên FTA thế hệ mới. Đòi hỏi các nhà xuất nhập khẩu phải đáp ứng đúng các
tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt. Các cam kết trong phòng vệ thương mại
(chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ) và các rào cản kỹ thuật thương mại,
biện pháp kiểm dịch động thực vật, yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm…sẽ
có những ảnh hưởng tích cực đến xuất khẩu của Việt Nam. Việc này đòi hỏi
các doanh nghiệp không chỉ phải tích cực sản xuất đủ số lượng hàng hóa đáp
ứng nhu cầu nhập khẩu của thị trường các nước đối tác trong CPTPP,
EVFTA, UKVFTA mà sản phẩm thu được phải đi kèm với chất lượng tốt và
những cam kết an toàn sức khỏe, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Dựa trên cơ sở tập trung vào việc thiết lập cơ chế hợp tác minh bạch,
xử lý nhanh các tranh chấp phát sinh mà không yêu cầu các cam kết quy định
cụ thể đối với từng trường hợp cụ thể, các FTA thế hệ mới sẽ góp phần cải
thiện quá trình thực thi các quy định liên quan. Hai quốc gia sẽ được linh hoạt
hơn và có nhiều cơ hội bình luận vào việc ban hành hay sửa đổi các quy định,
cơ hội giải quyết ôn hòa và hợp lý các tranh chấp trong quá trình thực thi…)
Tóm lại, các hiệp định FTA thế hệ mới được ký kết sẽ là cú hích mới
cho doanh nghiệp dệt may Việt Nam phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng.
Quy mô sản xuất và xuất khẩu dệt may sẽ gia tăng mạnh mẽ, trong khi đó, cơ
hội hoàn thiện trong hệ thống sản xuất, cải thiện giá trị gia tăng sẽ thúc đẩy
chất lượng sản phẩm dệt may của Việt Nam (Grumiller et at., 2018; Nguyễn
Văn Quang 2020).
Như vậy, có thể khẳng định rằng cơ hội là rất lớn đối với các doanh
143
nghiệp xuất khẩu dệt may của Việt Nam khi các hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới được thực thi. Số liệu từ Khảo sát của luận án bổ sung ý nghĩa cho
nhận định trên. Theo đó, 25.5% tổng số người được hỏi cho rằng tham gia các
hiệp định FTA thế hệ mới sẽ rất triển vọng đối với hoạt động xuất khẩu dệt
may của Việt Nam, trong đó 22.3% thuộc nhóm người không liên quan đến
hoạt động dệt may và 28.2% thuộc nhóm người liên quan đến hoạt động dệt
may. Con số ngày đối với nhận định rất triển vọng là 17.3%, trong đó cho hai
nhóm đối tượng lần lượt là 18.5% và 16.1%. Sự khác biệt tương đối nhỏ giữa
hai nhóm có hoạt động và không hoạt động trong ngành dệt may khi nhận
định về triển vọng của xuất khẩu dệt may trong bối cảnh hình thành và thực
thi các hiệp định FTA thế hệ mới cho thấy bức tranh chung và đồng nhất về
triển vọng phát triển của xuất khẩu dệt may Việt Nam trong thời gian tới.
4.3.2. Thách thức đối với xuất khẩu dệt may từ các FTA thế hệ mới
Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tất yếu sẽ
mang lại cơ hội lớn cho tăng trưởng xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Tuy
nhiên, trong một môi trường cạnh tranh mới ở đó mức độ hội nhập sâu hơn,
rộng hơn, các thị thường lớn hơn và tuân thủ các quy tắc, tiêu chuẩn cao hơn
chắc chắn ngành dệt may Việt Nam sẽ phải đương đầu với nhiều thách thách
khốc liệt hơn. Hình 3.4 ở trên phần nào cũng lột tả được nhận định của người
dân về thách thức đối với xuất khẩu dệt may khi Việt Nam tham gia các hiệp
định FTA thế hệ mới. Có lý do để nghi ngại rằng cho thực tế rằng có đến hơn
41% số người được hỏi (42% đối với người hoạt động ngoài ngành và 41 đối
với người hoạt động trong ngành) trả lời rằng tham gia các FTA thế hệ mới
không mang lại nhiều cơ hội và triển vọng cho xuất khẩu dệt may của Việt
Nam, thậm chí có đến gần 10% số người được hỏi khẳng định sẽ không có
triển vọng. Điều này có thể xuất phát từ những thách thức mà xuất khẩu dệt
may Việt Nam có thể gặp phải khi Việt Nam tham gia các hiệp định FTA thế
hệ mới. Cụ thể:
Thứ nhất, những cam kết về xuất xứ, hàng rào kỹ thuật, các điều khoản
về lao động, môi trường gây ra sức ép, khó khăn cho một số quốc gia xuất
144
khẩu hàng dệt may trong đó có Việt Nam do chưa đủ điều kiện đáp ứng được
những quy định trong các FTA. Như đã nêu trên, quy tắc xuất xứ trong các
FTA thế hệ mới bên cạnh cơ hội là những thách thức không nhỏ đối với xuất
khẩu dệt may Việt Nam. Đặc biệt quy tắc xuất xứ quy định trong CPTPP. Yêu
cầu về xuất xứ, hàng rào kỹ thuật trogn CPTPP đòi hỏi ngành công nghiệp dệt
may Việt Nam phải đầu tư vào phải triển ngành sợi, vải. Phát triển sản xuất
nguyên phụ liệu trong nước sẽ gặp khó khăn trong giai đoạn đầu vì nước ta từ
trước đến nay phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, nhập
khẩu vải và nguyên phụ liệu ngành dệt may hiện đang có giá trị khoảng 40%
giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc, trong đó 70% vải nhập khẩu phục
vụ cho mục đích may xuất khẩu. Chi phí cho nhập khẩu nguyên phụ liệu đang
chiếm khoảng 30% tổng giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp. Ngoài ra nguồn
nguyên liệu sản xuất trong nước chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất
lượng và kỹ thuật.
Hiện nay, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải nhập khoảng 80%
nguyên liệu đầu vào từ Trung Quốc, Hàn Quốc là các quốc gia không tham
gia đàm phán CPTPP. Nguyên nhân công nghiệp sản xuất nguyên liệu đầu
vào, công nghiệp phụ trợ cho các ngành thời trang chưa phát triển là do hàng
xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là gia công thuê, nguyên liệu do các hãng
nước ngoài chỉ định. Trong khi đó, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ,
sản xuất vật liệu nguồn đòi hỏi phải có quy mô thị trường lớn mới có thể
mang lại hiệu quả. Một số lĩnh vực như dệt, nhuộm, thuộc da cũng là những
ngành đòi hỏi đầu tư lớn và đáp ứng các tiêu chuẩn cao về môi trường nên các
nguồn lực trong nước khó có thể đẩy mạnh đầu tư. Bên cạnh những khó khăn
trên, theo một số chuyên gia thì nhiều doanh nghiệp dệt may vẫn hoạt động
tốt theo hình thức gia công và chưa muốn đầu tư chiều sâu bởi không đủ
nguồn lực tài chính cũng như kinh nghiệm, quan hệ trên thị trường quốc tế. Vì
vậy, vấn đề đầu tư mở rộng để nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động trong
sản xuất và đáp ứng các tiêu chuẩn của các thị trường lớn vẫn sẽ là một khó
145
khăn đáng kể với các doanh nghiệp trong nước.
Thứ hai, thách thức từ yêu cầu về tính minh bạch và các quy tắc truy
xuất nguồn gốc nghiêm ngặt. Hiệp định EVFTA đề cao tính minh bạch và
trung thực. Nếu bên phía EU phát hiện doanh nghiệp dệt may Việt Nam có
hành vi cố tình gian dối hoặc vô tình gian dối về nguồn gốc hàng hóa, nguyên
phụ liệu theo quy định về quy tắc xuất xứ, thậm chí hành vi đó không xảy ra
vào thời điểm hiện tại, bên phía đối tác EU có thể truy ngược lại những đơn
hàng trong quá khứ để xác minh nguồn gốc thì cả ngành dệt may sẽ phải chịu
những chế tài trừng phạt từ EU. Nếu các doanh nghiêp dệt may Việt Nam
hoạt động đơn lẻ rồi đi theo lợi ích cá nhân, thì không chỉ gặp khó khăn khi
tham gia vào thị trường EU mà còn tạo ra rủi ro cho cả ngành dệt may của
Việt Nam. Đây cũng là một trong những thách thức đối với xuất khẩu dệt may
Việt Nam.
Bên cạnh đó, thị trường Anh đòi hỏi rất cao về tiêu chuẩn và yêu cầu
chất lượng đối với các sản phẩm nhập khẩu, buộc Việt Nam phải nâng cao
chất lượng sản phẩm và đảm bảo tính đồng bộ của sản phẩm để chinh phục thị
trường kén chọn. Việt Nam phải tuân thủ Quy tắc xuất xứ (RO) khi xuất khẩu
sang Anh, đặc biệt là các quy định về truy xuất nguồn gốc trong nước ngày
càng trở nên nghiêm ngặt. Trong UKVFTA, khâu dệt vải và may phải được
thực hiện ở Việt Nam hoặc ở các quốc gia đã ký kết FTA với UK, vì vậy
nguồn cung cho các sản phẩm nguyên liệu đầu vào sẽ khắt khe và hạn chế
hơn. Trước đây, Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu chủ yếu từ Trung Quốc thì
nay sẽ phải tìm đến các nhà cung ứng khác để phù hợp được yêu cầu từ Anh.
Để có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường UK, dệt may phải đáp ứng quy
tắc xuất xứ tương đối chặt, từ sợi hoặc vải trở đi, hoặc từ vải trở đi trong khi
nước ta chưa có ngành dệt nhuộm và vẫn phải dựa vào nhập khẩu các nguyên
liệu chính để sản xuất hàng xuất khẩu.
Thứ ba, một trong những thách thức lớn nhất mà các xuất khẩu dệt may
có thể gặp phải khi Việt Nam tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới đó
chính là khả năng cạnh tranh ngành trên thị trường quốc tế. Kết quả khảo sát
146
của Luận án cho thấy có đến 15.5% số người được hỏi (tương đương với 80
trên tổng số 518 người) trả lời rằng cạnh tranh từ các đối tác bên ngoài là
thách thức lớn nhất đối với các việc xuất khẩu dệt may Việt Nam. Đáng chú
ý, đánh giá này từ khảo sát cho thấy sự nhất quán cao giữa cả hai đối tượng
được hỏi hoạt động trong ngành dệt may và không hoạt động trong ngành dệt
may. Điều đó ngụ ý rằng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu
dệt may sẽ đứng trước những khó khăn, thách thức lớn trong cuộc chơi được
điều chỉnh bởi các tiêu chuẩn có tính chất toàn cầu của các hiệp định FTA thế
hệ mới. Theo nội dung cam kết của các FTA thế hệ mới, điển hình là CPTPP
và EVFTA thì nếu các doanh nghiệp dệt may Việt Nam muốn tận dụng hiệu
quả cao nhất thì phải hình thành các chuỗi cung ứng bên trong, trong đó sự
liên kết các khâu trong sản xuất là vô cùng quan trọng. Trong ngắn hạn, có thể
dễ dàng nhận thấy sự liên kết này của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là
rất lỏng lẻo và yếu. Do đó, trong dài hạn hình thành các chuỗi cung ứng hoàn
chỉnh từ thiết kế nguyên phụ liệu, may, phân phối phải được đặc biệt nhấn
mạnh và coi trọng trong chiến lược phát triển. Cần phải tận dụng tốt cơ hội
tham gia các FTA thế hệ mới để gia tăng năng lực cạnh tranh, xây dựng chiến
lược phát triển bền vững trong tương lai.
Bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh ngành là thách thức mang tính
dài hạn và đòi hỏi nhà nước và các doanh nghiệp dệt may cần có những bước
đi chiến lược để biến thách thức thành cơ hội khi các hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới được thực thi. Tuy nhiên, thách thức được xem là lớn nhất và
hiện hữu nhất hiện nay đối với ngành sản xuất và xuất khẩu ngành hàng dệt
may của Việt Nam là làm thế nào để tiếp cận được thị trường các nước thành
viên tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới, trong khi nguyên phụ liệu phục
vụ sản xuất hàng xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam lại chủ yếu nhập
khẩu từ các thành viên không tham gia các hiệp định thương mại thế hệ mới
với Việt Nam, ở đây là Trung Quốc.
Khi các hiệp định FTA thế hệ mới có hiệu lực đồng nghĩa với việc Việt
Nam phải mở cửa cho các doanh nghiệp thành viên tham gia vào thị trường
147
Việt Nam, nguy cơ từ việc mở cửa sẽ hiện hữu đối với các doanh nghiệp dệt
may ngay trên thị trường nội địa. Theo đánh giá của Hiệp hội dệt may Việt
Nam thì thực trạng ngành dệt may Việt Nam hiện nay tự thân phơi bày những
yếu điểm “chí mạng”, trở thành thách thức lớn không chỉ trong bối cảnh hình
thành các FTA thế hệ mới mà còn cả chiến lược phát triển bền vững trong
tương lai. Đó là, tỷ tọng tích lũy ngành chưa cao, các doanh nghiệp dệt may
chủ yếu mới đáp ứng được nhu cầu về phân khúc khâu may (khâu không chỉ
cần sự đầu tư thấp, mà còn yêu cầu thấp về lao động, kỹ thuật và đặc biệt dễ
dịch chuyển khi có biến động từ các tác nhân bên ngoài). Dẫn chứng thực tế
này, theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, hiện nay hầu hết các công ty sản xuất
xuất khẩu dệt may Việt Nam đều phải sử dụng ít nhất 40-50% nguyên phụ
liệu nhập từ các nước không phải thành viên của CPTPP và EVFTA, trong
khi đó nguồn cung trong nước không đủ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất. Sự
liên kết chuỗi cung ứng thêm một lần nữa trở thành thách thức lớn đối với
xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Số liệu khảo sát của Luận án cung cấp thêm
bằng chứng cho nhận định về thách thức thiếu nguồn cung nguyên liệu và sự
hạn chế của các ngành công nghiệp phụ trợ. Theo đó, có đến 17.1% số người
hoạt động trong ngành dệt may cho rằng ngành công nghiệp phụ trợ chưa đáp
ứng được yêu cầu là thách thức lớn nhất khi các hiệp định FTA thế hệ mới
được thực thi, con số ngày đối với sự phụ thuộc nguồn nguyên liệu từ bên
ngoài là 18.6%. Mặc dầu có nhưng nhận định khác nhau, nhưng nhóm người
được hỏi không hoạt động trong lĩnh vực dệt may cũng chỉ ra rằng hai yếu tố
trên thách thức lớn đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam (lần lượt 2.9 và
148
9.7%).
Hình 4.5: Đánh giá thách thức đối với xuất khẩu dệt may Việt Nam
Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát
Thứ tư, một thách thức không thể không đề cập là xu hướng đầu tư rất
nhanh và mạnh của các nhà đầu tư nước ngoài với lợi thế lớn về công nghệ,
tài chính và thị trường sẽ cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp dệt may
Việt Nam (Gereffi and Memedovic, 2003; Goto et al, 2011; De Marchi et al,
2018). Xu hướng này được xem là hướng đi tắt đón đầu của các nhà đầu tư
nhằm tận dụng lợi thế về yêu cầu xuất xứ khi các hiệp định FTA thế hệ mới
được thực thi. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hầu như đều yếu và thiếu
về tài chính, công nghệ, nhân lực và phần nào đó là thị trường. Theo Hiệp hội
dệt may Việt Nam, hơn 90% doanh nghiệp sản xuất dệt may ở Việt Nam là
doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng tích tụ tài chính thấp, tỷ lệ lại tái đầu tư
chưa cao. Trong bối cảnh mới, lợi thế có được từ việc thực thi các FTA thế hệ
mới sẽ không được chuyển về các doanh nghiệp dệt may nội địa, mà thực chất
sẽ được chuyển sang các doanh nghiệp dệt may đầu tư nước ngoài. Thực tế
này không chỉ là thách thức lớn đối với lợi ích thực mà các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam được hưởng mà còn dẫn tới thách thức mới trong tái cấu trúc
và chuyển đổi ngành dệt may theo hướng hiện đại và bền vững của Việt Nam
trong thời gian tới. Khảo sát của Luận án cho thấy, 14.8% số người được hỏi
cho rằng trình độ khoa học kỹ thuật là những thách thức lớn nhất mà các
doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam phải vượt qua, trong khi đó 14.9% 149
số người được hỏi cho rằng năng lực tài chính mới là thách thức lớn nhất.
Thực tế này phần nào tái khẳng định năng lực hạn chế của các doanh nghiệp
dệt may nội địa trong tương quan với các đối thủ dệt may trên thế giới.
Suốt trong thời gian qua, các doanh nghiệp FDI trong các lĩnh vực sản
xuất hàng thời trang đã chiếm lĩnh ưu thế tuyệt đối so với các doanh nghiệp
trong nước. Trước những cơ hội CPTPP mang lại, Hiện nay, nhiều doanh
nghiệp nước ngoài tại các nước không tham gia CPTPP như Đài Loan,
Hongkong, Hàn Quốc cũng đã quan tâm đầu tư vào thị trường Việt Nam Điển
hình như Công ty Kyungbang (Hàn Quốc) đã đưa vào hoạt động cơ sở sản
xuất sợi tại tỉnh Bình Dương, vốn đầu tư giai đoạn 1 là 40 triệu USD và sẽ
tiếp tục đầu tư thêm 160 triệu USD để trở thành nhà máy sợi lớn nhất châu Á;
nguồn vốn FDI còn đến từ các doanh nghiệp như Texhong (Hongkong),
Mitsui (Nhật Bản), Sunrise (Hàn Quốc), Hyosung (Hàn Quốc - nhà sản xuất
spandex lớn nhất trên thế giới)… Như đã phân tích ở trên, hiện nay các hãng
dệt may quốc tế vẫn nắm chi phối về nguồn nguyên liệu cũng như thị trường
đầu ra và chỉ thuê các nước kém phát triển hơn gia công hàng hóa. Vì vậy,
bên cạnh lợi ích về vấn đề tạo công ăn việc làm và góp phần phát triển kinh tế
tại địa phương thì các doanh nghiệp này cũng tạo nên cạnh tranh về nguồn lực
với các doanh nghiệp trong nước và có thể đẩy các chi phí đầu vào tăng lên.
Nếu không có định hướng chính sách hợp lý cũng như những nỗ lực từ bản
thân các doanh nghiệp trong nước thì rất có thể các chính sách ưu đãi sẽ được
các doanh nghiệp FDI tận dụng triệt để trong khi các doanh nghiệp trong nước
vẫn khó tận dụng để phát triển.
Thứ năm, thách thức từ năng suất và chất lượng lao động của ngành dệt
may Việt Nam. Mặt khác, trong bối cảnh hình thành và thực thi các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới, năng suất lao động và chất lượng lao động
ngành dệt may cũng sẽ là thách thức lớn đối với ngành dệt may của Việt
Nam. Thông tin từ Hiệp hội dệt may Việt Nam phơi bày thực tế đáng buồn
rằng năng suất lao động ngành dệt may của Việt Nam thậm chí còn thấp hơn
150
cả Campuchia và Ấn Độ chứ chưa nói gì đến các đối thủ trực tiếp của Việt
Nam như Trung Quốc, Indonesia hay Bangladesh. Số liệu khảo sát từ thực tế
cho thấy có tới 19.6% số người hoạt động trong ngành dệt may cho rằng thiếu
nguồn nhân lực cao là thách thức lớn đến đối với xuất khẩu dệt may của Việt
Nam (cao nhất trong so sánh với các thách thức khác), trong khi đó cũng có
tới 12.2% số người được hỏi không hoạt động trong ngành dệt may đồng tình
với nhận định này. Về mặt lý thuyết, năng suất lao động là nhân tố quan trọng
quyết định giá thành sản phẩm, chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Năng
suất lao ngành dệt may của Việt Nam thấp tất yếu sẽ đẩy giá thành sản phẩm
ngành hàng dệt may của Việt Nam lên cao một cách tương đối so với hàng
hóa cùng chủng loại của các nước khác, ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược
phát triển dài hạn không chỉ của từng doanh nghiệp mà của cả ngành dệt may.
Như đã trình bày ở trên, tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới cũng là cơ
hội cho Việt Nam cải thiệp năng suất lao động, chất lượng lao động ngành dệt
may, tuy nhiên, nếu không xử lý tốt các thách thức thì cơ hội này sẽ không
những không còn mà còn trở thành thách thức trọng yếu ngăn cản đà phát
triển của ngành dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng của Việt
Nam.
Hình 4.6: Thách thức khi Việt Nam thực thi các FTA thế hệ mới
Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát
Thứ sáu, một thách thức cũng hết sức đáng quan ngại không đến từ bản
thân nội tại của các doanh nghiệp mà đến từ nhận thức và tầm hiểu biết về các 151
hiệp định FTA thế hệ mới. Theo kết quả từ khảo sát cho thấy nhiều người
hoạt động trong ngành dệt may còn rất mơ hồ về các hiệp định FTA thế hệ
mới. Theo đó, hầu hết số người được hỏi đều cho rằng chỉ hiểu biết sơ qua về
các hiệp định FTA thế hệ mới, thậm chí một số người trả lời là không biết,
trong khi đó tỷ lệ số người tìm hiểu kỹ và rất kỹ các hiệp định FTA thế hệ
mới rất thấp trong tổng thể mẫu khảo sát. Cụ thể, với mức độ hiểu biết các
hiệp định FTA thế hệ mới với thang điểm cao nhất là 5, thấp nhất là 0, đối với
CPTPP có 2.51% số người được hỏi trả lời ở thang điểm 0, 34.17% thang
điểm 1, 23.94% thang điểm 2, 28.76% thang điểm 3, 10.62% thang điểm 4 và
chỉ 1.93% thang điểm 5. Khảo sát đưa ra kết quả tương tự đối với các hiệp
định EVFTA, VKFTA, EAEU và RCEP (xem thêm Hình 3.7). Thực tế này sẽ
đặt ra thách thức vô cùng lớn đối với không chỉ nhà nước trong việc giúp
người dân hiểu hơn về các hiệp định FTA thế hệ mới mà cả đối với các doanh
nghiệp xuất khẩu dệt may trong thời gian tới.
Hình 4.7: Mức độ hiểu biết của người dân về các FTA thế hệ mới
Nguồn: Tính toán của tác giả từ khảo sát
Bên cạnh một số các thách thức nêu trên, xuất khẩu dệt may Việt Nam
cũng đối diện nhiều vấn đề khác chẳng hạn như cơ chế quản lý nhà nước có
thể chưa đáng ứng với những đòi hỏi cao của các tiêu chuẩn mới, hay chất
lượng sản phẩm còn nhiều hạn chế trong tương quan so sánh. Tuy nhiên, có
152
sự liên kết nội sinh giữa những vấn đề tồn tại này đối với các thách thức đã
nêu, do đó, nếu xử lý tốt các thách thức trên, đồng thời một số vấn đề khác
cũng sẽ được giải quyết.
4.3.3. Điểm mạnh của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam
Để xác định triển vọng xuất khẩu dệt may Việt Nam trong đó trình thực
thi các hiệp định FTA thế hệ mới trong thời gian tới, Luận án phân tích điểm
mạnh, yếu được đặt trong bối cảnh hình thành và thực thi các Hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới đối với xuất khẩu dệt may Việt Nam, chứ
không phải phân tích toàn ngành sản xuất dệt may của Việt Nam.
Thứ nhất, xuất khẩu dệt may của Việt Nam có các điểm mạnh đến từ
nguồn nhân công dồi dào, chi phí lao động giá rẻ, do đó, sản phẩm dệt may
xuất khẩu không chỉ có nguồn cung lớn về số lượng mà còn có giá cả tương
đối rẻ trong so sánh với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp bởi giá công nhân của
ngành may mặc của Việt Nam rẻ nhất so với các nước trong khu vực và thế
giới. Tiền lương công nhân trong ngành hiện nay chỉ cao gấp 2 lần tiền lương
tối thiểu ( khoảng 150000VND). Giá nhân công rẻ-> chi phí thấp-> giá thành
sản phẩm rẻ-> tạo lợi thế cạnh tranh trong sản phẩm may mặc.
Bên cạnh đó, người lao động Việt Nam cần cù chăm chỉ và khéo léo
nên có những sản phẩm yêu cầu tay nghề thủ công rất độc đáo đặc sắc và có
sự khác biệt -> tạo lợi thế cạnh tranh cũng như vậy giúp Việt Nam có những
thuận lợi lớn trong xuất khẩu và trong việc tạo dựng các làng nghề để phát
triển ngành.
Thứ hai, ngành may mặc Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao, số lượng
các doanh nghiệp may liên tục tăng qua các năm và quy mô của doanh nghiệp
ngành càng lớn cả về mọi nguồn lực. Giá trị xuất khẩu 260 triệu USD/tháng
và tăng ở các thị trường chính là Mỹ, EU, Nhật
Thứ ba, ngành dệt may Việt Nam có thế mạnh trong việc sản xuất các
sản phẩm dệt kim. Đây là chủng loại mà người tiêu dùng Mỹ, EU rất ưa
chuộng. Bên cạnh đó, trong phân khúc tầm trung và phổ thông các sản phẩm
153
dệt may, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được đánh giá tương đối cao về
chất lượng và độ an toàn (Thu Hoài, 2016; Jabobs et al, 2016; Nguyễn Văn
Quang, 2020).
Thứ tư, một số thương hiệu được khẳng định trên thị trường trong và
ngoài nước: May 10, May Việt Tiến, Dệt Kim Đồng Xuân, Gấm Thái Tuấn,
áo sơ mi An Phước… Những thương hiệu này không chỉ đứng vững trong thị
trường trong nước mà còn giúp ngành dệt may Việt Nam tạo dựng tên tuổi
trên thị trường nước ngoài
Thứ năm, ngành may mặc được đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại với
những máy cắt, máy ép, là hơi…giảm bớt các công đoạn thủ công.
Thứ sáu, có chiến lược phát triển ngành dệt may nói chung và định
hướng xuất khẩu dệt may nói riêng của Chính phủ (Macintosh, 2013; Nadvi et
al, 2004; Nguyen et al., 2015). Với nền tảng và khung khổ pháp lý vững chắc,
các sản phẩm dệt may của Việt Nam sẽ có thêm một điểm tựa vững chắc
trong các hoạt động xuất khẩu của mình.
4.3.4. Điểm yếu của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam
Bên cạnh những điểm mạnh nêu trên, xuất khẩu dệt may của Việt Nam
vẫn tồn tại nhiều điểm yếu.
Thứ nhất, nguyên vật liệu ngành vẫn còn phải nhập khẩu và ngành dệt
có tốc độ tăng trưởng chậm hơn ngành may nên ngành may không có sự chủ
động trong sản xuất kinh doanh. Tình trạng này còn làm ảnh hưởng tới các
đơn đặt hàng về thời gian, chất lượng và hiệu quả kinh tế tỷ lệ nội địa hóa các
sản phẩm ngành may còn thấp và hiệu quả kinh tế chưa cao. Theo Hiệp hội
Dệt may Việt Nam thì có đến hơn 75% nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất
ngành dệt may của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải nhập khẩu từ
Trung Quốc và Đài Loan. Như vậy, thực tế này cho thấy ngành dệt may của
Việt Nam vẫn còn những điểm yếu “chí mạng”, có khả năng trở thành điểm
nghẽn cho phát triển bền vững, đồng thời cũng chưa thực hiện được chức
năng hỗ trợ cho chính mình.
Năm 2019, Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc gần 60% vải, 55% sợi
154
và 45% phụ liệu phục vụ sản xuất hàng may mặc tiêu dùng nội địa và xuất
khẩu. Với bông nhập khẩu, ngành dệt may nhập lớn nhất từ Mỹ với 65,77%.
Phụ thuộc quá lớn nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài dễ gây ra những rủi
ro cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ gần đây nhất
là ảnh hưởng dịch bệnh Covid -19 đã làm đứt, gãy nguồn cung ứng nguyên
liệu cho doanh nghiệp Việt Nam. Chiến thương mại Mỹ - Trung khi Mỹ áp
thuế cao đối với hàng dệt may Trung Quốc sẽ xuất hiện xu hướng chuyển tải
bất hợp pháp, gian lận xuất xứ của các doanh nghiệp Trung Quốc sang Việt
Nam. Đây chính là nguy cơ để Mỹ có thể truy xuất nguồn gốc, đánh thuế
chống lẩn tránh đối với hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ.
Thứ hai, giá lao động rẻ nhưng chất lượng lao động không cao, đặc biệt
lao động có trình độ chuyên môn thấp chiếm 60% nên nâng suất lao động
thấp, so với các nước trong khu vực thì năng suất lao động của ngành dệt may
nước ta chỉ bằng 2/3. Lương thấp gây ra tình trạng di chuyển lao động trong
cùng ngành hoặc ra khỏi ngành làm cho việc đào tạo chuyên môn gặp nhiều
khó khăn. Ngoài ra công ty có khả năng xuất khẩu hàng may mặc và gia công
là chủ yếu chứ không thực hiện xuất khẩu trực tiếp. Chi phí cho nhân công rẻ
nhưng chi phí bình quân/1 đơn vị sản phẩm vẫn cao. Do đó giá các mặt hàng
dệt may nói chung của chúng ta vẫn cao hơn so với Ấn Độ, Trung Quốc,
Indonesia khoảng 30%-40%. Đồng thời hệ thống tiêu chuẩn chất lượng chưa
được chuẩn hóa trong ngành nên mỗi công ty trong ngành có định mức về tiêu
chuẩn khác nhau mà không thống nhất trong toàn ngành.
Thứ ba, tuy ngành dệt may có sự đầu tư lớn nhưng chưa đồng bộ. Có
những loại máy móc thiết bị đã quá lạc hậu nhưng còn tận dụng nên năng suất
không cao. Khả năng tự thiết kế còn yếu, phần lớn là làm theo mẫu mã đặt
hàng của phía nước ngoài để xuất khẩu. Đồng thời, chưa xây dựng được
thương hiệu riêng cho ngành dệt may của ngành dệt may của Việt Nam nên
chưa có hệ thống các kênh phân phối rộng rãi trên thị trường nước ngoài.
Theo đánh giá của VITAS, hiện nay Việt Nam chưa có thương hiệu dệt may
vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, trong khi đó một số doanh nghiệp dệt may
155
trong nước cố gắng xây dựng thương hiệu cho riêng mình nhưng vẫn chưa
xác lập được vị trí, thậm chí chỗ đứng ngay bên trong thị trường nội địa
cũng bị cạnh tranh khốc liệt từ các đối tác bên ngoài (Nguyễn Hoàng Giang,
2014; Nayak et al., 2019).
Thứ tư, năng lực sản xuất còn nhiều hạn chế. Khâu dệt vải của nước ta
tạo ra khoảng 1,5 tỷ mét vải/năm (chiếm 18% nhu cầu). Trong khi đó nguồn
nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc (khoảng 80%);
nhập khẩu từ các nước TPP chiếm 5,3%. Mặc dù dệt may là ngành có thế
mạnh nhưng Việt Nam tập trung chủ yếu vào phương thức gia công xuất
khẩu, chiếm khoảng 70%, phương thức mua nguyên liệu, bán thành phẩm
theo khách hàng chỉ định hoặc tự khai thác (FOB I và FOB II) chỉ ở khoảng
20%; phương thức sản phẩm bao gồm cả thiết kế (ODM) là 9% và phương
thức sản xuất và tiếp thị bán hàng trực tiếp tại các trung tâm thương mại nước
ngoài (OBM) chỉ vỏn vẹn 1%. Vì vậy, giá trị tăng thêm của hàng dệt may
xuất khẩu chỉ chiếm trên 50%. Ngành dệt may vẫn còn tập trung quá lớn vào
loại hình gia công tại khâu đoạn may, vốn có giá trị gia tăng thấp và mức độ
thâm dụng lao động cao, trong khi nguồn lao động trong nước hạn chế. Đây là
điểm bất cập lớn và lâu dài của dệt may Việt Nam.
Thứ năm, mặc dù trải qua giai đoạn dài xây dựng và phát triển ngành
dệt may Việt Nam bị thụ động trong nguồn cung nguyên phụ liệu phục vụ
sản xuất hàng xuất khẩu Như vậy, trong bối cảnh các hiệp định FTA thế hệ
mới được thực thi, xuất khẩu dệt may của Việt Nam dự báo tăng trưởng cao,
đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp dệt may sản xuất định hướng xuất
khẩu không chủ động được nguồn hàng xuất khẩu. Yếu điểm này có nguồn
gốc từ cơ cấu ngành dệt may của Việt Nam có vấn đề, khi chúng ta thời gian
dài đã quá chú trọng vào đầu tư sản xuất theo phương thức gia công mà
không chú trọng cân đối cấu trúc ngành (Tran, 2012; Wang et al, 2017).
Khuyết điểm trong chuỗi cung ứng khiến cho quá phụ thuộc vào nguyên phụ
liệu nhập khẩu, dẫn tới thụ động trong chiến lược xuất khẩu.
Thứ sáu là điểm yếu về cơ chế chính sách liên quan đến các hoạt động
156
xuất khẩu dệt may của doanh nghiệp (Nguyen and Le, 2005; Nguyen et al,
2014; Nguyen et al, 2020). Theo VITAS, các thủ tục hải quan và các vấn đề
liên quan đến các cơ quan nhà nước chiếm thời lượng rất lớn trong chu trình
xuất khẩu sản phẩm dệt may, nó làm giảm tính cạnh tranh của hàng hóa dệt
may trong tương quan đối với các đối tác. Theo số liệu tổng hợp và công bố
bởi VITAS, thời gian cho chu trình nhập khẩu nguyên phụ liệu của các doanh
nghiệp trong nước kéo dài trong khoảng 25-30 ngày, trong đó vận chuyển
quốc tế là 15-25 ngày, thủ tục hải quan từ 3-7 ngày và vận chuyển trong nước
là 2-3 ngày. Như vậy, chỉ tính riêng thời gian làm thủ tục hải quan đối với
hàng nguyên phụ liệu nhập khẩu và sản phẩm xuất khẩu đã lên tới 4-6 ngày,
trong khi đó,Trung Quốc chỉ chưa đầy 1.5 ngày cho toàn bộ hai quá trình trên
(Nguyệt A. Vũ, 2014; Bộ Công thương, 2019).
Thứ bảy, hạn chế về quy mô và nguồn lực. Đa số các doanh nghiệp Việt
Nam trong các lĩnh vực sản xuất dệt may, da giày hiện nay đều có quy mô
nhỏ và chỉ tập trung gia công, nguồn nguyên liệu và thị trường hoàn toàn phụ
thuộc vào đối tác nước ngoài. Để đầu tư theo hướng mở rộng khả năng chủ
động trong chuỗi giá trị (chủ động nguyên liệu đầu vào, thị trường đầu ra) đáp
ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu sẽ đòi hỏi phải có
kinh phí đầu tư lớn. Để có thể xây dựng một khu sản xuất xe sợi - dệt nhuộm -
may khép kín có quy mô lớn thì tổng vốn đầu tư có thể lên tới hàng nghìn tỷ
đồng. Một quy trình thuộc da và sản xuất sản phẩm co quy mô trung bình
cũng cần tới vài trăm tỷ đồng.. Bên cạnh khó khăn về vốn, các lĩnh vực sản
xuất vật liệu nguồn cho dệt may, da giày cũng vấp phải khó khăn về vấn đề
môi trường do sử dụng nhiều chất hóa học cũng như tạo ra các chất thải khó
xử lý. Việc xây dựng một quy trình xử lý chất thải, nếu không có quy hoạch
đồng bộ, có thể còn lớn hơn việc xây dựng một nhà máy sản xuất mới.
Trong thời gian tới, ngành dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều
thách thức, trong đó lợi thế về lao động dồi dào và chi phí lao động thấp sẽ
giảm dần. Dưới tác động của cuộc CMCN 4.0, ngành dệt may Việt Nam cần
phải đổi mới công nghệ, xây dựng chiến lược đào tạo, chuyển đổi nguồn nhân
157
lực chất lượng cao một cách kịp thời.
4.4. Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối
cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
4.4.1. Nhóm giải pháp vĩ mô từ phía nhà nước
Nhóm giải pháp vĩ mô từ phía nhà nước là nhóm các biện pháp phát
triển chung cho ngành dệt may, trong đó tác giả sẽ nhấn mạnh đến một số yếu
tố tác động đến việc thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm dệt may của Việt Nam.
Nhóm giải pháp vĩ mô được xây dựng và phân tích trong luận án dựa trên
nhóm giải pháp vĩ mô mà Bộ Công thương đã đề cập trong Quyết định
3218/QĐ-BCT ngày 11/04/2014, tuy nhiên được đặt trong bối cảnh thực hiện
các hiệp định FTA thế hệ mới.
4.4.1.1. Nhà nước cần có sự hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu tiếp
cận thị trường
Nhà nước cần thúc đẩy mở rộng các văn phòng đại diện, tăng cường sự
hiện diện thương mại tại các quốc gia EU và các quốc gia thành viên của
CPTPP, xây dựng chiến lược xúc tiến thương mại, trong đó nhấn mạnh đến
việc kết nối với các doanh nghiệp sở tại có năng lực về bán buôn, bán lẻ, đặc
biệt các doanh nghiệp có kênh phân phối riêng đủ mạnh. Đây cũng là cách
thức hữu hiệu để nhà nước có thể giúp doanh nghiệp quảng bá thương hiệu
sản phẩm đến bạn hàng quốc tế. Số liệu khảo sát từ Luận án cho thấy có
17.39% số người được hỏi cho rằng nhà nước cần thực hiện các biện pháp hỗ
trợ thông tin tiếp cận thị trường nước ngoài, đặc biệt có đến hơn 12% số
người cho rằng các chính sách liên quan tiếp cận thông tin thị trường thông
nước cũng cần được nhà nước quan tâm hỗ trợ. Trong khi đó, khi được hỏi
doanh nghiệp cần làm gì để nắm bắt cơ hội từ các hiệp định FTA thế hệ mới,
13.51% số người trả lời doanh nghiệp cần nâng cấp kênh marketing nhằm tiếp
xúc và mở rộng thị trường mới. Điều này cho thấy, nhóm giải pháp thị trường
tương đối quan trọng đối với chiến lược thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt
Nam.
Thực tế cho thấy xuất khẩu dệt may của Việt Nam hiện nay chủ yếu
158
theo phương thức hợp đồng thông qua các kênh trung gian đến từ các quốc
gia như Hồng Kong, Hàn Quốc, hoặc Đài Loan, mà ít chú trọng hay đúng hơn
là chưa tìm được các kênh xuất khẩu trực tiếp đến các thị trường nhập khẩu
(Oteifa, 2000; Nguyen, 2016; Nguyễn Thị Thúy, 2014; Trương Thị Phúc
Nguyên, 2020). Trong khuôn khổ hiệp định EVFTA và CPTPP, nhà nước cần
tạo lập được cầu nối để các doanh nghiệp Việt Nam có thể thâm nhập trực
tiếp vào các thị trường này nhằm tránh bị phụ thuộc vào các bên trung gian.
Bên cạnh đó, cải cách thủ tục hành chính nhấn mạnh đến lĩnh vực thuế, hải
quan theo hướng đơn giản hóa các thủ tục là cách thức tốt nhất để giúp các
doanh nghiệp xuất khẩu dệt may rút ngắn thời gian xuất khẩu, giảm chi phí
giấy tờ, đồng thời tăng tính cạnh tranh trên trường quốc tế.
Đối với nhóm giải pháp này, Nhà nước cũng cần chú trọng đến việc
nâng cao nhận thức và phổ biến các kiến thức luật thương mại nói chung, và
các điều khoản cam kết trong các hiệp định thương mại FTA thế hệ mới, đặc
biệt là hai hiệp định EVFTA và CPTPP tới các doanh nghiệp xuất khẩu dệt
may, giúp các doanh nghiệp có những kiến thức cần thiết, chuẩn bị các
phương cách để vượt qua các rào cản của các thị trường nhập khẩu.
Hình 4.8: Ưu tiên hỗ trợ từ nhà nướcđối với
doanh nghiệp xuất khẩu dệt may
Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát
4.4.1.2. Nhà nước tang cường hỗ trợ đầu tư phát triển ngành dệt may xuất
159
khẩu
Chỉ khi nào thúc đẩy được các hoạt động xuất khẩu thì nền tảng sản
xuất ngành dệt may trong nước phải phát triển đủ mạnh làm bệ phóng cho các
doanh nghiệp hướng ra bên ngoài. Để làm được điều đó, Việt Nam cần xác
định bản đồ quy hoạch đầu tư chi tiết trên cả hai khía cạnh địa bàn sản xuất và
lĩnh vực sản xuất, đồng thời thực hiện các chính sách khuyến khích đầu tư xây
dựng cụm khu công nghiệp dệt may, xây dựng được chuỗi sản xuất và mạng
lưới tiêu thụ sản phẩm. Tức là, thúc đẩy mạng liên kết giữa các doanh nghiệp
trong chuỗi giá trị, thông qua phát triển các cụm, khu vực liên kết dệt may
(Le and Wang, 2017; Nguyễn Xuân Thọ, 2019; Nguyễn Văn Quang, 2020).
Đây có thể được xem là các giải pháp nền tảng để tạo thuận lợi cho các doanh
nghiệp dệt may thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu của mình. Trong bối cảnh
thực thi các hiệp định EVFTA và CPTPP như hiện nay, yêu cầu về chất lượng
sản phẩm, mẫu mã hàng hóa cũng như các yêu cầu liên quan đến môi trường,
an sinh xã hội được đặc biệt quan tâm, vì vậy, chính phủ cần phải thực hiện
các giải pháp thu hút đầu tư hợp lý có định hướng, có trọng điểm và phải cân
đối nhằm tạo nền tảng hỗ trợ tốt cho xuất khẩu. Trong nhóm giải pháp này,
Nhà nước cũng phải cần chú trọng đầu tư hơn nữa cho cơ sở hạ tầng cứng như
giao thông, đường sá; và cơ sở hạ tầng mềm như dịch vụ logistics, môi trường
kinh tế như tỉ giá hối đoái, các quy định hải quan và biểu thuế với mục đích
hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong các hoạt
động xuất khẩu.
4.4.1.3. Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu
Việt Nam cũng như các quốc gia đang phát triển khác được đánh giá là
tương đối yếu về khâu quản lý, không chỉ riêng trong ngành dệt may mà đối
với toàn bộ ngành kinh tế, thậm chí trên phạm vi toàn quốc gia. Xuất khẩu dệt
may của Việt Nam giành được các lợi ích thích đáng trong quá trình thực thi
các hiệp định thương mại tự do kiểu mới chỉ khi hình thành được hệ thống
quản lý tiên tiến. Do đó, thiết lập chính sách thúc đẩy hình thành mạng liên
kết sản xuất và chuỗi giá trị ngành theo hình thức hợp tác chuỗi cung ứng từ
160
các sản phẩm thượng nguồn đến hạ nguồn, từ các sản phẩm tạo giá trị gia tăng
thấp đến các sản phẩm mang lại giá trị gia tăng cao là yêu cầu tối quan trọng
đối với sản xuất dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng. Việc áp
dụng khoa học công nghệ và kỹ thuật trong sản xuất và quản lý cần phải được
khuyến khích, các tiêu chuẩn của ngành cũng cần phải được cập nhật thường
xuyên theo những điều kiện và bối cảnh của thế giới.
Đối với quản lý nhà nước, kiến nghị tạo lập các chính sách phù hợp để
xử lý nhanh các vấn đề thủ tục hải quan sẽ giúp các doanh nghiệp nhập khẩu
tiết kiệm rất nhiều thời gian, chi phí và chủ động hơn trong sản xuất. Không
dừng lại ở đó, việc rút ngắn thời gian thủ tục hải quan cũng thúc đẩy các
doanh nghiệp xuất khẩu tiếp cận nhanh hơn với thị trường xuất khẩu. Chất
lượng quản trị nhà nước nói chung và chất lượng quản trị phục vụ xuất khẩu
dệt may nói riêng thực tế ở Việt Nam đang gây cản trở khá lớn đối với các
hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp dệt may. Số liệu điều tra của Luận Án
chỉ ra rằng phần lớn số người được hỏi khẳng định Nhà nước cần đơn giản
các khâu thủ tục hành chính để giúp đỡ doanh nghiệp dệt may. Cụ thể, có tới
19.33% số người được hỏi (cao nhất các hỗ trợ ưu tiên mà người dân và
doanh nghiệp cần nhà nước thực hiện ngay) cho rằng đơn giản hóa thủ tục
hành chính nên là ưu tiên số một trong bối cảnh thực hiện các hiệp định FTA
thế hệ mới để hỗ trợ xuất khẩu dệt may.
Trong vấn đề quản lý, vai trò của Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS)
hay Hiệp hội Bông sợi Việt Nam là rất quan trọng trong việc cung cấp thông
tin cho các doanh nghiệp xuất khẩu như thông tin thị trường quốc tế, thông tin
các hội chợ quốc tế… Các Hiệp hội này cần phải được nâng cao vai trò hoạt
động của mình trở thành cầu nối giữa nhà nước, doanh nghiệp xuất khẩu dệt
may và thị trường thế giới.
4.4.1.4. Phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ
Nhân lực chất lượng cao và trình độ khoa học công nghệ là hai điểm
nghẽn của ngành dệt may hiện nay của Việt Nam, đặc biệt trong quá trình
chuyển đổi cơ cấu ngành để tận dụng những lợi thế có được, đặc biệt khi các
161
hiệp định EVFTA và CPTPP đã chính thức có hiệu lực. Trong bối cảnh các
doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ lực đứng ra đào tạo nguồn nhân lực cũng
như cung cấp các dịch vụ khoa học công nghệ thì vai trò của nhà nước ngày
càng quan trọng và cũng là một trong những hỗ trợ cơ bản nhất mà Chính phủ
có thể giúp doanh nghiệp thúc đẩy các hoạt động sản xuất và xuất khẩu các
mặt hàng dệt may. Chính phủ cần tiếp tục thực hiện Chương trình đào tạo
nguồn nhân lực cho ngành dệt may, trong đó gia cố hệ thống đào tạo chuyên
ngành dệt may, liên kết hợp tác và trao đổi với nước ngoài triển khai chương
trình đạo tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may. Đào tạo nhân lực cho ngành
dệt may cũng cần có những bước đi lộ trình đầu tư hợp lý nhằm đáp ứng các
điều kiện mới về nhân lực trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới. Song song với đó, Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ các
trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu áp
dụng công nghệ mới, vật liệu mới; đồng thời xây dựng các tiêu chuẩn về công
nghệ, chất lượng, thiết kế theo các tiêu chuẩn của thế giới. Các hiệp định FTA
thế hệ mới với những yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng, mẫu mã, nhãn mác,
tiêu chuẩn môi trường, do đó, sự chuyển biến tích cực của nguồn nhân lực và
khoa học công nghệ sẽ là động lực lớn thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu dệt
may của Việt Nam trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế
hệ mới.
4.4.1.5. Quy hoạch và phát triển nguồn nguyên phụ liệu tại chỗ
Con đường dài để ngành dệt may Việt Nam phát triển là chúng ta cần
phải có chính sách kêu gọi đầu tư sản xuất nguyên liệu cho ngành dệt-nhuộm
sao cho các nhà đầu tư thấy có cơ hội để phát triển nguyên liệu dệt may tại
Việt Nam. Sự thực thì đất nước Việt Nam có đủ điều kiện để trở thành một
nơi cung ứng nguyên liệu dệt-nhuộm cao cấp nhưng chúng ta vẫn chưa có
những nhà đầu tư đủ tầm muốn đầu tư vào ngành này.
Việt Nam cần có cách tiếp cận mở hơn, thiết lập các chiến lược tái cấu
trúc ngành cụ thể và rõ ràng, nhấn mạnh đầu tư vào các sản phẩm nguyên phụ
liệu. Đây không chỉ là chiến lược nhằm phát triển bền vững mà còn là chiến
162
lược sống còn với ngành dệt may, qua đó phần nào giúp nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngành và của cả nền kinh tế (Nguyễn Thị Cẩm Loan, 2014;
Nguyen, 2016; Pertiwi, 2017; Trần Thị Thuận Giang và Ngô Nguyễn Thảo
Vy, 2017).
Như đánh giá ở trên, khi các hiệp định FTA thế hệ mới như hiệp định
EVFTA và CPTPP có hiệu lực, xuất khẩu dệt may Việt Nam được dự báo sẽ
tăng trưởng ấn tượng. Tuy nhiên, hiện nay sản phẩm dệt may cho xuất khẩu
của Việt Nam được sản xuất phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên phụ liệu
nhập khẩu, do đó bài toán về cung ứng nguồn nguyên phụ liệu bền vững cho
các hoạt động sản xuất của ngành dệt may là hết sức quan trọng. Giải được
bài toán này không chỉ giúp ngành dệt may Việt Nam chủ động trong nguồn
cung đầu vào cho sản xuất mà còn chủ động trong các hoạt động xuất khẩu
của mình, đồng thời nó cũng giúp ngành dệt may chuyển dịch cơ cấu theo
hướng tích cực. Theo Quyết định 3218/QĐ-BCT, Việt Nam xác định xây
dựng trung tâm cung ứng nguồn nguyên phụ liệu tại Hà Nội và Thành phố Hồ
Chí Minh, thu hút đầu tư nước ngoài trong sản xuất các sản phẩm như xơ, sợi,
nhuộm, đồng thời, phát triển vùng trồng nguyên liệu bông. Đây là chiến lược
đúng đắn nhằm xây dựng nền tảng cho quá trình thực hiện các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới, tuy nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu theo
hướng phát triển trọng điểm nguyên phụ liệu cho sản xuất phục vụ xuất khẩu
dệt may vẫn còn tương đối chậm. Điều này thể hiện rõ nhất ở thực tế tỷ lệ
nhập khẩu nguyên phụ liệu cho sản xuất sản phẩm dệt may xuất khẩu trong
những năm gần nay vẫn còn rất cao. Trong bối cảnh các hiệp định FTA thế hệ
mới, trọng tâm là hai hiệp định EVFTA và CPTPP sắp và đã được thực thi
cần đòi hỏi nhà nước có những quyết tâm chính trị lớn hơn, mạnh mẽ hơn và
quyết liệt hơn trong việc giải bài toàn nguồn cung nguyên phụ liệu. Trong
thực thi nhóm giải pháp này, Việt Nam cũng cần đặc biệt quan tâm đến nguồn
vốn đầu tư FDI, vì trong ngắn hạn và trung hạn nguồn vốn FDI sẽ giải quyết
tốt nhất yêu cầu về xây dựng nguồn nguyên phụ liệu cho sản xuất, tuy nhiên,
163
cũng cần phải gắn kết các điều kiện theo hướng tiên tiến, công nghệ hiện đại
và thân thiện môi trường nhằm tránh tình trạng lệch hướng phát triển trong
dài hạn.
4.4.1.6. Đẩy mạnh việc “Xanh hóa” ngành dệt may và bảo vệ môi trường
Các FTA thế hệ mới cũng đặt ra các thách thức cho doanh nghiệp do
đều có cam kết về bảo vệ môi trường và phát thải thấp, đưa ra các tiêu chí,
ràng buộc về phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, trách nhiệm với môi
trường, cộng đồng. Các cam kết của Việt Nam với các đối tác trong 2 hiệp
định FTA thế hệ mới, đặc biệt là hai hiệp định quan trọng mà Việt Nam tham
và đã có hiệu lực là EVFTA và CPTPP đều nhấn mạnh đến yếu tố môi
trường. Đây là xu hướng không thể tránh khỏi khi Việt Nam theo đuổi các
chiến lược tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới trong thời gian tới. Chính
vì vậy, để có thể tận dụng tốt “đòn bẩy” FTA, nâng cao năng lực cạnh tranh
trong dòng chảy hội nhập toàn cầu, giữ đà tăng trưởng bền vững và tiếp tục
tạo sự bứt phá, các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng dệt may xuất khẩu không
chỉ phải nỗ lực cải thiện về chất lượng, giá thành sản phẩm mà buộc phải
“xanh hóa” cả quá trình sản xuất.
Cùng với đó, tiêu dùng xanh – tiêu dùng bền vững, thời trang xanh
đang trở thành xu hướng toàn cầu, đặc biệt được quan tâm sau sự xuất hiện
của dịch Covid-19. Một thống kê cho thấy, có đến 85% người tiêu dùng thay
đổi hành vi mua hàng theo hướng bền vững hơn trong 5 năm qua, 60% người
tiêu dùng đánh giá tính bền vững là tiêu chí mua hàng quan trọng và 34% sẵn
sàng trả nhiều hơn cho các sản phẩm hoặc dịch vụ bền vững (theo The Global
Sustainability Study 2021, Simon-Kucher & Partners). Trong xu thế đó, nhiều
thương hiệu thời trang quốc tế đã đưa ra các cam kết giảm phát thải và xanh
hóa toàn bộ chuỗi cung ứng. Vì thế, để giữ vững vị thế trong chuỗi cung ứng
toàn cầu cũng như gia tăng sức cạnh tranh và tiếp cận người tiêu dùng, hướng
tới sự tăng trưởng và phát triển bền vững, xanh hóa sản xuất là bài toán mà
các doanh nghiệp ngành dệt may phải giải quyết.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ
164
ngành, hiệu quả và tiết kiệm thân thiện với môi trường, đồng thời tăng cường
nghiên cứu khoa học về môi trường để đáp ứng các hàng rào kỹ thuật trong
hội nhập (Cao Quý Long, 2012; Phạm Thị Lụa, 2014; Phùng Thị Quỳnh
Trang, 2017; Le and Wang, 2017; Vu et al, 2020). Trong việc thu hút đầu tư,
đặc biệt là đầu tư vào các ngành sản xuất nguyên phụ liệu (nguy cơ ô nhiễm
cao) nhà nước cần thiết lập các điều kiện nghiêm ngặt nhằm tránh tình trạng
lạm phát đầu tư gây ô nhiễm. Với đặc thù của sản xuất các sản phẩm thượng
nguồn của dệt may như dệt, nhuộm, hoàn tất dệt dễ gây nên các tác động
tiêu cực tới môi trường, do đó Việt Nam cần đặc biệt lưu ý trong vấn đề thiết
lập các tiêu chuẩn về môi trường trong đầu tư sản xuất các sản phẩm dệt
may phục vụ cho xuất khẩu. Thực tế ở Việt Nam cho thấy rằng năng lực
doanh nghiệp dệt may còn nhiều hạn chế, trong khi đó việc xử lý môi trường
trong ngành dệt may yêu cầu về đầu tư lớn, tiêu chuẩn kỹ thuật cao, do đó,
chính phủ cần phải thiết lập các cơ chế hỗ trợ tài chính nhằm giúp các doanh
nghiệp trong vấn đề xử lý chất thải trong sản xuất các sản phẩm dệt may.
4.4.2. Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp
Để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu dệt may trong bối cảnh thực thi các
hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, bên cạnh các giải pháp đến từ phía
Nhà nước thì nhóm giải pháp đến từ phía doanh nghiệp cũng hết sức quan
trọng. Nếu như chính phủ thực hiện vai trò cung cấp hạ tầng cơ bản cho phát
triển ngành như hạ tầng giao thông, hạ tầng giao vận, hạ tầng thông tin
truyền thông, hạ tầng pháp lý, và hạ tầng giáo dục và dạy nghề thì doanh
nghiệp phải là người trực tiếp sử dụng các nguồn lực đó cho mục tiêu phát
triển cũng như các chiến lược kinh doanh xuất khẩu của mình, đặc biệt trong
bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thì doanh
nghiệp cần phải chủ động hơn nữa trong chiến lược xuất khẩu của mình (Lê
Hồng Thuận, 2017; Sacombank, 2020).
Trong khuôn khổ luận án, nghiên cứu sinh sẽ đưa ra một số các giải
pháp vi mô cả trong ngắn và dài hạn nhằm thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu
165
dệt may của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các cam kết của hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới, nhấn mạnh vào hai hiệp định EVFTA và
CPTPP.
4.4.2.1. Doanh nghiệp cần hiểu rõ các FTA thế hệ mới mà Việt Nam tham gia
Các doanh nghiệp cần nâng cao tính chủ động trong tìm hiểu thông tin,
cơ chế chính sách, nghiên cứu thị trường, thẩm định đối tác hoặc phối hợp với
các tổ chức xúc tiến thương mại để xây dựng kế hoạch và tham gia triển khai.
Trong bối cảnh khu vực và quốc tế đang có sự biến chuyển, chính sách của
các nước lớn cũng thay đổi nhanh chóng, những FTA thế hệ mới có hiệu lực
đi liền với xu hướng gia tăng hàng rào bảo hộ thương mại phi thuế quan tại
nhiều khu vực. Cùng với đó, các FTA thế hệ mới đòi hỏi sự tuân thủ luật chơi
theo tiêu chuẩn cao về kỹ thuật, lao động, bảo vệ môi trường...Chính vì vậy
các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may cần tìm hiểu và nắm vững luật chơi khi
tham gia vào thị trường các nước, khu vực mà Việt Nam đã ký kết các FTA
thế hệ mới. Chó đến nay, mặc dù doanh nghiệp đã nâng cao hiểu biết về các
FTA thế hệ mới, tuy nhiên mới có hơn 30% số doanh nghiệp được khảo sát
cho biết nhận được thông tin về FTA thế hệ mới với EU, hơn 25% nhận được
thông tin về CPTPP...Đây chính là một trong những nguyên nhân chính khiến
nhiều cơ hội từ các FTA thế hệ mới bị doanh nghiệp bỏ lỡ. Doanh nghiệp có
thể tận dụng tốt những lợi ích từ các FTA thế hệ mới chỉ khi các doanh nghiệp
phải hiểu rõ hiệp định sẽ mang lại thuận lợi, thách thức gì cho lĩnh vực, mặt
hàng của mình. Từ đó có chiến lược thay đổi quy trình sản xuất, nguồn cung
nguyên liệu để đáp ứng được yêu cầu về xuất xứ hàng hóa, tiêu chuẩn kỹ
thuật của nước nhập khẩu. Chính phủ và các bộ, ngành đã nỗ lực ký kết các
FTA thế hệ mới, mở ra cơ hội về mặt thuế quan cho doanh nghiệp khi XK.
Điều kiện cần là sự nỗ lực của các doanh nghiệp trong việc tự đổi mới, nâng
cao năng lực cạnh tranh để tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường nhập
khẩu, từ đó tận dụng ưu đãi từ các FTA thế hệ mới này.
4.4.2.2. Cơ cấu lại hoạt động sản xuất của doanh nghiệp nhằm nâng cao
166
năng suất và chất lượng sản phẩm
Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
xuất khẩu của Việt Nam (đứng đầu trong giai đoạn 2007-2012 và thứ hai
trong giai đoạn 2013-2019), tuy nhiên đóng góp cho xuất khẩu ngành chủ
yếu đến từ lĩnh vực may mặc với phần lớn là các hoạt động gia công (cắt +
may) (Nguyệt A. Vũ, 2014). Tái cấu trúc ngành may mặc – chuyển dịch cơ
cấu ngành lên các vị trí cao hơn thâm dụng vốn và công nghệ, đồng thời có
hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn là yêu cầu sống còn đối với ngành dệt
may không chỉ trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế
hệ mới mà còn để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững
(Jacobs et al., 2016; Vu and Pham, 2016; Pertiwi, 2017; Lu, 2018). Do đó,
bản thân các doanh nghiệp bên cạnh việc thực hiện các hoạt động sản xuất
hiện có, chủ yếu là gia công, cần phải từng bước chuyển dịch hoạt động sản
xuất của mình lên vị trí cao hơn, chú trọng hơn vào các công đoạn thiết kế,
tiếp thị sản phẩm, phát triển sản phẩm và tạo dựng kênh phân phối sản phẩm
cho riêng mình. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng cần chuyển đổi từ
phương thức gia công CMT (cắt, may, hoàn thiện sản phẩm) sang phương
thức OEM (phương thức mua nguyên liệu, bán thành phẩm) và ODM
(Phương thức bao gồm cả sản xuất và thiết kế), tiến tới là phương thức OBM
(Phương thức sản xuất có thương hiệu riêng), từ đó sẽ giúp nâng cao giá trị
gia tăng xuất khẩu dệt may của Việt Nam.
Như đã nêu trên, các cam kết trong CPTPP, EVFTA và UKVFTA về
lĩnh vực dệt may đều yêu cầu rất cao về chất lượng sản phẩm, nhãn mắc, sự
thân thiện với môi trường, đồng nghĩa với việc là bản thân doanh nghiệp
phải tự mình vận động thay đổi theo các yêu cầu mới nếu không muốn đứng
ngoài cuộc chơi. Chuyển dịch cấu trúc ngành may mặc là yêu cầu rất bức
bách và thiết yếu song lại là con đường khá khó khăn và không thể thực hiện
trong một sớm một chiều, do đó, trước khi các Hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới chính thức có hiệu thì các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may của
Việt Nam ngay từ bây giờ phải nhận thức được vấn đề và từng bước tiến
167
hành tái cấu trúc ngành.
Hình 4.9: Ưu tiên thực hiện các giải pháp đối với doanh nghiệp
Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát
4.4.2.3. Xây dựng thương hiệu và kênh phân phối riêng
Thương hiệu là vấn đề rất quan trọng đối với sự thành công của bất cứ
sản phẩm hay bất cứ doanh nghiệp nào. Các doanh nghiệp dệt may Việt
Nam về cơ bản nhận thức được vấn đề đó, song lại chưa thực sự chú trọng
xây dựng hình ảnh thương hiệu riêng cho mình. Theo đánh giá của VITAS,
hiện nay rất ít các doanh nghiệp dệt may có năng lực xây dựng và phát triển
thương hiệu riêng cho mình. Một số doanh nghiệp dệt may tên tuổi đã có
thương hiệu nhất định nhưng chỉ mới dừng lại ở thị trường nội địa mà chưa
vươn tầm khu vực và thế giới (VCCI, 2017; Sacombank, 2020). Khi đề cập
đến thương hiệu, người tiêu dùng và đối tác sẽ hình dung ngay đến chất
lượng sản phẩm, mẫu mã, tiêu chí kỹ thuật, nhãn mác. Một khi xây dựng
được thương hiệu ở cấp độ khu vực và vươn ra thế giới, điều này sẽ rất
thuận lợi cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu trong
khi các hiệp định FTAs được thực thi. Bên cạnh các vấn đề cơ bản về sản
phẩm, kênh phân phối riêng chính là yếu tố quan trọng để xây dựng thương
168
hiệu của doang nghiệp. Kênh phân phối ở một góc độ nào đó chính là chất
dẫn để thương hiệu đến với thị trường, cũng là chất liên kết giữa sản phẩm
và thị trường. Theo Nguyệt A. Vũ (2014), sự liên kết giữa các doanh nghiệp
dệt may và người tiêu dùng ở Việt Nam đang rất yếu, đối với thị trường khu
vực và thế giới lại còn yếu hơn. Thực tế trên thế giới chứng mình rằng bất
cứ một thương hiệu ngành may mặc nào cũng có những kênh phân phối
riêng không chỉ ở thị trường nội địa mà còn trên phạm vi toàn cầu. Hiện nay,
Việt Nam đã hoàn tất những bước cuối cùng để tiến tới thực thi hiệp định
EVFTA và CPTPP, do đó đây là cơ hội rất tốt để các doanh nghiệp xuất
khẩu dệt may thiết lập các kênh phân phối ở thị trường các quốc gia này.
Bước đầu các doanh nghiệp dệt may có thể thiết lập văn phòng đại diện, hợp
tác với các kênh phân phối sở tại và xa hơn là tiến tới xây dựng kênh phân
phối riêng ở các thị trường xuất khẩu. Việc xây dựng thương hiệu và kênh
phân phối riêng bề ngoài là hai công đoạn riêng lẻ trong chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp nhưng thực chất chúng có quan hệ mật thiết với
nhau, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau. Vì vậy, các doanh nghiệp dệt may phải
đồng thời thực hiện cả hai chiến lược này. Kênh phân phối riêng chính là
cách thức tốt nhất để một doanh nghiệp tạo sự liên kết vững chắc giữa sản
phẩm của mình và thị trường hay người tiêu dùng.
Hình 4.10: Dệt may và Liên kết thị trường
169
Nguồn: Nguyệt A. Vũ (2014)
4.4.2.4. Giải pháp về quy tắc xuất xứ - ngoại lệ xuất xứ
Để thúc đẩy xuất khẩu dệt may, tận dụng được những lợi ích về cắt
giảm thuế quan từ các FTA thế hệ mới, Việt Nam trước tiên cần đáp ứng được
các tiêu chuẩn về xuất xứ hàng hóa. Theo quy tắc xuất xứ trong cam kết của
EVFTA (từ vải trở đi) và CPTPP (từ sợi trở đi), các doanh nghiệp Việt Nam
hiện nay vẫn gặp rất nhiều khó khăn bởi phần lớn doanh nghiệp dệt may của
Việt Nam mới chỉ đang thực hiện các công đoạn cắt và may, trong khi vải
nguyên liệu sử dụng để sản xuất chủ yếu được nhập khẩu từ các thị trường
chưa có FTA với EU và không tham gia CPTPP, chủ yếu đến từ Trung Quốc
và Đài Loan. Do đó, một mặt Chính phủ Việt Nam cần có chính sách định
hướng/khuyến khích các doanh nghiệp chú trọng đầu tư và phát triển công
nghiệp dệt và công nghiệp phụ trợ may để đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc xuất
xứ trong các cam kết của Hiệp định (Vanzetti and Vu, 2014; VCCI, 2017).
Bên cạnh việc các doanh nghiệp phải chuyển đổi sản xuất theo hướng tiên
tiến, chú trọng đầu tư phát triển công nghệ thì cách thức tận dụng các ngoại lệ
về xuất xứ trong các Hiệp định FTA thế hệ mới như trường hợp Hàn Quốc
trong EVFTA hay các quốc gia thuộc CPTPP trong hiệp định CPTPP là cách
thức hiệu quả nhất để vượt qua các rào cản về cam kết xuất xứ này. Quy tắc
xuất xứ 2 công đoạn trong Hiệp định EVFTA và quy tắc xuất xứ 3 công đoạn
trong CPTPP nghĩa là toàn bộ quá trình kéo sợi, dệt vải và nhuộm, hoàn tất và
may phải được thực hiện trong nội khối của Hiệp định sẽ khuyến khích các
doanh nghiệp dệt may của Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng
của khối, tuy nhiên đó là vấn đề của chiến lược đổi mới, chuyển dịch cơ cấu
trong trung và dài hạn, còn trong ngắn hạn áp dụng ngoại lệ xuất xứ là
phương cách linh hoạt nhất để các doanh nghiệp xuất khẩu các sản phẩm dệt
may của Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của mình đến thị trường các
170
quốc gia EU và các thị trường thành viên của CPTPP.
Tiểu kết chương 4
Xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong những năm gần đây đóng góp
tỷ phần rất lớn cho xuất khẩu chung của Việt Nam, đồng thời chiếm giữ vai
trò và vị trí chiến lược trong quá trình tiến ra thị trường quốc tế. Quyết định
quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2020,
tầm nhìn 2030 cho thấy Chính phủ Việt Nam coi trọng việc phát triển ngành
dệt may theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững, chuyển đổi phương thức
sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh
đáp ứng thị trường tiêu dùng trong nước, xuất khẩu dệt may được xác định là
phương thức cơ sở, nền tảng cho sự phát triển của toàn ngành.
Hiện nay, hai hiệp định thương mại tự do thế hệ mới quan trọng nhất đối
với Việt Nam là EVFTA và CPTPP đã chính thức có hiệu lực với những
phạm vi cam kết mở rộng và mức độ cam kết cao nhất mà Việt Nam từng
tham gia đàm phán và ký kết. Với ưu tiên chiến lược trong đàm phán, xuất
khẩu dệt may của Việt Nam trong thời gian tới khi các hiệp định này có hiệu
lực được dự báo sẽ có nhiều xung lực mới cho phát triển, tuy nhiên nó cũng
được dự đoán sẽ ẩn chứa nhiều rủi ro và thách thức.
Để thúc đẩy xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong quá trình thực thi các
hiệp định FTA thế hệ mới, Nhà nước cần thực hiện một loạt các nhóm giải
pháp liên quan đến thị trường, đầu tư, quản lý, nguồn nhân lực, khoa học công
nghệ, bảo vệ môi trường và nguồn nguyên phụ liệu. Bên cạnh đó, bản thân
doanh nghiệp cũng phải tự cải biên chính mình sao cho thích ứng và phù hợp
với các cam kết trong các FTA thế hệ mới, đồng thời áp dụng các biện pháp
nhằm tối ưu hóa các điều khoản mà các FTA thế hệ mới đem lại. Tái cấu trúc
ngành may mặc, xây dựng thương hiệu và kênh phân phối riêng, đồng thời tận
dụng nguyên tắc ngoại lệ trong cam kết xuất xứ là các giải pháp mà doanh
nghiệp dệt may cần phải tiến hành ngay từ bây giờ nhằm tận dụng các lợi thế
171
mà FTA thế hệ mới mang lại.
KẾT LUẬN
Trong nhiều năm qua, ngành dệt may của Việt Nam luôn giữ vị trí là
ngành công nghiệp chủ lực và là mũi nhọn xuất khẩu của cả nước. Với kim
ngạch xuất khẩu dẫn đầu cả nước, hàng dệt may của nước ta đang dần chiếm
lĩnh các thị trường quốc tế. Hội nhập KTQT, các doanh nghiệp dệt may Việt
Nam có thêm nhiều cơ hội tiếp cận với công nghệ mới, kỹ thuật tiên tiến và
được tiếp cận rộng hơn với thị trường quốc tế, có cơ hội hợp tác phát triển tốt
và bình đẳng hơn. Bên cạnh những cơ hội, các doanh nghiệp dệt may cũng sẽ
phải chịu thêm nhiều sức ép cạnh tranh, không chỉ cạnh tranh với các doanh
nghiệp dệt may nước ngoài để thâm nhập được vào thị trường của họ, mà còn
cạnh tranh với họ trên chính thị trường nội địa.
Thị trường kinh doanh hàng dệt may thế giới cạnh tranh ngày càng gay
gắt, lợi thế cạnh tranh xuất khẩu nhìn chung vẫn nghiêng về các nước đang
phát triển như: Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Pakistan, Campuchia…
Thương mại dệt may thế giới sẽ ngày càng tập trung vào tay các tập đoàn bán
lẻ đa quốc gia, từ việc chuyển dịch đầu tư, sản xuất, thiết kế sản phẩm, phân
khúc thị trường, tổ chức các chuỗi sản xuất - cung ứng cho đến khâu tiêu thị
sản phẩm cuối cùng. Các nước nhỏ, các nhà sản xuất và các công ty trung
gian nhỏ ngày càng khó có cơ hội phát triển nếu nằm ngoài các chuỗi giá trị
này. Việt Nam dù đã tham gia vào chuỗi nhưng ngành dệt may Việt Nam vẫn
bị coi là “đi trên đôi chân của người khác”do tỷ lệ gia công cao, chưa thâm
nhập sâu vào chuỗi giá trị.
Với mục tiêu đặt ra cho Luận án là thông qua việc phân tích, đánh giá
thực trạng xuất khẩu hàng dệt may trong bối cảnh Việt Nam tham gia các
Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đồng thời đánh giá tác động của các
FTAs thế hệ mới tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam, từ đó, Luận án có
những đề xuất đối với Nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may trong
việc triển khai các giải pháp nhằm đẩy mạnh quy mô, kim ngạch xuất khẩu
172
dệt may củaViệt Nam trong thời gian tới
Để thực hiện mục tiêu này, Luận án đã áp dụng tổng hợp các phương
pháp như phương pháp kế thừa, phương pháp phân tích hệ thống, phương
pháp phân tích tổng hợp và so sánh phối hợp với phương pháp ý kiến chuyên
gia, phương pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp khảo sát, thống kê và đã
đạt được những kết quả chính sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận về xuất khẩu dệt may trong bối cảnh hình thành
các hiệp định tự do thế hệ mới. Luận án làm rõ đặc điểm và các nhân tố ảnh
hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Đồng thời, các khái niệm và sự
khác biệt giữa hiệp định thương mại tự do truyền thống và hiệp định thương
mại tự do thế hệ mới cũng được chỉ rõ.
- Phân tích bức tranh xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong bối cảnh
hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Trong đó, những cơ
hội và thách thức, điểm mạnh và điểm yếu của ngành dệt may Việt Nam nói
chung và xuất khẩu dệt may nói riêng được chỉ ra một cách cụ thể.
- Phân tích bối cảnh trong nước và thế giới tác động đến xuất khẩu dệt
may Việt Nam trong quá trình hình thành các hiệp định thương mại tự do thế
hệ mới.
- Phân tích quan điểm, định hướng và các giải pháp để thúc đẩy xuất
khẩu dệt may Việt Nam trong quá trình hình thành các hiệp định thương mại
tự do thế hệ mới.
- Từ góc độ tiếp cận đánh giá cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu dệt
may của Việt Nam trong bối cảnh hình thành các FTA thế hệ mới, Luận án đề
xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong
bối cảnh Việt Nam tham gia các FTAs thế hệ mới. Để thúc đẩy xuất khẩu dệt
may, tận dụng được những lợi ích về cắt giảm thuế quan từ các FTA, Việt
Nam trước tiên cần đáp ứng được các tiêu chuẩn về xuất xứ hàng hóa. Các
đơn hàng của Việt Nam phần lớn vẫn may theo hình thức gia công, nguồn vải
chủ yếu nhập khẩu nên việc đáp ứng về quy tắc xuất xứ là khá khó khăn. Bên
cạnh đó, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần chuyển đổi từ phương thức
173
gia công CMT (cắt, may, hoàn thiện sản phẩm) sang phương thức OEM
(phương thức mua nguyên liệu, bán thành phẩm) và ODM (Phương thức bao
gồm cả sản xuất và thiết kế), tiến tới là phương thức OBM (Phương thức sản
xuất có thương hiệu riêng), từ đó sẽ giúp nâng cao giá trị gia tăng xuất khẩu
dệt may của Việt Nam. Ngoài ra, để thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt Nam
trong những năm tới, các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực sản xuất, tự
chủ nguồn nguyên liệu đầu vào, áp dụng chuyển đổi số vào sản xuất kinh
doanh, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng các yêu cầu về môi
174
trường và lao động./.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
1) Bộ Công Thương. (2015). Tóm tắt cam kết về Dệt may trong TPP. Hà
Nội, Việt Nam.
2) Bộ Công Thương (2016). Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam 2016-2021.
Hà Nội: NXB Công thương.
3) Nguyễn Hồng Chỉnh. (2017). Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt
may Việt Nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác xuyên Thái
Bình Dương (Luận án Tiến sỹ). Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.
4) Vũ Văn Diện. (2019). Việt Nam và các hiệp định thương mại tự do thế
hệ mới. Tạp chí Tài chính, 2/2019.
5) Vũ Bạch Diệp, Nguyễn Thị Phương Thảo và Ngô Hoài Thu. (2018).
Phân tích các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang
thị trường EU bằng mô hình trọng lực. Tạp chí Kinh tế và Quản trị kinh
doanh, số 7, 72-78.
6) Vũ Kim Dũng. (2015). Mô hình đàn sếu bay. Tạp chí Khoa học và công
nghệ, số 7/2015.
7) Vũ Quốc Dũng. (2007).Dệt may Việt Nam hậu WTO: Thực trạng và
những mục tiêu hướng tới.Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, số 9/2007.
8) Đỗ Thị Đông. (2011). Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liên kết
của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam. Đại học Kinh tế Quốc
dân, Hà Nội.
9) Dương Đình Giám (2001). Phương hướng và các biện pháp chủ yếu
nhằm phát triển ngành công nghiệp dệt – may trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam (Luận án Tiến sỹ). Đại học Kinh tế
Quốc dân, Hà Nội.
10) Bùi Trường Giang. (2010). Hướng tới chiến lược FTA của Việt Nam: Cơ
175
sở lý luận và thực tiễn Đông Á. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.
11) Nguyễn Hoàng Giang. (2014). Giải pháp xây dựng chiến lược thương
hiệu ngành dệt may Việt Nam. Tạp chí Tài chính, số 5/2014.
12) Trần Thị Thuận Giang và Ngô Nguyễn Thảo Vy. (2017). Hiện tượng
chệch hướng thương mại từ quy tắc xuất xứ ưu đãi chặt chẽ: Tương lai
của hàng dệt may ASEAN và Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Tạp chí
Khoa học Pháp lý, số 4(107)/2017.
13) Thu Hoài (2019). TPP và những tác động tới dệt may Việt Nam. Tạp chí
Công thương, số 1(12), 18-19.
14) Phan Thanh Hoàn. (2017). Cơ hội và thách thức của Dệt may Việt Nam
trong bối cảnh gia nhập TPP. Tạp chí Khoa học Đại học Huế, số
126(5A), 173–184.
15) Nguyễn Hoàng. (2009). Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất
khẩu vào thị trường các nước EU của doanh nghiệp dệt may Việt Nam
trong gia đoạn hiện nay (Luận án Tiến sỹ). Trường Đại học Thương mại,
Hà Nội.
16) Hà Văn Hội (2012). Phân tích chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may Việt
Nam. VNU Journal of Science: Economics and Business, số 28(1).
17) Hà Văn Hội. (2012). Chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam:
Những bất lợi, khó khăn và biện pháp đối phó. VNU Journal of Science:
Economics and Business, số 28(4).
18) Vũ Thanh Hương và Nguyễn Thị Minh Phương. (2016). Đánh giá tác
động theo ngành của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU: Sử
dụng các chỉ số thương mại. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và
Kinh doanh, số 32(3), 28-38.
19) JICA và NEU. (2004). Chính sách công nghiệp và thương mại Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống Kê.
20) Nguyễn Việt Khôi và Shashi Kant Chaudhary. (2019). Vị thế của Việt
Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. VNU Journal of Social Sciences and
176
Humanities, số 5(3).
21) Nguyễn Đức Kiên. (2018). Đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp
từ ngành dệt may. Tạp chí Cộng sản, số 135(2018).
22) Nguyễn Hoàng Khởi và Lưu Tiến Thuận. (2015). Những tác động chính
của Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương đến doanh
nghiệp dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Tạp chí Khoa
học Trường Đại học Trà Vinh, số 17(3), 32-38.
23) Nguyễn Thị Lan. (2016). Triển vọng của dệt may Việt Nam trong chuỗi
giá trị toàn cầu. Tạp chí Tài chính, số 3/2016.
24) Phạm Thùy Linh, Phạm Hoàng Linh và Trần Thị Thu Trâm. (2017).
Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập mới. Tạp
chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên, số 167(7).
25) Vũ Hồng Loan. (2013). TPP – Hiệp định thương mại tự do của thế kỷ
XXI. Tạp chí Tài chính, số 6/2013.
26) Nguyễn Thị Cẩm Loan. (2014). Chuẩn bị của ngành dệt may Việt Nam
trước thềm TPP. Tạp chí Khoa học Trường Đại học An Giang, số 2(1).
27) Cao Quý Long. (2012). Hệ thống rào cản kỹ thuật trong thương mại
quốc tế và những giải pháp khắc phục rào cản để xuất khẩu hàng dệt
may Việt Nam sang thị trường Mỹ trong bối cảnh mới (Luận văn thạc
sỹ). Trường Đại học Kinh tế, Hà Nội.
28) Phạm Thị Lụa. (2014). Rào cản kỹ thuật đối với hàng dệt may xuất khẩu
và giải pháp của Việt Nam (Luận án Tiến sỹ). Viện nghiên cứu Thương
mại, Hà Nội.
29) Ngô Dương Minh. (2017). Những rào cản đối với các doanh nghiệp Việt
Nam khi tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Tại chí Khoa học
và Đào tạo Ngân hàng, số 190(3), 34-43.
30) Trương Thị Phúc Nguyên. (2020). Báo cáo cập nhật ngành dệt may.
FPT Securities.
31) Đỗ Thị Hòa Nhã, Nguyễn Thị Oanh và Ngô Hoài Thu. (2019). Phân tích
177
tình hình xuất khẩu các nhóm hàng hóa của Việt Nam sang thị trường
EU. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên, số
196(S.03).
32) Trần Thị Bích Nhung. (2017). Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của
các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Tạp chí Quản lý Kinh tế Quốc tế,
số 95(95).
33) Lê Thị Kiều Oanh và Đỗ Thị Thu Hồng. (2019). Phát triển ngành Dệt
may Việt Nam trong tình hình hiện nay. Tạp chí Tài chính, số 2
(10/2019).
34) Kim Ngọc. (2015). Hiệp định đối tác Kinh tế toàn diện khu vực: Cơ hội
và thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí Khoa học Xã hội Việt
Nam, số 9/2015.
35) Phạm Thị Thu Phương. (2000). Những giải pháp chiến lược nhằm nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ngành May mặc Việt Nam. Hà Nội:
Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.
36) Nguyễn Văn Quang. (2020). Chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu
hàng may mặc Việt Nam. Tạp chí Công thương, số 1/2020.
37) Lương Xuân Quỳ. (2014). Việt Nam và TPP. Tạp chí Phát triển và Hội
nhập, số 14(24).
38) Lê Xuân Sang và Nguyễn Thị Thu Huyền. (2011). Chính sách thúc đẩy
phát triển công nghiệp hỗ trợ: Lý luận, thực tiễn và định hướng cho Việt
Nam. Tham luận trình bày tại Hội thảo “Chính sách tài chính hỗ trợ phát
triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam”. Hà Nội.
39) Nguyễn Ngọc Sơn. (2007). Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu của
ngành dệt may. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 35-39.
40) Nguyễn Thanh Tâm. (2016). Tổng quan về các FTA thế hệ mới. Trường
Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
41) Nguyễn Xuân Thọ. (2019). Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm
dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (Luận án Tiến
178
sỹ). Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
42) Lê Hồng Thuận. (2017). Báo cáo Ngành Dệt may: Thay đổi để bứt phá.
Fpt Securities.
43) Lê Quang Thuận. (2019). Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và
tác động tới kinh tế Việt Nam. Tạp chí Tài chính, 7/2019.
44) Võ Thanh Thu. (2013). Những giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt
may sang thị trường Mỹ sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Tạp chí Kinh
tế Phát triển, số 267(1), 45-53.
45) Võ Thanh Thu và Ngô Thị Hải Xuân. (2015). Định hướng phát triển
ngành dệt may VN đáp ứng yêu cầu hội nhập TPP. Tạp chí Phát triển
Kinh tế, số 26(1), 59-73.
46) Lê Thị Thúy. (2017). Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới: Cơ hội và
thách thức đối với Việt Nam. Khoa học Xã hội Việt Nam, số 5(114), 19-
29.
47) Nguyễn Thị Thúy. (2014). Giải pháp cho Việt Nam khi gia nhập các
hiệp định thương mại và TPP. Đại học Thăng Long, Hà Nội.
48) Lê Thanh Thủy. Ngành dệt may trong xu thế cách mạng công nghiệp
4.0. Tạp chí Tài chính, số 8/2019.
49) Phương Thanh Thủy. (2016). Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình
Dương: cơ hội và thách thức đối với Việt Nam. Tạp chí Khoa học Xã hội
Việt Nam, số 12, 1-28.
50) Phùng Thị Quỳnh Trang. (2017). Ngành dệt may Việt Nam: Thúc đẩy
thực hiện các giải pháp sản xuất sạch hơn nhằm nâng cao sức cạnh tranh.
Tạp chí Môi trường, số 2017/11.
51) Trung Tâm WTO. (2018). http://www.trungtamwto.vn/.
52) Trương Hồng Trình và Cộng sự. (2010). Tiếp cần chuỗi giá trị cho việc
nâng cấp ngành dệt may Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số
2(37).
53) VCCI. (2017). EVFTA và ngành dệt may, giày dép Việt Nam. Trung tâm
179
WTO.
54) Nguyệt A. Vũ. (2014). Ngành dệt may Việt Nam. Báo cáo Ngành
VietinbankSC, Hà Nội.
55) Ngô Thị Hải Xuân. (2012). Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái
Bình Dương: Cơ hội và thách thức đối với ngành dệt may VN xuất khẩu
sang thị trường Mỹ. Tạp chí Kinh tế Kinh tế, số 265(11).
56) Sacombank. (2020). Báo cáo ngành dệt may năm 2019. Sacombak-SBS,
Securities Company.
II. Tài liệu Tiếng Anh
57) Akamatsu, K. (1962). A historical pattern of economic growth in
developing countries. The Developing Economies, 1(s1), 3-25.
58) Anderson, J.E. and Wincoop, E. (2003). Gravity with Gravitas: A
Solution to the Border Puzzle. American Economic Review, 93, 170–192.
59) Baldwin R.E. (2006). Multilateralising Regionalism: Spaghetti Bowls as
Building Blocs on the Path to Global Free Trade. The World Economy,
29(11), 1451-1518.
60) Buchanan, F. R., Anwar, S. T., & Tran, T. X. (2013). Spotlight on an
emerging market: Assessing the footwear and apparel industries in
Vietnam. Global Business and Organizational Excellence, 32(2), 38-51.
61) Chandra, P. (2005). The textile and apparel industry in India. Indian
Institute of Management, Ahmedabad, India.
62) Chi, D. Q. (2020). Social and economic upgrading in the garment supply
chain in Vietnam (No. 137/2020). Working Paper.
63) Chi, T. (2011). Building a sustainable supply chain: an analysis of
corporate social responsibility (CSR) practices in the Chinese textile and
apparel industry. Journal of the Textile Institute, 102(10), 837-848.
64) Cox, A. (2015). The pressure of wildcat strikes on the transformation of
industrial relations in a developing country: The case of the garment and
textile industry in Vietnam. Journal of Industrial Relations, 57(2), 271-
180
290.
65) De Marchi, V., Giuliani, E., & Rabellotti, R. (2018). Do global value
chains offer developing countries learning and innovation
opportunities?. The European Journal of Development Research, 30(3),
389-407.
66) Drejet, R., & Rappaport, A. N. N. (2014). Energy efficiency and working
conditions in Vietnamese apparel factories. Fletcher F. World Aff., 38,
167.
67) Egan, V. (2012). Business constraints and recessionary effects on small
firms in Vietnam: A case study of the retail clothing industry.
In Advances in Business in Asia: The Opportunities, Threats, and Future
Trends of Businesses in China, India and the ASEAN
Countries (101(116), 101-116). Cambridge Scholars Publishing in
association with GSE Research.
68) Feenstra, R. C. (2015). Advanced international trade: theory and
evidence. Princeton university press.
69) Gereffi, G., & Memedovic, O. (2003). The Global Apparel value Chain:
what prospects for upgrading by developing countries. UN Industrial
Development Organization. Vienna: Austria.
70) Goto, K., Natsuda, K., & Thoburn, J. (2011). Meeting the challenge of
China: the Vietnamese garment industry in the post MFA era. Global
Networks, 11(3), 355-379.
71) Goto, K. (2012). Is the Vietnamese garment industry at a turning point?:
upgrading from the export to the domestic market. Inst. of Developing
Economies, Japan External Trade Organization.
72) Goto, K. (2013). Starting businesses through reciprocal informal
subcontracting: Evidence from the informal garment industry in Ho Chi
Minh city. Journal of International Development, 25(4), 562-582.
73) Goto, K. (2017). Development through innovation: The case of the Asian
apparel value chain. In Global innovation and entrepreneurship (95-
181
111). Palgrave Macmillan, Cham.
74) Gregory, R., Anstie, R., & Klug, E. (1991). Why are low-skilled
immigrants in the United States poorly paid relative to their Australian
counterparts? Some of the issues illustrated in the context of the
footwear, clothing, and textile industries. In Immigration, trade, and the
labor market (pp. 385-406): University of Chicago Press.
75) Grumiller, J., Raza, W., Staritz, C., Tröster, B., von Arnim, R., & Grohs,
H. (2018). The economic and social effects of the EU Free Trade
Agreement with Vietnam. ÖFSE–Austrian Foundation for Development
Research, 8, 2018.
76) Gujarati, D.N., and Porter, D.C. (2003). Basic econometrics
(4ed.). Singapore: McGrew Hill Book Co.
77) Ho, D., Kumar, A., & Shiwakoti, N. (2017, December). Supply chain
collaboration—A case study of textile and apparel industry. In 2017
IEEE International Conference on Industrial Engineering and
Engineering Management (IEEM) (pp. 1367-1371). IEEE.
78) Ho, H. T. T., & Watanabe, T. (2020). The dynamics of textile firm
responses to the restriction of endocrine disrupting surfactants: a
Vietnam case study. Journal of Risk Research, 23(4), 504-521.
79) Hoang, D., & Jones, B. (2012). Why do corporate codes of conduct fail?
Women workers and clothing supply chains in Vietnam. Global Social
Policy, 12(1), 67-85.
80) Jacobs, B., Simpson, L., Nelson, S., & Karpova, E. (2016). Matching
Sourcing Destination with Fashion Brands’ Business Model:
Comparative Advantages of Bangladesh and Vietnam Apparel
Industries. Fashion, Industry and Education, 14(2), 11-23.
81) Jagdish N.B. (1998). A Stream of Windows: Unsettling Reflections on
Trade, Immigration, and Democracy. Massachusetts Institute.
82) Keane, J., & te Velde, D. W. (2008). The role of textile and clothing
industries in growth and development strategies. Overseas Development
182
Institute, 7.
83) Kenta, G. (2007). Industrial Upgrading of the Vietnamese Garment
Industry: An Analysis from the Global Value Chains Perspective (No.
07-1, p. 4). RCAPS working paper.
84) Kenta, G. (2012). Is the Vietnamese garment industry at a turning point?:
upgrading from the export to the domestic market. In Fukinishi (Ed).,
“Dynamics of the Garment Industry in Low-Income Countries:
Experience ò Asia and Afria (Interim Report). Chousakenkyu
Houkokusho, IDE-JETRO, 2012.
85) Knutsen, H. M. (2004). Industrial development in the buyer-driven
networks: the garment industry in Vietnam and Sri Lanka. Journal of
Economic Geography, 4, 545–564.
86) Knutsen, H. M., & Nguyen, C. M. (2004). Preferential treatment in a
transition economy: the case of state‐owned enterprises in the textile and
garment industry in Vietnam. Norsk Geografisk Tidsskrift-Norwegian
Journal of Geography, 58(3), 125-135.
87) Kojima, K. (2000). The “flying geese” model of Asian economic
development: origin, theoretical extensions, and regional policy
implications. Journal of Asian Economics, 11(4), 375-401.
88) Le, Q. A., Tran, V. A., & Nguyen Duc, B. L. (2019). The Belt and Road
Initiative and Its Perceived Impacts on the Textile and Garment Industry
of Vietnam. Journal of Open Innovation: Technology, Market, and
Complexity, 5(3), 59.
89) Le, T. N., & Wang, C. N. (2017). The integrated approach for
sustainable performance evaluation in value chain of Vietnam textile and
apparel industry. Sustainability, 9(3), 477.
90) Lee, J. G., & Linda, N. S. (2016). Assessing the challenges and
opportunities for small and medium enterprises (SMEs) in the
Vietnamese apparel retail market. In International Textile and Apparel
Association Annual Conference Proceedings (Vol. 73, No. 1). Iowa State
183
University Digital Press.
91) Lo Thi, H. V., & Guzikova, L. A. (2020). Industry 4.0 in Vietnam:
strategic planning experience. Asia and Africa Today, (8), 64-68.
92) Lu, S. (2018). Evaluation of the Potential Impact of CPTPP and EVFTA
on Vietnam's Apparel Exports: Are We Over-optimistic about Vietnam's
Export Potential?. In International Textile and Apparel Association
Annual Conference Proceedings (Vol. 75, No. 1). Iowa State University
Digital Press.
93) Luong, H. V. (2001). The strength of Vietnamese industrial fabric:
institutional mechanisms of firm competitiveness in the textile and
garment industry. Journal of Asian Business, 17, 17–44.
94) MacIntosh, M. (2013). Institutional influences on firm level HRM: Some
evidence from the Vietnamese garment and footwear sectors. Asia
Pacific Journal of Human Resources, 51(2), 228-247.
95) Mai, N. T. N., & Phong, H. T. (2020). Supplier selection criteria in
Vietnam: A case study in textile and apparel industry. Journal of Asian
Business and Economic Studies, 26(S02), 71-100.
96) Munny, A. A., Ali, S. M., Kabir, G., Moktadir, M. A., Rahman, T., &
Mahtab, Z. (2019). Enablers of social sustainability in the supply chain:
An example of footwear industry from an emerging
economy. Sustainable Production and Consumption, 20, 230-242.
97) Nadvi, K., Thoburn, J. T., Thang, B. T., Ha, N. T. T., Hoa, N. T., Le, D.
H., & Armas, E. B. D. (2004). Vietnam in the global garment and textile
value chain: impacts on firms and workers. Journal of International
Development, 16(1), 111-123.
98) Nadvi, K., Thoburn, J., Thang, B. T., Ha, N. T. T., Hoa, N. T., & Le, D.
H. (2004). Challenges to Vietnamese firms in the world garment and
textile value chain, and the implications for alleviating poverty. Journal
184
of the Asia Pacific economy, 9(2), 249-267.
99) Nayak, R., Akbari, M., & Far, S. M. (2019). Recent sustainable trends in
Vietnam's fashion supply chain. Journal of Cleaner Production, 225,
291-303.
100) Ngo, C. N. (2017). Industrial Development, Liberalisation and Impacts
of Vietnam–China Border Trade: The Case of the Vietnamese Textile
and Garment Sector. European Journal of East Asian Studies, 16(1),
154-184.
101) Nguyen, C. M., & Le, Q. V. (2005). Institutional constraints and private
sector development: the textile and garment industry in Vietnam. ASEAN
Economic Bulletin, 297-313.
102) Nguyen, M. T. T., Nguyen, L. H., & Nguyen, H. V. (2019). Materialistic
values and green apparel purchase intention among young Vietnamese
consumers. Young Consumers.
103) Nguyen, N. H., Beeton, R. J., & Halog, A. (2014). Who Influence the
Environmental Adaptation Process of Small and Medium Sized Textile
and Garment Companies in Vietnam?. In Roadmap to Sustainable
Textiles and Clothing (pp. 189-207). Springer, Singapore.
104) Nguyen, N. H., Beeton, R. J., Halog, A., & Duong, A. T. (2015).
Environmental Adaptation by Small and Medium Sized Textile and
Garment Companies in Vietnam—Is Governance an Issue?. In Roadmap
to Sustainable Textiles and Clothing (pp. 87-107). Springer, Singapore.
105) Nguyen, P. M. H., & Dornberger, U. (2013). Functional Upgrading in
Global Apparel Value Chain: The Case of Vietnam. Economic and
Social Development: Book of Proceedings, 620.
106) Nguyen, T. V., Le, N. T., Dinh, H. L., & Pham, H. T. (2020). Greasing,
rent-seeking bribes and firm growth: evidence from garment and textile
firms in Vietnam. Crime, Law and Social Change, 1-17.
107) Nguyen, V. T. T., & Le, L. T. (2019). ‘Without United States’ Trans-
Pacific Partnership Agreement and Vietnam’s Apparel
185
Industry. Emerging Markets Finance and Trade, 1-25.
108) Nguyen, V. N. (2016). The barriers to Vietnam’s textile companies when
participating in the global textile value chain. Science and Technology
Development Journal, 19(1), 102-110.
109) Nong, N. M. T., & Ho, P. T. (2019). Criteria for Supplier Selection in
Textile and Apparel Industry: A Case Study in Vietnam. The Journal of
Asian Finance, Economics and Business, 6(2), 213-221.
110) Oteifa, H., Stiel, H., & Feilding, R. (2000). Vietnam’s Garment Industry:
Moving up the Value Chain. MPDF Private sector Discussion No. 7.
Mekong Project Development Facility.
111) Pelzman, J. (2006). Implications for the Vietnamese Textile and Apparel
Industry in Light of Abolishing the Multifiber Arrangement and the US-
Vietnam Bilateral Investment Treaty. Globalization and East Asia:
Opportunities and Challenges, 233.
112) Pelzman, J., & Shoham, A. (2010). Comparison of PRC and Vietnam's
responses to the elimination of US textile and apparel quotas: economic
and cultural perspectives. International Journal of Business and
Emerging Markets, 2(4), 385-408.
113) Pertiwi, S. B. (2017). Explaining the fast-growing textile and garment
industries (TGI) in Vietnam (2000-2015). Journal of ASEAN
Studies, 5(2), 157-169.
114) Phan, T., Doan, X., & Nguyen, T. (2020). The impact of supply chain
practices on performance through supply chain integration in textile and
garment industry of Vietnam. Uncertain Supply Chain
Management, 8(1), 175-186.
115) Phong, D. T., & Van Thong, N. (2008). Review of the textile coloration
industry in Vietnam. Coloration Technology, 124(6), 331-340.
116) Santos Silva, J.M.C. and Tenreyro, S. (2006). The Log of Gravity. The
186
Review of Economics and Statistics, 88, 641–658.
117) Santos Silva, J. M. C. and Tenreyro, S. (2011). Further Simulation
Evidence on the Performance of the Poisson Pseudo-Maximum
Likelihood Estimator. Economics Letters, 112(2), 220-222.
118) Schaumburg-Müller, H. (2009). Garment exports from Vietnam: changes
in supplier strategies. Journal of the Asia Pacific Economy, 14(2), 162-
171.
119) Schmid, G., & Phillips, O. (1980). Textile trade and the pattern of
economic growth. Review of World Economics, 116(2), 294-306.
120) Tewari, M. (2006). Adjustment in India's textile and apparel industry:
reworking historical legacies in a post-MFA world. Environment and
Planning A, 38(12), 2325-2344.
121) Thai, V. N., Tokai, A., Yamamoto, Y., & Nguyen, D. T. (2011). Eco-
labeling criteria for textile products with the support of textile flows: A
case study of the vietnamese textile industry. Journal of Sustainable
Energy & Environment, 2, 105-115.
122) Thoburn, J., Sutherland, K., & Hoa, N. T. (2007). Globalization and
Poverty: Impacts on Households of employment and restructuring in the
textiles industry of Vietnam. Journal of the Asia Pacific Economy, 12(3),
345-366.
123) Thomsen, T. (2007). Accessing golobal value chain? The rold of
business-state relations in the private clothing industry in Vietnam.
Journal of Economic Geography, 7, 753-766.
124) Thomsen, L. (2009). Internal business organisation in the private
garment industry in Vietnam: the roles of ethnicity, origin and
location. Competition & Change, 13(1), 29-50.
125) Thu, V. T. (2019). Effects of EVFTA on Vietnam’s apparel exports: An
application of WITS-SMART simulation model. Journal of Asian
187
Business and Economic Studies, 25(S02), 04-28.
126) Tran, A. N. (1996). Through the eye of the needle: Vietnamese textile
and garment industries rejoining the global economy. Crossroads: An
Interdisciplinary Journal of Southeast Asian Studies, 83-126.
127) Tran, A.N. (2012). Vietnamese Textile and Garment Industry in the
Global Supply Chain: State Strategies and Workers'Responses. SBGS
Faculty Publications and Presentations, 20.
128) Tran, T., Tran, T., Burgess, J., Müller, S., & Weber, M. (2018). An
Exploration of Extraordinary Characteristics Impacting on the
Improvement of Competitive Advantage of Vietnam’s Garment Industry.
In 2018 4th International Conference on Green Technology and
Sustainable Development (GTSD) (pp. 466-469). IEEE.
129) Vanzetti, D., & Huong, P. L. (2014). Rules of origin, labour standards
and the TPP. Paper presented at the 17th Annual Conference on Global
Economic Analysis.
130) Vixathep, S., & Matsunaga, N. (2012). Firm performance in a
transitional economy: a case study of Vietnam's garment
industry. Journal of the Asia Pacific Economy, 17(1), 74-93.
131) Vu, H. T., & Pham, L. C. (2016). A dynamic approach to assess
international competitiveness of Vietnam’s garment and textile industry.
SpringerPlus, 5(1), 203.
132) Vu, T., Nguyen, N., Nguyen, X., Nguyen, Q., & Nguyen, H. (2020).
Corporate social responsibility, employee commitment, reputation,
government support and financial performance in Vietnam's export
textile enterprises. Accounting, 6(6), 1045-1058.
133) Vu, T. T. M., Maung, Z., Nguyen, L. G., Nguyen, H. Q., Truong, T. T.,
Minh, K., ... & Nguyen, C. T. (2018). Prevalence of Allergic Rhinitis
and Individual Prevention Practices Among Textile Workers in
Vietnam. Global Journal of Health Science, 10(7).
134) Wang, C. N., Nguyen, H. K., & Liao, R. Y. (2017). Partner selection in
188
supply chain of Vietnam’s textile and apparel industry: The application
of a hybrid DEA and GM (1,1) approach. Mathematical Problems in
Engineering, 2017.
135) Yotov, Y.V., Piermartini, P., Monteiro, J.A., and Larch, M. (2016). An
advanced guide to trade policy analysis: The structure Gravity Model.
United Nations and World Trade Organization: WTO Publications.
136) Zhang, Z., To, C., & Cao, N. (2004). How do Industry Clusters Success:
A Case Study in China’s Textiles and Apparel Industries. Journal of
Textile and Apparel, Technology and Management, 4(2), 1-10.
137) Zimon, D., Madzík, P., & Sroufe, R. (2020). The Influence of ISO 9001
& ISO 14001 on Sustainable Supply Chain Management in the Textile
Industry. Sustainability, 12(10), 4282.
PHỤ LỤC
A. Tổng hợp kết quả khảo sát
Chọn " không" Chọn " Có" Q4 Q4
Tuổi Row Labels
52 21.85% 56 78.15% 20-30
121 50.84% 137 49.16% 31-40
23.11% 77 76.89% 55 40-50
4.20% 10 95.80% 10 tren 50
238 Grand Total 280
Q2 Row Labels
37.82% 106 37.86% 90 Nam
148 62.18% 174 62.14% Nữ
Q3 Row Labels
20 8.40% 19 6.79% Sau Đại học
Cao đẳng/Đại học 132 55.46% 68 24.29%
84 Trung cấp, đào tạp nghề 35.29% 186 66.43%
189
2 Trung học phổ thông 0.84% 7 2.50%
Trung học cơ sơ 0.00% 0 0.00% 0
Tiểu học 0.00% 0 0.00% 0
Khác 0.00% 0 0.00% 0
Row Labels Q4
100% vốn nhà nước 12.61% 37 13.21% 30
Liên doanh với nước ngoài 13.87% 29 10.36% 33
Nhà nước 140 58.82% 179 63.93%
Tư nhân 14.71% 35 12.50% 35
Khác 0.00% 0 0.00% 0
Row Labels Q6
Chuyên gia 13.87% 11 3.93% 13
Trợ lý quản lý và tương đương 10.50% 9 3.21% 15
Khác 31.09% 84 30.00% 74
Nhân viên 109 33.19% 152 54.29%
Trưởng/phó bộ phận và tương 20 11.34% 14 5.00% đương
Trưởng/phó bộ phận và tương 7 10 3.57% đương
Row Labels Q7
Biết một Hiệp định 19.75% 51 18.21% 47
Biết đầy đủ các hiệp định 34.87% 98 35.00% 83
Biết hơn một hiệp định 24.79% 77 27.50% 59
Không biết 20.59% 54 19.29% 49
Row Labels Q8
Hiểu bình thường 39.92% 103 36.79% 95
Hiểu kỹ 32.35% 104 37.14% 77
Hiểu rất kỹ 2.94% 13 4.64% 7
Hiểu sơ sài 24.79% 60 21.43% 59
190
Row Labels Q9
Bình thường 100 42.02% 112 40.00%
Không biết 7.98% 16 5.71% 19
Không triển vọng 9.24% 28 10.00% 22
Rất triển vọng 22.27% 79 28.21% 53
Triển vọng 18.49% 45 16.07% 44
Row Labels Q10
Bạn bè, gia đình 29.83% 64 22.86% 71
Cơ quan quản lý nhà nước 36.13% 94 33.57% 86
Đối tác kinh doanh 12.61% 49 17.50% 30
Truyền thông 21.43% 73 26.07% 51
Row Labels Q12
Bình thường 5.88% 24 8.57% 14
Không biết 1.26% 2 0.71% 3
Không ủng hộ 23.95% 53 18.93% 57
Rất ủng hộ 34.45% 102 36.43% 82
Ủng hộ 34.45% 99 35.36% 82
Row Labels Q13
có 169 71.01% 211 75.36%
không 69 28.99% 69 24.64%
Row Labels Q14
Bình thường 23.95% 53 18.93% 57
Ít tán thành 13.45% 36 12.86% 32
Rất tán thành 15.13% 44 15.71% 36
Tán Thành 113 47.48% 147 52.50%
Row Labels Q17
Đơn giản hóa thủ tục hành chính 47 19.75% 53 18.93%
Cung cấp thông tin và hỗ trợ chi 44 18.49% 37 13.21% tiết thông tin về các Hiệp định
191
Hỗ trợ tiếp cận thị trường nước 42 17.65% 48 17.14%
ngoài
Hỗ trợ thông tin về thị trường 24 10.08% 39 13.93% trong nước
Hỗ trợ về khoa học, công nghệ và 18 7.56% 12 4.29% tài chính
Hỗ trợ xây dựng nguồn nguyên 23 9.66% 41 14.64% liệu đầu vào
Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực 40 16.81% 50 17.86% chất lượng cao cho ngành dệt may
Row Labels Q18
Xây dựng chiến lược nâng cao
chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu 36 15.13% 47 16.79%
mã
Nâng cấp kênh marketing nhằm
tiếp xúc và mở rộng thị trường 32 13.45% 38 13.57%
mới
Cải tiến khoa học công nghệ, ứng
dụng khoa học công nghệ thân 41 17.23% 49 17.50% thiện với môi trường, đáp ứng các
điều kiện của hiệp định
Xây dựng chuỗi giá trị nhấn mạnh
đến các công đoạn tạo giá trị lớn 26 10.92% 33 11.79%
hơn
Xây dựng thương hiệu quốc gia và 70 29.41% 86 30.71% mang tầm quốc tế
Mở rộng hoạt động sản xuất 33 13.87% 27 9.64%
Row Labels Q19
192
Cạnh tranh từ các đối tác bên 40 16.81% 40 14.29% ngoài
Chất lượng sản phẩm thấp 17 7.14% 13 4.64%
Thiếu hụt nguồn nhiên liệu đầu 23 9.66% 52 18.57% vào
Trình độ khoa học kỹ thuật thấp 45 18.91% 30 10.71%
Thiếu nguồn nhân lực chất lượng 29 12.18% 55 19.64% cao
Nguồn vốn ít 48 20.17% 27 9.64%
Cơ chế quản lý nhà nước 30 12.61% 15 5.36%
Ngành công nghiệp hỗ trợ chưa 7 2.94% 48 17.14% đáp ứng yêu cầu
Row Labels Q20
Tìm hiểu kỹ nội dung, chuẩn mực,
các quy định, quy trình và các thủ 36 15.13% 51 18.21% tục liên quan đến các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới
Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng
nguồn nhân lực nhằm đáp ứng với 35 14.71% 43 15.36%
yêu cầu mới
Từng bước tiến hành cải cách bộ
máy quản lý theo hướng hiện đại, 35 14.71% 41 14.64%
tiên tiến và hiệu quả.
Chuẩn bị các điều kiện cần thiết
để tiến hành đổi mới và chuyển 39 16.39% 34 12.14%
giao công nghệ mới
Tiến hành tìm hiểu, tiếp xúc, mở
rộng và thúc đẩy hoạt động kinh 22 9.24% 36 12.86%
doanh ở các thị trường mới
193
Chủ động tìm kiếm nguồn nguyên 28 11.76% 46 16.43% liệu đầu vào phục vụ sản xuất
Nâng cao hiệu quả sản xuất, chất
lượng sản phẩm và xây dựng 43 18.07% 29 10.36%
chiến lược thương hiệu mạnh
Row Labels Q22
Tác động rất lớn 83 29.64% 77 32.35%
Tác động lớn 75 26.79% 55 23.11%
Tác động bình thường 44 15.71% 44 18.49%
Ít tác động 40 14.29% 39 16.39%
Không tác động 38 13.57% 23 9.66%
Row Labels Q23
Ảnh hưởng rất tích cực 45 18.91% 55 19.64%
Ảnh hưởng tích cực 34 14.29% 32 11.43%
Ảnh hưởng rất tiêu cực 6 2.52% 9 3.21%
3.78% 11 3.93% Ảnh hưởng tiêu cực 9
Ảnh hưởng tích cực nhiều hơn tiêu 42 17.65% 55 19.64% cực
Ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn tích 9 3.78% 19 6.79% cực
Ảnh hưởng như nhau 45 18.91% 44 15.71%
Không ảnh hưởng 48 20.17% 55 19.64%
Row Labels Q24
Rất triển vọng 60 25.21% 79 28.21%
Triển vọng 83 34.87% 87 31.07%
Bình thường 48 20.17% 52 18.57%
Không triển vọng 29 12.18% 39 13.93%
Không biết 18 7.56% 23 8.21%
B. Bảng Khảo Sát
194
Bảng hỏi Khảo sát
Xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh hình thành các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới
Xin chân thành cảm ơn ông/bà đã tham gia Khảo sát "Xuất khẩu dệt may Việt
Nam trong bối cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”.
Mục đích tiến hành khảo sát Xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh hình
thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nhằm đánh giá nhận thức
của người dân và doanh nghiệp về các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
để phục vụ tư liệu cho việc viết luận án Tiến sỹ “Xuất khẩu dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin và nội dung được cung cấp trong khảo sát
đều được giữ bí mật, và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của Quý vị!
A. Thông tin chung
2. Giới tính: Nam 1. Tuổi:
Nữ
3. Trình độ/chuyên môn
A. Tiểu học B. Trung học cơ sở
C. Trung học phổ thông D. Trung cấp/đào tạo nghề
E. Cao đẳng/Đại học F. Sau đại học
G. Khác (nêu rõ)
4. Xin ông bà cho biết công việc của mình có liên quan đến ngành dệt may
không?
A. Có B. Không
5. Xin cho biết công việc hiện tại của ông bà thuộc khu vực nào?
A. Tư nhân B. Nhà nước
C. Liên doanh với nước ngoài D. 100% vốn nhà nước
E. Khác (nêu rõ)
6. Chức vụ cao nhất hiện tại của ông bà?
195
A. Nhân viên B. Chuyên gia
C. Trưởng/phó bộ phận và tương đương D. Trợ lý quản lý và tương
đương
E. Trưởng/phó phòng và tương đương F. Khác (nêu rõ)
B. Thông tin về các hiệp định thương mại tự do kiểu mới
7. Ông bà có biết (nghe) đến các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới hay
không?
A. Biết một Hiệp định B. Biết hơn một Hiệp định
C. Biết đầy đủ các Hiệp định D. Không biết (nếu không
biết chuyển sang câu 11)
8. Doanh nghiệp của ông/bà đã tìm hiểu thông tin về các Hiệp định thương
mại tự do thế hệ mới chưa?
B. Hiểu kỹ A. Hiểu rất kỹ
D. Hiểu sơ sài C. Hiểu bình thường
E. Chưa tìm hiểu
9. Doanh nghiệp của ông/bà nhận định gì về cơ hội khi Việt Nam tham gia
các hiệp định đó?
A. Rất triển vọng
B. Triển vọng
C. Bình thường
D. Không có triển vọng
E. Không biết
10. Ông bà biết đến các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới qua kênh
thông tin nào?
A. Cơ quan quản lý của nhà nước B. Các kinh truyền thông (TV,
Radio, báo mạng, mạng xã
hội…)
C. Đối tác kinh doanh D. Qua bạn bè, người thân
E. Khác (nêu rõ)
11. Xin cho biết mức độ am hiểu của Ông Bà về các Hiệp định thương mại tự
196
do thế hệ mới sau? (Theo mức độ am hiểu từ thấp đến cao).
Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Mức độ hiểu biết
0 1 2 3 4 5
11.1 Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên
Thái Bình Dương
11.2 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên
minh châu Âu
11.3 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn
Quốc
11.4 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam Liên minh
kinh tế Á – Âu
11.5 Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực
12. Xin cho biết quan điểm của Ông Bà về việc Việt Nam tham gia đàm phán
và ký kết các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới?
A. Rất ủng hộ B. Ủng hộ
C. Bình thường D. Không ủng hộ
E. Không biết
C. Ngành dệt may và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
13. Ông Bà có tán thành quan điểm cho rằng ngành dệt may nên được chú
trọng đặc biệt trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam
đang theo đuổi?
A. Có B. Không
14. Nếu trả lời “Có” trong câu 13, xin cho biết mức độ tán thành?
A. Rất tán thành B. Tán thành
C. Bình thường C. Ít tán thành
197
D. Ý kiến khác
15. Theo Ông bà, mức độ tác động của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực
dệt may của Việt Nam sẽ như thế nào?
A. Tác động rất lớn B. Tác động lớn
C. Tác động bình thường D. Ít tác động
E. Không tác động E. Ý kiến khác
16. Theo Ông Bà, Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nào có tác động như
thế nào đến hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam?
(theo thứ tự lớn nhấttừ 0 đến 5).
Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Thứ tự
0 1 2 3 4 5
16.1 Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên
Thái Bình Dương (CPTPP)
16.2 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên
minh châu Âu (EVFTA)
16.3 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn
Quốc
16.4 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam Liên minh
kinh tế Á – Âu (VN-EAEU)
16.5 Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực
(RCEP)
17. Theo Ông Bà, ưu tiên mà các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay
mong muốn nhà nước hỗ trợ trong quá trình hội nhập (có thể chọn nhiều đáp
án)?
A. Đơn giản hóa thủ tục hành chính
B. Cung cấp thông tin và hỗ trợ chi tiết thông tin về các Hiệp định
198
C. Hỗ trợ tiếp cận thị trường nước ngoài
D.Hỗ trợ thông tin về thị trường trong nước
E. Hỗ trợ về khoa học, công nghệ và tài chính
F. Hỗ trợ xây dựng nguồn nguyên liệu đầu vào
G. Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành dệt may
H. Hỗ trợ khác (nêu rõ)
18. Theo Ông Bà, doanh nghiệp dệt may cần làm gì để nắm bắt cơ hội từ các
hiệp định thương mại tự do thế hệ mới? (có thể chọn nhiều hơn một đáp án)
A. Xây dựng chiến lược nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu
mã
B. Nâng cấp kênh marketing nhằm tiếp xúc và mở rộng thị trường mới
C. Cải tiến khoa học công nghệ, ứng dụng khoa học công nghệ thân
thiện với môi trường, đáp ứng các điều kiện của hiệp định
D. Xây dựng chuỗi giá trị nhấn mạnh đến các công đoạn tạo giá trị lớn
hơn
E. Xây dựng thương hiệu quốc gia và mang tầm quốc tế
G. Mở rộng hoạt động sản xuất
H. Ý kiến khác
19. Theo Ông Bà, ngành dệt may Việt Nam đối diện với thách thức nào khi
Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới? (có thể chọn
nhiều hơn một đáp án)
A. Cạnh tranh từ các đối tác bên ngoài
B. Chất lượng sản phẩm thấp
C. Thiếu hụt nguồn nhiên liệu đầu vào
D. Trình độ khoa học kỹ thuật thấp
E. Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao
F. Nguồn vốn ít
H. Cơ chế quản lý nhà nước
G. Ngành công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng yêu cầu
199
K. Khác (nêu rõ)
20. Doanh nghiệp của Ông/Bà đã triển khai những hoạt động gì để tận dụng
cơ hội, phát huy những lợi thế của mình và khắc phục những khó khăn, hạn
chế những thách thức từ các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới?
A. Tìm hiểu kỹ nội dung, chuẩn mực, các quy định, quy trình và các
thủ tục liên quan đến các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
B. Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng với
yêu cầu mới
C. Từng bước tiến hành cải cách bộ máy quản lý theo hướng hiện đại,
tiên tiến và hiệu quả.
D. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến hành đổi mới và chuyển
giao công nghệ mới
E. Tiến hành tìm hiểu, tiếp xúc, mở rộng và thúc đẩy hoạt động kinh
doanh ở các thị trường mới
F. Chủ động tìm kiếm nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất
G. Nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm và xây dựng chiến
lược thương hiệu mạnh
H. Khác (nêu rõ)
21. Doanh nghiệp của ông/bà có tuân thủ những quy định của các Hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới và các cam kết của Việt Nam trong sản xuất và
xuất khẩu hàng dệt, may?
A. Rất tuân thủ B. Tuân thủ
C. Tuân thủ bình thường C. Tuân thủ hạn chế
D. Chưa tuân thủ
22. Theo Ông Bà, cách mạng công nghiệp 4.0 có tác động như thế nào đến
ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại
tự do thế hệ mới?
A. Tác động rất lớn B. Tác động lớn
C. Tác động bình thường D. Ít tác động
200
E. Không tác động F. Ý kiến khác
23. Theo Ông bà, cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ hiện nay có ảnh hưởng
đến chiến lược xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam hay không?
A. Ảnh hưởng rất tích cực B. Ảnh hưởng tích cực
C. Ảnh hưởng rất tiêu cực D. Ảnh hưởng tiêu cực
E. Ảnh hưởng tích cực nhiều hơn tiêu cực F. Ảnh hưởng tiêu cực
nhiều hơn tích cực
G. Ảnh hưởng như nhau H. Không ảnh hưởng
24. Theo Ông Bà, triển vọng xuất khẩu dệt may của Việt Nam khi các hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới có hiệu lực?
A. Rất triển vọng
B. Triển vọng
C. Bình thường
D. Không có triển vọng
E. Không biết
201
Xin chân thành cảm ơn!
202

