VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CHU TRỌNG TRÍ

XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HÌNH THÀNH CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI

Chuyên ngành : Kinh tế Quốc tế

Mã số : 9 31.01.06

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI 2023

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CHU TRỌNG TRÍ

XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HÌNH THÀNH CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI

Chuyên ngành : Kinh tế Quốc tế

Mã số : 9 31.01.06

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. GS.TS. Ngô Xuân Bình

2. PGS.TS. Nguyễn Huy Hoàng

HÀ NỘI 2023

HÀ NỘI 2023

HÀ NỘI 2023

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu thu

thập, trích dẫn, xử lý từ các nguồn chính thức và của riêng tác giả. Kết quả nêu

trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

khác.

Tác giả luận án

Chu Trọng Trí

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN

QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN ........................................................................ 9

1.1. Nội dung tổng quan ............................................................................................ 9

1.1.1. Các nghiên cứu về sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may của Việt

Nam ..................................................................................................................... 9

1.1.2. Các công trình nghiên cứu về sự hình thành các FTA thế hệ mới

và sự tham gia của Việt Nam ........................................................................... 20

1.1.3. Các công trình nghiên cứu về tác động của FTAs thế hệ mới tới

xuất khẩu dệt may của Việt Nam. ..................................................................... 23

1.2. Đánh giá chung ................................................................................................. 30

1.2.1. Kết quả nghiên cứu đã đạt được của các công trình nghiên cứu

trước .................................................................................................................. 30

1.2.2. Khoảng trống nghiên cứu .............................................................. 31

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU DỆT MAY TRONG BỐI

CẢNH VIỆT NAM THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO

THẾ HỆ MỚI ...................................................................................................... 33

2.1. Các khái niệm và lý thuyết về xuất khẩu ....................................................... 33

2.1.1. Các khái niệm liên quan đến xuất khẩu dệt may ........................... 33

2.1.2. Một số lý thuyết về xuất khẩu .......................................................... 35

2.2. Khái quát về xuất khẩu dệt may ..................................................................... 41

2.2.1. Vị trí, vai trò của ngành dệt may xuất khẩu dệt may trong nền kinh

tế ........................................................................................................................ 41

2.2.2. Đặc điểm của sản xuất và xuất khẩu dệt may ................................. 45

2.2.3. Vai trò của xuất khẩu dệt may đối với phát triển kinh tế ............... 47

2.2.4. Một số nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam . 49

2.2.5. Các phương thức xuất khẩu dệt may .............................................. 57

2.3. Khái quát về hiệp định thương mại tự do thế hệ mới ................................... 58

2.3.1. Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và sự hình thành các hiệp

định thương mại tự do thế hệ mới .................................................................... 58

2.3.2. Khái niệm FTA thế hệ mới ................................................................ 60

2.3.3. Đặc điểm của FTA thế hệ mới .......................................................... 62

2.3.4. Tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tới nền

kinh tế của các quốc gia thành viên ................................................................. 67

Tiểu kết chương 2. ................................................................................................... 72

CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM TRONG

BỐI CẢNH VIỆT NAM THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ

DO THẾ HỆ MỚI ............................................................................................... 73

3.1. Khái quát về ngành công nghiệp dệt may Việt Nam .................................... 73

3.1.1. Sự hình thành và phát triển của ngành dệt may Việt Nam ............ 73

3.1.2. Khái quát tình hình sản xuất của ngành dệt may Việt Nam ........... 74

3.1.3. Khái quát về các hiệp định tự do thế hệ mới Việt Nam tham gia .. 75

3.2. Thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam ............................................... 75

3.2.1. Kim ngạch xuất khẩu dệt may .......................................................... 81

3.2.2. Các thị trường xuất khẩu ................................................................. 86

3.2.3. Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu ................................................ 98

3.3. Nhận xét, đánh giá về thực trạng xuất khẩu dệt may Việt Nam ............... 102

3.3.1. Những thành công đã đạt được ..................................................... 102

3.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân .................................................... 105

3.4. Tác động của các FTA thế hệ mới tới kim ngạch xuất khẩu dệt may của

Việt Nam................................................................................................................. 112

3.4.1. Cam kết trong CPTPP và tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt

Nam ................................................................................................................. 112

3.4.2. Cam kết trong EVFTA và tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt

Nam ................................................................................................................. 116

3.4.3. Cam kết trong UKVFTA và tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt

Nam ................................................................................................................. 118

Tiểu kết chương 3 .................................................................................................. 120

CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT

KHẨU DỆT MAY TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM THỰC THI CÁC HIỆP

ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI ............................................... 122

4.1. Dự báo nhu cầu thị trường dệt may thế giới ............................................... 122

4.1.1. Các nhân tố tác động tới nhu cầu thị trường dệt may thế giới ...... 122

4.1.2. Dự báo nhu cầu thị trường dệt may thế giới .................................. 131

4.2. Quan điểm, định hướng và mục tiêu xuất khẩu dệt may Việt Nam .......... 133

4.2.1. Quan điểm, định hướng của Việt Nam về xuất khẩu dệt may ....... 133

4.2.2. Mục tiêu xuất khẩu dệt may đến năm 2030 ................................... 136

4.3. Phân tích SWOT xuất khẩu dệt may Việt Nam .......................................... 138

4.3.1. Cơ hội mang lại từ các FTA thế hệ mới đối với xuất khẩu dệt ma 138

4.3.2. Thách thức đối với xuất khẩu dệt may từ các FTA thế hệ mới ...... 144

4.3.3. Điểm mạnh của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam ..................... 153

4.3.4. Điểm yếu của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam ......................... 154

4.4. Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh

Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới ....................... 158

4.4.1. Nhóm giải pháp vĩ mô từ phía nhà nước ........................................ 158

4.4.2. Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp ........................................... 165

Tiểu kết chương 4.................................................................................................... 171

PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................................ 172

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 175

I. Tài liệu tiếng Việt ................................................................................................ 175

II. Tài liệu Tiếng Anh .............................................................................................. 180

PHỤ LỤC .......................................................................................................... 189

A.Tổng hợp kết quả khảo sát .................................................................................. 189

B. Bảng Khảo Sát .................................................................................................... 194

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

EU: Liên minh châu Âu (European Union)

FTA: Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement)

VITAS: Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vietnam Textile and Apparel

Association)

CPTPP: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình

Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific

Partnership)

EVFTA: Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam

(Viet Nam- EURO Free Trade Agreement)

SWOT: Phân tích Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats

UNCOMTRADE: Cơ sở dữ liệu thống kê thương mại quốc tế của Liên hợp

quốc (United Nations Comtrade)

JICA: Tổ chức Hợp tác Quốc tế của Nhật Bản (The Japan

International Cooperation Agency)

NEU: Đại học Kinh tế Quốc dân (National Economics

University)

Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization) WTO:

Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (Vietnam VCCI:

Chamber of Commerce and Industry)

Chương trình phát triển dự án Mekong MPDF:

Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới FTAs:

Sở hữu trí tuệ ( Intellectual Property Right) IPR:

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investmen)

VKFTA: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- Hàn Quốc (Viet

Nam- Korean Free Trade Agreement)

RCEP: Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực ( Regional

Comprehensive Economic Partnership)

DANH MỤC CÁC BẢNG

TT Bảng Tên Bảng Trang

83 Bảng 3.1 Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam 2009 -

2021

84 Bảng 3.2 Tình hình xuất khẩu các sản phẩm của ngành dệt

may 2020

92 Bảng 3.3 Kim ngạch Xuất khẩu dệt may sang EU (2009 -

2021)

94 Bảng 3.4 Giá trị và tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam

sang Vương Quốc Anh giai đoạn 2009 - 2021

Bảng 3.5 96 Top 10 thị trường xuất khẩu dệt may của Việt Nam

năm 2021

Bảng 3.6 97 Xuất khẩu dệt may của Việt Nam đến một số thị

trường chính giai đoạn 2009-2021 (tỷ USD)

Bảng 3.7 Thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 2020 99

Một số chủng loại hàng dệt may xuất khẩu năm 2020 100 Bảng 3.8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

STT hình Tên hình Trang

68 Hình 2.1 Nhận định của người dân và doanh nghiệp về cơ hội

khi Việt Nam tham gia các FTA thế hệ mới

Hình 3.1 108 Nhập khẩu nguyên phụ liệu và xuất khẩu dệt may của

Việt Nam (tỷ USD)

Hình 3.2 110 Tỷ lệ nguyên phụ liệu nhập khẩu trên xuất khẩu của

ngành dệt may Việt Nam

Hình 3.3 Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may 111

124 Hình 4.1 Đánh giá tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối

với xuất khẩu dệt may của Việt Nam

126 Hình 4.2 Đánh giá tác động của xung đột thương mại Mỹ -

Trung đối với xuất khẩu dệt may Việt Nam

Hình 4.3 Các mục tiêu cụ thể của ngành dệt may đến năm 2030 136

Hình 4.4 Đánh giá cơ hội khi tham gia các FTA thế hệ mới 142

149 Hình 4.5 Đánh giá thách thức đối với xuất khẩu dệt may Việt

Nam

Hình 4.6 Thách thức khi Việt Nam thực thi các FTA thế hệ mới 151

Hình 4.7 Mức độ hiểu biết của người dân về các FTA thế hệ mới 152

159 Hình 4.8 Ưu tiên hỗ trợ từ nhà nước đối với doanh nghiệp xuất

khẩu dệt may

Hình 4.9 Ưu tiên thực hiện các giải pháp đối với doanh nghiệp 168

Hình 4.10 Dệt may và Liên kết thị trường 169

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là bước đi tất yếu đối với mọi

quốc gia hiện nay như là một xu thế khách quan và Việt Nam cũng không thể

đứng ngoài xu hướng đó. Trong những năm vừa qua, Việt Nam cho thấy vai

trò quan trọng trong một loạt các tổ chức, sáng kiến về thương mại không chỉ

trong phạm vi khu mà trên phạm vi toàn cầu, điển hình như Khu vực Mậu

dịch tự do ASEAN (AFTA), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Diễn đàn

Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại

Thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp

định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Bên cạnh

đó, cũng phải kể đến một loạt các hiệp định thương mại song phương với các

đối tác quan trọng như Liên minh Châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung

Quốc. Nói cách khác, tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới diễn ra

sôi động trong dài gian qua của Việt Nam khẳng định quan điểm chiến lược

xuyên suốt của Đảng và Nhà nước; đồng thời, tái khẳng định chiến lược tăng

trưởng kinh tế lấy xuất khẩu làm trọng tâm. Trên bình diện chung, tất cả các

ngành kinh tế của Việt Nam cơ bản đều nhận được nhiều lợi ích từ các hiệp

định thương mại tự do. Tuy nhiên, có thể thấy các vấn đề của ngành dệt may

luôn được xem là nội dung trọng tâm trong đàm phán các hiệp định thương

mại tự do. Có một sự đồng thuận khách quan không chỉ riêng các chuyên gia,

người làm chính sách mà cả giới doanh nghiệp dệt may rằng ngành dệt may

của Việt Nam là ngành có tiềm năng thu được lợi ích lớn nhất khi các hiệp

định FTA được thực thi.

Theo dữ liệu thống kê xuất khẩu của Việt Nam, dệt may là lĩnh vực

xuất khẩu chiến lược của Việt Nam. Trên phạm vi toàn cầu, Việt Nam là nhà

xuất khẩu dệt may lớn thứ tư thế giới, đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ và

Bangladesh. Đáng chú ý, Việt Nam là nhà xuất khẩu dệt may duy nhất trên

1

thế giới duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn kinh tế toàn cầu

suy giảm 2008-2014, chứng tỏ năng lực của ngành xuất khẩu dệt may Việt

Nam đang ngày càng được cải thiện trên trường quốc tế. Theo số liệu thống

kê từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, thị phần xuất khẩu dệt may của Việt Nam

tại các thị trường chính đều tăng mạnh, đặc biệt thị phần tại thị trường chủ

chốt Hoa Kỳ đã tăng chỉ từ hơn 1% năm 2005 lên hơn 10% năm 2015, và đạt

đỉnh 45% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành. Thực tế cũng cho thấy

năng suất lao động kỹ thuật ngành dệt may Việt Nam cũng không ngừng được

cải thiện. Theo dữ liệu của Công đoàn Dệt may Việt Nam, thu nhập bình quân

của công nhân dệt may tăng từ 50 triệu VNĐ năm 2015 lên hơn 80 triệu VNĐ

năm 2019.

Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam vẫn hiện hữu nhiều hạn chế mang

tính căn bản, đặc biệt tỷ lệ sản xuất nguyên liệu nội địa thấp, phần lớn phụ

thuộc chính vào nguồn cung từ thị trường bên người. Kết quả là giá trị gia

tăng trong sản phẩm xuất khẩu chưa tương xứng với năng lực thực sự. Số liệu

từ VITAS chỉ ra một thực tế đáng buồn là năm 2015 Việt Nam nhập khẩu 7,8

tỷ USD nguyên liệu vải, tương đương 58% tổng giá trị nguyên liệu vải đầu

vào cho toàn ngành dệt may. Tình trạng trên càng đáng quan ngại hơn khi

năm 2019 để cung cấp đầu vào cho sản xuất dệt may, Việt Nam phải nhập

khẩu nguyên vải lên tới 11,4 tỷ USD. Thực tế đó cho thấy, mặc dù tốc độ tăng

trưởng giá trị lẫn số lượng xuất khẩu các mặt hàng dệt may cho thấy rất ấn

tượng, Việt Nam vẫn phụ thuộc quan trọng vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu

từ bên ngoài. Bên cạnh đó, các công đoạnh có giá trị gia tăng cao như, thương

hiệu sản phẩm, thiết kế, hay sở hữu các kênh phân phối còn rất hạn chế, cùng

với đó, tính liên kết thị trường còn yếu. Theo VITAS, tính đến năm 2019 Việt

Nam có hơn 6.000 doanh nghiệp dệt may, tuy nhiên có đến 90% tổng số đó

các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (dưới 500 công nhân) (theo Bộ Công

thương, con số này là hơn 8450 doanh nghiệp, bao gồm cả cách nghiệp

nghiệp hộ gia đình và cá thể). Thực tế này cho thấy, mô hình kinh doanh dệt

may của Việt Nam không phải là mô hình cạnh tranh hiệu quả, đặc biệt đặt

2

trong bối cảnh tính cạnh tranh ngành trên quy mô toàn cầu ngày càng khốc

liệt hơn. Ngoài ra, việc quy hoạch vùng trọng điểm phát triển doanh nghiệp

dệt may xuất khẩu chưa thực sự hiệu quả, trong đó phần lớn doanh nghiệp dệt

may sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực cắt và may, chỉ có số ít doanh nghiệp

hoạt động trong các khâu nhuộm, chế tạo vải sợi, đã và đang gây ra sự mất

cân đối nghiêm trọng của ngành dệt may.

Tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với Liên minh

châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình

dương (CPTPP), và các hiệp định thương mại song phương, ngành dệt may

của Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ nhờ việc các mặt

hàng dệt may dễ dàng tiếp cận các thị trường trên thuận lợi hơn. Đặc biệt, việc

tham gia casv FTA thế hệ mới cũng sẽ đòi hỏi các quốc gia thành viên phải

đảm bảo thực thi nguyên tắc xuất xứ (OR), điều này được xem như là một

trong những chỉ dấu sẽ có những tác động tích cực tới ngành dệt may Việt

Nam. Vấn đề đặt ra là, nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may phản

ứng ra sao để biến những lợi ích tiềm năng có được từ các hiệp định thương

mại tự do thế hệ mới trở thành nền tảng góp phần phát triển kinh tế, nhất là sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, các hiệp định

thương mại tự do thế hệ mới không chỉ toàn màu hồng với Việt Nam mà còn

bao gồm nhiều rủi ro, thách thức từ sự cạnh tranh tăng lên, các yêu cầu về tiêu

chuẩn kỹ thuật chặt chẽ hơn... Để tận dụng tốt các cơ hội cũng như việc chuẩn

bị vững vàng vượt qua các thách thức trong bối cảnh mới, Việt Nam tất yếu

cần phải có chính sách, giải pháp hợp lý, đồng bộ để thúc đẩy hơn nữa xuất

khẩu các sản phẩm dệt may của Việt Nam. Vì thế, nghiên cứu sinh đã lựa

chọn đề tài “Xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh hình thành các

hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” làm đề tài cho luận án ngành Kinh

tế quốc tế. Những nghiên cứu, kiến nghị của luận án sẽ là một công trình khảo

cứu có ý nghĩa quan trọng cho các nhà làm chính sách, các doanh nghiệp dệt

may trong việc đưa ra các giải pháp, chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp

3

nhằm tận dụng tốt những lợi ích đến từ việc tham gia các FTA thế hệ mới.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1. Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu thực trạng xuất khẩu các mặt hàng dệt may

của Việt Nam trong thời gian qua, Luận án đề xuất một số giải pháp nhằm

thúc đầy xuất khẩu các mặt hàng dệt may trong bối cảnh hình thành các hiệp

định thương mại tự do thế hệ mới .

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất khẩu dệt may trong bối

cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

- Phân tích và đánh giá tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong

bối cảnh hình thành các FTA thế hệ mới mà Việt Nam đang tham gia.

- Phân tích những cơ hội, khó khăn và thách thức mà xuất khẩu dệt may

Việt Nam sẽ phải đối mặt trong quá trình Việt Nam các FTA thế hệ mới.

- Đánh giá triển vọng xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Qua đó, luận án

đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt Nam trong

bối cảnh hình thành các FTA thế hệ mới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là thực trạng xuất khẩu dệt may của

Việt Nam trong bối cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ

mới.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng xuất khẩu

dệt may của Việt Nam 2009 đến nay (2021). Lý do chọn mốc thời gian này là:

Các FTA thế hệ mới như CPTPP; EVFTA; UKVFTA…được Việt Nam khởi

động đàm phán CPTPP (2019), tiếp theo đó là EVFTA và UKVFTA. Cụ thể:

khởi động tham gia TPP với tư cách là quan sát viên đặc biệt (2009). Sau 3

phiên đàm phán, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định này nhân Hội nghị

Cấp cao APEC tổ chức từ ngày 13 đến ngày 14 tháng 11 năm 2010 tại thành

4

phố Yokohama (Nhật Bản); Tiếp đến tháng 10/2010, Thủ tướng Chính phủ

Việt Nam và Chủ tịch Liên minh châu Âu (EU) đã đồng ý khởi động đàm

phán Hiệp định EVFTA sau khi hai bên hoàn tất các công việc kỹ thuật.

EVFTA là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới giữa Việt Nam

và 28 nước thành viên EU. Thực hiện chỉ đạo của hai nhà lãnh đạo, Việt Nam

và EU đã chính thức tuyên bố khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA vào

ngày 26/6/2012 và sau đó là UKVFTA.

Phạm vi nội dung: Với chủ đề: Xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối

cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Luận án sẽ tập

trung vào nội dung phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt

Nam trên các khía cạnh: Quy mô, kim ngạch xuất khẩu; Thị trường xuất khẩu

và cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu. Các nội dung phân tích này được đặt

trong bối cảnh một số FTA thế hệ mới mà Việt Nam tham gia đã được hình

thành và có hiệu lực. Như vậy, “bối cảnh hình thành FTA thế hệ mới” ở đây

được hiểu là quá trình kể từ khi Việt Nam khởi động đàm phán CPTPP (2009)

tính đến nay (10/2022). Trong giai đoạn này có các FTA thế hệ mới như

CPTPP, EVFTA, UKVFTA đã có hiệu lực và đang được Việt Nam triển khai

thực thi.

Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu các doanh nghiệp xuất khẩu

dệt may của Việt Nam. Tuy nhiên, ở một số trường hợp và bối cảnh cụ thể

không gian và thời gian có thể được mở rộng tương đối nhằm mục đích làm

nổi bật vấn đề nghiên cứu.

4. Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu khoa học liên

ngành trong nghiên cứu khoa học xã hội như phương pháp phương pháp so

sánh, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê… Nói cách khác,

phương pháp nghiên cứu tại bàn là phương pháp chủ đạo của Luận án. Bên

cạnh đó, phương pháp phân tích SWOT sẽ được sử dụng để bổ sung cho

phương pháp nghiên cứu tại bàn. Đặc biệt, nhằm tăng tính khoa học và tính

chân thực của nghiên cứu, Luận án sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu hiện

5

trường, ở đây là phương pháp khảo sát. Đây sẽ là phương pháp được xem bổ

sung hữu ích và gia tăng tính khoa học cho các phương pháp nghiên cứu tại

bàn được sử dụng trong Luận án.

Dữ liệu sử dựng trong Luận án sẽ được lấy từ hai nguồn dữ liệu sơ cấp

và dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp được nghiên cứu sinh trích xuất từ các cơ

sở dữ liệu tin cậy, chủ yếu từ Tổng cục Tống kế Việt Nam, Tổng cục Hải

quan Việt Nam, Hiệp hội dệt may Việt Nam và Cơ sở dữ liệu thống kê thương

mại quốc tế của Liên hợp quốc (UN Comtrade). Trong khi đó, dữ liệu sơ cấp

được trích xuất từ khảo sát hiện trường thông qua phiếu điều tra khảo sát.

Cách tiếp cận: Luận án sẽ tiếp cận các vấn đề nghiên cứu theo cách tiếp

cận hệ thống, từ cơ sở lý luận đến thực tiễn vấn đề, từ cơ hội và thách thức

đến định hướng chiến lược và giải pháp phát triển.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án có những đóng góp quan trọng cả về lý luận về thực tiễn. Cụ

thể:

- Làm rõ cơ sở lý luận về xuất khẩu dệt may trong bối cảnh hình thành

các hiệp định tự do thế hệ mới. Luận án làm rõ đặc điểm và các nhân tố ảnh

hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Đồng thời, các khái niệm và sự

khác biệt giữa hiệp định thương mại tự do truyền thống và hiệp định thương

mại tự do thế hệ mới cũng được chỉ rõ.

- Phân tích bức tranh xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong bối cảnh

hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Trong đó, những cơ

hội và thách thức, điểm mạnh và điểm yếu của ngành dệt may Việt Nam nói

chung và xuất khẩu dệt may nói riêng được chỉ ra một cách cụ thể.

- Phân tích bối cảnh trong nước và thế giới tác động đến xuất khẩu dệt

may Việt Nam trong quá trình hình thành các hiệp định thương mại tự do thế

hệ mới.

- Phân tích quan điểm, định hướng và các giải pháp để thúc đẩy xuất

khẩu dệt may Việt Nam trong quá trình hình thành các hiệp định thương mại

6

tự do thế hệ mới.

- Từ góc độ tiếp cận đánh giá cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu dệt

may của Việt Nam trong bối cảnh hình thành các FTA thế hệ mới, Luận án đề

xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong

bối cảnh Việt Nam tham gia các FTAs thế hệ mới.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận:

Trên cơ sở trình bày vị trí, vai trò cà đặc điểm của xuất khẩu dệt may,

Luận án chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam

trong bối cảnh Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu về lĩnh

vực kinh tế quốc tế nói chung và lĩnh vực thương mại quốc tế nói riêng.

Ý nghĩa thực tiễn:

Luận án đưa ra được cái nhìn tổng quát về tình hình xuất khẩu dệt may

Việt Nam trong bối cảnh hình thành và thực thi các hiệp định thương mại tự

do thế hệ mới. Đặc biệt, trong bức tranh tổng quát đó, Luận án sẽ nêu bật

được thực trạng xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam, đồng

thời đưa ra được những điểm mạnh và điểm yếu của xuất khẩu dệt may Việt

Nam.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh hình thành và thực thi các hiệp định

thương mại tự do thế hệ mới, Luận án đi sâu xem xét những cơ hội và thách

thức đối với ngành sản xuất dệt may nói chung, trong đó đặc biệt tập trung

vào xuất khẩu dệt may Việt Nam. Trên cơ sở đó, Luận án đề xuất một số giải

pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa xuất khẩu dệt may Việt Nam trong quá trình

hình thành và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của

tác giả và danh mục tài liệu tham khảo, luận án bao gồm 4 chương:

Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề

7

luận án

Chương 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu dệt may trong bối cảnh Việt Nam

tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Chương 3. Thực trạng xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh Việt

Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Chương 4. Định hướng và một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may

Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam thực thi các hiệp định thương mại tự do

8

thế hệ mới

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN

QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN

1.1. Nội dung tổng quan

1.1.1. Các nghiên cứu về sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may của Việt

Nam

Ngành sản xuất và xuất khẩu dệt may của Việt Nam mặc dù có lịch sử

phát triển chưa lâu và chỉ thực sự được biết đến rộng rãi kể từ khi Việt Nam

gia nhập WTO, tuy nhiên với sự tăng trưởng bùng nổ cả về số lượng và chất

lượng sản phẩm cho nên chủ đề về sản xuất dệt may Việt Nam nói chung và

xuất khẩu dệt may Việt Nam nói riêng đặc biệt nhận được rất nhiều sự quan

tâm của không chỉ giới làm chính sách, các nhà đầu tư và cả các nhà nghiên

cứu trên thế giới. Chủ đề ngành dệt may Việt Nam nói chung và xuất khẩu dệt

may Việt Nam nói riêng theo đó được khai thác ở nhiều khía cạnh, trên nhiều

góc độ khác nhau, từ chủ trương chính sách, chiến lược phát triển, đến các

vấn đề liên quan đến thành tựu, thất bại, hạn chế, cũng như hạn chế triển vọng

trong tương lai. Trong khuôn khổ của luận án, nghiên cứu sinh sẽ tập trung

tổng quan các công trình tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất và liên quan gần nhất

đến đề tài nghiên cứu, qua đó, tổng quát hóa các vấn đề đã nghiên cứu và tìm

ra khoảng trống nghiên cứu.

Một trong những công trình tiêu biểu đầu tiên đề cập đến các vấn đề của

ngành sản xuất dệt may Việt Nam là tác phẩm của tác giả Phạm Thị Thu

Phương (2000). Trong cuốn sách chuyên khảo này, tác giả đã hệ thống hóa

toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn sản xuất dệt may của Việt Nam kể từ

khi đất nước đổi mới đến những năm cuối thế kỷ 20. Thông qua việc phân

tích tình hình thực tế, xem xét bối cảnh trong nước và quốc tế, và đồng thời

khảo sát kinh nghiệm phát triển của các quốc gia đi trước, tác giả đã phần nào

hệ thống hóa được chiến lược nâng cao hiệu quả phát triển của ngành dệt may

9

Việt Nam. Thông qua đó, tác giả đưa ra một số giải pháp căn cơ ở trên cả hai

cấp độ vĩ mô (nhà nước) và vi mô (doanh nghiệp) nhằm nâng cao hiệu quả

của ngành dệt may trong thời kỳ hội nhập mới của thế kỷ 21. Trong tác phẩm,

tác giả mặc dù đánh giá cao tiềm tăng phát triển của ngành dệt may Việt Nam,

tuy nhiên, để có thể tiến xa trong cuộc chơi toàn cầu, tác giả nhấn mạnh đến

hạn chế cố hữu của ngành sản xuất dệt may, đó là rào cản về tự chủ đối với

nguyên vật liệu đầu vào của ngành. Từ đó, tác giả cho rằng xây dựng và phát

triển mạng lưới cung cấp nguyên vật liệu đầu vào là việc làm tối quan trọng

để có thể dẫn tới những thành công trong tương lai.

Công trình của tác giả Dương Đình Giám (2001) cũng được xem là một

trong những tài liệu tham khảo hữu ích trong giai đoạn đầu của tiến trình xây

dựng ngành dệt may, đặc biệt đặt trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại

hóa đất nước. Tác giả Dương Đình Giám đầu tiên tập trung chủ yếu vào việc

phân tích thực trạng của ngành dệt may Việt Nam, sau đó, dựa trên trực trạng

và bối cảnh chung, tác giả đã nêu bật được những thành tựu và hạn chế của

ngành sản xuất dệt may. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những nguyên nhân

dẫn tới những kết quả đạt được, và những nguyên nhân còn tồn tại gây ra sự

yếu kém của sản xuất dệt may của Việt Nam. Trên cơ sở phân tích đó, tác giả

đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ngành dệt may của Việt Nam.

Không quá khó để nhận ra, công trình nghiên cứu này của Dương Đình Giám

có nhiều đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn, tuy nhiên chưa thoát khỏi

giới hạn phạm vi và lối nguyên cứu truyền thống là việc xem xét thực trạng,

phân tích hạn chế, và đưa ra giải pháp, cái đã được đề cập trong rấ nhiều các

nghiên cứu trước đó.

Cũng đề cập đến vấn đề chung của ngành dệt may Việt Nam, tuy nhiên

Nguyễn Hoàng Giang (2014) lại tiếp cận dưới góc độ chiến lược thương hiệu.

Tác giả cho rằng dù sản xuất dệt may của Việt Nam có đạt được nhiều thành

tựu về số lượng lẫn chất lượng nhưng nếu không có tầm nhiền chiến lược về

thương hiệu thì sẽ luôn bị thiệt thòi trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ với

các thương hiệu mạnh đến từ các quốc gia khác. Dựa trên việc xem xét tình

10

hình thực tế của việc xây dựng thương hiệu ở cấp quốc gia và cấp doanh

nghiệp hiện nay của Việt Nam, tác giả luận giải một số giải pháp với mong

muốn xác lập địa vị cho thương hiệu ngành dệt may Việt Nam trên bản đồ dệt

may thế giới.

Trần Thị Bích trong bài viết “Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của

các doanh nghiệp dệt may Việt Nam” trên Tạp chí Quản lý Kinh tế Quốc tế số

95 năm 2017 quan tâm đến vấn đề đánh giá hiệu quả kinh doanh của các

doanh nghiệp dệt may. Tác giả tiếp cận ngành dệt may dưới góc độ chỉ tiêu,

có nghĩa là phân tích cách thức đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doanh

nghiệp dệt may: dựa vào tốc độ tăng trưởng, khả năng áp dụng công nghệ,

chất lượng sản phẩm, hoặc sức mạnh thương hiệu. Tác giả kết luận rằng việc

đánh giá hiệu quả doanh nghiệp dệt may cần phải được xem xét trong bối

cảnh tổng thể của nhiều yếu tố, doanh nghiệp cần đồng thời thực hiện nó. Do

đó, chúng ta cần xây dựng bộ chỉ tiêu chung làm thước đo tiêu chuẩn trong

việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may.

Phùng Quỳnh Trang (2017) trong bài viết của mình tiếp cận sản xuất

ngành sản xuất dệt may dưới góc độ sản xuất đi liền với các vấn đề về môi

trường. Tác giả khẳng định việc tăng trưởng sản xuất cần phải gắn liền với

môi trường bền vững, nghĩa là việc sản xuất phải được xem xét bao gồm các

yếu tố bảo vệ môi trường. Tác giả cho rằng ngành dệt may là ngành có mức

độ gây ô nhiễm cao, tác động trực tiếp đến không chỉ hệ sinh thái tự nhiên và

cả đời sống của con người. Do đó, phát triển ngành dệt may bền vững (năng

lực cạnh tranh) của ngành dệt may phải được gắn mật thiết với các giải pháp

sản xuất sạch và thân thiệt với môi trường.

Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu và các báo cáo chuyên đề ở những khía

cạnh khác nhau cũng nghiên cứu về xuất khẩu dệt may và tham gia chuỗi giá

trị toàn cầu của Việt Nam. Xuất khẩu dệt may đóng vai trò quan trọng trong

chiến lược xuất khẩu của Việt Nam cũng như ngành mũi nhọn tiên phong

giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các định chế thương mại khu vực thế

giới. Số liệu thống kê về xuất khẩu dệt may Việt Nam cho thấy những con số

11

tăng trưởng khá cao không chỉ về số lượng và chất lượng, mà còn cả sức

mạnh của thương hiệu, nhưng giá trị tăng của xuất khẩu dệt may lại không

tương đồng với bức tranh sôi động đó. Điều này được lý giải bởi thực tế là

Việt Nam hiện vẫn đang ở trong vị trí thấp trong chuỗi giá trị ngành dệt may

toàn cầu. Xuất phát từ nguyên nhân đó, có nhiều nhiều nghiên cứu đi sâu phân

tích xuất khẩu dệt may và chuỗi giá trị ngành dệt may toàn cầu, nhằm đưa ra

cái nhìn tổng quát về mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và giá trị thực tế mà

ngành dệt may của Việt Nam nhận được.

Công trình nghiên cứu do nhóm tác giả Oteifa, Dietmar Stiel, Roger

Fielding, Peter Davies (2000) là một trong những tác phẩm đầu tiên đi nghiên

cứu sâu về ngành dệt may Việt Nam. Bài viết đã đưa ra một bức tranh khái

quát tình hình sản xuất của ngành dệt may Việt Nam trong quá trình chuyển

đổi lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Oteifa và cộng sự tìm hiểu

những khó khăn liên quan đến hoạt động tác nghiệp và marketing của những

doanh nghiệp may tư nhân ở Việt Nam, từ đó đề xuất những hỗ trợ của

Chương trình phát triển dự án Mekong (MPDF) dành cho các doanh nghiệp

dệt may của Việt Nam. Bằng kỹ thuật phân tích SWOT, nghiên cứu chỉ ra

rằng ngành dệt may của Việt Nam đang nằm ở vùng trũng của chuỗi giá trị

dệt may toàn cầu. Thực tế này xuất phát từ nguyên nhân bản than nội tại của

ngành dệt trong nước thiếu tính cạnh tranh, đặc biệt là tính cạnh tranh khu vực

và toàn cầu; bên cạnh đó, quá phụ thuộc vào các đối tác nước ngoài trong các

hoạt động xuất khẩu. Một trong những nguyên nhân chủ chốt nữa là việc

ngành dệt may của Việt Nam là tình trạng thiếu lực lượng lao động lành nghề

trong hầu như tất cả các khâu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc hạn chế trong

tiếp cận thông tin và tiếp cận thị trường nước ngoài cũng ảnh hưởng nghiêm

trọng đến khả năng chuyển lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị ngành dệt

may toàn cầu của Việt Nam. Dựa trên nhưng phân tích đó, các tác giả kết luận

Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong sản xuất và xuất khẩu dệt may, tuy nhiên

để chuyển đổi thành công trong chuỗi giá trị ngành dệt may, Việt Nam cần

12

tăng cường chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các biện phát xúc

tiến đầu tư có hiệu quả hơn, chủ động trong việc tiếp cận thông tin thị trường

và đối tác.

Nghiên cứu quá trình chuyển đổi các mối quan hệ công nghiệp ở các

nước đang phát triển, Cox (2015) lấy trường hợp ngành dệt may của Việt

Nam làm trường hợp nghiên cứu điển hình. Tác giả cho rằng mối quan

chuyển đổi công nghiệp ở Việt Nam có tác động rất hạn chế lên vai trò và vị

thế của liên đoàn lao động. Nghiên cứu chỉ ra sự sung đột gia tăng giữa người

lao động và doanh nghiệp dệt may, mối quan hệ này có xu hướng gia tăng do

những ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa nhanh và sự chuyển đổi xã

hội từ nông nghiệp sang công nghiệp trong thời gian ngắn. Nghiên cứu kết

luận rằng điều kiện làm việc và tiếng nói đại diện của công nhân hoạt động

trong ngành dệt may cần phải được cải thiện hơn trong quá trình chuyển đổi.

Hoang and Jones (2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa lao động nữ và chuỗi

cung ứng quần áo của Việt Nam cũng cho rằng mặc dù lao động nữ chiếm

phần lớn lực lượng lao động, tuy nhiên điều kiện làm viêc của các lao động

nữ tương đối hà khắc. Nghiên cứu gới ý rằng việc cải thiện các điều kiện lao

động cũng như nâng cao tay nghề cho lao động là các giải pháp cấp thiết.

Vu and Pham (2016) phân tích lợi thế so sánh của ngành dệt may Việt

Nam và so sánh với trường hợp ngành dệt may Trung Quốc. Tác giả cho rằng

dệt may Việt Nam đóng vai tròn đầu tàu cho sự phát triển kinh tế và xã hội

của Việt Nam. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng mang

đến nhiều thách thức không nhỏ cho ngành dệt may Việt Nam. Phân tích

trường hợp của Việt Nam và Trung Quốc, tác giả cho rằng Việt Nam có ít lợi

thế so sánh hơn Trung Quốc trong hầu hết các phân đoạn của ngành dệt may.

Qua đó, tác giả gợi ý rằng để duy trì tốc độ tăng trưởng và xuất khẩu trong bối

cảnh mới, ngành dệt may Việt Nam cần phải có nhưng bước đi đột phá, có

chiến lược ưu tiên đặc biệt đối với công nghiệp phụ trụ cho ngành dệt may.

Trước đó, Pelzman and Sholam (2010) cũng đi so sánh ngành dệt may của

Việt Nam và Trung Quốc, tuy nhiên phân tích dưới góc độ phản ứng trước

13

việc Mỹ xóa bỏ rào cản hạn ngạch xuất khẩu đối với Trung Quốc và Việt

Nam. Tác giả cho rằng không giống như nhiều dự báo trước đó về việc Trung

Quốc chiếm ưu thế vượt trội trước các đối thủ cạnh trạnh. Bài viết khẳng định

sự cạnh trạnh gia tăng và ngày càng khốc liệt hơn giữa Việt Nam và Trung

Quốc ở giai đoạn có giá trị thấp của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Bên cạnh

đó, tác giả cũng chỉ ra rằng sự khác biệt về nền tảng kinh tế, nền tảng thể chế,

nền tảng văn hóa dẫn đến những chính sách khác nhau giữa chính phủ Việt

Nam và Trung Quốc.

Khác với nghiên cứu trên, xem xét sự thành công của ngành dệt may

trong chuỗi giá trị toàn cầu, Jacobs và cộng sự (2016) so sánh trường hợp của

Việt Nam và Bangladesh và khẳng định Việt Nam Việt Nam có nhiều phân

ngành đóng vai trò chủ chốt trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, trong khi đó

Bangladesh có lợi thế cạnh tranh về giá lao động rẻ. So sánh với Việt Nam,

các tác giả cho rằng Việt Nam là ví dụ điển hình cho Bangladesh trong việc

phát triển và tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Một nghiên cứu so

sánh khác là tác phẩm của tác giả Knutsen (2004) đề cập trường hợp của Việt

Nam và Sri Lanka. Tác giả cho rằng Việt Nam có thể là mô hình tốt cho Sri

Lanka học tập và phát triển, trong đó nhấn mạnh đến xây dựng mạng lướt

người tiêu dùng làm động lực cho phát triển.

Công trình của tác giả Gereffi và Memedovic (2003) đồng chủ biên

cũng đề cập đậm nét đến vai trò của dệt may trong chuỗi giá trị toàn cầu của

các nước đang phát triển. Nghiên cứu tuy không đề cập trực tiếp đến vấn đề

của ngành dệt may Việt Nam nhưng gián tiếp cho thấy thực tế của ngành dệt

may Việt Nam thông qua phân tích các quốc gia đang phát triển. Bài viết sử

dụng lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu để phân tích và giải thích cho sự

chuyển đổi sản xuất, thương mại, và chiến lược phát triển của các công ty dệt

may. Thông qua việc nghiên cứu các mô hình cạnh tranh của Mexico và của

các quốc gia Carribe, công trình đưa ra được bức tranh tổng quan về những cơ

hội và thách thức đối với ngành dệt may ở các nước đang phát triển. Đây là

14

công trình chứa dựng nhiều gợi ý chính sách và gợi mở về phương hướng

phát triển ngành dệt may đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt

Nam.

Một công trình tiêu biểu khác đề cập tới vấn đề ngành dệt may Việt

Nam và vị trí của nó trong chuỗi giá trị toàn cầu là nghiên cứu của Nadvi &

Thoburn (2003). Các tác giả nhấn mạnh rằng trong môi trường toàn cầu hóa

sâu rộng với những biến đổi khó đoán định, ngành dệt may Việt Nam phải đối

mặt với rất nhiều thử thách cam go. Theo các tác giả, mặc dù những thách

thức đó đương nhiên có những tác động lớn đến các doanh nghiệp sản xuất

dệt may ở những nước đang phát triển như Việt Nam, tuy nhiên nếu vượt qua

được những khó khăn đó, ngành dệt may Việt Nam sẽ có cơ hội xác lập vị thế

vững chắc trên thị trường dệt may toàn cầu. Các tác giả sử dụng mô hình

chuỗi giá trị toàn cầu để phân tích trường hợp ngành dệt may của Việt Nam,

cụ thể là mối quan hệ của ngành dệt may Việt Nam đối với thị trường tiêu thụ

toàn cầu và mối quan hệ nội ngành giữa doanh nghiệp dệt và doanh nghiệp

may. Thông qua các phân tích đó, tác giả đã đưa ra nhận định về sự ảnh

hưởng của quá trình toàn cầu hóa đến doanh nghiệp may Việt Nam. Mặc dù

khẳng định ngành dệt may Việt Nam còn tồn tại rất nhiều hạn chế, tuy nhiên,

nghiên kết luận rằng Việt Nam là một trong ít các quốc gia thành có khả năng

thành công trong việc thâm nhập vào chuỗi giá trị của ngành dệt may toàn

cầu.

Cũng đề cập ngành dệt may trong bối cảnh toàn cầu nhưng cụ thể hơn

là các thách thức đến từ Trung Quốc hậu MFA, Goto và cộng sự (2011) nhấn

mạnh rằng các thách thức đến từ Trung Quốc đối với ngành dệt may Việt

Nam là đương đối lớn. Lý giải cho điều này, tác giả cho biết Trung Quốc hiện

đã phát triển lên vị trí cao hơn của chuỗi dệt may toàn cầu, giá trị sản phẩm

cao, giá trị gia tăng đối với hang xuất khẩu cũng ở mức cao, đặc biệt Trung

Quốc có lợi thế về thị trường sản phẩm cuối, cũng như làm chủ được nguồn

cung nguyên vật liệu đầu vào. Do đó, Trung Quốc không chỉ có lợi thế trên

thị trường quốc tế mà còn có thể gây ảnh hưởng hoặc tác động trực tiếp lên

15

chiến lược sản xuất và xuất khẩu dệt may của Việt Nam thông qua việc điều

chỉnh (kiểm soát) nguồn cung nguyên vật liệu. Dựa trên thực tế đó, tác giả

nhận định hiện nay Việt Nam đang bị lùi lại phía sau trong việc tiếp cận chuỗi

giá trị dệt may toàn cầu, và cần phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp và

chiến lược để thu hẹp khoảng cách đó. Goto (2012) cũng đồng quan điểm với

nhận định trên khi cho rằng Việt Nam đang ở giao lộ trong việc chuyển đổi

lên vị trí cao hơn của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Bên cạnh đó, tác giả

khẳng định chuyển hướng từ xuất khẩu sang tập trung phát triển thị trường

nội địa là chiến lược cần được ưu tiên và đầu tư bài bản. Cũng đề cập đến hạn

chế, thách thức của việc phụ thuộc vào nguồn cung nguyên liệu đầu vào, Goto

(2013) nghiên cứu ngành sản xuất may mặc của Thành phố Hồ Chí Minh

phân tích vai trò và tầm quan trọng của các nhà thầu phụ trong việc xây dựng

và giữ ổn định chuỗi sản xuất.

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hoàng (2009) và Đỗ Thị Đông (2011) cũng

được xem là hai trong số nhiều công trình có ý nghĩa tham khảo hữu ích liên

quan đến mối quan hệ của xuất khẩu dệt may Việt Nam và chuỗi giá trị dệt

may toàn cầu. Về cơ bản, hai công trình trên đều đã tổng quát hóa các khái

niệm về chuỗi giá trị sản xuất và các khâu trong chuỗi giá trị sản xuất ngành

dệt may toàn câu; đồng thời các tác giả cũng chỉ ra được vị trí của các doanh

nghiệp may xuất khẩu dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu.

Đi sâu phân tích cụ, Nguyễn Hoàng (2009), tiếp cận chuỗi giá trị ở khía cạnh

năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp, có nghĩa là khả năng tiếp

cận của doanh nghiệp và chuối giá trị dệt may toàn cầu. Đặt trong bối cảnh

toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đề xuất một số giải pháp và

kiến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam tham gia

sâu hơn vào chuỗi giá trị ngành, đồng thời có nâng cao khả năng ứng phó đối

với sự bành chướng của nhưng doanh nghiệp dệt may, thời trang lớn đến từ

các nước phát triển. Tác giả, ngoài ra cũng đề cập đến vị trí quan trọng của

nhà nước trong việc trợ giúp các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tham gia

vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khác với Nguyễn Hoàng, Đỗ Thị Đông (2011) đi

16

vào xem xét và đánh giá cách thức vận hành liên kết của các doanh nghiệp

may trong quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm dệt may tới khách hàng.

Tác giả cho rằng, nếu các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể thâm nhập

được vào chuỗi sản xuất và cung ứng ngành dệt may ở phạm vi toàn cầu thì

giá trị sản xuất và xuất khẩu sẽ được cải thiện và gia tăng đánh kể. Cũng

giống với Nguyễn Hoàng (2009), Đỗ Thị Đông (2011) trong luận án của mình

cũng cố gắng luận giải và đưa ra một số biện pháp xây dựng mạng lưới liên

kết giữa các doanh nghiệp dệt may nội địa nhằm tham gia sâu vào trong chuỗi

giá trị ngành dệt may toàn cầu.

Tiếp bước các nghiên cứu trước đó, tác giả Hà Văn Hội (2012) cũng tiến

hành xem xét trị trí ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị ngành. Xây

dựng luận cứ khoa học cho vấn đề nghiên cứu, tác giả trước tiên cung cấp nền

tảng lý thuyết về chuỗi giá trị ngành dệt may thế giới, trong đó cụ thể hóa các

trình tự và các giai đoạn của chuỗi giá trị ngành dệt may toàn cầu. Dựa trên

nền tảng lý thuyết và thực thế trên thế giới, tác giả kết luận rằng liên kết nội

ngành giữa các công đoạn trong sản xuất dệt may giữ vài trò hết sức quan

trọng trong việc tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Khác với cách

tiếp cận truyền thống, tác giả xem xét chuỗi giá trị dệt may dưới góc độ từ các

sản phẩm cuối cùng trong mỗi công đoạn của sản xuất dệt may, từ đó tiếp cận

các vấn đề nghiên cứu nhằm chỉ ra nguyên nhân giải thích cho thực tế: tại sao

Việt Nam có tốc độ tăng trưởng sản xuất dệt may cao nhưng lại nằm ở công

đoạn có giá trị thấp của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu.

Kế thừa nghiên cứu trên, tác giả Hà Văn Hội (2012) tiếp tục cung cấp

bức tranh tương đối phổ quát về những thách thức, hạn chế cũng như đề xuất

một số biện pháp nhằm giúp ngành xuất khẩu dệt may của Việt Nam chuyển

dịch lên những vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Tác giả

khẳng định rằng xuất khẩu dệt may của Việt Nam có tiềm năng rất lớn, tuy

nhiên hiện nay chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam đang thực sự tồn

tại nhiều vấn đề, không chỉ đối với các giai đoạn tạo ra giá trị cao như sản

xuất nguyên liệu nền hay phân phối sản phẩm, mà ngay trong giai đoạn mà

17

chúng ta tự tin là có lợi thế là cắt may. Tác giả kết luận rằng, xuất khẩu dệt

may phải đồng bộ chủ động tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, đồng

thời nhấn mạnh đến việc đầu tư cho tay nghề lao động, áp dụng khoa học kỹ

thuật, xây dựng thương hiệu, và chủ động tìm kiếm và mở rộng thị trường

xuất khẩu. Nguyễn Ngọc Sơn (2007) cũng có những phân tích và nhận định

khá tương đồng với Hà Văn Hội (2012). Điều này cho thấy rằng, việc cải

thiện năng lực ngành dệt may Việt Nam nhằm đưa nó lên những vị trí có giá

trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu còn nhiều khó khăn và chưa

thực sự có những bước tiến sắc nét, ít nhất là trước năm 2012.

Nguyễn Việt Khôi và Shashi Kant Chaudhary (2019) một mặt đồng tình

với nhận định rằng dệt may Việt Nam đang nằm ở giai đoạn thấp trong chuỗi

giá trị ngành, mặt khác các tác giả cũng khẳng định ngành dệt may Việt Nam

nói chung và xuất khẩu dệt may Việt Nam nói riêng gần đây đã có nhưng

bước tiến rõ rệt, cho thấy nhiều dấu hiệu rõ rệt không chỉ củng cố tốt hơn vị

trí hiện tại, mà đồng thời còn chuyển dịch lên những vị trí cao hơn của chuỗi

giá trị dệt may khu vực và toàn cầu. Đồng quan điểm với nghiên cứu trên,

Nguyễn Thị Lan (2016) thì cho rằng mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều bất cập

trong sản xuất phục vụ xuất khẩu, song ngành dệt may Việt Nam cho thấy

nhiều cơ hội để thay đổi vị trí trong bản đồ dệt may toàn cầu.

Công trình của tác giả Ngô Dương Minh (2017) khai thác xuất khẩu dệt

may Việt Nam trên khía cạnh rào cản khi tiếp cận thị trường thế giới. Tác giả

cho rằng sản xuất dệt may đang đôi diện nhiều thách thách làm làm cản trở

quá trình đi chuyển lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Các

rào cản đó đến không chỉ đến từ bản than doanh nghiệp mà còn đến từ cả cơ

chế chính sách đối với xuất khẩu dệt may còn chưa phù hợp. Tác giả khẳng

định việc không có các biện pháp vĩ mô ngay từ ban đầu trong việc xác định

chiến lược trọng điểm của ngành dệt may đã dẫn đến tình trạng dệt may Việt

Nam phát triển nhỏ lẻ, phụ thuộc lớn vào nguyền cung từ nước ngoài. Chính

điều này là cản trở lớn nhất đối với việc tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị dệt

may toàn cầu, bởi chúng ta không thể chủ động được trong sản xuất, không

18

chủ động được thị trường, không có thương hiệu đủ mạnh.

Nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn Văn Quang (2020) cũng đã phần

nào nêu được tình trạng của ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn

cầu. Nghiên cứu không đề cập đến chiến lược chung cho toàn ngành dệt may

mà chỉ tập trung phân tích ngành hàng may mặc của Việt Nam, tuy nhiên

cũng cho thấy được những nét phác họa chung cho toàn ngành dệt may. Sử

dụng phương pháp phân tích SWOT và phân tích CGT, tác giả kết luận rằng

để thành công trong việc nâng cấp ngành hàng dệt may của Việt Nam trong

chuỗi giá trị dệt may toàn cầu thì các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần

phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình nâng cao năng suất lao động, tay nghề lao

động, chất lượng sản phẩm, và áp dụng các biện pháp kỹ thuật cao, thân thiện

với môi trường. Tác giả cũng nhấn mạnh việc nâng cấp vị trí trong chuỗi giá

trị toàn cầu của ngành dệt may Việt Nam cần tiến hành từng bước, chắc chắn,

và tập trung cao độ và các khâu tạo ra giá trị gia tăng cao. Trước đó, Trương

Hồng Trình và cộng sự (2010) ở những khía cạnh nào đó cũng đề cập đến

việc nâng cấp chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam.

Bên cạnh đó, Bộ Công thương (2015, 2016, 2017, 2018, 2019) hàng năm

cũng cho ra các báo cáo về ngành dệt may Việt Nam, phần nào đề cập đến

bức tranh xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam trong bức tranh chung của

xuất khẩu Việt Nam và vị trí trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nước ngoài cũng có cách nhìn

nhận và đánh giá tương đồng với các nghiên cứu trong nước. Tuy nhiên, điểm

mạnh và cũng là đóng góp lớn nhất của các nghiên cứu này là về mặt phương

pháp định lượng, chứ chưa thể hiện được đặc trưng và bản chất bên trong của

ngành dệt may Việt Nam. Mặc dù vậy, đặt trong thực tế chung là các nghiên

cứu Việt Nam phần lớn sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính, các

nghiên cứu nước ngoài với các phương pháp pháp định lượng, lượng hóa cụ

thể các vấn đề liên quan đến sản xuất, xuất khẩu dệt may của Việt Nam góp

phần bổ sung và hoàn thiện hơn một bức tranh tổng thể về sản xuất ngành dệt

may Việt Nam nói chung và xuất khẩu dệt may Việt Nam nói riêng. Bên cạnh

19

đó, các nghiên cứu nước ngoài có xu hướng nghiên cứu Việt Nam đặt trong

bối cảnh của khu vực và thế giới, tức là cách tiếp cận rộng hơn mang tính khu

vực và thế giới; trong khi đó, các nghiên của Việt Nam tập khai thác các vấn

đề nội tại của dệt may Việt Nam. Như vậy, với việc kết hợp các nghiên cứu

trong nước và nước ngoài giúp chung cho có cách nhìn mang tính phổ quát,

đồng thời đưa ra được những nhận định, đánh giá có tính so sánh cao. Cũng

cần nhấn mạnh rằng, các nghiên cứu nước ngoài, đặc biệt là nghiên cứu so

sánh, giúp chung ta hiểu hơn về ngành dệt may Việt Nam trong sự tương quan

so sánh với các đối thủ cạnh tranh chính trên trường quốc tế. Tóm lại, các

nghiên cứu nước ngoài phần nào đã cung cấp luận cứ khoa học cho sự việc

phát triển sản xuất và xuất khẩu dệt may của Việt Nam, tuy nhiên, các nghiên

cứu về xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh hình thành và thực thi các

hiệp định thương mại tự do thế hệ mới còn hạn chế.

1.1.2. Các công trình nghiên cứu về sự hình thành các FTA thế hệ mới và

sự tham gia của Việt Nam

Cùng với quá trình cải cách, đổi mới và phát triển trong gần 4 thập niên

qua, Việt Nam cũng đã tích cực, kiên định và chủ động trong tiến trình hội

nhập kinh tế quốc tế. Từ chỗ ban đầu tham gia AFTA (1995), đến nay Việt

Nam đã lần lượt tham gia 17 hiệp định thương mại tự do song phương, nhất là

đa phương và gần đây đã tham gia 2 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là

CPTPP và EVFTA với nhiều tiêu chuẩn rất cao, ngặt nghèo và nhạy cảm đối

với nước ta một nước đang chuyển đổi, đang phát triển và đang kiện định xây

dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong một thế giới

nhiều biến động và phân cực mạnh mẽ như hiện nay.

Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một hiệp ước giữa hai hay nhiều

quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một

hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó. Các nước tiến hành theo lộ trình việc cắt

và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành

lập một khu vực mậu dịch tự do, tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ

20

và đầu tư giữa các thành viên.

Bốn nội dung mà FTA đề cập đến thường bao gồm: Quy định về việc

cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan; Quy định danh mục mặt

hàng đưa vào cắt giảm thuế quan (thông lệ áp dụng chung là 90% thương

mại); Quy định lộ trình cắt giảm thuế quan, khoảng thời gian cắt giảm thuế

thường được kéo dài không quá 10 năm Quy định về quy tắc xuất xứ.

Được xem là “những hiệp định của thế kỷ 21”, các FTA thế hệ mới

hướng tới một sân chơi mới nhằm tạo ra các tiêu chuẩn mới cho thương mại,

đầu tư, hội nhập kinh tế quốc tế, sẽ tạo điều kiện cân bằng lại quan hệ thương

mại giữa Việt Nam với các khu vực thị trường trọng điểm, tránh phụ thuộc

quá mức vào một khu vực thị trường nhất định… Việt Nam cũng sẽ được

hưởng lợi lớn từ làn sóng đầu tư mới, tạo ra nhiều công ăn việc làm, hình

thành năng lực sản xuất mới để tận dụng các cơ hội xuất khẩu và tham gia các

chuỗi giá trị trong khu vực và toàn cầu do các FTA đem lại.Với các cam kết

sâu và rộng hơn WTO, các hiệp định cũng sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam phân

bổ lại nguồn lực theo hướng hiệu quả hơn, từ đó hỗ trợ tích cực cho quá trình

tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng. Do hướng tới môi trường cạnh

tranh bình đẳng, minh bạch hóa quy trình xây dựng chính sách và khuyến

khích sự tham gia của công chúng vào quá trình này sẽ có tác dụng rất tốt để

thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế cũng như tăng cường cải cách hành chính.

Tiêu Hải Vân (2021), Nguyễn Tuấn Việt và Ngô Văn Vũ (2019) đã chỉ

ra những nội dung cơ bản của Hiệp định EVFTA; Đánh giá các tác động tiêu

cực và tích cực của EVFTA tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam

và nhận định được Dệt may là ngành được hưởng lợi nhiều nhất.

Nghiêm Xuân Khoát (2019) đã tập trung phân tích, đánh giá cơ hội và

thách thức đối với Việt Nam trên một số lĩnh vực liên quan đến các hiệp định

thương mại như thương mại hàng hóa; xuất khẩu của Việt Nam sang EU; hải

quan và tạo thuận lợi thương mại; Các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động

thực vật; Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại; Phòng vệ thương mại; Đầu

tư; Sở hữu trí tuệ; Phát triển bền vững.

21

World Bank (2020) chỉ ra rằng EVFTA là hiệp định thương mại tự do

thế hệ mới lớn nhất trong lịch sử và mang lại lợi ích trực tiếp đối với Việt

Nam. EVFTA sẽ mang lại nhiều lợi ích trước mắt quan trọng cho nền kinh tế

Việt Nam thông qua tăng trưởng nhanh hơn, thương mại lớn hơn và giảm

nghèo nhanh hơn. Bên cạnh đó, bài đề cập đến việc cần thực hiện các giải

pháp phục hồi sau đại dịch Covid-19 cho tất cả các ngành định hướng xuất

khẩu, nhưng nên ưu tiên đặc biệt cho những ngành quan trọng có đóng góp

nhiều nhất vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU trong

thời gian gần đây để tận dụng lợi thế khi thực hiện EVFTA.

Theo Đại sứ quán Việt Nam tại Anh (2020), việc thực thi Hiệp định

thương mại tự do Việt Nam-Anh (UKVFTA) sẽ góp phần tạo ra những động

lực mới cho phục hồi kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19.

Về ý nghĩa chiến lược, Hiệp định góp phần triển khai hiệu quả chủ trương đa

phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.

Nguyễn Bình Dương (2016) đã sử dụng mô hình trọng lực và phân tích

dữ liệu bảng, cho thấy việc giảm thuế quan trong khuôn khổ của FTA sẽ có tác

động tích cực đến thương mại song phương giữa Việt Nam và EU. Ngoài ra,

FTA Việt Nam - EU sẽ mang lại nhiều cơ hội mới nhưng cũng là thách thức

đối với Việt Nam. Bài báo này đề xuất một số khuyến nghị để Việt Nam được

hưởng lợi nhiều hơn.

Vũ Thanh Hương (2017) đã dựa trên cơ sở lý luận và thực nghiệm đánh

giá FTA, bài xây dựng khung chẩn đoán tác động EVFTA, Phân tích thương

mại Việt Nam - EU trong bối cảnh cập nhật mới: mở rộng thành viên EU,

Brexit,..., So sánh và phân tích hàng rào thuế quan và phi thuế quan VN-EU

trước và sau EVFTA có hiệu lực, Phân tích tác động của việc cắt giảm hàng

rào thuế quan, tác động hàng rào phi thuế quan ở nhóm ngành may mặc và

dược phẩm.

Theo báo cáo của Eurocham Vietnam (2019), EVFTA tác động đến

thuế như loại bỏ thuế quan đối với 65% giá trị hàng hóa EU xuất khẩu sang

Việt Nam kể từ khi có hiệu lực, hàng rào thuế sẽ giảm dần trong thời gian tới.

22

71% giá hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang EU được miễn thuế kể từ khi hiệp

định có hiệu lực, con số này sẽ tăng lên đến 99% sau 7 năm. Đối với thuế hải

quan: Thuế hải quan sẽ gần như được xóa bỏ trong thời gian chuyển tiếp 7

năm đối với hàng hóa Việt Nam và 10 năm đối với hàng hóa EU. Ngoài ra,

Việt Nam có khả năng tiếp cận với thị trường dịch vụ EU hơn.

Theo Bộ Công Thương Việt Nam (2020), trong bối cảnh Vương quốc

Anh đã chính thức rời khỏi Liên minh châu Âu và giai đoạn chuyển tiếp

chuẩn bị kết thúc (ngày 31 tháng 12 năm 2020), việc ký kết UKVFTA sẽ đảm

bảo thương mại song phương giữa Việt Nam và Vương quốc Anh không bị

gián đoạn sau khi kết thúc giai đoạn chuyển tiếp. Với UKVFTA, các lợi ích

trong mối quan hệ thương mại hiện có của hai bên tại EVFTA được duy trì.

Hiệp định song phương này là sự khởi đầu của một giai đoạn mới trong quan

hệ giữa hai nước đối với việc phát triển các lĩnh vực thương mại chủ chốt.

UKVFTA không chỉ tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, mà còn tích

hợp nhiều yếu tố quan trọng khác, chẳng hạn như hướng tới tăng trưởng xanh

và phát triển bền vững.

Tiến trình tham gia các FTA của Việt Nam được tiến hành từng bước

và có lộ trình với mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng. Hiện nay, Việt Nam

là nước ASEAN có mức thu nhập trung bình đầu tiên ký kết cả 2 hiệp định:

CPTPP và Việt Nam - EU. Việc ký kết tham gia các FTA thế hệ mới trong

khi xu hướng bảo hộ gia tăng đã làm gia tăng vị thế của Việt Nam với ưu thế

là một nền kinh tế mở, có nhiều FTA với các đối tác thương mại lớn. Khoảng

trên 80% thương mại xuất nhập khẩu của Việt Nam đến từ các quốc gia đã và

đang ký kết các FTA (Vũ Nhữ Thăng, Trần Thị Thu Huyền, 2022).

1.1.3. Các công trình nghiên cứu về tác động của FTAs thế hệ mới tới

xuất khẩu dệt may của Việt Nam.

Có rất nhiều công trình nghiên cứu khai thác và tìm hiểu chủ đề sản xuất

dệt may của Việt Nam nói chung, cũng như xuất khẩu dệt may của Việt Nam

trước và sau khi có các hiệp định thương mại tự do (FTA) nói riêng. Liên

quan đến xuất khẩu dệt may và các hiệp định thương mại tự do mới, bước đầu

23

cũng nhận được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà làm chính sách.

Trong đó, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề liên quan đến

Hiệp định TPP – CPTTP và và hiệp định EVFTA.

Như đã nêu trên, Việt Nam xem ngành dệt may là ngành công nghiệp

mũi nhọn, xuất khẩu dệt may là con đường quan trọng tiến ra thế giới, do đó,

việc xem xét xuất khẩu dệt may trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự

do được các học giả và người làm chính sách đặc biệt quan tâm. Các khía

cạnh chủ yếu được khai thác trong chủ đề này bao gồm cơ hội và thách thức

đối với xuất khẩu dệt may khi các hiệp định thương mại tự do được ký kết,

các vấn đề đàm phán liên quan đến xuất khẩu dệt may, các giải pháp nhằm tận

dụng cơ hội phát triển từ các hiệp định thương mại tự do…

Công trình nghiên cứu tiêu biểu đầu tiên kể đến là Báo cáo của nhóm tác

giả trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa trường Đại học Kinh tế Quốc dân

(NEU) và Tổ chức Hợp tác Quốc tế của Nhật Bản (JICA) năm 2004. Về cơ

bản, công trình nghiên cứu này của nhóm tác giả đến từ JICA và NEU có cấu

trúc khá tương đồng với các nghiên cứu trước đó trong các vấn đề liên quan

đến thực trạng sản xuất dệt may của Việt Nam, những thành tựu và hạn chế.

Tuy nhiên, công trình này đặt trong bối cảnh cập nhật hơn về thời gian, đồng

thời cũng phân tích các yếu tố liên quan đến quá trình hội nhập sâu hơn của

Việt Nam. Một điểm nhấn của công trình là nhóm tác giả dành một phần lớn

nội dung để phân tích các phương thức xuất khẩu của ngành dệt may ở Việt

Nam, tập trung chủ yếu vào phương thức gia công xuất khẩu và phương thức

xuất khẩu trực tiếp. Với cách tiếp cận từ tổng quát đến cụ thể, nhóm tác giả đã

đưa đề xuất chính sách đối với chính phủ Việt Nam nói chung và đối với các

công ty sản xuất dệt may Việt Nam nói riêng, đặc biệt là các công ty xuất

khẩu, nhằm phát triển ngành sản xuất dệt may và xuất khẩu dệt may của Việt

Nam trong bối cảnh hội nhập được xem là bước đi khách quan không thể

trách khỏi.

Hoàng Thu Hằng và cộng sự đã (2018) đã chỉ ra tiềm năng ngành xuất

khẩu may mặc của Việt Nam sang EU với giả định trao đổi thương mại tự do

24

hoàn toàn. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình WITS- SMART và dự đoán

lượng xuất khẩu Việt Nam tăng 42% so với năm cơ sở trong vòng 8 năm tới.

Tác động của chệch hướng thương mại lớn hơn tác động của các nước tạo lập

thương mại, vì vậy Việt Nam sẽ có lợi hơn những nước không là thành viên

của hiệp định EVFTA.

Bên cạnh đó, khi áp dụng mô hình WITS-SMART để phân tích tác

động của EVFTA đối với mặt hàng giày, dép Việt Nam, (Thắng, 2018) với

giả thiết: i) Khi EVFTA có hiệu lực và thoả mãn nguyên tắc xuất xứ (thuế

xuất giảm về 0%), xuất khẩu mặt hàng giày dép của Việt Nam dự kiến tăng

trưởng 4,96% từ khoảng 3,98 tỷ USD lên đến 4,17 tỷ USD; ii) EVFTA có

hiệu lực và thoả mãn nguyên tắc xuất xứ (thuế xuất giảm về 0%) tuy nhiên

chính sách chống bán phá giá vẫn được tiếp tục áp dụng (thuế chống bán phá

giá 10%), dự kiến tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng giày, dép khoảng 4,18%.

Võ Thanh Thu và cộng sự (2016) xem xét các tác động tiềm tàng của

EVFTA đối với xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam. Phân tích được thực

hiện bằng mô hình WITS-SMART để xác định sự thay đổi của xuất khẩu hàng

may mặc của Việt Nam cũng như dự đoán một số sản phẩm bị ảnh hưởng

nhiều nhất nếu Hiệp định Thương mại Tự do Liên minh Châu Âu - Việt Nam

được áp dụng đầy đủ. Kết quả là, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang

Liên minh Châu Âu sẽ tăng đáng kể 42% so với năm cơ sở (2016) trong 8 năm

tới. Do chệch hướng thương mại chiếm ưu thế so với tác động tạo ra thương

mại, hàng may mặc của Việt Nam sẽ thu được nhiều lợi ích hơn so với các

nước không thuộc Liên minh Châu Âu. Tuy nhiên, kết quả này không phải do

sự phân bổ nguồn lực hiệu quả mà do phần lớn nhập khẩu của EU từ Việt

Nam gia tăng là do được xóa bỏ thuế. Tác giả cũng chỉ ra nên thực hiện một số

biện pháp khắc phục để nâng cao tính cạnh tranh của hàng may mặc Việt

Nam, giảm giá thành sản xuất để mang lại lợi thế cho cả Việt Nam và Châu

Âu.

(Lu, 2018) đánh giá tác động tiềm năng của CPTPP và EVFTA đối với

xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam. Trong bài nghiên cứu, tác giả không

25

chỉ đề cập đến kịch bản tăng trưởng xuất khẩu dệt may của Việt Nam sau khi

ký kết các FTA mà còn chỉ ra tác động đến việc làm trong ngành dệt may đặt

trong sự tương quan với các ngành khác. Phương pháp nghiên cứu được sử

dụng là mô hình GCE với để ước tính hai kịch bản sau: Kịch bản 1 (thuế suất

giảm từ mức năm 2015 xuống chỉ còn 0 đối với hàng dệt may giao dịch giữa

các thành viên CPTPP và EVFTA); Kịch bản 2 (thuế suất giảm từ mức năm

2015 xuống 0 đối với tất cả các sản phẩm giao dịch giữa các thành viên

CPTPP và EVFTA). Kết quả là: Thứ nhất, xuất khẩu hàng may mặc của Việt

Nam sẽ tăng đáng kể so với mức cơ sở ở năm 2015, các mặt hàng xuất khẩu

mở rộng sẽ sang các thành viên CPTPP và EVFTA. Thứ hai, ngành may mặc

sẽ chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng số việc làm tại Việt Nam khi việc xóa bỏ

thuế quan trong CPTPP và EVFTA chỉ áp dụng cho lĩnh vực T&A (Kịch bản

1). Tuy nhiên, khi việc xóa bỏ thuế quan áp dụng cho tất cả các ngành (Kịch

bản 2), ngành may mặc sẽ chỉ chiếm 3,5% tổng số việc làm tại Việt Nam,

giảm so với mức 4,0% của năm cơ sở. Sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay

gắt giữa ngành may mặc và các ngành khác của Việt Nam về lực lượng lao

động sau khi thực thi CPTPP và EVFTA. Thứ ba, xuất khẩu hàng may mặc

của Việt Nam sẽ tăng trưởng ít hơn trong Kịch bản 2 so với Kịch bản 1 khi

các ngành khác cũng cố gắng tận dụng hiệu ứng tạo thương mại của CPTPP

và EVFTA.

Bên cạnh đó, còn một số nghiên cứu tiêu biểu khác về tác động của Hiệp

định EVFTA đối với nền kinh tế của Việt Nam như nghiên cứu của Nguyễn Bình

Dương và nhóm cộng sự (2015) sử dụng mô hình trọng lực để phân tích tác động

của Hiệp định đối với hiệu quả thương mại và chệch hướng thương mại giữa

Việt Nam và EU, Lê Trung Ngọc Phát và Nguyễn Kim Hạnh (2019) chứng minh

rằng việc loại bỏ thuế quan trong lĩnh vực công nghiệp sẽ dẫn đến mức tăng

tiêu dùng của hộ gia đình, gia tăng các yếu tố sản xuất của khu vực nông nghiệp,

công nghiệp và dịch vụ; Nguyễn Thành Công, Phạm Hồng Nhung (2017)

cho rằng Hiệp định EVFTA sẽ mang đến nhiều tác động trái chiều cho nền

kinh tế Việt Nam, tạo thuận lợi cho đầu tư, xuất khẩu một số ngành hàng thủy

26

sản, dệt may, da giày, túi xách nhưng cũng tạo ra không ít khó khăn cho sản

xuất trong nước. Trong khi đó, những nghiên cứu về một số ngành hàng cụ thể

như nghiên cứu của Vũ Thanh Hương (2017) sử dụng mô hình SMART để

đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA đối với hoạt động nhập khẩu ô tô từ

EU, hoặc nghiên cứu của Võ Văn Thọ (2016) đã đưa ra những phân tích mang

tính định lượng và định tính nhằm xác định mức độ tác động của hai Hiệp định

CPTPP và EVFTA đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam.

Trong khi có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm chỉ ra tác động

của các Hiệp định thương mại tự do như CPTPP, EVFTA đối với nền kinh tế

nói chung, hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, cụ thể hơn là tác động tới một

số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da dày, thủy

sản…, các nghiên cứu đánh giá tác động của UKVFTA đối với hoạt động

xuất khẩu mặt hàng dệt may của Việt Nam sang Vương quốc Anh vẫn còn

hạn chế về mặt số lượng cũng như chưa có các phân tích định tác động về tác

động cảu Hiệp định này tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Xuất phát từ

thực tiễn này, nghiên cứu được thực hiện nhằm đưa ra những phân tích mang

tính hệ thống và cơ sở khoa học, từ đó đánh giá các tác động của Hiệp định

UKVFTA đối với hoạt động xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường

Vương quốc Anh. Từ đó, những hàm ý và đề xuất cho Việt Nam trong thực

thi Hiệp định nhằm tận dụng những cơ hội và khắc phục những hạn chế trong

xuất khẩu mặt hàng này sang Vương quốc Anh cả về quy mô và cơ cấu.

Đề cập đến các rào cản đối với xuất khẩu dệt may khi Việt Nam hội nhập

sâu hơn với thế giới, Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Lụa (2014) đã

tương đối khát quát đầy đủ những vấn đề mà ngành dệt may Việt Nam đang

gặp phải hiện nay. Điểm mới của Luận án là tiếp cận dưới góc độ kỹ thuật,

đồng thời hệ thống hóa các vấn đề luận về rào cản kỹ thuật mà xuất khẩu dệt

may của Việt Nam đã, đang và sẽ gặp phải trong giao thương với thế giới khi

mà các quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng hơn. Với việc phân tích các

nhân tố ảnh hưởng đến các vấn đề kỹ thuật, cũng như thách thức để vượt qua

các hàng rào kỹ thuật đó, tác giả gợi ý một số biện pháp giúp các doanh

27

nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam có thể thích ứng và vượt qua các rào cản

kỹ thuật. Kế thừa nghiên cứu trên, Trần Thị Thuận Giang và Ngô Nguyễn

Thảo Vi (2017) tiếp cận dưới góc độ rào cản thương mại từ góc độ các quy

định về xuất xứ. Tác giả luận giải rằng nếu Việt Nam không có các biện pháp

hữu hiệu để ứng với với các quy định về xuất xứ, tương lai ngành dệt may của

Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, tác

giả cũng lạc quan cho rằng nếu giải quyết tốt bài toán xuất xứ, triển vọng xuất

khẩu dệt may của Việt Nam được đánh giá tương đối xán lạn, đặc biệt hưởng

lợi lớn từ việc tiến trình hội nhập quốc tế.

Tiếp cận dưới góc độ năng lực cạnh tranh, Luận án tiến sỹ của tác giả

Nguyễn Xuân Thọ (2019) cũng đưa ra những kết luận tham thảo ý nghĩa đối

với doanh nghiệp dệt may trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối

cảnh hội nhập. Luận án, bên cạnh đó, cũng đưa ra được bức tranh tổng thể về

ngành sản xuất dệt may Việt Nam cũng như phân tích đánh giá được năng lực

cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam đặt trong sự tương quan với các

đối thủ trên thế giới.

Dưới góc độ cơ hội và thách thức, Phan Thanh Hoàn (2017) đã khái quát

cơ bản những thách thức và cơ hội mà ngành dệt may Việt Nam sẽ gặp phải

và đương đầu trong quá trình hội nhập. Công trình của tác giả Phạm Thùy

Linh và cộng sự (2017) cũng có những nhận định tương tự về cơ hội và thách

thức mà các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể phải vượt qua, tuy nhiên

đặt trong bối cảnh hội nhập mới. Một công trình khác cũng đề cập đến các

vấn đề của dệt may Việt Nam trong quá trình hội nhập là bài viết của tác giả

Vũ Quốc Dũng (2007). Tác giả cũng đã nêu bật được thực trạng của dệt may

Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đồng thời xác định một số mục

tiêu mà dệt may Việt Nam cần hướng tới.

Công trình của tác giả Hoàng Văn Châu (2014) phân tích sự thay đổi vị

thế của Việt Nam trong việc đàm phán các hiệp định thương mại tự do quốc

tế. Tác giả cho rằng, Việt Nam đã chủ động hơn, có vai trò lớn hơn, bình đẳng

hơn trong quá trình đàm phán với các đối tác trong TPP. Lấy Hoa Kỳ làm

28

trường hợp phân tích nếu Việt Nam tham gia vào TPP, tác giả một mặt đánh

giá các vấn đề mà Việt Nam phải đối mặt trong đàm với Hoa Kỳ như quy tắc

xuất xứ “từ sợ trở đi”, một mặt tác giả kiến nghị một số giải pháp trong quá

trình đàm phán đối với tất cả các bên liên quan từ phía Việt Nam như đoàn

đàm phán, cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp dệt may.

Thu Hoài (2016) và Vũ Thanh Hương và Nguyễn Thị Minh Phương

(2016) xem xét tiền thân của CPTTP và EVFTA dưới khía cạnh tác động. Ở

cả hai công trình, các giả tổng quan sơ lược các vấn đề liên quan đến TPP và

EVFTA, trên cơ sở đó phân tích các tác động có thể xảy ra đối với dệt may

Việt Nam khi các hiệp định này có hiệu lực. Cũng bàn về tác động của TPP

đến dệt may Việt Nam, tuy nhiên Nguyễn Hoàng Khởi và Luu Tiến Thuận

(2015) và Ngô Thị Hải Xuân (2012) chỉ đề cập đến xuất khẩu dệt may của

Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ. Các tác giả cho rằng trở ngại lớn nhất và

cũng có tác động lớn nhất đến xuất khẩu dệt may Việt Nam sang thị trường

Mỹ là vấn đề xuất xứ hàng hóa. Đây là vấn đề mang tính then chốt quyết định

đến sự thành công của doanh nghiệp dệt may Việt Nam thâm nhập và chiếm

vị thế ở thị trường lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ. Đi vào phân tích cụ thể hơn và

mang tính kỹ thuật hơn, Phan Thanh Hoàn (2017) đã khai thác dữ liệu xuất

khẩu dệt may của Việt Nam và lượng hóa các tác động của TPP đối với xuất

khẩu dệt may của Việt Nam. Tác giả đồng thuận với nhận định rằng hiệp định

TPP có tác động rất lớn đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Không đi

phân tích riêng lẻ ngành dệt may và tác động của EVFTA, tuy nhiên Đỗ Thị

Hòa Nhã và cộng sự (2019) cũng phần nào chỉ ra được những tác động của

EVFTA đến ngành xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường EU.

Liên quan đến các vấn đề chuẩn bị và định hướng phát triển đối với

doanh nghiệp dệt may trong quá trình hình thành các hiệp định thương mại tự

do mới, Nguyễn Thị Cẩm Loan (2014), Võ Thanh Thu và Ngô Thị Hải Xuân

(2015), và Nguyễn Thị Thúy (2014) cơ bản làm rõ và cung cấp được luận

chứng khoa học bước đầu. Trong đó, nếu Nguyễn Thị Cẩm Loan (2014) tập

trung phân tích những chuẩn bị của ngành dệt may Việt Nam trước thềm TPP,

29

Võ Thanh Thu và Ngô Thị Hải Xuân (2015) đề cập đến định hướng phát triển

của ngành dệt may Việt Nam nhằm đáp ứng và tương thích với các yêu cầu

hội nhập của TPP, thì Nguyễn Thị Thúy (2014) tiếp cận ở khía cạnh giải pháp

đối với doanh nghiệp Việt Nam nó chung và doanh nghiệp dệt may nói riêng

khi gia nhập TPP.

Bên cạnh đó, cũng phải nhấn mạnh rằng Trung tâm WTO và Phòng

Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng liên tục cập nhật tình

hình liên quan đến các vấn đề hiệp định thương mại tự do mới, không chỉ trên

bình diện chung mà còn đặc biệt quan tâm chú ý đến ngành dệt may.

1.2. Đánh giá chung

1.2.1. Kết quả nghiên cứu đã đạt được của các công trình nghiên cứu

trước

Qua tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế có thể thấy, các

công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau và có những

đóng góp nhất định trong việc phát triên và đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may

Việt Nam trong thời gian qua cũng như định hướng trong thời kỳ hội nhập

mới. Cụ thể, các công trình trên đã làm rõ một vấn đề sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã nêu được cơ sở lý luận phát triển

ngành dệt may có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ở các quốc gia

đang phát triển. Các nghiên cứu nhìn chung đều khẳng định rằng ở giai đoạn

đầu phát triển, ngành dệt may là trung tâm, là động lực cho việc tiến lên giai

đoạn công nghiệp hóa. Thực tế cũng cho thấy, các quốc gia có dân số trẻ, lực

lực lao động dồi dào, tỷ trọng khu vực nông nghiệp cao đều lấy dệt may là

khâu đột phá ở giai đoạn đầu phát triển.

Thứ hai, các nghiên cứu cũng chỉ ra được vài trò vai trò đặc biệt quan

trọng của ngành sản xuất dệt may và xuất khẩu dệt may đối với sự phát triển

kinh tế cũng như quá trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam.

Thứ ba, các công trình nghiên cứu cũng đã hệ thống hóa bức tranh tổng

thể về sản xuất dệt may và xuất khẩu dệt may của Việt Nam thời gian quá.

30

Các vấn đề về thực trạng, cơ hội, thách thức và chiến lược phát triển sản xuất

và xuất khẩu dệt may của Việt Nam được phân tích và thảo luận tương đối

đầy đủ.

Thứ tư, các công trình nghiên cứu trước đó cũng đồng thuận rằng dệt

may Việt Nam đang ở vị trí thấp của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Đặc biệt,

rào cản về chủ động trong khâu nguyên vật liệu, khó chuyển dịch lên các khâu

có giá trị gia tăng cao sẽ là bài toán hóc búa trong quá trình hội nhập.

Thứ năm, liên quan đến vấn đề hội nhập, các nghiên cứu cũng đưa ra

được những nhận định và đánh giá có ý nghĩa về sản xuất và xuất khẩu dệt

may của Việt Nam trong quá trình hội nhập.

Các kết quả nghiên cứu trên đây là những tài liệu tham khảo hữu ích mà

Luận án có thể kế thừa trong quá trình triển khai các nghiên cứu về xuất khẩu

hàng dệt may trong bối cảnh Việt Nam tham gia các FTA thế hệ mới.

1.2.2. Khoảng trống nghiên cứu

Bên cạnh những vấn đề đã được giải quyết trong các nghiên cứu trước

đó, vẫn còn một số vấn đề quan trọng mà các công trình nghiên cứu trước đó

chưa giải quyết được:

Thứ nhất, các nghiên cứu trên chưa tổng kết và hệ thống hóa được sự

khác nhau và giống nhau giữa các hiệp định thương mại tự do truyền thống và

các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Do đó, chưa có cách nhìn tổng

quát về các vấn đề liên quan đến ngành dệt may, xuất khẩu dệt may trong bối

cảnh hình thành và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Cũng

từ nguyên nhân trên, các công trình trên chưa xem xét nội dung của các hiệp

định thương mại tự do thế hệ mới liên quan trực tiếp tới việc xuất khẩu hàng

dệt may của Việt Nam.

Thứ hai, các công trình nêu trên chủ yếu phân tích tình hình sản xuất dệt

may và xuất khẩu dệt may của Việt Nam, cũng đưa ra đề xuất pháp để thúc

đẩy phát triển ngành dệt may Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, đặc biệt là

trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO mà chưa đi sâu xem xét các vấn đề

31

của xuất khẩu dệt may trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định

thương mại tự do thế hệ mới, cũng như tác động (cả tích cực và tiêu cực) của

các FTAs thế hệ mới này đến xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam.

Thứ ba, các công trình trên chưa có quan điểm thống nhất về tác động và

triển vọng của xuất khẩu dệt may trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương

mại tự do thế hệ mới. Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu xem xét đánh

giá triển vọng của xuất khẩu dệt may trong bối cảnh Việt Nam tham gia các

hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng và triển vọng của xuất khẩu dệt may

Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do

thế hệ mới là hết sức cần thiết. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tác động

cụ thể của các FTA thế hệ mới tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam, có khả

năng áp dụng cao, có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tế trong việc phát

triển ngành sản xuất dệt may Việt Nam nói chung và thúc đẩy xuất khẩu hàng

dệt may nói riêng.

Trong đó, luận án sẽ tập trung phân tích tình hình xuất khẩu hàng hóa dệt

may Việt Nam thời gian qua, đặc biệt là xuất khẩu sang các thị trường lớn

như Hoa Kỳ, EU… Đồng thời, nhấn mạnh đến các nước và khu vực thị

trường mà Việt Nam đã ký kết các FTAs thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và

UKVFTA, thông qua sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp, phương

pháp SWOT, phương pháp phỏng vấn sâu. Trên cơ sở đó, Luận án sẽ đưa ra

các đánh giá về thành công và hạn chế cũng như các cơ hội và thách thức thúc

đẩy xuất khẩu hàng hóa dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hình thành và

32

thực thi FTA thế hệ mới.

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU DỆT MAY TRONG

BỐI CẢNH VIỆT NAM THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI

TỰ DO THẾ HỆ MỚI

2.1. Một số lý thuyết về xuất khẩu

2.1.1. Các khái niệm liên quan đến xuất khẩu dệt may

2.1.1.1. Khái niệm về xuất khẩu

Xuất khẩu đã được xuất hiện từ rất lâu trước đây thông qua hình thức

sơ khai chỉ là hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia hay vùng lãnh

thổ. Theo thời gian cùng sự phát triển của nền kinh tế, cũng như khoa học, kỹ

thuật, hoạt động xuất khẩu đã và đang ngày càng mở rộng mạnh mẽ với nhiều

hình thức đa dạng khác nhau. Hoạt động này diễn ra trên nhiều lĩnh vực,

ngành nghề của nền kinh tế cả với hàng tiêu dùng cũng như với tư liệu sản

xuất. Tuy nhiên, chung quy lại tất cả những hoạt động này đều nhằm mục

đích đem lại lợi ích cho các quốc gia khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu.

Như vậy, xuất khẩu được hiểu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho một

quốc gia khác, trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương thức thanh toán. Tiền tệ

ở đây có thể là đồng tiền của một trong hai quốc gia của người mua, người

bán hoặc của một quốc gia thứ ba khác. Chẳng hạn: Việt Nam xuất khẩu hàng

hóa sang Mỹ, sử dụng đồng tiền thanh toán là USD. Trong trường hợp này

USD là ngoại tệ đối với Việt Nam nhưng là đồng tiền nội tệ của Mỹ. Còn

trong trường hợp Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, và cũng

thành toán bằng USD thì đồng USD ở đây là ngoại tệ đối với cả hai quốc gia

xuất và nhập khẩu.

Khái niệm xuất khẩu theo Luật thương mại 2005 thì được nêu cụ thể tại

Điều 28, khoản 1 như sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa

ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ

Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.

33

2.1.1.2. Khái niệm ngành dệt may và xuất khẩu dệt may

Ngành hàng dệt may là một trong những ngành chủ đạo của công

nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, liên quan đến việc sản xuất sợi, dệt nhuộm,

vải, thiết kế sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và cuối cùng là phân phối hàng

may mặc đến tay người tiêu dùng. Ngành dệt may góp phần đảm bảo nhu cầu

tiêu dùng, cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt; là một ngành

đem lại thặng dư xuất khẩu cho nền kinh tế; góp phần giải quyết việc làm;

tăng phúc lợi xã hội.

Hàng may mặc là một trong những hàng hóa đầu tiên được con người

đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường và nó cũng chính là mặt hàng đáp

ứng những nhu cầu cơ bản của mọi tầng lớp dân cư. Cùng với sự phát triển

của đời sống người dân, nhu cầu về hàng may mặc cũng đã có nhiều thay đổi

theo hướng nâng cao về thẩm mỹ, vừa mang tính thủ công truyền thống, vừa

mang tính hiện đại. Sản phẩm dệt may có những đặc trưng như:

- Tính thời vụ:tùy thuộc vào các mùa, chu kì thay đổi của thời tiết mà

kế hoạch sản xuất cũng như xuất khẩu hàng may mặc có sự biến đổi. Sản

phẩm may mặc có những yêu cầu rất phong phú phụ thuộc vào người tiêu

dùng nó: do người tiêu dùng có sự khác nhau về văn hóa, tôn giáo, phong tục

tập quán, tuổi tác…do đó họ có những nhu cầu về sản phẩm là hoàn toàn khác

nhau.

- Có tính thời trang cao nghĩa là các sản phẩm phải đáp ứng được các

nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng về kiểu dáng, màu sắc, mẫu mã, chất

liệu…việc nắm bắt được tâm lý khách hàng là yếu tố hết sức quan trọng quyết

định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp.

- Các sản phẩm may mặc gắn liền với tên hiệu, thương hiệu. Khi một

sản phẩm được gắn với một thương hiệu nổi tiếng, điều này cũng đồng nghĩa

với việc giá trị của sản phẩm hàng may mặc đó được tăng lên rất nhiều.

Không chỉ có vậy việc gắn nhãn hiệu đối với sản phẩm hàng may mặc còn là

khẳng định tên tuổi, uy tín của doanh nghiêp kinh doanh.

Sự ra đời của ngành công nghiệp may mặc gắn liền với sự hình thành

34

và phát triển của chủ nghĩa tư bản, với đặc thù về sản xuất như sử dụng nhiều

lao động, đòi hỏi về vốn và công nghệ không cao, xuất khẩu hàng may mặc đã

và đang được nhiều quốc gia trên thế giới coi trọng và coi đó là ngành công

nghiệp tiên phong, tạo đà cho các ngành công nghiệp nhẹ khác phát triển.

Trong quá trình phát triển, ngành công nghiệp sản xuất hàng may mặc

đã trải qua hai cuộc chuyển dịch lớn: chuyển từ các nước công nghiệp phát

triển sang các nước công nghiệp mới và chuyển từ các nước công nghiệp mới

sang các nước có nguồn nhân công dồi dào với giá rẻ, nguyên liệu sẵn

có…Thêm vào đó là cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á làm cho việc xuất

khẩu các mặt hàng may mặc có xu hướng tăng chậm lại. Tuy nhiên thì tổng

kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc vẫn tăng đều qua các năm và chiếm một

tỷ trọng khá cao. Theo thống kê hiện nay thì kim ngạch buôn bán hàng may

mặc của thế giới hàng năm đạt khoảng 400-550 tỷ USD chiếm 10% tổng kim

ngạch buôn bán thế giới, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt khoảng

20%.

Hiện nay trên thế giới ngành công nghiệp hàng may mặc chủ yếu tập

trung ở hai khu vực chính là Châu Á-Thái Bình Dương (chiếm khoảng 70%)

và Châu Âu, các nước thuộc khu vực khác như Bắc Mỹ, Tây Âu, Trung

Đông chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong thị trường xuất khẩu.

Các nước Châu Á với những ưu thế về lao động và tài nguyên, thêm

vào đó là sự tận dụng tốt những kinh nghiệm cũng như lợi thế của các nước đi

trước đã không ngừng phát triển, nâng cao hoạt động xuất khẩu hàng may

mặc ra thị trường thế giới. Kinh doanh hàng may mặc ở khu vực Châu Á đang

được mở rộng với tốc độ tăng trưởng gấp 2 lần tốc độ tăng trưởng của thế

giới.

Dựa trên khái niệm xuất khẩu nói chung, có thể hiểu: Xuất khẩu dệt

may là hoạt động kinh doanh buôn bán các mặt hàng dệt may trên phạm vi

quốc tế, là quá trình trao đổi hàng dệt may giữa các quốc gia dựa trên

nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ làm trung gian thanh toán.

2.1.2. Một số lý thuyết về xuất khẩu

35

2.1.2.1. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Năm 1776 Adam Smith đưa ra tác phẩm “Tài sản quốc gia”, đây là tác

phẩm kinh điển đưa ra rất nhiều các lý thuyết kinh tế. Trong cuốn này Adam

đưa ra thuyết Lợi thế tuyệt đối.Adam phản đối quan điểm chủ nghĩa trọng

thương mà mong muốn tự do hóa thương mại. Thông qua bàn tay vô hình các

nước sẽ sản xuất những mặt hàng có lợi thế lớn nhất đối với họ bằng các

nguồn lực hữu hạn. Khi đó các nước sẽ được hưởng lợi nhiều nhất. Adam cho

rằng mỗi một loại hàng hóa đều có khác biệt về chi phí sản xuất. Trong cuốn

 Mối quan hệ trong các tác nhân kinh tế là hai bên đều có lợi. Bằng

sách của mình, Adam Smith cho rằng:

cách tối ưu lợi ích cá nhân, các tác nhân kinh tế đã làm gia tăng phúc lợi xã

 Mối quan hệ giữa hai nước là cùng phát triển: Mỗi nước có lợi thế

hội

riêng vì vậy sản xuất ra các hàng hóa với chi phí khác nhau. Bằng cách trao

đổi hàng hóa giữa các quốc gia, mỗi nước sẽ thu được lợi lớn nhất với chi phí

 Quan điểm về sự giàu có của một quốc gia: là việc người dân của

thấp nhất.

anh ăn gì, mặc gì, có hạnh phúc không chứ không phải là vàng bạc trong két.

Adam Smith cổ vũ xóa bỏ mọi rào cản thương mại (Hạn ngạch, thuế,..).

Đây là một bước chuyển rất lớn, từ bảo hộ mậu dịch chuyển sang tự do

thương mại.

2.1.2.2. Lý thuyết lợi thế so sánh (David Ricardo 1817

Học thuyết của David Ricardo ra đời trong thời kì cách mạng công

nghiệp đã hoàn thành, khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xác lập

địa vị thống trị hoàn toàn với hai giai cấp tư sản và vô sản đối lập nhau; phân

công lao động xã hội phát triển, mâu thuẫn giai cấp bộc lộ rõ ràng hơn. sống

trong thời kì này, David Ricardo có thể nhìn nhận và phân tích các quy luật

vận động của chủ nghĩa tư bản và nhìn rõ hơn mâu thuẫn giai cấp trong xã hội

tư bản chủ nghĩa cũng như vạch ra cơ sở kinh tế của những mâu thuẫn đó.

36

Ông đã nhận thấy những hạn chế trong học thuyết của Adam Smith và phát

triển nó thành học thuyết lợi thế so sánh/lợi thế tương đối (comparative

advantage).

Ý tưởng về lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) được đề cập đến lần đầu

tiên bởi Robert Torrens (1780 - 1864, người Anh) vào năm 1815 trong bài

viết về thương mại mặt hàng ngô (An essay on the external com trade).

Robert kết luận rằng, nước Anh có lợi khi sản xuất các mặt hàng khác để đổi

lấy ngô từ Ba Lan cho dù Anh có thể sản xuất ngô rẻ hơn Ba Lan. Tuy nhiên,

lý thuyết lợi thế so sánh chỉ thật sự gắn liền với tên tuổi của David Ricardo

khi ông phát triển nó trong tác phẩm nổi tiếng năm 1817 “Những nguyên lý

của kinh tế chính trị và thuế khóa”.

Nếu thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith không giải thích được

quan hệ thương mại diễn ra giữa hai nước mà lợi thế tuyệt đối dồn hết về một

bên, thì theo David Ricardo:

- Thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữa hai quốc gia mà lợi thế

tuyệt đối dồn hết về một phía. Một nước có hiệu quả sản xuất thấp hơn (chi

phí cao hơn) trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì vẫn có thể tham gia

vào phân công lao động quốc tế và trao đổi ngoại thương, thông qua chuyên

môn hóa sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm có lợi thế so sánh.

- Một quốc gia có lợi thế so sánh khi quốc gia đó có khả năng sản xuất

một hàng hóa với mức chi phí cơ hội thấp hơn so với các quốc gia khác; Chi

phí cơ hội của việc sản xuất ra một hàng hóa là số lượng hàng hóa khác phải

hi sinh khi chúng ta sử dụng nguồn lực để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa

đó. Lợi thế so sánh xác định thông qua tính toán chi phí cơ hội để sản xuất ra

một đơn vị sản phẩm trên cơ sở so sánh chi phí sản xuất các loại sản phẩm

khác nhau.

Thuyết lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) tiến bộ hơn rất nhiều so với

thuyết lợi thế tuyệt đối (lợi thế tuyệt đối trở thành trường họp đặc biệt của lợi

thế so sánh). Do đó, thuyết này được ứng dụng rất rộng và phát triển cho đến

ngày nay. Có thể nói thương mại quốc tế giữa các nước hiện nay chủ yếu dựa

37

trên khai thác các mặt hàng có lợi thế so sánh.

Ngoài ứng dụng trong thương mại quốc tế, thuyết lợi thế so sánh còn

được ứng dụng trong nghiên cứu phân công lao động giữa các vùng, địa

phương, thậm chí các tổ đội, cá nhân trong doanh nghiệp, tổ chức.

2.1.2.3. Mô hình Heckscher – Ohlin (mô hình H-O)

Mô hình này do hai nhà kinh tế là Eli Heckscher (1919) và Bertil Ohlin

của Thụy Điển đồng nghĩ ra vì vậy tên gọi mô hình là nối của hai cái tên.Mô

hình này đưa ra hai yếu tố ảnh hưởng tới thương mại giữa các quốc gia:

- Mức độ dồi dào và rẻ của các yếu tố sản xuất

- Mỗi một mặt hàng lại cần tỷ lệ các yếu tố đầu vào khác nhau.

Một quốc gia nên xuất khầu các hàng hóa mà mình dồi dào yếu tố sx

cho hàng hóa đó và nhập về những hàng hóa ngược lại. Trường hợp cụ thể vì

Việt Nam dồi dào lao động nhưng vốn ít vì vậy nên sản xuất giầy dép,

vài,…Còn Nhật bản nhiều vốn nhưng ít lao động thì nên sản xuất và xuất

khẩu thép và nhập về vải. Trong thực tế thì ngày nay các nước đều theo chủ

nghĩa Tân trọng thương có nghĩa là khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ mậu

dịch trong nước thông qua các hàng rào thuế quan, kỹ thuật. Vì vậy ta sẽ thấy

là thuế xuất khẩu thì luôn thấp thậm chí bằng 0 nhưng thuế nhập khẩu thì lại

cao có thể lên tới 100%.

Tại Việt Nam chính phủ sẽ phải xác định mặt hàng xuất khẩu/nhập

khẩu tập trung trong từng thời kỳ. Cụ thể từ 2011 tới 2020 Việt nam tập trung

nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất, nguyên liệu vì vậy con số này thực

tế chiếm 90%; còn lại tiêu dùng là 10%. Đối với xuất khẩu thì chúng ta tập

trung vào xuất khẩu các hàng hóa cần lượng lớn lao động (dầy da, may mặc,..)

và tài nguyên theo hướng tăng hàm lượng chế biến.

Các học thuyết cổ điển về thương mại quốc tế đều nhấn mạnh yếu tố

cung, coi quá trình sản xuất trong mỗi nước là yếu tố quy định hoạt động

thương mại quốc tế. Trong các học thuyết này, giá cả mặt hàng không được

hiển thị bằng tiền, mà được tính bằng số lượng hàng hóa khác, và thương mại

giữa các nước được thực hiện theo phương thức hàng đổi hàng. Những giả

38

định này khiến cho việc phân tích trở nên đơn giản hơn, nhung vẫn giúp giải

thích được nguồn gốc sâu xa của thương mại quốc tế. Tuy nhiên, thực tế

thương mại quốc tế hiện nay cho thấy, yếu tố từ phía cầu cũng tạo ra động lực

rất lớn cho trao đổi thương mại giữa các nước.

Về mặt chính sách, các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng sự can thiệp

của Nhà nước sẽ dẫn đến làm giảm lợi ích tiềm năng từ thương mại. Do vậy,

ngoại trừ học thuyết trọng thương chưa thấy được vai trò của tự do hóa

thương mại, hai học thuyết còn lại đã khuyến khích các nước chuyên môn hóa

sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế, Nhà nước chỉ can thiệp vào

nền kinh tế ở mức hạn chế. Đặc biệt, học thuyết về lợi thế so sánh của David

Ricardo còn được coi là nền tảng cho sự vận hành của Tổ chức Thương mại

thế giới (WTO).

Hạn chế lớn nhất của các học thuyết cổ điển về thương mại quốc tế,

theo các nhà kinh tế, đó là chúng được xây dựng trên cơ sở học thuyết giá trị

lao động, theo đó lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và đồng nhất trong tất

cả các ngành sản xuất. Do tính chất phi thực tế này đòi hỏi tiếp tục có các học

thuyết ra đời tiếp theo để giải thích chính xác hơn nữa bản chất của thương

mại quốc tế.

2.1.2.4. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter

Thuyết lợi thế cạnh hanh quốc gia do Michael Porter (Michael Porter,

sinh ngày 23/5/1947, là giáo sư của Đại học Harvard, Mỹ; Ông là nhà tư

tưởng chiến lược và là một trong những “bộ óc” quản trị có ảnh hưởng nhất

thế giới; là chuyên gia hàng đầu về chiến lược và chính sách cạnh tranh của

thế giới; là cố vấn trong lĩnh vực cạnh tranh cho lãnh đạo nhiều nước như Mỹ,

Ireland, Nga, Singapore, Anh), giáo sư của Đại học Harvard (Mỹ) đưa ra vào

năm 1990, đây là công trình nghiên cứu của một tập thể các nhà khoa học ở

12 nước bắt đầu từ năm 1986, với tổng cộng các ngành được nghiên cứu lên

tới con số hàng trăm. Mục đích của thuyết là giải thích tại sao một số quốc gia

lại có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một số sản phẩm, hay nói cách

khác, tại sao lại có những quốc gia có khả năng cạnh tranh cao về một số sản

39

phẩm. Ví dụ, tại sao Nhật Bản rất nổi tiếng trong ngành sản xuất ô tô? Tại sao

Thụy Sỹ nổi tiếng trong sản xuất và xuất khẩu các thiết bị chính xác và các

loại dược phẩm? Tại sao Đức và Mỹ làm rất tốt trong ngành công nghiệp hóa

chất?

Thuyết này được xây dựng trên cơ sở lập luận rằng khả năng cạnh tranh

của một ngành công nghiệp được thể hiện tập trung ở khả năng sáng tạo và

đổi mới của ngành đó. Và điều này được khái quát hóa cho một thực thể lớn

hơn - một quốc gia. Học thuyết của M. Porter đã kết hợp được các cách giải

thích khác nhau trong các học thuyết của thương mại quốc tế trước đó và

đồng thời đã đưa ra một cách tiếp cận rất quan trọng - khả năng cạnh tranh

quốc gia.

Theo thuyết này, khả năng cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên

kết của bốn nhóm yếu tố. Mối liên kết của bốn nhóm tạo thành mô hình có tên

là mô hình kim cương (mô hình mô phỏng cấu trúc tinh thể kim cương có độ

bền cao để chỉ khả năng chịu đựng của một quốc gia trước môi trường cạnh

tranh gay gắt). Bốn nhóm yếu tố bao gồm: điều kiện về các yếu tố sản xuất;

điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; chiến lược,

cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành. Cả bốn nhóm yếu tố này tác động

qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnh tranh của một quốc gia.

Ngoài bốn yếu tố trên, còn có hai yếu tố rất quan trọng, đó là yếu tố tác động

của chính phủ và cơ hội kinh doanh. Đây là yếu tố có thể chi phối cả bốn

nhóm yếu tố cơ bản kể trên.

Thuyết cạnh tranh quốc gia của M. Porter đứng trên quan điểm quản trị

ngành, tức ông coi khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào khả

năng cạnh tranh của ngành và cụ thể hơn nữa là cạnh tranh của các doanh

nghiệp trong ngành. Không có một nước nào lại có khả năng hơn một nước

khác, chỉ có doanh nghiệp nước này có khả năng cạnh tranh cao hơn doanh

nghiệp nước khác. Đây là quan điểm được đánh giá phù hợp thực tế. Như vậy,

thuyết của M. Porter có sự gắn kết các cấp độ doanh nghiệp, ngành công

40

nghiệp và các quốc gia, trong khi các học thuyết khác chỉ đề cập đến một

hoặc hai cấp độ. Học thuyết có giá trị cao đối với các chính phủ trong việc

xây dựng chiến lược phát triển ngành, phát triển cụm công nghiệp.

Thuyết này đã đưa ra một cách giải thích mới về các yếu tố quyết định

đến khả năng cạnh tranh quốc gia. Nếu như ở thuyết H - o, mặc dù cũng đề

cập đến sự khác biệt về nguồn lực giữa các quốc gia, nhưng mới chỉ giới hạn

ở nhóm các yếu tố cơ bản được đề cập trong thuyết của M. Porter, về khía

cạnh này, M. Porter đi xa hơn khi khẳng định rằng chính các yếu tố tiên tiến

mới đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành lợi thế cạnh tranh của

doanh nghiệp, và cao hơn là lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Thuyết đưa ra mô hình xem xét khả năng cạnh tranh quốc gia dưới

trạng thái động, nghĩa là khả năng này có thể thay đổi theo thời gian. Thuyết

có giá trị trong việc định hướng xây dựng chính sách cạnh tranh của các chính

phủ và việc hoạch định chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp. Các

doanh nghiệp nhìn vào mô hình để đánh giá vị trí của doanh nghiệp trong một

ngành, xem xét tiềm năng thị trường, các mối liên hệ bên trong một nhóm

ngành, cơ cấu ngành, các yếu tố sản xuất, chính sách của chính phủ và cơ hội

kinh doanh để xây dựng chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn, xác định

đúng đắn các khâu trọng yếu để tập trung đầu tư, hay điều chỉnh hợp lý.

Chính phủ nên có các chính sách hỗ trợ để cải thiện khả năng cạnh tranh của

các ngành không có hoặc khả năng cạnh tranh thấp, và khuyến khích phát

triển các ngành có lợi thế cạnh tranh cao.

2.2. Khái quát về xuất khẩu dệt may

2.2.1. Vị trí, của ngành dệt may xuất khẩu dệt may trong nền kinh tế

Dệt may là một trong những ngành công nghiệp có lịch sử lâu đời trên

thế giới. Ngành công nghệ dệt may hiểu đơn giản là ngành liên quan đến lĩnh

vực thiết kế nhằm đáp những ứng nhu cầu về thời trang, may mặc của con

người. Ngành dệt may được coi là một trong những ngành đóng vai trò chủ

đạo trong sản xuất hàng tiêu dùng, thông qua những công đoạn liên quan đến

việc làm vải và thiết kế sản phẩm và may hoàn thiện để đưa đến người tiêu

41

dùng. Có thể thấy, ngành dệt may có một tầm quan trọng rất lớn trong việc

đảm bảo các nhu cầu đời thường của con người, còn là ngành đem lại thặng

dư xuất khẩu cho nền kinh tế, tăng phúc lợi xã hội và góp phần giải quyết tình

trạng thất nghiệp nói chung. Đây là một ngành hàng chủ đạo của công nghiệp

sản xuất hàng tiêu dùng, liên quan đến sản xuất ra các sản phẩm phục vụ nhu

cầu thiết yếu của con người như vải, quần áo và các sản phẩm từ vải và sợi.

Với lợi thế là ngành sản xuất yêu cầu vốn đầu tư cố định thấp, lực lượng

lao đông phổ thông cao, do đó, ngành dệt may là một trong những ngành đem

lại giá trị thặng dư xuất khẩu lớn cho nền kinh tế, góp phần tạo việc làm và

giải quyết các vấn đề an sinh xã hội (Nguyệt A. Vũ, 2014). Kể từ khi đổi mới

đến nay, ngành dệt may Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đặc

biệt là kể từ sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới năm

2007, thu hút được lượng vốn đầu tư lớn, tạo việc làm cho người dân, đồng

thời là ngành kinh tế chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển ngành

công nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung (Nguyễn Hoàng

Giang, 2014; Phạm Thị Lụa, 2014). Lịch sử phát triển kinh tế cũng chỉ ra rằng

ngành dệt may là ngành khởi đầu cho chiến lược công nghiệp hóa của mỗi

quốc gia theo định hướng xuất khẩu, thể hiện vai trò nền tảng tập trung tích

lũy tư bản cho quá trình phát triển kinh tế sau này.

Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), tính đến hết năm 2021, Việt

Nam hiện có tổng cộng khoảng hơn 5.200 doanh nghiệp dệt may lớn nhỏ với

hơn 2.5 triệu người trực tiếp tham gia lao động sản xuất và gần 2 triệu lao

động gián tiếp làm việc trong các ngành nghề liên quan như kho bãi, vận

chuyển… Cũng theo VITAS, thu nhập trung bình của người lao động trong

ngành dệt may hiện nay của Việt Nam là từ 4-4.5 triệu/tháng (tương đương

48-54 triệu/năm). Cũng theo số liệu của VITAS, năm 2019 số lượng doanh

nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may ở Việt Nam đã tăng lên gần 6.000

doanh nghiệp; thu nhập bình quân đầu người của lao động hoạt động trong

ngành dệt may đạt xấp xỉ 80 triệu VNĐ/năm. Theo các chuyên gia và các nhà

hoạch định chính sách, số lượng các doanh nghiệp dệt may gia nhập thị

42

trường được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong các năm tới, do làn sóng đầu tư trực

tiếp nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản

có xu hướng gia tăng (Le, Tran & Nguyen Duc, 2022).

Có thể thấy rằng xu hướng này xuất phát từ xu hướng chuyển dịch cơ

cấu ngành dệt may từ Trung Quốc sang các nước có lợi thế so sánh về dệt

may như Việt Nam. Thực tế này cho thấy vai trò của ngành dệt may đối với

kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục có những đóng góp tích cực và quan

trọng trong thời gian tới. Như vậy, ngành dệt may không chỉ giúp nền kinh tế

giải quyết bài toán tạo công ăn việc làm mà đồng thời còn giúp người dân cải

thiện thu nhập, gia tăng an sinh phúc lợi xã hội. Đặc biệt, với chiến lược quy

hoạch vùng sản xuất dệt may, trong những năm gần đây xu hướng dịch

chuyển sản xuất các sản phẩm dệt may đến các vùng nông thôn, vùng sâu,

vùng xa góp phần xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ người dân thích ứng dần với

môi trường làm việc công nghiệp, cũng như rút ngắn khoảng cách phát triển

giữa nông thông và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi.

Bên cạnh tạo công ăn việc làm, giúp cải thiện các vấn đề an sinh xã hội,

ngành dệt may còn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược xuất khẩu của Việt

Nam. Trong thời gian tới, Việt Nam không chỉ chú trọng phát triển ngành dệt

may hiện có mà còn tập trung nâng cấp ngành dệt may, đặc biệt trong các

công đoạn có giá trị gia tăng cao, thâm dụng vốn và công nghệ; bên cạnh đó

ngành dệt may cũng được xác định là ngành mũi nhọn tận dụng lợi thế về lao

động để tham gia sâu hơn vào sân chơi thương mại toàn cầu. Như là một tất

yếu khách quan, ngành dệt may sẽ tiếp tục chiếm giữ vị trí là một trong những

ngành công nghiệp chiến lược đóng góp lớn cho kim ngạch thương mại của

Việt Nam, đồng thời cũng là ngành công nghiệp trọng điểm đóng góp phần

quan trọng cho phát triển kinh tế và giải quyết bài toán việc làm cho Việt

Nam trong thời gian tới.

Qua phân tích ở trên, có thể thấy rõ được vai trò của hoạt động xuất

khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt may đối với nền kinh tế

43

nước ta:

Thứ nhất, xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt may

sẽ tạo nguồn thu nhập, tích luỹ cho Nhà nước một nguồn vốn ngoại tệ lớn cho

việc nhập khẩu thiết bị sản xuất hiện đại, nguyên phụ liệu…để phát triển sản

xuất phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước. Đồng thời

cũng giúp cho mỗi doanh nghiệp có cơ sở để tự hiện đại hoá sản xuất của

mình. Khi xuất khẩu các sản phẩm dệt may nước ta sẽ có một nguồn thu ngoại

tệ lớn cho nền kinh tế quốc dân, đáp ứng cho việc nhập khẩu các mặt hàng mà

chúng ta cần để đảm bảo cho sự phát triển cân đối, ổn định của nền kinh tế;

giúp chúng ta khai thác tối đa tiềm năng của đất nước.

Thứ hai, xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá nói

chung và sản phẩm dệt may nói riêng được xem là một yếu tố để thúc đẩy

phát triển và tăng trưởng kinh tế vì nó cho phép mở rộng quy mô sản xuất,

chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước, gây phản ứng dây truyền kéo theo một

loạt các ngành khác có liên quan phát triển theo. Khi ngành dệt may đẩy mạnh

hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu thì sẽ buộc phải mở

rộng quy mô sản xuất và cần nhiều nguyên liệu hơn để phục vụ cho ngành dệt

và may, điều đó sẽ dẫn theo sự phát triển của ngành trồng bông và các ngành

có liên quan đến việc trồng bông như phân bón, vận tải…

Thứ ba, việc ngành dệt may đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng

thị trường xuất khẩu sẽ giúp Nhà nước và chính bản thân các doanh nghiệp sử

dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực có sẵn và các lợi thế vốn có của quốc gia

cũng như của doanh nghiệp, đồng thời tiếp cận với sự phát triển của khoa

học-công nghệ trên mọi lĩnh vực để nâng cao chất lượng, tăng sản lượng và

hướng tới sự phát triển bền vững cho đất nước và doanh nghiệp.

Thứ tư, tiến hành các hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất

khẩu sản phẩm dệt may góp phần giúp Nhà nước giải quyết vấn đề công ăn

việc làm, nâng cao mức sống người dân, đưa quốc gia thoát khỏi sự đói nghèo

và lạc hậu. Việc ngành dệt mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường

xuất khẩu đồng nghĩa với việc mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng

44

sản phẩm, khi đó ngành dệt may sẽ thu hút được nhiều hơn nữa lao động và

giúp họ có được một mức thu nhập cao và ổn định, tay nghề của người lao

động được nâng cao do họ sẽ được đưa vào đào tạo một cách bài bản và có kế

hoạch cụ thể, đồng thời có cơ hội tiếp cận với những công nghệ sản xuất dệt

may hiện đại.

Thứ năm, để việc đẩy mạnh xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu

có hiệu quả cao, các doanh nghiệp dệt may phải không ngừng đầu tư vào

trang thiết bị máy móc, công nghệ sản xuất để vừa nâng cao chất lượng sản

phẩm vừa tăng năng xuất thì mới tạo ra được những sản phẩm có tính cạnh

tranh cao trên thị trường quốc tế. Như vậy xuất khẩu và mở rộng thị trường

xuất khẩu còn có vai trò kích thích đổi mới công nghệ sản xuất cho nền kinh

tế nói chung và cho ngành dệt may nói riêng.

Thứ sáu, nhờ có hoạt động xuất khẩu và công tác mở rộng thị trường

xuất khẩu mà sự hợp tác kinh tế giữa nước ta với các nước khác ngày càng

phát triển bền chặt và thân thiện. Điều đó là do xuất khẩu chính là sự trao đổi

giữa các quốc gia, là sự thể hiện mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các

quốc gia và là hình thức ban đầu của các hoạt động đối ngoại. Không chỉ thế

nó còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng cường tiếp cận với thế giới

bên ngoài, từ đó có một nguồn thông tin vô cùng phong phú và nhạy bén với

cơ chế thị trường; thiết lập được nhiều mối quan hệ và tìm được nhiều bạn

hàng trong kinh doanh hợp tác xuất nhập khẩu.

Như vậy đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất

khẩu sản phẩm dệt may có vai trò rất quan trọng đối với không chỉ bản thân

mỗi doanh nghiệp dệt may mà còn đối với cả nền kinh tế quốc dân. Chính vì

thế mà nó được xem như là một hướng phát triển có tính chiến lược để góp

phần hiện đại hoá nền công nghiệp nước ta.

2.2.2. Đặc điểm của sản xuất và xuất khẩu dệt may

Thứ nhất, đặc điểm về nhu cầu và tiêu thụ

Nhu cầu hàng dệt may. là một trong những nhu cầu thiết yếu của con

45

người. Sản phẩm may mặc là một trong những hàng hoá đầu tiên tham gia vào

mậu dịch quốc tế. Hàng dệt may có những đặc trưng tiêu dùng riêng biệt ảnh

hưởng đến sản xuất và buôn bán trao đổi trên thị trường đó là:

 Sản phẩm may mặc là loại sản phẩm có yêu cầu rất phong phú, đa

dạng về chủng loại và chất liệu tuỳ theo yêu cầu đối tượng tiêu dùng. Sự khác

biệt về văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo, khí hậu, tuổi tác, giới tính sẽ tạo

nên sự khác biệt về nhu cầu tiêu dùng. Nghiên cứu thị trường để nắm rõ nhu

cầu của từng đối tượng tiêu dùng có ýnghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiêu

thụ sản phẩm .

 Sản phẩm dệt may mang tính thời trang cao. Để tiêu thụ sản phẩm

phải nắm bắt được xu hướng thời trang của thế giới, thị trường muốn tiếp cận

thường xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, mầu sắc, chất liệu để đáp ứng tâm

lý thích đổi mới, độc đáo gây ấn tượng đối với người tiêu dùng.

 Sản phẩm dệt may mang tính thời vụ cao. Căn cứ trên sự thay đổi

của thời tiết trong năm ở từng khu vực, từng thị trường. Vấn đề này có liên

quan trực tiếp đến thời hạn giao hàng, mặt hàng dệt may phải được giao đúng

thời hạn nếu không muốn bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu.

Nhãn mác cũng là yếu tố quan trọng đối với hàng dệt may. Người tiêu

dùng có xu hướng thích sử dụng những mặt hàng mang nhãn hiệu của các

hãng nổi tiếng trên thế giới bởi vì đa số người tiêu dùng tin rằng nhãn hiệu đó

là biểu hiện của chất lượng sản phẩm và uy tín của nhà sản xuất.

Thu nhập bình quân đầu người và cơ cấu tiêu dùng chi cho hàng dệt

may là yếu tố quan trọng khi xác định xu hướng tiêu thụ mặt hàng này.

Ngoài ra, cũng như các mặt hàng khác, đặc điểm tiêu thụ hàng dệt may

còn chịu ảnh hưởng của đặc điểm xã hội, thói quen tiêu dùng của từng thị

trường.

Thứ hai, đặc điểm về thị trường

Hàng dệt may là hàng có qui mô thị trường lớn, hầu như nước nào, khu

vực nào cũng có xuất khẩu và nhập khẩu hàng maymặc nhằm đa dạng hoá

mặt hàng và đáp ứng nhu cầu tiêudùng. Châu Á, Tây Âu và Bắc Mỹ là ba

46

trung tâm buôn bán chính mặt hàng may mặc chiếm khoảng 80 – 90% kim

ngạch xuất nhập khẩu hàng may mặc của thế giới. Các nước xuất khẩu lớn

cũng đồng thời là các nước nhập khẩu lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ,

EU...

Các sản phẩm may mặc là một trong những mặt hàng được bảo hộ chặt

chẽ. Hiệp định về hàng dệt may là kết quả quan trọng của vòng đàm phán

Uruguay (ATC – Agreement Textile) ra đời và phát huy tác dụng việc buôn

bán quốc tế các sản phẩm dệt may được điều chỉnh theo những thể chế thương

mại đặc biệt mà nhờ đó phần lớn các nước nhập khẩu thiết lập các hạn chế số

lượng để hạn chế nhập khẩu hàng dệt may. Thêm vào đó mức thuế phổ biến

đánh vào hàng dệt may còn cao hơn so với các hàng hoá công nghiệp khác

(sẽ trình bày ở phần sau). Bên cạnh đó từng nước nhập khẩu còn đề ra nhiều

quy định riêng đối với hàng dệt may nhập khẩu như những qui định về nhãn

mác, giấy phép nhập khẩu và các tiêu chuẩn quốc tế khác. Tất cả những hàng

rào đó ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và buôn bán hàng dệt may trên thế giới.

2.2.3. Vai trò của xuất khẩu dệt may đối với phát triển kinh tế

Việt Nam xác định ngành dệt may là một trong những ngành mũi nhọn

đối với chiến lược phát triển kinh tế và hội nhập thế giới. Ngày 11/04/2014,

Bộ Công thương ban hành Quyết định 3218/QĐ-BCT phê duyệt quy hoạch

phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến

năm 2030. Theo đó, ngành dệt may được xác định là ngành công nghiệp mũi

nhọn, không chỉ phục vụ tiêu dùng trong nước mà định hướng xuất khẩu, có

vai trò đòn bẩy nâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia, mũi tiên phong đóng

góp cho quá trình hội nhập. Vậy, đâu là nguyên nhân mà Việt Nam lựa chọn

ngành dệt may như là mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế, cũng như

được đặc biệt chú trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tính tất yếu

của phát triển ngành dệt may ở Việt Nam có thể được giải thích cặn kẽ, hợp lý

ở các góc độ lý thuyết và thực tiễn bởi lý thuyết/mô hình đàn nhạn bay (đàn

sếu bay) của nhà kinh tế học người Nhật Akamatsu Kaname (flying-geese

47

paradigm).

Akamatsu quan sát sự phát triển của ngành sản xuất sợi bông của Nhật

Bản đầu thế kỷ 20 và khám phá ra thực tế là nền công nghiệp dệt may của

Nhật Bản ban đầu phụ thuộc vào nhập khẩu sợi bông, sau đó sợi bông được

phát triển và tiến đến sản xuất trong nước, tiếp đến nhập khẩu sợi bông giảm

dần do được thay thế bởi sợi bông sản xuất trong nước và sợi bông xuất khẩu

cũng tiếp đà tăng, cuối cùng cả nhập khẩu và xuất khẩu sợi bông đều giảm.

Akamatsu quan sát sự phát triển của ngành sợi bông và đưa ra ý tưởng sự phát

triển của một ngành kinh tế bất kỳ có thể diễn ra theo cấu trúc đàn nhạn bay

(Akamatsu, 1962). Từ ý tưởng về phát triển ngành, Akamatsu đi đến nhận

định rằng một quốc gia đang phát triển có thể áp dụng mô hình đàn nhạn bay

cho chiến lược phát triển kinh tế của mình, trong đó quá trình công nghiệp

hóa được bắt đầu bằng việc phát triển các ngành nghề thâm dụng lao động, tài

nguyên với mục đích tích lũy tư bản, sau đó phát triển ngành sản xuất và có

thể tiến tới xuất khẩu. Khát quát hóa ý tưởng của Akamatsu, các nhà kinh tế

sau này nhận định rằng các nước đang phát triển có thể phát triển những

ngành công nghiệp hạ nguồn, sau đó mới phát triển các ngành công nghiệp

thượng nguồn, tức là phát triển những ngành sơ khai rồi mới phát triển các

ngành sản xuất tiêu dùng và tư liệu sản xuất (Kojima, 2000). Dẫn chứng thực

tế cho lý thuyết này, Kojima (2000) khẳng định sự thành công của Đông Á

bắt đầu bởi Nhật Bản, rồi đến Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kong, Singapore,

tiếp theo là Trung Quốc, Thái Lan và hiện nay là Ấn Độ và Việt Nam (nhiều ý

kiến cho rằng tương lai có thể sẽ là một số các quốc gia Đông Nam Á khác

như Campuchia, Myanmar; thậm chí là một số nước châu Phi) được dẫn dắt

và lý giải bởi mô hình đàn nhạn bay (Vũ Kim Dũng, 2015).

Sau gần 40 năm đổi mới và mở cửa, không nghi ngờ gì về sự hội nhập

sâu rộng của Việt Nam vào kinh tế khu vực và toàn cầu, đặc biệt là những

bước chuyển dịch quan trong của kinh tế ngành. Tuy nhiên, cũng không thể

phủ nhận thực tế Việt Nam vẫn là một quốc gia đang phát triển, kinh tế phụ

thuộc vào các ngành thâm dụng nhiều lao động, ít thâm dụng vốn và các

48

ngành công nghiệp chứa đựng hàm lượng công nghệ tương đối đơn giản. Với

đặc trưng cần lượng lớn lao động tay nghề thấp, vốn đầu tư vào sản xuất

tương đối thấp so với các ngành công nghiệp khác, cùng với đó là yêu cầu

không cao về nhà xưởng, máy móc và trang thiết bị, kết hợp với chu kỳ sản

xuất kinh doanh ngắn, phát triển ngành dệt may xuất khẩu được xem là chiến

lược phát triển phù hợp, là hướng đi đúng đắn trong tương quan với điều kiện

kinh tế và xã hội của Việt Nam hiện có. Phát triển ngành dệt may sẽ cho phép

Việt Nam khai thác tối đa lợi thế so sánh về nguồn nhân lực dồi dào (đặc biệt

là lao động phổ thông), giải quyết được bài toán về sự hạn chế của nguồn lực

vốn và khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó, theo lý thuyết đàn nhạn bay, các nước

phát triển trong khu vực và thế giới đã tiến lên mức cao hơn đối với sản xuất

yêu cầu lao động trình độ tay nghề, thâm dụng vốn, hàm lượng khoa học kỹ

thuật và lợi thế về giá nhân công dần mất đi, do đó, ngành dệt may dần được

chuyển dịch sang các nước đang phát triển, nơi có nguồn nhân lực phổ thông

dồi dào và giá nhân công tương đối rẻ. Để lấp vào khoảng trống do quá trình

dịch chuyển cơ cấu ngành mà các nước đi trước để lại, Việt Nam là quốc gia

hội tụ đủ các điều kiện để đón đầu và khỏa lấp khoảng trống về sự phát triển

của phân công lao động tầm khu vực và quốc tế.

Như vậy, đến đây có thể khẳng định Việt Nam phát triển xuất khẩu dệt

may là yêu cầu tất yếu khách quan phù hợp với điều kiện hiện có trong nước,

đặc biệt là nguồn nhân công phổ thông dồi dào giá rẻ, và cũng tương thích với

xu hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong khu vực, tức là

đón đầu làn sóng chuyển dịch cơ cấu ngành dệt may hiện nay từ các nước đi

trước trong khu vực và thế giới.

2.2.4. Một số nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam

2.2.4.1. Nhóm nhân tố thuộc về thị trường nước ngoài

Thứ nhất, sự biến động của kinh tế thế giới. Ở cấp độ khu vực và thế

giới, thực tiễn những năm gần đây cho thấy tình hình kinh tế có sự biến động

lớn với cường độ mạnh hơn, sự ổn định không mang tính dài hạn, trong khi

đó suy thoái mang tính biến thiên với tần suất nhiều hơn. Dễ dàng quan sát sát

49

rằng, chỉ chưa tới 5 năm kể từ cuộc đại khủng hoảng tài chính toàn cầu năm

2008-09, thế giới tiếp tục đối mặt với sự mất cân bằng về nguồn cung ứng cho

sản xuất năm 2013-14; kế đến năm 2016 thế giới bắt đầu lo sợ với những

thông tin về một cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới,

và chỉ chưa đầy 3 năm sau, chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc

đã làm đảo lộn nhiều trật tự, và ảnh hưởng nghiêm trọng tới thương mại toàn

cầu. Năm 2019, thế giới tiếp tục chứng kiến đại dịch Covid-19, không chỉ làm

thay đổi phương thức giao thương giữa các quốc gia, mà còn ảnh hưởng trực

tiếp đến các vấn đề thương mại toàn cầu. Thực tế cho thấy, ngành dệt may

Việt Nam phụ thuộc lớn vào các thị trường xuất khẩu, sự bất ổn kinh tế toàn

cầu sẽ tác động mạnh tới thương mại ngành dệt may của Việt Nam. Bên cạnh

đó, các thị trường xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam như Mỹ, EU, Nhật Bản

cũng có những biến động lớn về điều chỉnh chính sách tỷ giá, vì vậy, những

thay đổi trên sẽ có tác động rất lớn đến kim ngạch xuất khẩu ngành hàng dệt

may của Việt Nam.

Thứ hai, nhu cầu thị trường nước ngoài. Đây nhóm nhân tố có ảnh

hưởng rất lớn đến sự phát triển xuất khẩu. Tìm hiểu rõ được nhu cầu của thị

trường xuất khẩu sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các cơ hội, phòng

tránh rủi ro, nâng cao hiệu quả. Sự ảnh hưởng từ thị trường các nước, được

đánh giá trên hai phương diện là nhu cầu thị trường và cơ chế chính sách của

thị trường EU.

Nhu cầu của thị trường thể hiện quy mô dân số, cơ cấu dân số và đặc

điểm nhu cầu của người dân, các yêu cầu về các tiêu chuẩn sản phẩm như

chất lượng, bảo vệ sức khỏe và an toàn cho người tiêu dùng, thương hiệu sản

phẩm dề các sản phẩm may mặc tại thị trường đó. Những đặc điểm thuộc về

nhu cầu của thị trường nước ngoài có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát

triển xuất khẩu hàng may mặc. Đó thực sự là một thách thức không dễ vượt

qua. Nhưng nếu đáp ứng được thị hiếu và yêu cầu này sẽ mở ra một thị trường

vô cùng rộng lớn.

Cơ chế chính sách kiểm soát hàng may mặc nhập khẩu của quốc gia

50

nhập khẩu mặt hàng dệt may như: Rào cản kỹ thuật. Ví dụ đối với thị trường

EU: Để đảm bảo cho người tiêu dùng, EU kiểm tra sản phẩm ngay từ nơi sản

xuất và có hệ thống báo động về chất lượng hàng hóa giữa các nước thành

viên. Hàng may mặc Việt Nam có thể bán được ở thị trường chung châu Âu

phải đảm bảo được các tiêu chuẩn sau: Phải bảo vệ sức khỏe và an toàn người

tiêu dùng; phải bảo vệ các lợi ích kinh tế của người tiêu dùng; người tiêu dùng

có quyền đối với thông tin để so sánh. Bên cạnh đó là chính sách bảo hộ sản

xuất nội khối. Nhằm tránh sự thâm nhập mạnh vào thị trường may mặc từ các

nước khác trên thế giới, một số quốc gia đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi

cho các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc trong nước, đồng thời đưa ra

nhiều tiêu chuẩn, quy định khắt khe đối với các doanh nghiệp nước ngoài.

2.2.4.2. Nhóm nhân tố về chính sách của Việt Nam

Thứ nhất, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Trong thời

gian qua, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đánh dấu

bằng việc Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do, trong đó có các

FTA thế hệ mới. Cùng với xu thế toàn cầu hóa, xu thế hội nhập, các hiệp định

thương mại tự do (FTA) cũng gia tăng nhanh chóng. Các hiệp định FTA ngày

càng phát triển sâu rộng, gắn kết với phát triển bền vững, thúc đẩy tăng

trưởng và liên kết toàn cầu. Các FTA khi có hiệu lực sẽ ảnh hưởng tới nền

kinh tế, thương mại của các nước tham gia, đặc biệt các FTA khu vực sẽ giúp

các nước tham gia cơ cấu lại thị trường xuất nhập khẩu theo hướng tích cực,

không bị phụ thuộc quá mức vào một thị trường, thương mại hai chiều sẽ tăng

cao sau khi FTA thực thi. Tham gia các FTA khu vực, song phương tạo ra sự

phát triển thương mại với các thị trường các quốc gia lớn và tạo bước phát

triển mạnh mẽ trong xuất khẩu. Khi tham gia các FTA sẽ được hưởng ưu đãi

thuế quan, cải thiện môi trường đầu tư góp phần thu hút đầu tư nước ngoài,

tạo ra nhiều công ăn việc làm, hình thành năng lực sản xuất cao hơn trong

ngành dệt may và tham gia chuỗi giá trị dệt may trong khu vực và toàn cầu.

Bên cạnh đó, tham gia các FTA cũng góp phần chuyển dịch lao động từ các

51

ngành không còn lợi thế so sánh sang ngành có lợi thế hơn như dệt may.

Thứ hai, phát triển hàng may mặc xuất khẩu tất yếu chịu ảnh hưởng từ

luật pháp của nước nhập khẩu. Tuy nhiên, luật pháp trong nước cũng có

những tác động nhất định đến sự phát triển này. Tác động mạnh nhất đến phát

triển xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường thế giới là những điều luật liên

quan đến cấp phép xuất-nhập khẩu. Bởi vì các doanh nghiệp dệt may Việt

Nam vẫn phải thường xuyên nhập khẩu nguyên phụ liệu từ bên ngoài. Một hệ

thống luật pháp khắt khe sẽ cản trở trực tiếp đến hoạt động xuất-nhập khẩu

của doanh nghiệp. Ngược lại, hệ thống luật pháp thông thoáng, cởi mở sẽ có

tác dụng hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh được hoạt động xuất-nhập khẩu của

mình, qua đó ảnh hưởng tích cực đến phát triển xuất khẩu.

Ngoài ra, các bộ luật doanh nghiệp, luật thương mại…cũng có những

ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển xuất khẩu hàng may mặc thông

qua chức năng điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi cho

phép, phòng chống gian lận thương mại, tạo ra sân chơi bình đẳng cho các

doanh nghiệp dệt may nâng cao sức cạnh tranh.

Thứ ba, quan điểm chính sách của nhà nước về xuất khẩu dệt may. Với

lợi thế vốn có của mình, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định ngành dệt

may là một trong các ngành được ưu tiên trọng điểm về mặt quan điểm đường

lối chính sách cho phát triển. Trong quyết định số 36/QD-TTg ngày

14/3/2008 về phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Dệt may

Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Việt Nam đặt mục tiêu

phát triển ngành dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng

điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong

nước; tạp nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập

vững chắc kinh tế khu vực và thế giới. Do đó, ngành dệt may Việt Nam trong

thời gian tới sẽ được ưu tiên phát triển. Cụ thể :

- Ưu đãi lớn nhất của Chính phủ đó là chính sách về thuế : Mức thuế

suất áp dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc trung bình là 10-

15% thấp hơn mặt bằng chung hiện nay là 25%. Ngoài ra các doanh nghiệp

52

này còn được hưởng thời hạn miễn thuế lên đến 2 năm và 2 năm tiếp theo

giảm 50%. Đây thực sự là một hỗ trợ rất lớn cho các doanh nghiệp phát triển

xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU.

- Tiếp đến là chính sách về tín dụng khi Nhà nước hỗ trợ các doanh

nghiệp xuất khẩu hàng may mặc tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi ODA, vay

với lãi suất thấp.. Cụ thể Doanh nghiệp đầu tư vào các khâu trong ngành dệt

may, sản xuất nguyên phụ liệu được vay vốn ưu đãi với lãi suất bằng 50% lãi

suất thông thường cho 50% số vốn vay. Thời gian vay là 12 năm và ân hạn 3

năm. Đây thực sự là một hỗ trợ mạnh mẽ cho các doanh nghiệp phát triển

xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU khi tình trạng lãi suất vay vốn

hiện nay rất cao.

Tiếp đến, ngày 11/4/2014, Bộ Công thương ban hành Quyết định

321/QĐ-BCT về Phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may

Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, nhấn mạnh đến bốn mục

tiêu tổng quát, trong đó bao gồm 1 mục tiêu được đề cập trong Quyết định

36QĐ-TTg và 3 mục tiêu mới, cụ thể: đảm bảo cho ngành dệt may phát triển

bền vững, hiệu quả trên cơ sở công nghiệp hiện đại, hệ thống quản lý chất

lượng, quản lý lao động, quản lý môi trường theo các chuẩn mực quốc tế;

phân bố dệt may ở các vùng phù hợp, thuận lợi về nguồn cung lao động, giao

thông, cảng biển; và đến năm 2020, ngành dệt may xây dựng được một số

thương hiệu nổi tiếng.

Một trong những điểm nghẽn của ngành dệt may Việt Nam nói chung

và xuất khẩu dệt may nói riêng là nguồn nguyên liệu đầu vào. Nhận thức được

tầm quan trọng của việc đảm bảo nguồn cung đầu vào cho ngành sản xuất và

xuất khẩu dệt may của Việt Nam, ngày 6/78/2020, Thủ tướng Chính phủ đã

ban hành Nghị quyết số 115/NQQ-CP về các giải pháp thúc đẩy phát triển

công nghiệp hỗ trợ. Đây được xem là một trong những chính sách được kỳ

vọng sẽ tháo gỡ những khó khăn, giải quyết bài toán nguồn cung nguyên liệu

cho ngành dệt may. Nghị quyết 115 nêu rõ, năm 2025 Việt Nam phải đảm bảo

được 65% nguồn nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất toàn ngành dệt may.

53

Đây là bước đi quan trọng về mặt hoạch định chiến lược cấp quốc gia, hứa

hẹn sẽ mang lại nhiều hiệu ứng tích cực cho bài toán ổn định và bền vững

nguồn nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu của ngành dệt may Việt

Nam.

Các chính sách kinh tế vĩ mô khác như tỷ giá hối đoái, lãi suất tín dụng,

đầu tư công… tùy theo mức độ cũng có những ảnh hưởng nhất định đến sự

phát triển xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường các nước. Sự ảnh hưởng

này có thể là tích cực với những chính sách hỗ trợ, có lợi cho xuất khẩu hoặc

có thể kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp khi Chính phủ cắt giảm đầu tư

công, nâng mặt bằng lãi suất, thay đổi tỷ giá hối đoái..

Như vậy, với nền tảng quan điểm đường lối cho phát triển, ngành dệt

may là một trong số ít ngành có được chiến lược rõ ràng, cụ thể với những ưu

tiên vượt trội. Do đó, ngành dệt may Việt Nam kỳ vọng sẽ có những biến

chuyển tích cực trong thực tế thời gian tới. Bên cạnh đó, do được hỗ trợ về

mặt đường lối chính sách nên các vấn đề liên quan đến thể chế như thủ tục hải

quan, chính sách thuế phí, các biện pháp hành chính bổ trợ cũng sẽ được đơn

giản hóa nhằm thúc đẩy các hoạt động sản xuất và xuất khẩu ngành hàng dệt

may.

2.2.4.3. Nhóm nhân tố về năng lực cạnh tranh của ngành dệt may và năng lực

các ngành liên quan

Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của ngành hàng may mặc Việt Nam.

Năng lực cạnh tranh của ngành hàng may mặc chính là thước đo nội lực của

ngành được thể hiện thông qua năng lực của đội ngũ lao động, trình độ công

nghệ, cơ sở vật chất hạ tầng, mạng lưới phân phố, năng lực tài chính. Có thể

thấy năng lực cạnh tranh của ngành hàng may mặc nước ta vừa mạnh lại vừa

yếu. Đó chính là vì sự phát triển không đồng đều giữa các nguồn lực trong

ngành:

- Điểm mạnh: Ngành dệt may nước ta có lợi thế rất lớn về lao động.

Việt Nam có một nguồn lao động dồi dào, khéo léo, cần cù, chịu khó trong

khi tiền gia công sản phẩm lại rẻ, chi phí nhân công thấp. Điều này làm cho

54

chi phí sản xuất thấp, giá thành sản phẩm rất cạnh tranh. Bên cạnh đó, hàng

may mặc của Việt Nam được các nước nhập khẩu đánh giá khá cao, ngày

càng nhận được sự tín nhiệm của bạn hàng. Đặc biệt hiện tại khi Việt Nam đã

trở thành thành viên của WTO sẽ được hưởng những ưu đãi thuế quan về thuế

suất khi xuất khẩu hàng may mặc vào các nước khác. Điều này tạo ra nhiều

lợi thế cạnh tranh cho ngành hàng may mặc nước ta.

- Điểm yếu: Sức cạnh tranh của ngành còn hạn chế. Cụ thể lao động có

tay nghề cao, giàu kinh nghiệm còn chiếm tỷ lệ nhỏ. Bên cạnh đó, mức độ ổn

định của nguồn lao động trong ngành may mặc không cao khiến cho các

doanh nghiệp may mặc thường xuyên phải quan tâm đến việc tuyển dụng lao

động mới. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển xuất khẩu hàng may mặc gây

ra tính bất ổn định trong hoạt động xuất khẩu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp

dệt may trong nước hiện nay chủ yếu là thực hiện gia công cho các doanh

nghiệp nước ngoài nên giá trị gia tăng của ngành may còn thấp. Ảnh hưởng

đến hiệu quả phát triển của ngành này.

Một yếu tố nữa xét dưới phương diện kinh tế cũng có những tác động

lớn đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam là việc các doanh nghiệp trong nước

phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu từ bên ngoài. Số liệu từ

Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, hiện nay Việt Nam đang phụ thuộc gần

70% nguyên phụ liệu nhập khẩu. Không chủ động được nguồn nguyên liệu

đầu vào sẽ là yếu điểm cho các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam trong

việc chủ động các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như xuất khẩu của

mình. Cùng với đó là hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ làm kéo dài thời gian

vận chuyển hàng hóa, phương thức thanh toán còn lạc hậu trong tương quan

với khu vực và thế giới làm chậm tiến độ giao dịch và chậm nguồn tiền xoay

vòng; hạ tầng khoa học kỹ thuật đơn giản trở thành rào cản trong việc ứng

dựng khoa học công nghệ cao trong sản xuất; cuối cùng là trình độ lao động

ngành phần lớn chỉ dừng ở mức phổ thông sẽ khó đáp ứng được các yêu cầu

cao khi chuyển dịch các lĩnh vực ngành dệt may sang các công đoạn thâm

55

dụng nhiều vốn, trí tuệ và công nghệ.

Thứ hai, năng lực của các ngành liên quan. Ngành may cũng như bất cứ

một ngành kinh tế nào đều không thể tự tồn tại và phát triển riêng rẽ được.

Cùng với xu hướng phân công lao động ngày càng sâu xắc thì mối liện hệ

giữa các ngành càng trở nên khăng khít. Ảnh hưởng đến sự phát triển của

ngành may mặc là các ngành dệt, tài chính ngân hàng, giao thông vận

tải…đều liên quan đến ngành dệt may. Trong đó công nghiệp phụ trợ cho

ngành dệt may là quan trọng nhất. Khi nói đến ngành công nghiệp phụ trợ cho

ngành may cần phải nói đến ngành dệt đầu tiên. Có thể nói ngành dệt là “anh

em” của ngành may bởi sự liên quan chặt chẽ của hai ngành này. Ngành dệt

cung cấp nguyên phụ liệu trực tiếp cho ngành may sản xuất thành phẩm cuối

cùng. Ngành may chỉ có thể phát triển mạnh mẽ nếu như có ngành dệt hỗ trợ

phát triển tương xứng. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, sự phát khập khiễng

giữa hai ngành này là một thực trạng đã có từ lâu và vẫn chưa có dấu hiệu cải

thiện. Sự phát triển yếu kém của ngành dệt Việt Nam được thể hiện khi năng

lực sản xuất chỉ bằng 30% so với các nước dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ,

Pakistan, Bangladesh.. Cùng với trình độ phát triển kém cỏi của ngành dệt thì

ngành công nghiệp phụ trợ ở nước ta cũng trong tình trạng tương tự. Nguyên

nhân sự yếu kém của ngành công nghiệp phụ trợ nước ta xuất phát từ sự lạc

hậu về công nghệ, chậm đổi mới đầu tư phát triển đã ảnh hưởng tiêu cực đến

sự phát triển của ngành may. Bằng chứng là hiện nay, ngành may vẫn phải

nhập khẩu đến 80% nguyên phụ liệu từ bên ngoài khiến chi phí đầu vào rất

cao, năng lực cạnh tranh suy giảm.

2.2.4.4. Các nhân tố khác

Thực tế cho thấy xu hướng tiêu dùng ngành hàng dệt may có sự thay

đổi và dịch chuyển theo xu thế của sự phát triển kinh tế xã hội, khi đời sống

kinh tế - xã hội phát triển, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm hàng dệt may theo

đó cũng thay đổi. Sự hạn chế về trình độ nhân lực phục vụ trong ngành dệt

may, cùng với kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu trong tương quan với các đối

thủ trực tiếp như Trung Quốc, Ấn Độ sẽ là rào cản lớn đối với Việt Nam trong

56

việc chuyển hướng đến các yếu tố mang tính thị hiếu của người tiêu dùng như

mẫu mã, nhãn mác, thương hiệu (Nguyễn Hoàng Giang, 2014). Sự cạnh tranh

trực tiếp từ các đối thủ, thậm chí ngay tại thị trường nội địa sẽ có tác động lớn

đến chiến lược chiếm lĩnh thị trường dệt may khu vực và thế giới của Việt

Nam.

2.2.5. Các phương thức xuất khẩu dệt may

Hàng dệt may Việt Nam chủ yếu xuất khẩu theo hai phương thức là

CMT và FOB đơn giản như sau:

- Phương thức gia công hàng xuất khẩu - CMT (Cut - Make - Trim): là

phương pháp xuất khẩu đơn giản nhất. Khi hợp tác theo phương thức này, các

khách mua, các đại lý mua hàng và các tổ chức mua hàng cung cấp cho doanh

nghiệp gia công toàn bộ đầu vào để sản xuất sản phẩm bao gồm mẫu thiết kế,

nguyên liệu, vận chuyển. Các nhà sản xuất chỉ thực hiện việc cắt, may và

hoàn thiện sản phẩm. Doanh nghiệp thực hiện việc xuất khẩu theo CMT chỉ

cần có khả năng sản xuất và một chút khả năng thiết kế để thực hiện mẫu sản

phẩm.

- Phương thức xuất khẩu FOB (Free On Board): FOB là một phương

thức xuất khẩu ở bậc cao hơn so với CMT. Thuật ngữ FOB trong ngành dệt

may được hiểu là một hình thức theo kiểu mua đứt - bán đoạn. Theo phương

thức FOB, các doanh nghiệp phải chủ động tham gia vào quá trình sản xuất,

từ việc mua nguyên liệu đến cho ra sản phẩm cuối cùng. Khác với CMT, các

nhà sản xuất theo FOB sẽ chủ động mua nguyên liệu đầu vào cần thiết thay vì

được cung cấp từ người mua của họ. Các hoạt động theo phương thức FOB

thay đổi đáng kể dựa theo các hình thức quan hệ hợp đồng thực tế giữa nhà

cung cấp với khách mua hàng nước ngoài.

Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam hiện nay chủ yếu may gia công

theo hình thức CMT (cut, make and trim) đơn giản cho các hãng nước ngoài.

Tỷ trọng xuất khẩu dưới hình thức này chiếm khoảng 70% kim ngạch xuất

khẩu của ngành. Do vậy, tốc độ tăng trưởng của ngành cao nhưng giá trị gia

57

tăng của ngành còn thấp.

2.3. Khái quát về hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

2.3.1. Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và sự hình thành các hiệp

định thương mại tự do thế hệ mới

Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những phương diện của quá trình

toàn cầu hóa, trong đó các quốc gia có những kết nối và hợp tác mạnh mẽ để

phát triển kinh tế. Sự ra đời của các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã góp

phần đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa; đặt mỗi quốc gia, nhất là các nước

đang phát triển trước những cơ hội và thách thức. Mức độ hội nhập kinh tế thể

hiện ở các cấp độ từ hợp tác song phương, đa phương đến liên kết ở cấp độ

toàn cầu. Khảo sát cho thấy, số lượng các hiệp định thương mại song phương

và đa phương đang có chiều hướng tăng lên nhanh chóng. Đến năm 2019, trên

thế giới đã có 178 hiệp định song phương và 76 hiệp định đa

phương. FTA được hình thành trên cơ sở kết nối thị trường không chỉ những

quốc gia có vị trí địa lý gần nhau, ở cùng một khu vực mà còn cả những nước

có khoảng cách địa lý xa nhau. Lĩnh vực kết nối tập trung chủ yếu vào nội

dung thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ, tuy nhiên, các vấn đề phi

truyền thống cũng được đưa vào nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc

gia như: vấn đề về môi trường, lao động, mua sắm chính phủ, sở hữu trí tuệ,

doanh nghiệp (DN) nhà nước… Cùng với các lĩnh vực hợp tác, sự phát triển

của khoa học công nghệ càng làm cho sự kết nối, hợp tác được mở rộng hơn

và ở những hình thức liên kết phức tạp, đa dạng hơn.

Song song với quá trình hình thành sự kết nối chung của tự do thương

mại và dịch vụ toàn cầu, các khu vực và các quốc gia trên thế giới cũng đẩy

mạnh tìm kiếm, hợp tác sâu rộng hơn để tháo gỡ những bế tắc trong các

khuôn khổ hợp tác đa phương kể từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Vì

vậy, các mô hình liên kết kinh tế khu vực như: Liên minh châu Âu, Khu vực

thương mại tự do Bắc Mỹ, Khu vực thương mại tự do ASEAN… các FTA

song phương và đa phương lần lượt ra đời phát triển với tốc độ nhanh chóng.

Các nước ASEAN hình thành khu vực thương mại tự do từ năm 1993

58

nhằm mở rộng thị trường, tăng cường thu hút đầu tư từ các đối tác ngoài

Khối. Đây là khu vực năng động nhất trong khu vực các nước Đông Á trong

mở rộng thương mại thông qua các hiệp định khu vực và đối tác.

Khi các nước Đông Á bắt đầu tìm kiếm các khu vực mậu dịch tự do

mới, thì một số nước thuộc Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình

Dương bắt đầu thảo luận về việc hình thành khu vực mậu dịch tự do xuyên

Thái Bình Dương. Từ sự khởi đầu này, đến nay đã hình thành Hiệp định Tiến

bộ và Toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) sau khi Hoa kỳ rút khỏi

Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Hiệp định CPTPP với

11 nước thành viên tham gia (gồm Japan, Australia, New Zealand, Malaysia,

Brunei, Singapore, Canada, Chile, Mexico, Peru và Việt Nam) đã được ký

vào ngày 8/3/2018 tại Santiago (Chile). Hiệp định CPTPP đã mở ra một khái

niệm mới, đó là FTA thế hệ mới. Ngoài các lĩnh vực hợp tác truyền thống như

các FTA trước đây thì FTA thế hệ mới đã đề cập đến nhiều nội dung phi

truyền thống như lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ…

Như vậy, có thể khẳng định, CPTPP là một hình mẫu cho tiến trình hội nhập

mới, cam kết sâu hơn và nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực hơn.

Quá trình liên kết kinh tế và khu vực trong thời gian gần đây đã chứng

kiến một số quan điểm mới của một số quốc gia về hợp tác, từ đa phương

chuyển sang song phương khi Hoa Kỳ rút khỏi TPP vào năm 2017; tiếp theo

là sự leo thang của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và những căng

thẳng thương mại ở một số nhóm nước khác. Sự va chạm quyết liệt giữa các

nước lớn đặt ra yêu cầu cần có sự cải tổ hơn nữa trong các luật chơi chung

toàn cầu. Chủ nghĩa bảo hộ mặc dù đang tiếp tục gia tăng (con số tranh chấp

thương mại năm 2018 gia tăng lên 35 vụ kiện, nhiều nhất trong vòng 16 năm

qua), nhưng xu hướng hợp tác và liên kết kinh tế vẫn tiếp tục được thúc đẩy ở

nhiều mức độ khác nhau tại các diễn đàn đa phương lớn như: CPTPP được ký

kết; Trung Quốc thúc đẩy các sáng kiến liên kết kinh tế, nâng cấp các FTA

với một số nước; EU tiếp tục đẩy mạnh liên kết kinh tế quốc tế, hướng tới các

đối tác tại châu Á và Mỹ La tinh; Nga tiếp tục kết nối Liên minh kinh tế Á-Âu

59

với các nước, ký FTA với Trung Quốc, thúc đẩy FTA với ASEAN…

Nằm trong khu vực Đông Á năng động, mở cửa và ký kết các FTA,

Việt Nam là một trong những quốc gia hội nhập ngày càng sâu rộng. Đến

nay,Việt Nam đã tham gia đàm phán và ký kết 17 Hiệp định thương mại tự do

(FTA), trong đó có 15 FTA đã ký kết và đi vào hiệu lực và 02 FTA đang đàm

phán (Gồm các FTA: Việt Nam - EFTA và Việt Nam - Israel). Các FTA này

đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn và có

quan hệ thương mại với trên 230 thị trường, trong đó có FTA với 60 nền kinh

tế, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp (DN) của Việt Nam

mở rộng tiếp cận thị trường toàn cầu, là cơ hội để Việt Nam kết nối và tham

gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Có thể thấy 03

thế hệ hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement - FTA) nối tiếp

nhau đã diễn ra trong quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa. Theo đó :

- FTA thế hệ thứ nhất tập trung ở việc tự do hóa lĩnh vực thương mại

hàng hóa (cắt giảm thuế quan, loại bỏ các rào cản phi thuế quan);

- FTA thế hệ thứ hai mở rộng phạm vi tự do hóa sang các lĩnh vực dịch

vụ nhất định (xóa bỏ các điều kiện tiếp cận thị trường trong các lĩnh vực dịch

vụ liên quan);

- FTA thế hệ thứ ba tiếp tục mở rộng phạm vi tự do về dịch vụ, đầu tư

và cả các vấn đề phi thương mại.

2.3.2. Khái niệm FTA thế hệ mới

Trải qua chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, các hiệp định thương

mại tự do không chỉ gia tăng đáng kể dưới nhiều hình thức ký kết khác nhau

cả về số lượng mà cả về nội dung và hình thức. Theo tổ chức thương mại thế

giới - WTO, hiện nay trên thế giới có hơn 200 hiệp định thương mại tự do

được ký kết và có hiệu lực giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc các khối

thương mại. Tổ chức Thương mại Thế giới cũng khẳng định rằng số lượng

hiệp định thương mại tự do giữa các quốc gia châu Á có tốc độ gia tăng nhanh

nhất. Điều này phản ảnh đúng xu hướng phát triển kinh tế nhanh và quá trình

hội nhập khu vực và thế giới sâu rộng của các quốc gia ở khu vực này trong

60

những năm gần đây. Với sự phát triển không ngừng cả về chất và lượng, bản

thân các hiệp định thương mại tự do truyền thống đã có những bước tiến quan

trọng về bản chất, điều mà gần đây được biết đến với tên gọi mới các hiệp

định thương mại tự do thế hệ mới.

Thuật ngữ “FTA thế hệ mới” được sử dụng lần đầu tiên từ năm 2007

với các hiệp định thương mại tự do mà Liên minh châu Âu đã đàm phán với

các đối tác thương mại của mình. Việc các thành viên của WTO thiếu đi sự

đồng thuận dẫn đến sự bế tắc trong các vòng đàm phán Doha kể từ năm 2001.

Đây được cho là nguyên nhân chính để thúc đẩy EU thực thi một chiến lược

thương mại mới và chiến lược này chính thức được công bố từ năm 2006.

Theo đó, EU cam kết phát triển và nâng cao quan hệ thương mại song phương

với các đối tác. Từ đó, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại của

các nước EU trên toàn cầu. Với mục tiêu đó, vào năm 2007, EU bắt đầu khởi

động các vòng đàm phán các hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới” với các

nước là đối tác thương mại của mình như Ấn Độ, Hàn Quốc và các nước

ASEAN với cách tiếp cận toàn diện, gồm nhiều nội dung đổi mới về sở hữu

trí tuệ, cạnh tranh, đầu tư, mua sắm chính phủ, hay phát triển bền vững.

Kể từ đó, thuật ngữ “FTA thế hệ mới” được sử dụng một cách tương

đối để phân biệt các FTA được ký kết trong phạm vi toàn diện hơn so với

những khuôn khổ tự do hoá thương mại đã được thiết lập trong các hiệp

WTO hay FTA truyền thống.

Như vậy, hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là hiệp định thương mại

tự do có phạm vi cam kết toàn diện hơn, vượt ra khỏi phạm vi cam kết của các

hiệp định thương mại tự do truyền thống. Hiểu một cách giản đơn hơn, các

hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có khả năng điều chỉnh cả các vấn đề

gián tiếp liên quan đến thương mại, như các vấn đề lao động, các vấn đề môi

trường, các vấn đề minh bạch, hay các vấn đề tranh chấp và giải quyết tranh

chấp thương mại. Một số hiệp định FTA thế hệ mới hiện nay như Hiệp định

thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và

tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác thương mại và

61

đầu tư xuyên Đại Tây Dương, Các hiệp định thương mại tự so giữa ASEAN

và đối tác (ASEAN+1), Thị trường chung Châu Âu (EU), Thị trường chung

Nam Mỹ (Mercosur).

Về bản chất FTA thế hệ mới là các FTA truyền thống được nâng cấp lên,

thể hiện phạm vi cam kết rộng hơn không chỉ liên quan đến các vấn đề về

thương mại hàng hóa và dịch vụ mà còn đối với cả các vấn đề phi thương mại

và phi dịch vụ.

Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là khái niệm mang tính tương

đối, phản ánh quá trình phát triển ngày càng mạnh và đa dạng của vấn đề tự

do hóa thương mại và liên kết sản xuất trên toàn thế giới thông qua kênh các

hiệp định thương mại khu vực, trong bối cảnh thỏa thuận đa phương toàn cầu

chưa khắc phục được sự bế tắc cùng với sự nảy sinh những quan ngại, thậm

chí là chống lại quá trình toàn cầu hóa ở không ít quốc gia. Các FTA thế hệ

mới có phạm vi rộng hơn, có cả những quy định "phi thương mại" hay "kinh

tế chính trị". Các FTA này khi có hiệu lực sẽ ảnh hưởng rất mạnh tới thể chế

của các bên liên quan.

Có thể thấy, tiến trình tham gia các FTA của Việt Nam được tiến hành

từng bước và có lộ trình với mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng. Hiện nay,

Việt Nam là nước ASEAN có mức thu nhập trung bình đầu tiên ký kết cả 2

hiệp định: CPTPP và Việt Nam - EU. Việc ký kết tham gia các FTA thế hệ

mới trong khi xu hướng bảo hộ gia tăng đã làm gia tăng vị thế của Việt Nam

với ưu thế là một nền kinh tế mở, có nhiều FTA với các đối tác thương mại

lớn. Khoảng trên 80% thương mại xuất nhập khẩu của Việt Nam đến từ các

quốc gia đã và đang ký kết các FTA.

2.3.3. Đặc điểm của FTA thế hệ mới

Cũng giống như các Hiệp định thương mại tự do truyền thống, các Hiệp

định tự do thương mại thế hệ mới, trước hết mang đầy đủ bản chất và đặc

trưng điển hình của các Hiệp định thương mại tự do truyền thống. Tuy nhiên,

62

nó được nâng cấp và bổ sung tạo thành những nét đặc thù riêng biệt, không

chỉ giúp bản thân nó khác với các hiệp định thương mại tự do cũ về tên gọi

mà còn được nâng cấp cả về nội dung và bản chất bên trong.

2.3.3.1. Bao gồm các vấn đề phi thương mại

Các FTA thế hệ mới bao gồm cả các nội dung “phi thương mại”. Các

nội dung này trước đây do lo ngại sẽ dựng nên các rào cản đối với thương mại

nên đã từng bị các bên đam phán đưa ra khỏi các vòng đàm phán WTO. Tuy

nhiên, hiện nay trong bối cảnh mới lại được quan tâm bởi nó có ảnh hưởng

ngày càng lớn đến vấn đề thương mại của các quốc gia. Những vấn đề “phi

thương mại” trên có thể kể đến như lao động, phát triển bền vững, môi

trường, quản trị doanh nghiệp, mua sắm của chính phủ…

Đây là một trong các đặc trưng nổi bật nhất của các FTA thế hệ mới với

các nội dung cam kết vượt ra ngoài phạm vi của các hoạt động thương mại

hàng hóa và dịch vụ, hay có thể tóm gọi trong thuận ngữ “phi thương mại”

như các vấn đề liên quan đến hầu hết các khía cạnh của đời sống kinh tế như

đầu tư, cạnh tranh, mua sắm công, thương mại điện tử, tự vệ thương mại, quy

tắc xuất xứ, minh bạch hóa, chống tham nhũng, các vấn đề lao động, môi

trường, giải quyết chanh chấp giữa chính phủ và các nhà đầu tư….Thực tế

cho thấy rằng, trong chương trình nghị sự của WTO về vấn đề tiêu chuẩn lao

động và các vấn đề liên quan đến môi trường đã không được đưa ra thảo luận

kể từ Hội Nghị Seattle ở Hoa Kỳ năm 1999. Lý giải cho điều này, các nước

đang phát triển cho rằng các cam kết này không mang tính thực tế, đặc biệt nó

bị nghi ngờ là một trong các biện pháp bảo hộ hay các hàng rào bảo hộ mới

của các quốc gia phát triển nhằm bảo vệ thương mại trước các nước đang phát

triển. Về mặt lý luận, người lao động là chủ thể trực tiếp tạo ra sản phẩm

trong thương mại quốc tế nên trước hết họ phải là đối tượng được bảo vệ các

quyền cơ bản cũng như các lợi ích thiết yếu trong cuộc sống cũng như trong

hoạt động lao động sản xuất. Vì lý do đó, quyền lợi của người lao động trong

bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sâu rộng như ngày nay càng được

phải coi trọng và bảo vệ. Do đó, cách tiếp cận của các FTA thế hệ mới xem

63

vấn đề lao động cũng như các vấn đề môi trường là một trong các nội dung

quan trọng trong đàm phán, cũng là xu thế trong các hiệp định FTA mới hiện

nay. Cách tiếp cận vấn đề lao động của các FTA thế hệ mới không đơn thuần

chỉ là đảm bảo quyền và lợi ích của chủ thể lao động mà sâu sa còn là cam kết

đảm bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng giữa các quốc gia khi tham gia

đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Theo đó, nếu

một quốc gia duy trì các tiêu chuẩn lao động thấp (như điều kiện lao động

thấp, tiền lương cơ sở thấp, sử dụng lao động vị thành niên, phúc lợi người

lao động thấp…) sẽ dẫn tới kết quả là tạo ra môi trường cạnh tranh không

lành mạnh đối với các quốc gia áp dụng tiêu chuẩn cao về lao động (phúc lợi

lao động bền vừng). Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

đang diễn ra một cách mạnh mẽ và ngày càng sâu rộng hơn đã và đang tạo ra

một thị trường lao động mang tính toàn cầu (sự cạnh tranh công bằng giữa các

thị trường lao động), do đó, sự công bằng về các điều khoản liên quan đến lao

động nên được áp dụng trong các cam kết về thương mại nhằm xây dựng

những chuẩn mực thương mại mới trong các hiệp định thương mại tự do thế

hệ mới. Tùy thuộc vào từng FTA thế hệ mới mà các vấn đề về lao động được

đưa vào ở những cấp độ khác nhau. Cần lưu ý rằng, có một xu hướng chung

là các tiêu chuẩn về lao động của Tổ chức Lao động Thế giới và các tiêu

chuẩn của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển bền vững sẽ được sử

dụng như những tiêu chuẩn nền tảng cho việc xác lập các điều khoản trong

đàm phán của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Cũng cần nhấn

mạng rằng xu hướng toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu, nó tạo động lực mạnh

mẽ cho các quốc gia tham vào liên kết sản xuất toàn cầu, tức là mức độ hợp

tác và phụ thuộc lẫn nhau trở nên không thể tránh khỏi. Quá trình hội nhập

như là kết quả thúc đẩy quá trình hình thành mạng lưới sản xuất và chuỗi giá

trị ngành toàn cầu mang tính chất thống nhất, có phạm vi bao trùm toàn cầu.

Do đó, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới không thể chỉ bao hàm các

vấn đề thương mại thuần túy, mà cần phải chứa đựng cả các vấn đề liên quan

đến các hoạt động phi sản xuất và quản trị ở cả cấp độ quản trị doanh nghiệp,

64

quản trị nhà nước và quản trị toàn cầu.

Như vậy, trong tương quan với các hiệp định thương mại tự do truyền

thống, các FTA thế hệ mới được xem là các hiệp định WTO plus (WTO cộng)

với những nội dụng vốn bị đưa ra khỏi đàm phán hoặc từng bị từ chối đàm

phán trước đây thì nay lại được chấp nhận và đặc biệt quan trọng trong đàm

phán. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được xem là giải pháp mới

cho sự thay đổi lớn và không ngừng của bối cảnh thương mại thế giới ngày

nay.

2.3.3.2. Phạm vi địa lý được mở rộng

Ở giai đoạn đầu của phát triển, các FTA truyền thống có xu hướng

thường xuyên được ký kết bởi các quốc gia gần kề địa lý. Minh chứng cho

thực tế này là các hiệp định thương mại khu vực được kết ở hầu hết các lục

địa trên thế giới. Tuy nhiên, không gian địa lý gần đây trong các hiệp định

thương mại tự do thế hệ mới được mở rộng, không bị giới hạn bởi rào cản địa

lý giữa các quốc gia. Quá trình toàn cầu hóa ngày nay diễn ra sâu rộng, không

một thực thể kinh tế nào có thể tách rời khỏi quá trình đó. Sự hội nhập sâu

rộng đó dẫn tới hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, các kênh phân phối và

tiêu thụ sản phẩm, đồng thời cho thấy sự phụ thuộc chặt chẽ vào nhau giữa

các quốc gia. Như một đòi hỏi tất yếu, phạm vi không gian địa lý và phạm vi

điều chỉnh trong chuỗi sản xuất và giá trị toàn cầu của các hiệp định thương

mại tự do mới cũng vì thế mà được mở rộng hơn.

2.3.3.3. Mức độ cam kết sâu

Nhìn từ góc độ cam kết rộng hơn của các hiệp định thương mại tự do

thế hệ mới, bản thân nó tự thân cũng thể hiện được mức độ cam kết sâu hơn.

Điều này được thể hiện đậm nét trong các điều khoản về cắt giảm thuế quan

của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Theo đó, tùy theo lộ trình cắt

giảm giữa các bên tham gia, mức cắt giảm thuế quan hàng hóa và dịch vụ đều

thể hiện xu hướng tiếp cận mức độ tự do hoàn toàn (mức thuế xuất bằng 0).

Như vậy, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng đồng

nghĩa với việc hàng hóa và dịch của các quốc gia này sẽ được tự do luân

65

chuyển trao đổi giữa các thành viên mà không bị giới hạn bởi các hàng rào

thương mại vật lý truyền thống. Điều này cũng gián tiếp cho thấy mức độ tự

do hóa kinh tế rất cao nếu các quốc gia tham gia các hiệp định thương mại tự

do thế hệ mới.

Cần chú ý rằng, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới phần lớn sẽ

loại bỏ các loại thuế quan liên quan đến thương mại hàng hóa, trong khi đó

thương mại dịch vụ và đầu tư sẽ được cam kết cao hơn so với các quy định

được cam kết trong WTO. Mức độ rộng hơn của các hiệp định thương mại tự

do thế hệ mới còn được thể hiện ở việc chú trọng đến các vấn đề về khuyến

khích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như hỗ trợ kỹ thuật cho

các nước đang và chậm phát triển.

2.3.3.4. Cơ chế giám sát chặt chẽ

Một trong các đặc trưng nổi bật của các hiệp định thương mại tự do thế

hệ mới là cơ chế giám sát và thực hiện hết sức chặt chẽ. Khác với các hiệp

định FTA truyền thống, các hiệp định FTA thế hệ mới áp dụng dựa trên cơ

chế pháp lý quốc tế để giải quyết các vấn đề tranh chấp liên quan phát sinh

trong quá trình thực hiện giữa các thành viên. Điều đó có nghĩa rằng mọi mâu

thuẫn (có thể) xảy ra đều phải được xử lý trên cơ sở bình đẳng lẫn nhau dưới

hệ thống luật pháp quốc tế hiện hành hoặc dưới các điều khoản pháp lý mà

các quốc gia tham gia hiệp định ký kết và thông qua. Một điểm quan trọng

nữa đối với các FTA thế hệ mới là vai trò của nhà nước sẽ bị điều chỉnh bởi

các nguyên tắc và luật lệ đề ra được các bên tham gia ký kết. Điều này có

nghĩa là doanh nghiệp có thể kiện chính phủ nếu chính phủ sở tại vi phạm các

điều khoản gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh

nghiệp. Ở chiều ngược lại, chính phủ các nước cũng có thể kiện doanh nghiệp

nước ngoài và các nhà đầu tư nếu họ vị phạm các điều khoản được quy định

trong khuôn khổ luật định.

Mặc dù, các FTA thế hệ mới có cơ chế giám sát và thực hiện chặt chẽ,

tuy nhiên, các FTA thế hệ mới không làm mất đi tính linh hoạt trong các cam

kết của nó. Điều này xuất phát từ thực tế là trình độ phát triển cũng như vị trí

66

trong chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu giữa các quốc gia là tương đối

khác nhau, nếu không nói là có những cách biệt lớn. Sự linh hoạt trong các

cam kết giúp các quốc gia có mức độ phát triển kém hơn hoặc đứng ở vị trí

thấp trong chuỗi sản xuất có điều kiện chuẩn bị cũng như điều chỉnh chiến

lược hướng tới sự tương thích với lộ trình thực hiện của các FTA thế hệ mới.

Không khó để quan sát rằng, các FTA truyền thống thường có lộ trình với chu

kỳ 10 năm để cắt giảm thuế quan; trong khi đó lộ trình các FTA thế hệ mới

thường ngắn hơn, thậm chí là cắt giảm ngay lập tức đối với các mặt hàng có

sự tương đồng về mức độ phát triển hoặc hội nhập giữa các quốc gia, tuy

nhiên cũng có những mặt hàng khoảng cách phát triển lớn, lộ trình cắt giảm

thuế quan có thể kéo dài tới 10 năm như các FTA truyền thống.

Qua các điểm khác nhau kể ở trên thì trong số các Hiệp định Thương

mại tự do mà Việt Nam có ba hiệp định được coi là “FTA thế hệ mới” bao

gồm Hiệp định Đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định thương

mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len

(UKVFTA).

2.3.4. Tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tới nền

kinh tế của các quốc gia thành viên

Tranh luận về xu hướng hình thành và phát triển của các hiệp định

thương mại tự do, Jagdish (1998) cho rằng quá trình hình thành các dạng thức

khác nhau của các hiệp định thương mại tự do trên thế giới tạo ra mê cung

hỗn độn về ưu đãi và quy tắc xuất xứ, do có sự đan xen lẫn nhau về nội dung

của các hiệp định được ký kết bởi các quốc gia liên quan. Ông gọi đó là hiệu

ứng bát mì spaghetti. Như là một thực tế khách quan, không quá khó để khẳng

định các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới hiện nay cũng đồng thời tạo

ra ma trận hệ thống các bộ quy tắc khác nhau, có sự đan xen, tương hỗ, nhưng

thậm chí cũng là có sự mâu thuẫn lẫn nhau giữa các điều khoản trong các hiệp

định được các bên tham gia ký kết. Do đó, cũng giống với các FTA truyền

thống, các FTA thế hệ mới đồng thời mang đến cả tác động tích lẫn tiêu cực

67

cho các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, dưới góc độ so

sánh lợi ích, các FTA thế hệ mới mang lại nhiều cơ hội lớn cho tất cả các bên

tham gia.

Hình 2.1: Nhận định của người dân và doanh nghiệp về cơ hội khi Việt

Nam tham gia các FTA thế hệ mới

Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát.

Số liệu khảo sát người dân và doanh nghiệp nhận định về cơ hội Việt

Nam tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới cho thấy Việt Nam theo đuổi các

hiệp định FTA thế hệ mới có tác động lớn đến nền kinh tế nói chung và doanh

nghiệp nói riêng. Trong đó, 17.18% số người trả lời có tác động tích cực

(triển vọng), 25.48% cho rằng tác động rất tích cực (rất triển vọng), 9.65%

nhận định khó không triển vọng, và chỉ chưa đến 6.76% cho rằng khó nhận

định (không biết) (số liệu từ khảo sát của Luận án). Như vậy, ở những mức độ

khác nhau việc tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới đều được người dân và

doanh nghiệp đánh giá có tác động tương đối tích cực đối với nền kinh tế nói

chung và doanh nghiệp nói riêng.

2.3.4.1. Tác động tới với tiến trình tự do hóa thương mại

Như đã đề cập ở trên, phần lớn các FTA thế hệ mới đều loại bỏ hầu hết

các loại thuế quan và phi thuế liên quan đến thương mại hàng hóa và dịch vụ,

đồng thời mở rộng các cam kết đối với các vấn đề phi thương mại. Do đó, các

FTA thế hệ mới được cho là sẽ làm tăng cơ hội kinh doanh đối với các doanh

nghiệp, tạo cơ hội mới cho xuất khẩu và cơ cấu lại thị trường qua đó thúc đẩy

68

tăng trưởng kinh tế. Xét về khía cạnh kinh tế, việc các FTA thế hệ mới mang

đến sự gia tăng hay giảm sút phúc lợi kinh tế hiện chưa thể khẳng định bởi

các cam kết trong các FTA thế hệ mới hiện vẫn còn nhiều tranh cãi liên quan

đến lợi ích của tất cả các bên có thể giành được. Tuy nhiên, sự chuyển dịch

lợi thế so sánh xuất phát từ việc thành lập FTA thế hệ mới chỉ là tạm thời,

diễn ra cho đến khi các FTA thế hệ mới đưa cân bằng thị trường trở lại điểm

ban đầu của nó. Vì thế, chưa chắc sẽ là ý tưởng hay khi đầu tư những nguồn

lực khan hiếm vào đàm phán các FTA thế hệ mới mà chỉ thu được sự thay đổi

lợi thế so sánh ngắn hạn trên một số lượng hạn chế các thị trường, thay vì mở

rộng tiếp cận thị trường ở phạm vi toàn cầu. Bên cạnh đó, lợi ích các FTA thế

hệ mới mang lại cũng chính là sự tăng sức ép cạnh tranh cho toàn bộ nền kinh

tế quốc gia, khu vực và toàn cầu. Về mặt xã hội, cạnh tranh tăng lên khi tham

gia các FTA thế hệ mới có thể làm một số doanh nghiệp ở các nước đang phát

triển, trước hết là các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp có công nghệ

sản xuất lạc hậu rơi vào tình trạng khó khăn, kéo theo đó là khả năng thất

nghiệp trong một bộ phận lao động. Bên cạnh các tác động tích nêu trên các

FTA thế hệ mới cũng mang lại những thách thức trong việc thực thi tự do hóa

thương mại của các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam:

(i) Sự chuyển dịch lợi thế so sánh xuất phát từ việc thành lập FTA chỉ

là tạm thời, diễn ra cho đến khi các FTA đưa cân bằng thị trường trở lại điểm

ban đầu của nó. Vì thế, chưa chắc sẽ là ý tưởng hay khi đầu tư những nguồn

lực khan hiếm vào đàm phán các FTA mà chỉ thu được sự thay đổi lợi thế so

sánh ngắn hạn trên một số lượng hạn chế các thị trường, thay vì mở rộng tiếp

cận thị trường ở phạm vi toàn cầu.

(ii) Khó khăn lớn nhất do các FTA mang lại chính là tăng sức ép cạnh

tranh cho toàn bộ nền kinh tế quốc gia, khu vực và toàn cầu. Về mặt xã hội,

cạnh tranh tăng lên khi tham gia FTA có thể làm một số doanh nghiệp ở các

nước đang phát triển, trước hết là các doanh nghiệp nhà nước, các doanh

nghiệp có công nghệ sản xuất lạc hậu rơi vào tình trạng khó khăn, kéo theo đó

là khả năng thất nghiệp trong một bộ phận lao động.

69

2.3.4.2. Tác động đối với hệ thống pháp luật

Các hiệp định FTA thế hệ mới đòi hỏi các thành viên phải thực hiện rà

soát toàn bộ hệ thống pháp luật của nước mình, trước hết là các lĩnh vực

thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ - IPR, cạnh tranh của doanh nghiệp nhà

nước, lao động, đấu thầu, thương mại điện tử, môi trường, giải quyết tranh

chấp... Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật giúp các thành viên cải thiện môi

trường pháp lý và kinh doanh, qua đó giúp bảo vệ các nhà đầu tư trong và

ngoài nước, thiết lập sân chơi công bằng cho mọi loại hình doanh nghiệp,

giảm thiểu các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính, minh bạch hóa các

hoạt động của doanh nghiệp và nhà nước, chú trọng và đề cao các vấn đề liên

quan đến bảo vệ sở hữu trí tuệ… (Nguyễn Thanh Tâm, 2016).

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật sẽ góp phần giúp các quốc gia thành

viên cải thiện môi trường pháp lý và kinh doanh, cụ thể:

(i) Bảo vệ nhà đầu tư trong nước và nước ngoài khỏi sự can thiệp trái

pháp luật;

(ii) Tạo “sân chơi” công bằng cho doanh nghiệp nhà nước và doanh

nghiệp tư nhân;

(iii) Thuận lợi hóa các thủ tục hải quan;

(iv) Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong kinh doanh;

(v) Thuận lợi hóa việc công nhận các tiêu chuẩn sản phẩm;

(vi) Mở cửa thị trường mua sắm công cho các doanh nghiệp có vốn đầu

tư từ các thành viên của FTA;

(vii) Minh bạch hóa hoạt động các cơ quan nhà nước;

(viii) Bảo hộ IPR của cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài.

Bên cạnh thuận lợi mà các FTA thế hệ mới mang lại đối với sự hoàn

thiện hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thì bản thân các hiệp định FTA thế

hệ mới cũng mang đến nhiều khó khăn tiềm ẩn, đặc biệt là vấn đề thực thi

pháp luật đối với các nước thành viên là các nước đang phát triển. Sự chênh

lệch nền tảng pháp lý giữa các quốc gia chậm, đang và đã phát triển là rất lơn.

Những lĩnh vực pháp luật nêu trên đều là những lĩnh vực mới và khó đối với

70

Việt Nam và các nước đang phát triển. Việc gò ép các quốc gia đang phát

triển theo các chuẩn mực cao hơn trong các hiệp định FTA thế hệ mới nếu

không được xử lý khéo sẽ gây ra rào cản lớn hơn cho các quốc gia này thực

hiện thành công quá trình cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình.

2.3.4.3. Tác động đối với thể chế, chính sách của các thành viên

Các FTA thế hệ mới cũng đòi hỏi các thành viên phải thực hiện rà soát

toàn bộ hệ thống chính sách kinh tế-xã hội, văn hóa của nước mình, để thực

hiện minh bạch chính sách; cải cách hành chính; cải cách tư pháp; xử lý mối

quan hệ giữa thương mại quốc tế với những vấn đề vốn được coi là phi

thương mại - các giá trị xã hội, như: thương mại và quyền con người, bảo vệ

người lao động trong thương mại quốc tế, thương mại và môi trường, thương

mại và văn hóa, thương mại và an ninh, bảo đảm an toàn thực phẩm, thương

mại và phát triển bền vững và quản trị tốt; quyền của nhà đầu tư nước ngoài

khởi kiện Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, minh bạch chính sách, quyền tự

do internet... Việc rà soát toàn bộ hệ thống chính sách kinh tế-xã hội, văn hóa

của nước mình, nhất là đối với các nước đang phát triển sẽ giúp hoàn thiện thể

chế kinh tế thị trường của các nước bị hạn chế bởi các yếu tố thị trường thị tự

do. Với tiêu chuẩn rất cao về quản trị minh bạch và hành xử vô tư, các FTA

thế hệ mới sẽ giúp các nước đang phát triển kiện toàn, cải thiện hơn nữa bộ

máy nhà nước theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường trách

nhiệm, kỉ luật, kỉ cương của công chức nhà nước, từ đó hỗ trợ cho tiến trình

đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế. Đặc biệt, việc hoàn

thiện và tăng cường công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ mở ra cơ hội thu

hút đầu tư vào những lĩnh vực có hàm lượng tri thức cao (Nguyễn Thanh

Tâm, 2016). Tuy nhiên, các FTA thế hệ mới cũng tiềm ẩn nhiều hệ quả quan

trọng không chỉ đối với hệ thống pháp luật của các thành viên mà còn liên

quan tới các chính sách xã hội, văn hoá, kinh tế của các nước này. Các tiêu

chuẩn cao về quản trị minh bạch và hành xử vô tư của bộ máy nhà nước sẽ đặt

ra những thách thức lớn cho các cơ quan nhà nước ở những quốc gia có hạn

chế về năng lực và khả năng tiếp cận thông tin. Bên cạnh đó, Chính phủ các

71

thành viên tham gia ký kết các FTA thế hệ mới sẽ phải đối diện với nhiều

chính sách đầy khó khăn khi phải cân bằng giữa các tiêu chuẩn của thương

mại quốc tế với những vấn đề vốn được coi là phi thương mại.

Tiểu kết chương 2.

Việt Nam phát triển ngành dệt may định hướng xuất khẩu là yêu cầu tất

yếu khách quan phù hợp với điều kiện hiện có trong nước, đặc biệt là nguồn

nhân công giá rẻ, và cũng tương thích với xu hướng phát triển và chuyển dịch

cơ cấu ngành nghề trong khu vực và trên thế giới. Thực tế chứng minh, ngành

dệt may hiện nay giữ vị trí và vai trò trọng yếu trong phát triển kinh tế của đất

nước. Bên cạnh việc tạo việc làm, giúp cải thiện các vấn đề an sinh xã hội,

ngành dệt may còn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược xuất khẩu của Việt

Nam.

Với vị trí trọng yếu của mình, ngành dệt may Việt Nam đã được Chính

phủ nhìn nhận và đặc biệt chú trọng ưu tiên trong việc đàm phán các hiệp

định thương mại tự do thế hệ mới. Trong bối cảnh các Hiệp định EVFTA và

CPTPP được thực thi, xuất khẩu dệt may của Việt Nam sẽ chịu nhiều tác động

tích cực cũng như tiêu cực mà các hiệp định này mang lại. Tuy nhiên, trong

dài hạn đó là cơ hội không thể tốt hơn cho xuất khẩu dệt may của Việt Nam

72

chuyển dịch cơ cấu và chiếm lĩnh thị trường quốc tế.

CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH

THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI

3.1. Khái quát về ngành công nghiệp dệt may Việt Nam

3.1.1. Sự hình thành và phát triển của ngành dệt may Việt Nam

Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam ra đời từ rất sớm và kể từ khi

Đổi mới đến nay, luôn gắn liền với công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế mà

Đảng và nhà nước ta đã đề ra.

Giai đoạn 1945 – 1975, các ngành công nghiệp của Việt Nam vẫn chịu

sự chi phối của nền kinh tế kế hoạch nhà nước nên sự lưu thông hàng hóa và

chủ động trong sản xuất hàng dệt may còn bị hạn chế. Các sản phẩm dệt may

chủ yếu tiêu thụ trong nội địa và xuất sang một số quốc gia tại khu vực Đông

Âu.

Lịch sử ngành dệt may Việt Nam thực sự bước sang trang mới vào năm

1976 khi lần đầu tiên xuất khẩu sang các nước Đông Âu, điển hình là Liên

Xô. Lần hợp tác mang tính bước ngoặt này chúng ta nhận bông, nguyên liệu

từ Liên Xô, sau đó gia công, sản xuất và trao trả bằng thành phẩm. Đến năm

1979, thị trường Đông Âu được mở rộng khi Việt Nam đã xuất khẩu sang

Tiệp Khắc, Hungary, Đông Đức.

Hình thức hoạt động CMT thực sự phát triển và ảnh hưởng nhiều đến

ngày nay được cho là vào năm 1986 khi Liên Xô đồng ý cung cấp toàn bộ

nguyên vật liệu cũng như mẫu thiết kế. Khi đó, ngành dệt may Việt Nam

chính thức thể hiện năng lực sản xuất vượt trội để đạt những mục tiêu xuất

khẩu đề ra.

Vào những năm 1987 đến 1990, ngành dệt may Việt Nam chuyển mình

rõ rệt hơn cả với sự ra đời của hàng ngàn công ty lớn nhỏ trên khắp đất nước.

Tuy nhiên, không lâu sau đó, chúng ta thực sự rơi vào khủng hoảng khi Liên

73

Xô tan rã kéo theo sự đi xuống của các thị trường xuất khẩu chính. Nguồn

cung nguyên vật liệu, thiết bị sản xuất bị hạn chế, để rồi 2 năm sau đó, các

doanh nghiệp phải giảm tối thiểu mức sản xuất và đứng trước nguy cơ phá

sản. Lúc này cũng chính là thời điểm cần tạo ra sự thay đổi.

Không còn phụ thuộc nhiều vào nguồn hàng nước ngoài, đó chính là

cách để những doanh nghiệp may Việt Nam đi lên. Đến những năm 2003,

2004, ngành dệt may Việt Nam nhanh chóng phát triển trở lại và trở thành

một ngành công nghiệp quan trọng bậc nhất. Hiện nay, việc liên tục cập nhật

công nghệ, thiết bị mới khiến dệt may ngày càng đi lên và là một trong những

ngành doanh thu xuất khẩu lớn nhất cả nước.

3.1.2. Khái quát tình hình sản xuất của ngành dệt may Việt Nam

Ngành Công nghiệp dệt may Việt Nam trong những năm gần đây được

đánh giá đã có những bước tiến tích cực cả về sản xuất và xuất khẩu. Trong

đó, tốc độ tăng trưởng trong sản xuất của ngành dệt may bình quân giai đoạn

2016 - 2020 đạt 7,9%/năm, riêng năm 2018 tăng trên 33%. Năm 2020, ngành

Dệt May là một trong những ngành chịu nhiều tác động tiêu cực và kéo dài

của đại dịch Covid-19.

Do ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, nên chỉ số sản xuất công nghiệp

ngành Dệt giảm 0,5%; ngành Sản xuất trang phục giảm 4,9%, làm đứt gãy

nguồn cung nguyên liệu, thu hẹp thị trường tiêu thụ các sản phẩm may mặc,

nhu cầu sản phẩm dệt may giảm sút mạnh khi người tiêu dùng trên thế giới

chỉ quan tâm đến đồ dùng thiết yếu và phòng chống dịch. Để khắc phục khó

khăn, bù đắp cho các đơn hàng bị đứt gãy trong mua dịch bệnh, ngành dệt

may đã tăng sản xuất các sản phẩm bảo hộ, sản phẩm y tế, khẩu trang (cả nội

địa và nước ngoài) do nhu cầu sử dụng tăng, tuy nhiên Ngành cần phải tìm

cách tồn tại, phát triển phù hợp lâu dài trong bối cảnh mới.

Trong năm 2021, ngành dệt may đã có nhiều tín hiệu khởi sắc hơn so

với cùng kỳ năm trước nhờ chuỗi sản xuất phục hồi với đơn hàng truyền

thống tăng trở lại. Chỉ số sản xuất ngành Dệt và Sản xuất trang phục trong 9

tháng năm 2021 đều tăng so với cùng kỳ năm 2020, trong đó, chỉ số sản xuất

74

ngành Dệt tăng 7,8%; ngành Sản xuất trang phục tăng 4,8%. Chỉ số sản xuất

của một số sản phẩm trong 9 tháng năm 2021 đều tăng so với cùng kỳ năm

2020, như: vải dệt từ sợi tự nhiên ước tính đạt 501,5 triệu m2, tăng 3,9% so

với cùng kỳ năm 2020; sản xuất vải dệt từ sợi tổng hợp và sợi nhân tạo đạt

860,4 triệu m2, tăng 4,9%; quần áo mặc thường đạt 3.411,2 triệu cái, tăng

4,5%.

Đáng chú ý, so với cùng thời điểm trước đại dịch (9 tháng đầu năm

2019), sản xuất vải dệt từ sợi tự nhiên của Việt Nam tăng 5,4%; trái lại, sản

xuất vải dệt từ sợi nhân tạo hoặc tổng hợp và sản xuất trang phục giảm lần

lượt là 2,4% và 10%. Cùng với sản xuất, xuất khẩu toàn ngành Dệt, May mặc

của Việt Nam cũng đã đạt được kết quả đáng khích lệ trong những năm gần

đây.

3.1.3 Khái quát về các hiệp định tự do thế hệ mới Việt Nam tham gia

Trong phần này, Luận án tập trung nghiên cứu Hiệp định Đối tác toàn

diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP, tên cũ TPP); Hiệp định

Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định thương mại tự do

Việt Nam - Vương quốc Anh & Bắc Ai Len (UKVFTA), đây là các hiệp định

thương mại tự do thế hệ mới quan trọng nhất mà Việt Nam đã tham gia.

3.1.3.1. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

a) Quá trình hình thành CPTPP

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt

là Hiệp định CPTPP, là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới,

gồm 11 nước thành viên là: Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật

Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam.

Hiệp định đã được ký kết ngày 08 tháng 3 năm 2018 tại thành phố San-

ti-a-gô, Chi-lê, và chính thức có hiệu lực từ ngày 30 tháng 12 năm 2018 đối

với nhóm 6 nước đầu tiên hoàn tất thủ tục phê chuẩn Hiệp định gồm Mê-hi-

cô, Nhật Bản, Xinh-ga-po, Niu Di-lân, Ca-na-đa và Ốt-xtrây-lia. Đối với Việt

Nam, Hiệp định có hiệu lực từ ngày 14 tháng 01 năm 2019.

Khởi đầu của CPTPP là Hiệp định TPP có 4 nước tham gia là Bru-nây,

75

Chi-lê, Niu Di-lân, Xinh-ga-po và vì vậy được gọi tắt là Hiệp định P4.

Ngày 22 tháng 9 năm 2008, Hoa Kỳ tuyên bố tham gia vào P4 nhưng

đề nghị không phải trong khuôn khổ Hiệp định P4 cũ, mà các bên sẽ đàm

phán một Hiệp định hoàn toàn mới, gọi là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình

Dương (TPP). Ngay sau đó, các nước Ốt-xtrây-lia và Pê-ru cũng tuyên bố

tham gia TPP.

Năm 2009, Việt Nam tham gia TPP với tư cách là quan sát viên đặc

biệt. Sau 3 phiên đàm phán, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định này

nhân Hội nghị Cấp cao APEC tổ chức từ ngày 13 đến ngày 14 tháng 11 năm

2010 tại thành phố Yokohama (Nhật Bản). Cùng với quá trình đàm phán, TPP

đã tiếp nhận thêm các thành viên mới là Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Ca-na-đa và

Nhật Bản, nâng tổng số nước tham gia lên thành 12.

Trải qua hơn 30 phiên đàm phán ở cấp kỹ thuật và hơn 10 cuộc đàm

phán ở cấp Bộ trưởng, các nước TPP đã kết thúc cơ bản toàn bộ các nội dung

đàm phán tại Hội nghị Bộ trưởng tổ chức tại Át-lan-ta, Hoa Kỳ vào tháng 10

năm 2015. Ngày 04 tháng 02 năm 2016, Bộ trưởng của 12 nước tham gia

Hiệp định TPP đã tham dự Lễ ký để xác thực lời văn Hiệp định TPP tại

Auckland, Niu Di-lân. Tuy nhiên, vào ngày 30 tháng 01 năm 2017, Hoa Kỳ

đã chính thức tuyên bố rút khỏi Hiệp định TPP. Trước sự kiện này, các nước

TPP còn lại đã tích cực nghiên cứu, trao đổi nhằm thống nhất được hướng xử

lý đối với Hiệp định TPP trong bối cảnh mới. Tháng 11 năm 2017, tại Đà

Nẵng, Việt Nam, 11 nước còn lại đã thống nhất đổi tên hiệp định TPP thành

Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình dương gọi tắt là hiệp

định CPTPP.

Ngày 08 tháng 3 năm 2018, các Bộ trưởng của 11 nước tham gia Hiệp

định CPTPP đã chính thức ký kết Hiệp định CPTPP tại thành phố San-ti-a-gô,

Chi-lê.

b) Nội dung chính của Hiệp định CPTPP

Hiệp định CPTPP gồm 07 Điều và 01 Phụ lục quy định về mối quan hệ

với Hiệp định TPP đã được 12 nước gồm Ốt-xtrây-lia, Bru-nây Đa-rút-xa-

76

lam, Ca-na-đa, Chi-lê, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân,

Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam ký ngày 06 tháng 2 năm 2016 tại Niu Di-lân;

cũng như xử lý các vấn đề khác liên quan đến tính hiệu lực, rút khỏi hay gia

nhập Hiệp định CPTPP.

Về cơ bản, Hiệp định CPTPP giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP

(gồm 30 chương và 9 phụ lục) nhưng cho phép các nước thành viên tạm hoãn

20 nhóm nghĩa vụ để bảo đảm sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các

nước thành viên trong bối cảnh Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP. 20 nhóm

nghĩa vụ tạm hoãn này bao gồm 11 nghĩa vụ liên quan tới Chương Sở hữu trí

tuệ, 2 nghĩa vụ liên quan đến Chương Mua sắm của Chính phủ và 7 nghĩa vụ

còn lại liên quan tới 7 Chương là Quản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương

mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn

thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng. Tuy nhiên, toàn bộ

các cam kết về mở cửa thị trường trong Hiệp định TPP vẫn được giữ nguyên

trong Hiệp định CPTPP.

3.1.3.2. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)

a) Quá trình hình thành

EVFTA được khởi động đàm phán vào năm 2012, kết thúc đàm phán

kỹ thuật vào năm 2015. Hiệp định đã được hai bên chính thức ký kết vào ngày

30 tháng 6 năm 2019 tại Hà Nội. Việc kết thúc đàm phán thành công và từ đó

tiến tới ký kết Hiệp định là một chặng đường dài với sự nỗ lực, cố gắng và

quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Quốc hội và Chính phủ với mục tiêu

nâng mối quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Liên minh châu Âu

lên một tầm cao mới nói riêng và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

của Việt Nam nói chung, góp phần vào công cuộc đổi mới và hiện đại hóa đất

nước.

b) Nội dung chính của Hiệp định

Hiệp định gồm 17 Chương, 8 Phụ lục, 2 Nghị định thư, 2 Biên bản ghi

nhớ và 4 Tuyên bố chung điều chỉnh nhiều vấn đề truyền thống như cắt giảm

thuế quan, mở cửa lĩnh vực dịch vụ và đầu tư… và phi truyền thống như phát

77

triển bền vững, mua sắm của Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước…

Với mức độ cam kết đạt được, EVFTA được coi là một Hiệp định toàn

diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU,

đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới

(WTO), cũng như đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai bên.

Tháng 10 năm 2010: Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch EU

đã đồng ý khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA.

Tháng 6 năm 2012: Bộ trưởng Công Thương Việt Nam và Cao ủy

Thương mại EU đã chính thức tuyên bố khởi động đàm phán Hiệp

định EVFTA.

Tháng 12 năm 2015: Kết thúc đàm phán và bắt đầu rà soát pháp lý để

chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định.

Tháng 6 năm 2017: Hoàn thành rà soát pháp lý ở cấp kỹ thuật

Tháng 9 năm 2017: EU chính thức đề nghị Việt Nam tách riêng nội

dung bảo hộ đầu tư và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước với nhà

đầu tư (ISDS) ra khỏi Hiệp định EVFTA thành một hiệp định riêng do phát

sinh một số vấn đề mới liên quan đến thẩm quyền phê chuẩn các hiệp định

thương mại tự do của EU hay từng nước thành viên. Theo đề xuất này,

EVFTA sẽ được tách thành hai hiệp định riêng biệt, bao gồm:

- Hiệp định Thương mại tự do bao gồm toàn bộ nội dung EVFTA hiện

nay nhưng phần đầu tư sẽ chỉ bao gồm tự do hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Với Hiệp định này, EU có quyền phê chuẩn và đưa vào thực thi tạm thời.

- Hiệp định Bảo hộ đầu tư (Hiệp định IPA) bao gồm nội dung bảo hộ

đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư. Hiệp định IPA này phải được sự phê

chuẩn của cả Nghị viện Châu Âu và của Nghị viện các nước thành viên thì

mới có thể thực thi.

Tháng 6 năm 2018: Việt Nam và EU đã chính thức thống nhất việc tách

riêng EVFTA thành hai hiệp định gồm Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam

– EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA); chính thức kết thúc toàn

bộ quá trình rà soát pháp lý Hiệp định EVFTA; và thống nhất toàn bộ các nội

78

dung của Hiệp định IPA; Tháng 8 năm 2018: Hoàn tất rà soát pháp lý Hiệp

định IPA; Ngày 17 tháng 10 năm 2018: Ủy ban châu Âu đã chính thức thông

qua EVFTA và IPA; Ngày 25 tháng 6 năm 2019: Hội đồng châu Âu đã phê

duyệt cho phép ký Hiệp định; Ngày 30 tháng 6 năm 2019: Việt Nam và EU

chính thức ký kết EVFTA và IPA; Ngày 21 tháng 1 năm 2020: Ủy ban

Thương mại Quốc tế Liên minh châu Âu thông qua khuyến nghị phê chuẩn

EVFTA; Ngày 30 tháng 3 năm 2020: Hội đồng châu Âu thông qua Hiệp định

EVFTA; Ngày 08 tháng 6 năm 2020: Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Hiệp

định EVFTA và EVIPA.

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) là một FTA thế

hệ mới giữa Việt Nam và 27 nước thành viên EU. EVFTA, cùng với CPTPP,

là hai FTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của Việt

Nam từ trước tới nay. Ngày 01/12/2015, EVFTA đã chính thức kết thúc đàm

phán và đến ngày 01/02/2016, văn bản hiệp định được công bố. Ngày

26/06/2018, một bước đi mới của EVFTA được thống nhất. Theo đó, EVFTA

được tách làm hai Hiệp định, một là Hiệp định Thương mại (EVFTA), và một

là Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA); đồng thời chính thức kết thúc quá trình

rà soát pháp lý đối với Hiệp định EVFTA. Tháng 08/2018, quá trình rà soát

pháp lý đối với EVIPA cũng được hoàn tất. Hai Hiệp định được ký kết ngày

30/06/2019. EVFTA và EVIPA được phê chuẩn bởi Nghị viện châu Âu vào

ngày 12/2/2020, và được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn vào ngày 8/6/2020.

Ngày 30/3/2020, Hội đồng châu Âu cũng đã thông qua EVFTA. Đối với

EVFTA, do đã hoàn tất thủ tục phê chuẩn, Hiệp định này đã chính thức có

hiệu lực từ ngày 1/8/2020. Đối với EVIPA, về phía EU, Hiệp định sẽ còn phải

được sự phê chuẩn tiếp bởi Nghị viện của tất cả 27 nước thành viên EU mới

có hiệu lực.

3.1.3.3. Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc

Anh và Bắc Ai-len (UKVFTA)

a) Quá trình hình thành

Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc

79

Anh và Bắc Ai-len (sau đây gọi tắt là Hiệp định) được Việt Nam và Anh khởi

động đàm phán năm 2018, sau khi Anh khởi động tiến trình rời khỏi Liên

minh châu ÂU (EU). Hiệp định được xây dựng và đàm phán trên cơ sở kế

thừa Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu

(EVFTA) với những điều chỉnh phù hợp để đảm bảo việc thực hiện các cam

kết tự do hóa thương mại được thông suốt. Hai bên đã tiến hành 6 Phiên làm

việc chính thức và 5 Phiên làm việc kỹ thuật trong giai đoạn 2018 – 2020.

Ngày 29 tháng 12 năm 2020, Hiệp định UKVFTA được ký bởi đại diện được

ủy quyền của Chính phủ hai bên tại Luân Đôn, Anh.

b) Nội dung chính của Hiệp định

Hiệp định gồm 9 điều khoản (Điều 1 – Định nghĩa và giải thích; Điều 2

– Việc tích hợp Hiệp định EVFTA; Điều 3 – Mục tiêu; Điều 4 – Lãnh thổ áp

dụng; Điều 5 – Dẫn chiếu tới đồng Euro; Điều 6 – Tiếp tục các khoảng thời

gian; Điều 7 – Quy định khác liên quan tới Ủy ban Thương mại; Điều 8 – Rà

soát hạn ngạch thuế quan gạo; Điều 9 – Các điều khoản cuối cùng); 01 Phụ

lục sửa đổi một số điều của lời văn EVFTA; 01 Nghị định thư và 01 thư song

phương trao đổi giữa Việt Nam và Anh.

Ngày 31/12/2020, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số

190/NQ-CP về việc áp dụng tạm thời Hiệp định UKVFTA. Theo đó, Hiệp

định được áp dụng tạm thời từ 06 giờ sáng ngày 01 tháng 01 năm 2021 giờ

Việt Nam.

Ngày 12/3/2020, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số

31/NQ-CP phê duyệt “Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên

hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len”. Hiệp định chính thức có hiệu lực ngày

01/5/2021.

3.2. Thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam

Trong nội dung này, Luận án phân tích thực trạng xuất khẩu dệt may

của Việt Nam sang thị trường thế giới nói chung qua các năm, sau đó nhấn

mạnh đến thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường

80

CPTPP, EU, Vương quốc Anh & Bắc Ai Len, là các nước và khu vực mà Việt

Nam đã ký các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là CPTPP, EVFTA,

UKVFTA.

3.2.1. Kim ngạch xuất khẩu dệt may

Dệt may là một trong các ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam và

được xác định là ngành công nghiệp trọng điểm trong quá trình phát triển

kinh tế của Việt Nam (Nguyễn Hoàng Giang, 2014; Nguyễn Thị Cẩm Loan,

2014; Võ Thanh Thu và Ngô Thị Hải Xuân, 2015). Số liệu thống kê của Tổng

cục Hải quan Việt Nam cho thấy xuất khẩu toàn ngành dệt may của Việt Nam

trong giai đoạn 2009 – 2019, đây là giai đoạn trước khi các FTA thế hệ mới

được ký kết và có hiệu lực, có bức tranh với gam màu sáng và những con số

hết sức ấn tượng cả về số lượng lẫn tốc độ tăng trưởng.

Về mặt giá trị tuyệt đối, kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng hơn 4,4 lần

từ mức chỉ đạt 9,1 tỷ USD năm 2009 lên mức hơn 40,4 tỷ USD năm 2021.

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ngành bình quân hàng năm đạt 12,78% cho giai

đoạn 2009-2021, trong đó, giai đoạn 2009-2019 là 14,64%, riêng năm 2020

kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sụt giảm 10,26% do ảnh hưởng

của đại dịch covid-19, nhưng lại phục hồi và tăng trở lại vào năm 2021 với

15,43%. Số liệu công bố bởi VITAS chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2009-2021,

ngành dệt may luôn luôn góp đóng hơn 10% giá trị sản xuất công nghiệp của

Việt Nam, là ngành giữ vị trí xuất khẩu số 1 của Việt Nam trong giai đoạn

2007-2012, và vị trí số 2 trong giai đoạn 2013-2021. Trên thị trường xuất

khẩu dệt may toàn cầu, Việt Nam luôn duy trì vị trí là quốc gia xuất khẩu dệt

may lớn thứ 4 thế giới với khoảng 5% thị phần, đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ

và Bangladesh giai đoạn 2009-2019, đặc biệt vượt qua Bangladesh để trở

thành nhà xuất khẩu dệt may lớn thứ 3 thế giới từ năm 2018 (Tổng cục Hải

quan, 2022).

Số liệu từ Vitas cho thấy, năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt

may đạt 39 tỷ USD, tăng trưởng khoảng 7,55% so với năm 2018. Kết quả này

kém 1 tỷ USD so với mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD đặt ra từ đầu năm. Trong

81

đó, kim ngạch nhập khẩu dệt may cả năm đạt 22,38 tỷ USD, tăng 2,21%. Giá

trị nhập khẩu phục vụ cho xuất khẩu đạt 19,26 tỷ USD, tăng 4,96%. Giá trị

nội địa tăng thêm (thặng dư thương mại) của hàng hóa dệt may xuất khẩu đạt

19,73 tỷ USD, tăng 10,19%; xuất siêu 16,62 tỷ USD, tăng 2,25 tỷ USD.

Năm 2020, tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm của ngành dệt may

đạt khoảng 35 tỷ USD, giảm 10,1% so với năm 2019. Trong đó, xuất khẩu

hàng dệt may đạt 29,8 tỷ USD, giảm 9,2% so với năm 2019. Xuất khẩu sợi

đạt 3,74 tỷ USD, giảm 10,5%; xuất khẩu nguyên phụ liệu dệt may đạt 1,0 tỷ

USD, giảm 16% và vải mành, vải kỹ thuật khác đạt 456 triệu USD, giảm

22,6%.

Năm 2021, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành hàng dệt may đạt 40,4 tỷ

USD, tăng 15,43% so với năm 2020, trong đó, xuất khẩu hàng dệt may của

khối doanh nghiệp FDI đạt 24,3 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm

trước và chiếm 60,3% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc của cả

nước. Trong đó, hàng dệt, may đạt 32,8 tỷ USD tăng 9,9% so với năm trước,

xơ sợi đạt 5,6 tỷ USD, tăng 50,2%.

Trong 6 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu dệt may ước đạt

khoảng 22,3 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2021. Các mặt hàng

xuất khẩu chủ lực là hàng may mặc, kim ngạch xuất khẩu đạt 16,94 tỷ USD,

tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước; xuất khẩu vải đạt 1,4 tỷ USD, tăng

20,8%; xuất khẩu xơ sợi đạt 2,76 tỷ USD, tăng 4,4%; xuất khẩu phụ liệu dệt

may đạt 734 triệu USD, tăng 22,3%; xuất khẩu vải không dệt đạt 452 triệu

USD, tăng 25,5%.

Cũng theo VITAS, giai đoạn 6 tháng cuối năm 2022, tình hình xuất

nhập khẩu ngành dệt may chững lại do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ lạm phát,

cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine, chính sách “Zero COVID” của Trung

Quốc khi Việt Nam đang nhập khẩu trên 40% nguyên phụ liệu từ thị trường

này cùng những yêu cầu khắt khe từ phía các quốc gia nhập khẩu về cam kết

phát triển bền vững, chống biến đổi khí hậu…Trước những khó khăn đó, kim

ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam vẫn giữ mức tăng trưởng tốt, ước đạt 42

82

tỷ USD, tăng 3,8% so với năm 2021.

Bảng 3.1: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam 2009 - 2021

Năm Kim ngạch xuất Tỷ trọng So với năm

khẩu (Tỷ USD) (%) trước (%)

2008 9,1

2009 0,09 0 9,1

2010 23,08 23,08 11,2

2011 41,07 41,07 15,8

2012 7,59 7,59 17,0

2013 17,65 18,24 20,1

2014 3,98 3,98 20,9

2015 9,09 9,09 22,8

2016 23,25 23,25 28,1

2017 13,17 13,17 31,8

2018 16,4 13,84 36,2

2019 7,55 7,73 39,0

2020 -10,26 35,0

2021 12 15,43 40,4

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Hải Quan, 2022

Như vậy, trong giai đoạn 2009 - 2021 mặc dù có một số biến động của

thị trường thế giới ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam như

khủng khoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 hay hiện tượng Brexit ở Anh

nhưng kim ngạch xuất khẩu dệt may nhìn chung vẫn duy trì mức tăng trưởng

cao, đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, thông

qua đó góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và

thúc đẩy các vấn đề an sinh xã hội.

83

Bảng 3.2. Tình hình xuất khẩu các sản phẩm của ngành dệt may 2020

Mặt hàng Năm 2020 (triệu Tăng/ giảm so với năm

USD) 2019 (%)

Tổng 35.014 -9,8

Hàng dệt, may 29.810 -9,2

Xơ, sợi dệt các loại 3.737 -10,5

Nguyên phụ liệu dệt may 1.012 -16,0

Vải mành, vải kỹ thuật khác 456 -22,6

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan

Nhìn chung, năm 2020, xuất khẩu dệt may sang hầu hết thị trường giảm

so với năm 2019. Nguyên nhân là do đại dịch covid-19 làn rộng ra toàn cầu,

khiến các quốc gia phải vật lộn, chống chọi với Đại dịch. Giảm nhiều phải kể

đến một số thị trường như Tanzania giảm 77%; Angola giảm 75%; Argentina

giảm 44%; Senegan, Philippines, Slovakia cùng giảm hơn 39%; một số thị

trường châu Âu giảm đáng kể khác như Anh, Hy Lạp, Phần Lan, Tây Ban

Nha, Na Uy, Áo giảm từ 28 - 37%. Những tháng đầu năm 2021, thị trường dệt

may toàn cầu có xu hướng hồi phục bởi các gói hỗ trợ về kinh tế và thông tin

tích cực về triển khai vắc xin phòng dịch Covid-19; nhu cầu các mặt hàng nói

chung và may mặc nói riêng đã phần nào hồi phục trở lại. Việc chuyển dịch

đơn hàng từ các quốc gia cạnh tranh, đặc biệt là từ Myanma giúp cho Việt

Nam đón nhận một lượng đơn hàng đột biến ngay từ quý I/2021. Ngoài ra,

trong năm 2021, các doanh nghiệp dệt may không gặp phải vấn đề nguồn

nguyên liệu bị đứt gãy như trong những tháng đầu năm 2020. Đơn hàng dồi

dào, kết hợp với những lợi thế trên thị trường xuất khẩu đã giúp dệt may Việt

Nam dần hồi phục, với kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng theo từng tháng cho

đến giữa năm 2021.

Các nhóm hàng cụ thể:

Về nhóm hàng may mặc: Trong năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng

may mặc của Việt Nam đạt 32,8 tỷ USD, tăng 9,9% so với năm 2020, trong

84

đó xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt 20,1 tỷ USD, tăng 12,7% so với

năm 2020, chiếm 61,5% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này, tăng so với tỷ

trọng 60% của năm 2020. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của

Việt Nam vào các thị trường Hoa Kỳ, EU, ASEAN, Nga… tăng, trong khi

xuất khẩu sang thị trường CPTPP, Đài Loan…đều giảm.

Đáng chú ý, xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, ASEAN trở thành động

lực tăng trưởng xuất khẩu của mặt hàng này. Xuất khẩu hàng may mặc của

Việt Nam được nhận định sẽ tiếp tục hồi phục trong năm 2022 nhờ kinh tế

toàn cầu hồi phục, tỷ lệ tiêm phủ vắc xin trên toàn thế giới tiếp tục tăng cao,

cuộc sống trở lại trạng thái bình thường “mới”, chi tiêu đối với hàng may mặc

sẽ tăng sau giai đoạn bị “đè nén” do dịch Covid-19,...

Về nhóm hàng xơ, sợi, dệt: Trong năm 2021, xuất khẩu xơ, sợi dệt các

loại của Việt Nam đạt 5,6 tỷ USD, tăng 50,2% so với năm 2020. Các thị

trường xuất khẩu chính của xơ, sợi dệt Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc, Hàn

Quốc, Bangladesh. Các thị trường hầu hết đều tăng trưởng, trong đó,

Bangladesh và Đài Loan là 2 thị trường tăng mạnh nhất, mức tăng lần lượt là

248% và 122%. Thị trường Trung Quốc tăng trưởng 39% so với năm trước

với trị giá gần 3 tỷ USD. Xuất khẩu xơ sợi sang Trung Quốc tăng mạnh do

Trung Quốc tăng nhập khẩu sợi từ Việt Nam để sản xuất hàng may mặc xuất

khẩu sang Hoa Kỳ và EU. (Trung tâm thông tin – Bộ Công thương).

Như vậy, có thể thấy, năm 2021, ngành dệt may có nhiều thuận lợi

trong xuất khẩu hàng dệt may do Việt Nam nhận được nhiều đơn hàng: (i)

Đơn hàng chuyển từ các nước gặp khó khăn do yếu tố dịch bệnh hoặc yếu tố

chính trị nội bộ. (ii) Xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ, EU, xuất khẩu xơ

sợi sang Trung Quốc thuận lợi. (iii) Nhu cầu nhập khẩu hàng may mặc của thị

trường thế giới đặc biệt là tại các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như

Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản… tăng trở lại, sau thời gian giãn cách do dịch Covid-

19. Các nước mở cửa trở lại đã làm tăng nhu cầu đối với các sản phẩm dệt

may.

Dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động xuất khẩu của

85

ngành dệt may, tuy vậy, đây là chỉ là sự gián đoạn trong ngắn hạn, dự báo,

xuất khẩu toàn ngành dệt may sẽ lấy lại đà tăng trưởng trong năm 2022. Theo

Báo cáo của Hiệp hội dệt may Việt Nam (Vitas) cho thấy, trong 6 tháng đầu

năm 2022, kim ngạch xuất khẩu dệt may ước đạt khoảng 22,3 tỷ USD, tăng

17,7% so với cùng kỳ năm 2021. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là hàng

may mặc với kim ngạch 16,94 tỷ USD tăng 19,5% so cùng kỳ; xuất khẩu vải

đạt 1,4 tỷ USD, tăng 20,8%; xuất khẩu xơ sợi đạt 2,76 tỷ USD, tăng 4,4%;

xuất khẩu phụ liệu dệt may đạt 734 triệu USD tăng 22,3%; xuất khẩu vải

không dệt đạt 452 triệu USD tăng 25,5%. Tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên,

phụ liệu dệt may 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 13,4 tỷ USD tăng 9,8% so

cùng kỳ 2021. Kim ngạch xuất siêu đạt 8,86 tỷ USD, tăng 32% so với 6 tháng

2021.

3.2.2. Các thị trường xuất khẩu

3.2.2.1. Thị trường Hoa Kỳ

Trong suốt giai đoạn giai đoạn 2009-2021, Hoa Kỳ luôn là thị trường

lớn nhất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Xét về giá trị tuyệt đối, kim

ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường Hoa Kỳ tăng trưởng ổn định từ mức

4,5 tỷ USD năm 2009, lên 6,12 tỷ USD năm 2010; 10,96 tỷ USD năm 2015;

13,99 tỷ năm 2020 và 16,09 tỷ năm 2021. Tính riêng 10 tháng đầu năm 2022,

xuất khẩu dệt may sang thị trường Mỹ đạt 13,9 tỷ USD (Hiệp hội dệt may

Việt Nam). Chỉ trong vòng hơn một thập niên, kim ngạch xuất khẩu dệt may

của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đã tăng trưởng gần 3,45 lần. Mặc dù có

sự sụt giảm về tỷ trọng xuất khẩu dệt may, nhưng không phản ánh sự sụt giảm

vai trò và vị trí quan trọng của thị trường Hoa Kỳ đối với xuất khẩu dệt may

của Việt Nam

Sự sụt giảm tỷ trọng đối với thị trường Hoa Kỳ đơn giản do nguyên nhân

Việt Nam đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, do đó, thị phần ở các thị trường

khác tăng trưởng tương đối tốt bù đắp vào phần suy giảm của thị trường Mỹ.

Điều này được minh chứng rõ hơn khi xem xét xu hướng giảm tỉ trọng cũng

đồng thời xảy ra đối với các thị trường xuất khẩu dệt may chủ lực khác của

86

Việt Nam là EU. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng sự gia tăng về giá trị xuất

khẩu bất chấp tỷ trọng thị phần co lại, ở những khía cạnh nào đó ngụ ý rằng

xuất khẩu sản phẩm dệt may của Việt Nam phần nào cho thấy chiều hướng

phát triển tích cực hơn, chú trọng hơn vào các sản phẩm trung và cao cấp (giá

trị gia tăng cao hơn tương đối trong so sánh với các sản phẩm phổ thông)

(Phan Thanh Hoàn, 2017; Phùng Thị Quỳnh Trang, 2017).

3.2.2.2. Thị trường các nước CPTPP

Giá trị xuất khẩu hàng dệt may sang CPTPP năm 2019 đạt 5,3 tỷ USD,

tăng 7,4% so với năm 2018. Năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19,

xuất khẩu dệt may sang các nước thuộc khu vực thị trường này giảm 9,6% so

với năm 2019, đạt 4,8 tỷ USD (Tổng cục Hải quan Việt Nam 2022). Cũng

theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong tháng 5/2021, kim ngạch xuất khẩu

hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường các nước CPTPP đạt 398,1 triệu

USD, tăng 21,3% so với tháng 5/2020. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2021, kim

ngạch xuất khẩu đạt 1,94 tỷ USD, tăng 2,03% so với 5 tháng đầu năm 2020 và

chỉ còn giảm 3,97% so với 5 tháng đầu năm 2019, cho thấy xuất khẩu mặt

hàng này của Việt Nam sang thị trường CPTPP hồi phục chậm hơn so với các

thị trường lớn khác như Hoa Kỳ, EU…

Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang

các nước thành viên CPTPP tăng trưởng khá và đặc biệt là các thị trường

Canada, Australia, New Zealan có thể trở thành “cửa ngõ” để sản phẩm may

mặc của Việt Nam mở rộng thị phần tại châu Mỹ và châu Đại dương. Mặc dù

tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang các thị

trường này khá cao, nhưng tỷ trọng hàng dệt may của Việt Nam tại các thị

trường này vẫn còn hạn chế do các biến cố khách quan như tình hình căng

thẳng thương mại toàn cầu hay đại dịch Covid-19. Xuất khẩu hàng dệt may

sang thị trường các nước CPTPP như sau:

a) Nhật Bản

Nhật Bản là đối tác nhập khẩu và xuất khẩu hàng dệt may lớn của Việt

Nam trong khối CPTPP. Việt Nam nhập khẩu vải, xơ sợi và nguyên phụ liệu

87

ngành may trong khi xuất khẩu thành phẩm sang Nhật Bản. Với việc sử dụng

nguyên liệu nhập khẩu từ Nhật, Việt Nam có thể hưởng lợi lớn từ CPTPP

trong lĩnh vực dệt may do yêu cầu xuất xứ “từ sợi trở đi” có thể đáp ứng.

Theo Tổng cục Hải quan, xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào thị trường

Nhật Bản chiếm khoảng 8,97% thị phần năm 2007 với khoảng 0,7 tỷ USD

tăng lên 10,38% thị phần năm 2017 với hơn 3,3 tỷ USD, và giảm nhẹ xuống

10,77% nhưng duy trì mức tăng giá trị đạt mức 4,2 tỉ USD năm 2019. Đến

năm 2020 và 2021, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào thị

trường này là 3,53 tỷ USD và 3,23 tỷ USD, có suy giảm so với 2019, do ảnh

hưởng của đại dịch covid-19.

b) Canada

Việt Nam được xếp trong nhóm nước xuất khẩu mặt hàng may mặc

nhiều nhất vào thị trường Canada trong năm 2017, trong đó Trung Quốc dẫn

đầu khi chiếm thị phần 40% trên tổng thị phần nhập khẩu, tiếp theo là

Bangladesh (12%), Campuchia (9%) và Việt Nam (8%). Tuy nhiên, có thể

thấy rằng lượng hàng may mặc của nhóm các nước dẫn đầu này xuất khẩu

sang thị trường Canada chiếm thị phần xấp xỉ bằng ½ thị phần của riêng

Trung Quốc. Tuy nhiên, trong khi thị phần nhập khẩu từ Trung Quốc giảm

dần thì các nước xuất khẩu lớn khác lại tăng dần. Trong các chủng loại hàng

may mặc nhập khẩu tại Canada thì mảng hàng giá thấp đến trung bình chiếm

thị phần đáng kể. Hơn nữa, người tiêu dùng Canada luôn có nhu cầu về hàng

may mặc làm từ sợi tự nhiên, ở mức giá cạnh tranh vì họ cho rằng, sử dụng

quần áo chất liệu tự nhiên vừa thoáng mát , có lợi cho sức khỏe. Với nhu cầu

và thị hiếu này của người tiêu dùng Canada, đây là thị trường tiềm năng đối

với mặt hàng may mặc xuất khẩu Việt Nam.

c) Australia

Tại thị trường Australia (Úc), Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ 3 về

hàng dệt may (chỉ sau Trung Quốc và Bangladesh), tuy nhiên, xét về toàn bộ

quy mô thị trường Úc, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam tương

đối nhỏ (chỉ khoảng 3%). Đối thủ cạnh tranh của Việt Nam tại thị trường này

88

là Trung Quốc, Bangladesh, Việt Nam, Indonesia...

Lợi thế nổi trội nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu

sang Úc đó là có vị trí địa lý khá gần so với các nước xuất khẩu khác. Tuy

nhiên, Úc là thị trường ít dân và đã phát triển khá lâu, không có đơn hàng lớn

như Mỹ, Châu Âu nhưng họ lại đòi hỏi rất cao về nguồn gốc xuất xứ và chất

lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp xuất khẩu có thể đáp ứng yêu cầu về xuất

xứ và chất lượng lại ưu tiên xuất khẩu với quy mô đơn hàng lớn sang Mỹ,

Châu Âu. Do đó kim ngạch xuất khẩu tại thị trường Úc rất thấp.

d) Mexico

Theo Bộ Công thương, thuế suất vào thị trường Mexico hiện đang ở

mức khá cao 30%. Khi CPTPP được thực thi, kim ngạch xuất khẩu dự kiến có

thể tăng 30 - 40% ngay trong năm đầu tiên và sau khoảng 3 - 4 năm, kim

ngạch sẽ tăng gấp đôi, đặc biệt với những mã hàng Mexico đang có nhu cầu

lớn từ các nhà cung cấp Việt Nam như quần áo may sẵn, hàng dệt kim…

e) Malaysia

Malaysia là quốc gia có quan hệ hai chiều trong lĩnh vực dệt may với

Việt Nam, trong đó, năm 2017 tổng kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu từ

Malayxia là 111 triệu USD và 91 triệu USD. Trong số 11 quốc gia thành viên

CPTPP, Malaysia là nước duy nhất có khả năng cạnh tranh với Việt Nam

trong xuất khẩu hàng may mặc sang các thị trường. Xét về quy mô xuất khẩu,

hàng dệt may Malaysia không có khả năng cạnh tranh với Việt Nam. Tốc độ

tăng trưởng bình quân hàng dệt may xuất khẩu sang Malaysia đạt 15%/năm.

Dự kiến năm 2018 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tại thị trường này đạt

165 triệu USD.

f) New Zealand

New Zealand là thị trường tương đối tiềm năng do hàng dệt may quốc

gia này phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. Tuy nhiên, tương tự tại thị trường Úc,

tại New Zealand, hàng dệt may Việt Nam chỉ chiếm tỉ trọng trong tổng kim

ngạch nhập khẩu (3%), sau Trung Quốc (71%) và Bangladesh (6%). Kim

ngạch xuất khẩu hàng dệt may tại thị trường này được kì vọng tăng trưởng

89

thấp ở mức 5%/năm đạt 20 triệu USD năm 2018.

g) Chile

Kể từ năm 2014, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tại

Chile tăng đột biến dưới ảnh hưởng của Hiệp định thương mại tự do Việt

Nam - Chile. Tuy nhiên, tại Chile, hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn

chiếm đa số (75%), giảm đáng kể so với năm 2013 (82%). Hàng hóa Trung

Quốc vào thị trường này được hưởng ưu đãi thuế theo Hiệp định thương mại

tự do Trung Quốc - Chile. Theo đó, 2 bên Trung Quốc và Chile đã ký một

Thỏa thuận Nâng cấp Thương mại Tự do vào T11/2017.

Nhìn chung, CPTPP không đem lại cơ hội thị trường vượt trội cho Việt

Nam tại thị trường Chile, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tại thị trường

này chỉ tăng trưởng ở mức trung bình 13%/năm, đạt 100 triệu USD vào năm

2018.

h) Singapore

Singapore nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc, Malayxia,

Bangladesh, Indonexia, Việt Nam... Trong đó, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung

Quốc chênh lệch không đáng kể so với các quốc gia khác. Đây là thị trường

tiềm năng với hàng may mặc phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. Hàng hóa xuất

khẩu sang Singapore được cắt giảm thuế nhập khẩu về 0% tại hầu hết các sản

phẩm, do đó, xét về ưu đãi thuế quan, CPTPP không mang lại nhiều cơ hội

vượt trội cho xuất khẩu hàng may mặc. Tính tới năm 2017, kim ngạch xuất

khẩu mặt hàng này đạt 88 triệu USD và được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng với

tốc độ 20%/năm, đạt 100 triệu USD năm 2018.

i) Brunei và Peru

Brunei và Peru vốn không phải là đối tác nhập khẩu hàng dệt may lớn

của Việt Nam. Brunei chủ yếu nhập sản phẩm dêt may từ Malaysia,

Singapore, Trung Quốc, trong khi Peru chủ yếu nhập khẩu sẩn phẩm dệt may

từ Trung Quốc, Bangladesh và Colombia. Người tiêu dùng Brunei vốn quen

với các sản phẩm nhập khẩu từ Malaysia, là nước cũng tham gia CPTPP và

cùng thuộc khối ASEAN với Việt Nam. Đồng thời Malayxia cũng có khả

90

năng sản xuất hàng may mặc. Do đó, kì vọng tăng trưởng từ thị trường Brunei

ở giai đoạn đầu không quá lớn, chủ yếu giới thiệu và quảng bá sản phẩm. Tuy

nhiên, hiện tại Việt Nam chưa kí thỏa thuận song phương nào với Peru, do đó,

CPTPP được kì vọng sẽ đem lại cơ hội thị trường Peru cho các doanh nghiệp

dệt may Việt Nam.

3.2.2.3. Thị trường EU

Tương đồng với Hoa Kỳ, đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam

về xuất khẩu các sản phẩm dệt may là EU cũng cho thấy sự gia tăng về khối

lượng và giá trị nhưng cùng xu hướng giảm về thị phần. Thực tế đối với thị

trường EU cũng được lý giải tương tự như với thị trường Hoa Kỳ, nếu đặt

trong so sánh với các đối tác khác như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc,

nơi mà thị phần đã tăng lên đáng kể trong bức tranh xuất khẩu ngành hàng dệt

may của Việt Nam (Đỗ Thị Hòa Nhà và cộng sự, 2019). Số liệu thống kê từ

Tổng cục Hải Quan cho biết, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào

thị trường EU tăng trưởng ấn tượng từ mức 1,6 tỷ USD năm 2009 tăng lần

lượt lên mức 4,4 tỷ USD năm 2019 (kỷ lục), bất chấp đối diện với nhiều thách

thức đến từ bối cảnh thị trường ảm đạm chung toàn cầu.

Nhìn chung, giá trị kim ngạch xuất khẩu dệt may sang EU có xu hướng

tăng trong giai đoạn 2009 – 2019. Tuy nhiên, năm 2019 do hiệp định EVFTA

chưa được ký kết, nên XK dệt may chưa tạo ra mức tăng trưởng bứt phá. Năm

2019 KNXK hàng dệt và may mặc sang thị trường EU đạt 4,4 tỷ USD, tăng

2,23% chiếm tỷ trọng 11,28%, trong đó mặt hàng vải và may mặc đạt 4,25 tỷ

USD chỉ tăng 2,95% so với năm 2018 (Thu Hoài, 2019).

Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang EU giảm hơn 1 tỷ USD

còn 3,07 tỷ USD. Năm 2020, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU

giảm so với năm 2019, chủ yếu do xuất khẩu nhiều chủng loại mặt hàng giảm

như mặt hàng quần, áo sơ mi, đồ lót… Đáng chú ý, xuất khẩu mặt hàng áo

Jacket, đồ lót, quần, áo sơ mi giảm mạnh đã ảnh hưởng lớn tới tốc độ xuất

khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU. Trong đó, kim ngạch

xuất khẩu áo Jacket của Việt Nam sang EU đạt 841 triệu USD, giảm tới 152,5

91

triệu USD so với năm 2019, bằng 33,84% phần kim ngạch xuất khẩu giảm

sang thị trường này. Tương tự mặt hàng đồ lót và quần cũng bằng 18,31% và

18,41% phần kim ngạch xuất khẩu giảm sang thị trường EU.

Bảng 3.3 Kim ngạch Xuất khẩu dệt may sang EU (2009 – 2021)

Kim ngạch xuất khẩu

Tỷ trọng

Tổng KNXK dệt may

Năm

sang EU

(%)

(Đơn vị: Tỷ USD)

2008 1,70 9,1

2009 1,60 -14,89 9,1

2010 1,88 17,50 11,2

2011 2,51 33,51 15,8

2012 2,36 -5,98 17

2013 2,73 15,68 20,1

2014 3,40 24,54 20,9

2015 3,48 2,35 22,8

2016 3,50 0,57 28,1

2017 3,73 6,57 31,8

2018 4,09 9,65 36,2

2019 4,40 7,58 39

2020 3,12 -14,29 35

2021 3,46 10,90 40,4

(Tác giả tổng hợp nguồn từ Vụ thị trường Âu Mỹ; Vitas; Tổng cục Hải Quan)

Đặc biệt, trong khi xuất khẩu hầu hết các chủng loại hàng dệt may

thông thường của Việt Nam sang thị trường EU giảm thì xuất khẩu mặt hàng

quần áo bảo hộ lao động (bao gồm cả đồ bảo hộ y tế) tăng cao trong năm

2020. Năm 2020, xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang EU đạt 227,9

triệu USD, tăng thêm 72,49 triệu USD so với năm 2019, bằng 21,2% kim

ngạch xuất khẩu giảm tất cả các mặt hàng, hỗ trợ vào việc làm chậm lại đà

suy giảm xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU.

Đến năm 2021 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang EU có tăng

92

trưởng trở lại với 3,7 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2020 nhưng không bằng

mức năm 2019. (Bảng 3.2). Đặc biệt, trong 5 tháng đầu năm 2022, giá trị kim

ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may của nước ta sang thị trường EU tăng

mạnh, đạt mức 1,66 tỷ USD tăng 36,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó,

xuất khẩu hàng dệt may sang Đức đạt 409 triệu USD, tăng tới 44% và sang

Hà Lan đạt 376 triệu USD, tăng 43%,... (Tổng cục Hải Quan, 2022).

3.2.2.4. Thị trường Vương quốc Anh

Giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Vương Quốc Anh tăng dần qua

các năm từ năm 2009-2019. Sản phẩm xuất khẩu nhiều nhất của Việt Nam

sang Vương Quốc Anh chủ yếu là mặt hàng quần áo thuộc 2 mã HS61 và

HS62 khi chiếm tổng tỷ trọng tới hơn 90% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.

Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang UK đạt trị giá 829,911

triệu USD vào năm 2019 và giảm đáng kể vào năm 2020, giảm 38,91% xuống

còn 506,96 triệu USD do các hạn chế và lệnh đóng cửa biên do sự lây lan của

đại dịch Covid-19. Xuất khẩu hàng may mặc trung bình hàng tháng giảm

xuống còn 42,25 triệu USD trong năm 2020. Năm 2021 xuất khẩu dệt may

sang UK phục hồi và tăng trở lại theo xu hướng tăng của kim ngạch xuất khẩu

dệt may sang các nước và khu vực trên thế giới.

Bước sang năm 2022, dệt may là một trong những ngành hàng thế

mạnh xuất khẩu hàng đầu sang thị trường Anh trong những tháng đầu năm.

Tiếp đến là mặt hàng dệt may, trong 6 tháng đầu năm 2022 đạt 378,3 triệu

USD, tăng 39%, chiếm tỷ trọng 12,9%. Điều này cho thấy rằng tiềm năng

phát triển xuất khẩu dệt may từ Việt Nam sang Vương Quốc Anh là rất lớn.

Hiện nay Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu dệt may sang Anh lớn nhất

tuy nhiên 5 năm qua tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt

may vào thị trường Anh giảm 8%. Bên cạnh Trung Quốc, các thị trường cung

cấp sản phẩm dệt may cho Anh còn có Bangladesh, Campuchia và Pakistan

đều có lợi thế hơn so với Việt Nam về thuế suất (Bangladesh được hưởng chế

độ miễn thuế nhập khẩu theo chương trình EBA, Pakistan cũng được miễn

93

thuế nhập khẩu theo chương trình GSP+. Bởi vậy, FTA giữa Việt Nam và

Anh sẽ mang lại các ưu đãi thuế quan giúp hàng hóa của ta có lợi thế cạnh

tranh hơn so với các đối thủ. Hiện nay các mặt hàng dệt may của Việt Nam

đang được hưởng trung bình mức thuế ưu đãi trung bình là 9% theo quy chế

ưu đãi thuế quan phổ cập.

Bảng 3.4. Giá trị và tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang

Tốc độ tăng

Giá trị xuất khẩu dệt may của

Tỷ trọng trong xuất khẩu

trưởng

Năm

Việt Nam sang Vương Quốc

mặt hàng dệt may của

Anh (Triệu USD)

Việt Nam (%)

(%)

373,309

2009

368,737

2,77

1,24

2010

486,175

2,90

1,32

2011

500,989

2,76

1,03

2012

515,589

2,39

1,03

2013

638,444

2,53

1,24

2014

740,148

2,71

1,16

2015

755,281

2,63

1,02

2016

746,033

2,35

0,99

2017

805,723

2,2

1,08

2018

829,911

2,11

1,03

2019

506,960

1,45

-38,91

2020

633,700

1,57

25,00

2021

Vương Quốc Anh giai đoạn 2009 – 2021

Nguồn: Tính toán của tác giả từ nguồn dữ liệu của Trademap

3.2.2.5. Thị trường, Hàn Quốc và Trung Quốc

94

Hàn Quốc và Trung Quốc là các đối tác xuất khẩu lớn tiếp theo của

ngành dệt may Việt Nam. Cùng đà tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu giống

Hoa Kỳ và EU, song tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2007-2019 cao hơn tương

đối ở các thị trường Hàn Quốc và Trung Quốc, do đó, xuất khẩu dệt may của

Việt Nam đến các thị trường Hàn Quốc và Trung Quốc đã gia tăng thị phần

một cách đáng kể.

Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Hàn Quốc hiện

nay có kích cỡ thị phần và khối lượng gần tương đương với Nhật Bản nhưng

tốc độ tăng trưởng cao hơn so với Nhật Bản. Năm 2017, thị trường Hàn Quốc

chiếm 9.75% thị phần xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam với gần 3.1 tỷ

USD; Năm 2019, cả thị phần và giá trị xuất khẩu vào Hàn Quốc đều tăng, lần

lượt chiếm 10.26% thị phần và đạt hơn 4.0 tỉ USD. Đến năm 2020 và 2021,

kim ngạch xuất khẩu dệt may cảu Việt Nam sang Hàn Quốc lần lượt đạt

2,85tyr USD và 2,95 tỷ USD. Tương tự như các thị trường khác, do ảnh

hưởng của đại dịch covid-19, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam

sang thị trường này cũng giảm sút so với 2019. Tuy nhiên, nếu so sánh với

con số của năm 2009 chỉ là 2,64% thị phần với gần 0,24 tỷ USD, cho thấy sự

phát triển ấn tượng của dệt may Việt Nam tại thị trường Hàn Quốc.

Trong số các đối tác lớn nhất về xuất khẩu dệt may của Việt Nam, Trung

Quốc là thị trường tăng trưởng ấn tượng nhất cả về giá trị và thị phần. Theo số

liệu thống kê của UN Comtrade, năm 2005 kim ngạch xuất khẩu dệt may của

Việt Nam sang Trung Quốc chỉ đạt 49,62 triệu USD, con số này năm 2007

tăng lên là 89,82 triệu USD. Tuy nhiên, số liệu của Tổng cục Hải quan về

xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Trung Quốc những năm tiếp theo cho

thấy sự gia tăng theo cấp số nhân. Theo đó nếu như năm 2013 xuất khẩu dệt

may của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc chỉ dừng ở mức 0,36 tỷ USD

chiếm 1,79% thị phần, thì con số này đã lên thành 3,45 tỷ USD với 10,85%

thị phần trong năm 2017 và đạt 4,25 tỉ USD chiếm 10,9% thị phần năm 2019.

Đến năm 2020, do ảnh hưởng của chính sách đóng cửa biên giới cũng như các

chính sách hạn chế khác nhằm đối phó với dịch bệnh, kim ngạch xuất khẩu

95

dệt may của Việt Nam sang Trung Quốc, chỉ bằng 32% so với năm 2019. Tuy

nhiên, đến năm 2021, xuất khẩu dệt may sang Trung Quốc đang tăng trưởng

mạnh đạt 4,46 tỷ USD , tăng hơn 3,2 lần so với năm 2020. Hiện tại, đây là thị

trường lớn thứ hai của dệt may Việt Nam, chỉ sau thị trường Mỹ.

Cơ cấu xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Trung Quốc cũng cho thấy

Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng xơ sợi, trong đó các mặt hàng may

mặc chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm ngành

dệt may của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc. Cơ cấu xuất khẩu các mặt

hàng may mặc (sản phẩm cuối của ngành dệt may) sang Trung Quốc chiếm tỷ

lệ nhỏ, ngược lại với bức tranh thương mại sôi động của ngành dệt may giữa

Việt Nam và Trung Quốc xuất phát từ nguyên nhân cả hai quốc gia cùng có

lợi thế so sánh về sản phẩm cuối của ngành dệt may, là đối tác cạnh tranh trực

tiếp trên trường quốc tế đối với ngành hàng may mặc. Thực tế này cũng cho

thấy bức tranh phụ thuộc tương đối của ngành dệt may Việt Nam vào thị

trường Trung Quốc, không chỉ là thị trường đầu ra cho ngành dệt may mà còn

là nguồn cung đầu vào cho toàn ngành dệt may nói chung và xuất khẩu dệt

may nói riêng (Le và cộng sự, 2019; Nayak, Akbari and Far, 2019).

Bảng 3.5: Top 10 thị trường xuất khẩu dệt may của Việt Nam năm 2021

Kim ngạch (tỷ Tăng trưởng so với Tỷ trọng (%) Thị trường năm 2016 (%) USD)

16,09 Hoa Kỳ 7,14 39,32

3,7 EU 6,46 12,56

4,46 Trung Quốc 25,57 10,84

3,23 Nhật Bản 8,56 10,44

2,95 Hàn Quốc 15,57 9,76

0,55 Campuchia 33,6 1,74

0,57 Canada 7,02 1,81

0,49 Hồng Kong 3,67 1,55

0,33 Đài Loan -1,18 1,05

0,42 Indonesia 30,70 1,31

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ dữ liệu của Tổng cục Hải Quan. 96

Tóm lại, xuất khẩu dệt may Việt Nam ghi nhận sự tăng trưởng liên tục,

các thị trường chính đều chứng kiến sự tăng trưởng tốt. Trong đó, xuất khẩu

các sản phẩm của ngành dệt may đến thị trường Hoa Kỳ giai đoạn 2009 –

2019 có sự tăng trưởng liên tục và chiếm tỷ trọng bình quân trên 40% trong

tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Năm 2020 xuất khẩu dệt

may bị suy giảm nhẹ do ảnh hưởng của đại dịch covid-19, nhưng lại tiếp tục

tăng cao vào năm 2021 với 16,09 tỷ USD (Bảng 3.6)

Bảng 3.6: Xuất khẩu dệt may của Việt Nam đến một số thị trường

chính giai đoạn 2009-2021 (tỷ USD)

Hoa Kỳ EU Nhật Bản Hàn Quốc Trung Quốc Năm XK TT XK TT XK TT XK TT XK TT

2009 4,50 49,45 1,60 17,58 0,95 10,44 0,24 2,64 - -

2010 6,12 54,64 1,88 16,79 1,15 10,27 0,72 6,43 - -

2011 6,87 43,48 2,51 15,89 1,68 10,63 1,19 7,53 - -

2012 7,43 43,71 2,36 13,88 1,96 11,53 1,30 7,65 - -

2013 8,61 42,84 2,73 13,58 2,38 11,84 1,64 8,16 0,36 1,79

2014 9,82 46,99 3,40 16,27 2,62 12,54 2,09 10,00 0,47 2,25

2015 10,96 48,07 3,68 16,14 2,79 12,24 2,13 9,34 0,67 2,94

2016 11,70 41,64 3,80 13,52 3,10 11,03 2,70 9,61 2,80 9,96

2017 12,50 39,31 3,99 12,55 3,30 10,38 3,10 9,75 3,45 10,85

2018 13,7 44,9 4,11 13,4 3,81 12,5 3,30 10,8 1,54 5,1

2019 15,2 38,97 4,4 11,28 4,2 10,77 4,0 10,26 4,25 10,9

2020 13,99 46,93 3,07 10,3 3,53 11,84 2,85 9,56 1,37 4,59

2021 16,09 39,82 3,70 9,16 3,23 7,99 2,95 7,3 4,46 11,04

https://infographics.vn/interactive-xuat-khau-det-may-cua-viet-nam-

vao-hoa-ky-tang-truong-cao-nhat-trong-vong-10-nam/73952.vna

Ghi chú: NK: Giá trị xuất khẩu; TT: Thị phần xuất khẩu (%)

97

Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả từ Tổng cục Hải Quan, 2022.

Không những đứng trong TOP đầu kim ngạch xuất khẩu với 40,4 tỷ

USD năm 2021, chiếm 12% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, dệt may còn

là ngành xuất siêu lớn của Việt Nam, với 16,2 tỷ USD năm 2021 và 11 tỷ

USD 7 tháng năm 2022.Trong đó, Hoa Kỳ luôn dẫn đầu trong kim ngạch xuất

khẩu của ngành dệt may Việt Nam, chiếm gần 42% (năm 2021), tiếp theo là

Trung Quốc (11,04%), Hàn Quốc (9,05%), Nhật Bản (8,58%), EU

(8,56%)...Tính trong 10 tháng đầu năm 2022, ngành dệt may Việt Nam đã đạt

37,9 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 17,2% so với cùng kỳ; xuất khẩu sang

66 quốc gia, vùng lãnh thổ với 47-50 mặt hàng khác nhau, trong đó, Mỹ vẫn

chiếm tỷ trọng lớn nhất với 42%, tiếp đến là Trung Quốc 11%, Nhật Bản và

Hàn Quốc cùng chiếm 9%...(Bảng 3.2)

3.2.3. Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu

Như đã trình bày ở phần trên, ngành sản xuất dệt may của Việt Nam tập

trung chủ yếu ở lĩnh vực sản xuất dệt may, đúng hơn là ở công đoạn cắt và

may, trong khi đó sản xuất các loại xơ sợi (nguyên liệu đầu vào cho sản xuất

dệt may) chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong sản xuất của toàn ngành

(Nguyen, 2016; Phan, Doan và Nguyen, 2020). Do đó, cơ cấu mặt hàng xuất

khẩu của ngành dệt may Việt Nam cũng chủ yếu tập trung và các sản phẩm

dệt may.

Số liệu công bố bởi Tổng cục Hải Quan cho thấy trong năm 2013 tỷ

trọng xuất khẩu các sản phẩm dệt may chiếm hơn 89.3%, trong khi đó, xuất

khẩu các sản phẩm xơ sợi chỉ chiếm khoảng 10.7% trong tổng kim ngạch xuất

khẩu của Việt Nam. Cũng theo số liệu từ Tổng cục Hải Quan, năm 2017 tỷ

trọng xuất khẩu các sản phẩm dệt may giảm xuống còn 81.89%, trong khi đó,

xuất khẩu các sản phẩm xơ sợi và nguyên phụ liệu khác tăng lên 11.3% trong

tổng xuất khẩu toàn ngành. Số liệu từ Bộ Công thương (2019) cho thấy năm

2018 và 2019 ngành hàng may mặc tuy có giảm nhẹ nhưng tiếp tục chiếm tỷ

lệ tuyệt đối trong tổng xuất khẩu toàn ngành dệt may của Việt Nam.

Về cơ cấu các sản phẩm dệt may xuất khẩu, chiếm tỷ trọng lớn nhất

98

trong giai đoạn 2009-2021 là áo jacket, kế đến là áo thun và quần, tiếp là áo

sơ mi, váy và quần áo trẻ em (Bộ Công thương, 2019). Số liệu thống kê từ

VITAS cho thấy năm 2013 xuất khẩu sản phẩm áo jacket chiếm 21.6% thị

phần xuất khẩu các sản phẩm dệt may, tiếp đến là áo thun với 20.9% và quần

với 16.8%. Trong khi đó, Áo sơ mi, váy và quần áo trẻ em chiếm tỷ lệ thấp

99

hơn lần lượt 5.7%, 5.5% và 5.0%.

Bảng 3.7. Thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 2020

Thị trường Kim ngạch XK Tăng/ giảm so Tỷ trọng trong

2020 (Triệu với năm 2019 XK dệt may cả

nước (%) USD) (%)

Tổng 29.809 -9,21 100

Hoa Kỳ 13.987 - 5,77 46,92

Khu vực EU 3.075 -11,7 10,32

Nhật Bản 3.531 -11,40 11,85

Hàn Quốc 2.855 -14,82 9,58

Trung Quốc 1.368 -14,09 4,59

Khu vực ASEAN 1.346 -7,56 4,55

Canada 793 -2,03 2,66

Đài Loan 271 -6,35 0,91

Australia 248 -2,74 0,83

Nga 242 -4,69 0,81

0,77 Hồng Kông (Trung 229 -20,51

Quốc)

Chile 94 -35,70 0,32

Mexico 88 -27,32 0,30

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải Quan

Năm 2020, cơ cấu xuất khẩu mặt hàng dệt may có sự thay đổi lớn. Các

mặt hàng truyền thống như áo jacket, quần, áo các loại và các loại quần áo

thời trang, hàng cao cấp đều giảm xuống. Do đại dịch Covid-19 lan rộng trên

toàn cầu từ đầu quý II/2020, nhu cầu mua sắm thời trang trên thế giới đã giảm

mạnh, nhường chỗ cho các mặt hàng thiết yếu, các mặt hàng phòng chống

dịch bệnh. Các doanh nghiệp Việt Nam đã xoay chuyển từng bước để đáp ứng

nhu cầu tiêu dùng của thế giới và duy trì sản xuất, xuất khẩu giữ chân người

100

lao động qua việc chuyển sang sản xuất và tăng xuất khẩu các nhóm hàng cần

thiết cho phòng chống dịch và sản phẩm sử dụng nhiều trong nhà để bù đắp

lượng đơn hàng xuất khẩu truyền thống thiếu hụt gồm: Khẩu trang đạt khoảng

817 triệu USD; đồ bảo hộ lao động đạt 757 triệu USD (tăng 283%, tương

đương 559 triệu USD); màn, rèm, thảm đạt 415 triệu USD (tăng 3,7%, tương

đương 15 triệu USD); quần áo ngủ đạt 222 triệu USD (tăng 12,5%, tương

đương 25 triệu USD); quần áo y tế đạt 161 triệu USD (tăng 17,5%, tương

đương 23 triệu USD).

Bảng 3.8: Một số chủng loại hàng dệt may xuất khẩu năm 2020

Chủng loại Năm 2020 (triệu Tăng/ giảm so với năm

USD) 2019 (%)

Khẩu trang 817 -

Đồ bảo hộ lao động 757 283

Màn, rèm, thảm 415 3,66

Quần áo ngủ 222 12,5

Quần áo y tế 161 17,5

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan

Về xơ, sợị dệt các loại: Xuất khẩu sợi đạt 3,74 tỷ USD, giảm 10,5% về

giá trị nhưng tăng 1,2% về số lượng so với năm 2019. Giá xuất khẩu bình

quân năm đạt khoảng 2.150 USD/tấn, giảm 11,6% so với năm 2019.

Xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt gần 1,2 triệu tấn, tương đương

2,7 tỷ USD, tăng 5,1% về số lượng nhưng giảm 7,2% về trị giá.

Năm 2020 là năm khó khăn cho ngành xơ sợi, ngoài việc phải chịu tác

động tiêu cực từ đại dịch toàn cầu, ngành xơ sợi còn phải chịu ảnh hưởng do

các vụ việc điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại từ các

nước nhập khẩu. Trong năm 2020, ngành xơ sợi đã bị Hoa Kỳ và Ấn Độ tiến

hành điều tra chống bán phá giá và Thổ Nhĩ Kỳ điều tra tự vệ toàn cầu.

Từ cuối năm 2020, hầu hết các doanh nghiệp xơ sợi đều không có đơn

hàng mới từ thị trường Trung Quốc hoặc khách trả giá thấp. Các thị trường

khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Đài Loan

101

tuy vẫn có đơn hàng nhưng số lượng rất ít, đồng thời giá bán vẫn theo xu

hướng giảm và chưa có dấu hiệu phục hồi. Nguyên nhân do sự cạnh tranh về

giá từ các đối thủ, có dấu hiệu phá giá để tránh tồn kho, đồng thời

Trung Quốc bán ra thị trường lượng bông dự trữ với số lượng lớn khiến giá

bông giảm mạnh.

Xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ giảm do tác động tiêu cực từ các vụ việc

áp thuế chống lẩn tránh đối với sợi POY và chống bán phá giá đối với sợi dún

polyester và sợi nhân tạo. Đây cũng là thị trường áp dụng biện pháp phòng vệ

thương mại nhiều nhất đối với Việt Nam.

3.3. Nhận xét, đánh giá về thực trạng xuất khẩu dệt may Việt Nam

3.3.1. Những thành công đã đạt được

3.3.1.1. Về kim ngạch xuất khẩu

Nhìn tổng thể về tình hình xuất khẩu ngành dệt may trong những năm

gần đây thấy rằng, tăng trưởng trong xuất khẩu dệt may biến động theo xu

hướng xuất khẩu chung của cả nước. Mặt hàng may Việt Nam lần đầu tiên

vượt kim ngạch xuất khẩu vào năm 2019 và lần đầu tiên vượt ngưỡng 40 tỷ

USD vào năm 2020 mặc dù phải vật lộn chống dịch Covid-19.

Tính chung trong giai đoạn 2009 - 2021 mặc dù có một số biến động của

thị trường thế giới ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam như:

Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung; Đại dịch Covid-19, nhưng kim ngạch

xuất khẩu dệt may của Việt Nam nhìn chung vẫn duy trì mức tăng trưởng cao.

Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2009 -2019 đạt 16,1%. Trong giai đoạn từ

2020 đến nay, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dệt may là -10,26% do ảnh

hưởng của đại dịch Covid-19. Bước sang năm 2021 xuất khẩu dệt may của

Việt Nam có xu hướng hồi phục, đạt 40,4 tỷ USD tăng 15,43% so với 2020 và

tăng nhẹ so với năm 2019.

Có được kết quả trên là do ngành dệt may Việt Nam đã và đang nỗ lực

không ngừng để bắt kịp với xu hướng thế giới. Trong đó, nổi bật nhất là sự

chủ động của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã chủ

động nâng cao năng lực sản xuất; nâng cao trình độ tay nghề; chuyển hướng

102

sản xuất từ hình thức chỉ nhận gia công sang hình thức tự chủ nguồn nguyên

liệu, tự thiết kế và hoàn thành sản phẩm. Đặc biệt, việc các doanh nghiệp tiếp

tục đầu tư vào thiết bị, công nghệ tự động hóa cũng là một trong những yếu tố

góp phần tạo nền tảng để ngành dệt may chống chịu được những áp lực của

thị trường về chất lượng, về điều kiện cần phải giao hàng nhanh,…

Các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may đã bước đầu tận dụng có hiệu quả

các lợi thế từ các FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến

bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt

Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)… Bên cạnh đó, ngành dệt may đã tận

dụng được lợi thế lao động dồi dào, có kỹ năng và tay nghề, cùng vị trí địa lý

thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài.

Từ năm 2016, ngành dệt may xuất khẩu tạo ra một giá trị gia tăng 14,4

tỷ USD, đến năm 2019 đã lên tới gần 20 tỷ USD. Điều này giúp tạo ra giá trị

gia tăng trên lãnh thổ Việt Nam, trong khi ngành dệt may xuất khẩu giữ vững

ở mức độ 51% trong tổng hàng xuất khẩu trong 4 năm vừa qua. Đó là nỗ lực

rất lớn của ngành dệt may.

Bên cạnh đó, chất lượng của ngành dệt may đã nâng lên, phân khúc

ngành dệt may ngắm đến các thị trường ngoài đã có sự thay đổi rõ rệt. Hàng

dệt may xuất khẩu của Việt Nam ta là hàng trung bình và trung bình khá. Yếu

tố này có ý nghĩa rất to lớn đối với giá trị gia tăng của ngành.

3.3.1.2. Về thị trường xuất khẩu

Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam (2020) như đã nêu

trên cho thấy, thị trường xuất khẩu các sản phẩm dệt may của Việt Nam ra thị

trường thế giới đã được mở rộng tới 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy

nhiên, giá trị xuất khẩu dệt may Việt Nam chủ yếu vẫn tập trung vào 5 đối tác

chủ lực là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.

Nhìn chung, thị trường xuất khẩu của ngành dệt may đã có sự đa dạng

hóa tương đối rộng, cụ thể, trong thời kỳ 2016-2019, tổng kim ngạch xuất

khẩu vào Hoa Kỳ tăng 30%, vào EU tăng được 25%, vào thị trường các nước

CPTPP tăng 53%, Trung Quốc tăng 58,4% và thị trường ASEAN tăng 76%.

103

Điều đó cho thấy, trong những năm qua, ngành dệt may đã hết sức nỗ lực để

đa dạng hóa thị trường. Cơ cấu thị trường đã có sự dịch chuyển. Nếu giữ được

đà này, trong thời gian tớicơ cấu xuất khẩu thị trường dệt may sẽ tiếp tục đa

dạng hơn.

Nhìn chung, trong thời gian qua, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và

Trung Quốc sẽ có sự xáo trộn nhất định về cơ cấu tỷ trọng thị phần nhưng vẫn

duy trì là các thị trường xuất khẩu lớn nhất các sản phẩm dệt may của Việt

Nam trong thời gian tới (Bộ Công thương, 2019; Sacombank, 2020). Trong

bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới các thị trường

như Hoa Kỳ và EU được kỳ vọng sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian tới.

Ngoài ra, nhờ công tác khống chế dịch bệnh hiệu quả đã giúp Việt Nam

là nước duy nhất trong top 5 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới không

bị cách ly và không bị dừng sản xuất cũng đã góp phần giúp ngành dệt may

Việt Nam giữ vững được thị phần tại các thị trường xuất khẩu lớn

3.3.3. Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu

Ngoài các sản phẩm dệt may truyền thống thì các mặt hàng có giá trị

tăng cao như: vải, xơ sợi, vải địa kỹ thuật, phụ liệu dệt may cũng có sự tăng

trưởng rất tốt. Tuy nhiên, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng này

trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành vẫn chưa cải thiện nhiều, dù

giá trị tuyệt đối cũng tăng trưởng khá cao.

Hàng may mặc vẫn là nhóm hàng có tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu lớn

nhất và mang tính chi phối chiếm trên 83% đối với toàn ngành dệt may Việt

Nam trong thời gian qua và những năm tiếp theo.

Cơ cấu chủng loại hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam trong giai

đoạn 2016 – 2019 tương đối ổn định với một số chủng loại chính như áo thun,

áo Jacket, quần, quần áo trẻ em, vải, áo sơ mi, đồ lót… Đáng chú ý, trong giai

đoạn này, một số chủng loại có tốc độ tăng trưởng bình quân rất cao như quần

áo trẻ em, vải, đồ lót, quần áo bảo hộ lao động, áo len, quần áo bơi… những

mặt hàng may mặc thông thường, có tính tiện dụng cao sẽ là những mặt hàng

có triển vọng xuất khẩu cao, đặc biệt là trong giai đoạn dịch Covid-19 bùng

104

phát, tỷ trọng xuất khẩu những mặt hàng này càng có xu hướng tăng nhanh.

Như vậy, với xu hướng dịch chuyển xuất khẩu do căng thẳng trong

quan hệ thương mại Mỹ - Trung Quốc, việc tham gia sâu rộng vào các Hiệp

định Thương mại thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, UKVFTA và bản thân nội

tại của ngành sản xuất dệt may không ngừng được nâng cấp, cải thiện sẽ tạo

cơ hội cho hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục mở rộng thị phần

trên thị trường thế giới.

Giai đoạn 2020 đến nay, đứng trước những thách thức và đòi hỏi của

thị trường, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã nhanh nhạy nắm bắt được

sự thay đổi này, từng bước xoay chuyển để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thế

giới và duy trì sản xuất. Điều này đã làm thay đổi lớn cơ cấu xuất khẩu mặt

hàng dệt may của Việt Nam. Các mặt hàng truyền thống như: Áo jacket, quần,

áo các loại và các loại quần áo thời trang, hàng cao cấp đều giảm xuống

nhường chỗ cho các mặt hàng thiết yếu, các mặt hàng phòng chống dịch bệnh.

Tóm lại, trong những năm vừa qua, đặc biệt là những năm 2020, 2021

cho thấy sức chống chịu của ngành dệt may Việt Nam rất cao. Trong đại dịch

covid ngành dệt may đã linh hoạt và kịp thời chuyển đổi sang các mặt hàng

thay thế để đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động. Điều đó cho thấy,

ngành dệt may đã trưởng thành, hết sức linh hoạt và có đủ sức để chống chọi

với các cú sốc. Ngành dệt may đã rất thành công trong giai đoạn 2016-2020,

đặc biệt trong việc phòng chống dịch bệnh và duy trì sản xuất năm 2020. Sự

thành công này có dấu ấn của Hiệp hội VITAS, khi có nhiều kiến nghị gửi

đến Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành báo cáo tác động của dịch bệnh và

chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, tháo gỡ vướng mắc về xuất khẩu thời

trang, liên kết các doanh nghiệp…

3.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân

3.3.2.1. Mạng lưới doanh nghiệp nhỏ, xuất khẩu phụ thuộc lớn vào khối FDI

Xuất khẩu ngành hàng dệt may hiện nay của Việt Nam vẫn phụ thuộc

vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Có một thực tế đáng buồn là

mặc dù số lượng doanh nghiệp dệt may nội địa gia tăng nhanh hơn về số

105

lượng so với doanh nghiệp dệt may có vốn đầu tư nước ngoài nhưng xuất

khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn

hơn, duy trì hơn 55% trong giai đoạn 2010-2017 (Bộ Công thương, 2017;

Nguyệt A. Vũ, 2014). Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, tính đến năm 2017,

Việt Nam có hơn 5.200 doanh nghiệp dệt may và phần lớn là các doanh

nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (dưới 500 lao động). Số liệu đưa ra bởi VCCI

(2017) cho thấy trong tổng số hơn 5.200 doanh nghiệp dệt may thì có đến

70% là các doanh nghiệp may, 17% là doanh nghiệp dệt/đan, chỉ 6% là các

doanh nghiệp se sợi và 3% là các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ. Trong

khi đó, 84% các doanh nghiệp dệt may là doanh nghiệp tư nhân, 15% là

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 1% là doanh nghiệp nhà nước, tuy

nhiên năm 2016 khối doanh nghiệp FDI chiếm tới 57.7% tổng kim ngạch xuất

khẩu ngành hàng dệt may của Việt Nam, con số này năm 2017 là gần 57.86%

(Bộ Công thương, 2018). Như vậy, sự manh mún trong sản xuất cùng sự phụ

thuộc quá lớn vào các doanh nghiệp FDI một mặt không chỉ cho thấy thực tế

các doanh nghiệp dệt may trong nước còn non yếu, chưa thực sự đủ tiềm lực

để làm trụ đỡ vững chắc cho toàn ngành dệt may cũng như động lực thúc đẩy

xuất khẩu các sản phẩm dệt may của cả nước, và đặc biệt sẽ gặp rất nhiều khó

khăn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất các sản phẩm dệt may theo

các yếu tố thâm dụng vốn, kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm giá trị gia tăng

cao. Số liệu mới nhất từ VINTAS năm 2020 cho biết, tốc độ tăng trưởng số

lượng doanh nghiệp hoạt động ngành dệt may của Việt Nam là rất đáng khích

lệ, tăng lên hơn 6000 doanh nghiệp năm 2019, tuy nhiên VINTAS cũng thừa

nhận rằng mặc dù có sự gia tăng về số lượng nhưng số lượng doanh nghiệp

dệt may trở thành các doanh nghiệp lớn vẫn còn rất hạn chế và khiêm tốn.

Bên cạnh đó, sự phụ thuộc lớn vào các doanh nghiệp FDI trong xuất khẩu

cũng chỉ ra thực tế đáng buồn rằng quá trình hội nhập và tham gia vào chuỗi

sản xuất dệt may toàn cầu của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn tương đối

yếu. Cuối cùng, một thực tế nhức hối vẫn tồn tại trong chiến lược thu hút FDI

của Việt Nam là phần lợi nhuận có được nhờ xuất khẩu dệt may không được

106

tái đầu tư ngành, không đóng góp nhiều cho cải thiện an sinh xã hội mà được

chuyển về các quốc gia nguồn (Phùng Thị Quỳnh Trang, 2017; Nguyễn Văn

Quang, 2020; Ho and Watanabe, 2020).

3.3.2.2. Thiếu chủ động nguồn cung đầu vào cho sản xuất phục vụ xuất khẩu

Việt Nam đã và đang nhận thức được tầm quan trọng của việc chủ động

nguồn nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất dệt may, do đó, trong các chiến

lược sản xuất và thu hút FDI đối với ngành dệt may, sản xuất nguyên phụ liệu

được đặc biệt chú ý coi trong. Tuy nhiên, có một thực tế rằng sản xuất dệt

may của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu.

Vải và các nguyên phụ liệu phục vụ cho xuất khẩu của ngành hàng dệt may

của Việt Nam phần lớn nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan.

Năm 2021, tổng kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng nguyên phụ liệu

dệt may và giày dép là 26,37 tỉ đô la Mỹ, tăng 22,4%, tương ứng tăng 4,83 tỉ

đô la so với năm 2020.Các quốc gia và lãnh thổ nhập khẩu chủ yếu trong năm

2021 cũng là Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ và ASEAN. Riêng 5 thị

trường chủ lực nêu trên đạt 21,44 tỉ đô la, chiếm 81% tổng kim ngạch nhập

khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da, giày của cả nước trong năm 2021.

https://thesaigontimes.vn/ty-trong-nhap-nguyen-phu-lieu-det-may-va-da-giay-

107

tu-trung-quoc-tiep-tuc-tang-cao/.

Hình 3.1: Nhập khẩu nguyên phụ liệu và xuất khẩu dệt may của Việt

Nam (tỷ USD)

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải Quan, 2022

Theo VCCI (2021), tỉ lệ nguyên phụ liệu sản xuất trong nước chỉ mới

đáng ứng hơn một nửa, phần còn lại phụ thuộc lớn vào nguồn hàng nhập

khẩu. Trong khi đó, theo VINTAS mặc dù tỉ lệ nhập khẩu nguyên phụ liệu

cho ngành dệt may phát đi nhiều tín hiệu tích cực, tuy nhiên Việt Nam tính

đến năm 2021 vẫn phải nhập khẩu hơn 40% nguyên phụ liệu từ nước ngoài.

Cần phải nhấn mạnh rằng, có đến 70% lượng vải nhập khẩu được sử dụng

làm nguyên liệu cho may xuất khẩu, có nghĩa là xuất khẩu dệt may phụ thuộc

rất lớn vào nguồn nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài. Số liệu thống kê của

Tổng cục Hải quan cho thấy, năm 2009 Việt Nam chi gần 6.4 tỷ USD để nhập

khẩu nguyên phụ liệu phục vụ cho quá trình sản xuất của ngành dệt may trong

nước, con số này đã tăng lên gần gấp đôi sau 5 năm đạt mức 11.4 tỷ USD năm

2012, và liên tục tăng vào các năm tiếp theo. Cho đến năm 2021, kim ngạch

nhập khẩu nguyên phụ liệu cho ngành dệt may xuất khẩu đã lên tới 26,37 tỷ

USD, chiếm hơn 65% tổng kim ngạch xuất khẩu cảu ngành dệt may.

Về quy mô của doanh nghiệp dệt may xuất khẩu. Số liệu từ Bộ Công

108

thương (2020) cho biết trong tổng số hơn 8.450 doanh nghiệp dệt may có đến

hơn 85% là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ (vốn đầu tư dưới 50

tỷ đồng), hơn 12% là các doanh nghiệp có quy mô trung bình (quy mô vốn

dưới 500 tỷ đồng), và chỉ có chưa đến 3% là các doanh nghiệp có quy mô vốn

hơn 500 tỷ đồng. Trong khi đó, suất đầu tư tiêu chuẩn cho một nhà máy sản

xuất vải có sản lượng 10 triệu m/năm là 700 tỷ đồng. Điều này đồng nghĩa với

việc đầu tư cho sản xuất nguyên phụ đầu vào vượt ngoài khả năng của hầu hết

các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may ở Việt Nam hiện nay.

Xét ở khía cạnh tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu trên tổng giá trị xuất khẩu

của toàn ngành dệt may Việt Nam, tính toán trên số liệu của Tổng cục Hải

quan cho thấy tỷ lệ này có xu hướng giảm trong suốt giai đoạn 2007-2019.

Tuy nhiên tỷ lệ này lại tăng lên vào năm 2021. Trong bối cảnh sản phẩm dệt

may của Việt Nam chủ yếu phục vụ xuất khẩu, tỷ lệ nhập khẩu nguyên phụ

liệu trên tổng giá trị xuất khẩu ngành cao cho thấy thực tế là Việt Nam được

hưởng lợi ích tương đối nhỏ trong thành tựu của xuất khẩu dệt may, do phải

khấu trừ phần lớn chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu. Có một điếm sáng trong

bức tranh cần được chú ý là trong bối cảnh hình thành các FTA thế hệ mới, đó

là tỷ lệ nguyên phụ liệu nhập khẩu trên xuất khẩu đã giảm đi một cách đáng

kể, chứng tỏ các doanh nghiệp trong nước đang có xu hướng chuyển mình

đón đầu cơ hội mới khi các FTAs thế hệ mới có hiệu lực. Điều này cũng có

thể nhận định việc đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành dệt may ở trong

nước đang được chú trọng hơn kể từ khi các Hiệp định FTAs thế hệ mới được

hình thành (Bộ Công thương, 2021; VCCI, 2021). Theo thông tin từ Bộ Công

thương giai đoạn hình thành các FTAs thế hệ mới cũng là giai đoạn các doanh

nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư mạnh mẽ hơn vào

sản xuất sợi với quy mô lớn và công nghệ hiện đại hơn (Bộ Công thương,

109

2022).

Hình 3.2: Tỷ lệ nguyên phụ liệu nhập khẩu trên xuất khẩu của ngành dệt

may Việt Nam

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải Quan, 2022.

3.3.2.3. Giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

Trong chuỗi giá trị ngành dệt may, Việt Nam mới chỉ tham gia ở những

khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp, do đó, việc các doanh nghiệp trong nước tự

thiết kế, sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm của riêng mình gần như chiếm tỷ

lệ rất nhỏ (Đỗ Thị Đông, 2011; Lê Xuân Sang và Nguyễn Thị Thu Huyền,

2011; Nadvi et al., 2004; Trương Hồng Trình, 2010). Cơ cấu xuất khẩu ngành

hàng dệt may của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào phương thức CMT (gia

công hoàn toàn theo mẫu thiết kế và nguyên phụ liệu do khách hàng cung

cấp) chiếm tới hơn 85% tổng kim ngạch xuất khẩu; trong khi đó tỷ trọng xuất

khẩu theo phương thức FOB (gia công theo mẫu thiết kế do khách hàng cung

cấp, doanh nghiệp gia công chủ động nguyên phụ liệu đầu vào) chỉ chiếm

13%, và đặc biệt phương thức ODM (doanh nghiệp tự thiết kế, sản xuất và

xuất khẩu theo thương hiệu riêng của mình) chỉ chưa tới 2% (Nguyệt A. Vũ,

2014; VCCI, 2017). Một thực tế đáng buồn nữa là việc các doanh nghiệp dệt

may của Việt Nam cũng chưa tiếp cận được với các khách hàng là các công ty

có các kênh phân phối, bán lẻ sản phẩm và có thương hiệu riêng ở các thị

110

trường xuất khẩu chính như Hoa Kỳ và EU, nguồn hàng xuất khẩu của Việt

Nam phụ thuộc lớn vào các công ty dịch vụ làm trung gian, chủ yếu đến từ

Đài Loan, Hàn Quốc hay Hồng Kông (Bộ Công thương, 2019; Phùng Thị

Quỳnh Trang, 2017). Trong bối cảnh các nhiều hiệp định FTA thế hệ mới sắp

có hiệu lực, phương thức xuất khẩu này của Việt Nam sẽ tác động tiêu cực tới

bức tranh chung của ngành dệt may, mà trực tiếp là lợi ích có được của các

doanh nghiệp xuất khẩu dệt may.

Hình 3.3: Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may

Nguồn: Thiết kế của tác giả dựa trên dữ liệu của Kenta (2012)

Đối với sản xuất các sản phẩm ngành hàng dệt may, các doanh nghiệp

của Việt Nam phần lớn chỉ tham gia trong chuỗi cung ứng dệt may (cắt và

may), và hầu như chưa tham gia sâu vào các khâu thiết kế, quảng bá sản phẩm

và phân phối, điều này được thể hiện rõ ở con số 75% kim ngạch xuất khẩu

của ngành là sản phẩm gia công, 22% là sản phẩm thông thường và chỉ 3% là

các sản phẩm khác (Bộ Công thương, 2017; Nguyệt A. Vũ, 2014; VCCI,

111

2017). Số liệu công bố của VCCI (2017) cũng cho thấy giá trị gia tăng của

ngành hàng dệt may của Việt Nam chỉ quang ngưỡng 5-10%, trong khi đó chỉ

số năng xuất lao động của Việt Nam chỉ đạt 2.4 thấp tương đối so với các

quốc gia trong khu vực như Trung Quốc là 6.9 và Indonesia là 5.2. Như vậy,

trong bối cảnh thực hiện các FTA thế hệ mới khi yêu cầu cao hơn về chất

lượng nguyên phụ liệu dùng để sản xuất thành phẩm dệt may, sự khắt khe về

tính thân thiện với môi trường, các yêu cầu về nhãn mác, đồng thời tính cạnh

tranh cũng sẽ gia tăng, sự chuyển dịch cơ cấu ngành dệt may sẽ là một thách

thức không hề nhỏ đối với sự phát triển toàn ngành dệt may của Việt Nam nói

chung và xuất khẩu nói riêng.

3.4. Tác động của các FTA thế hệ mới tới kim ngạch xuất khẩu dệt may

của Việt Nam

Như đã nêu trên, cho đến nay, Việt Nam đã tham gia các FTA thế hệ

mới như CPTPP (có hiệu lực 14/1/2019); EVFTA (01/8/2020) và UKVFTA

(01/5/2021). Các cam kết về cắt giảm thuế quan, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn

kỹ thuật…liên quan đến hàng dệt may trong mỗi Hiệp định có những điểm

khác nhau và đã có những tác động nhất định tới xuất khẩu dệt may của Việt

Nam. Sau đây Luận án sẽ phân tích những cam kết cụ thể liên quan đến hàng

dệt may trong CPTPP, EVFTA, UKVFTA, từ đó đánh giá tác động từ những

cam kết này tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam.

3.4.1. Cam kết trong CPTPP và tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt

Nam

3.4.1.1. Các cam kết cụ thể liên quan đến hàng dệt may

a) Cam kết về cắt giảm thuế quan

Khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực toàn bộ sản phẩm dệt may của Việt

Nam xuất khẩu vào các nước CPTPP sẽ được giảm thuế sâu, thấp nhất là về

0%. Hiện tại, hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam chiếm 10% và da giày

chiếm 7% trong các nước CPTPP. Riêng hai mặt hàng này, nhờ lợi thế từ

Hiệp định CPTPP, các doanh nghiệp xuất khẩu đã có lợi thế về thuế quan từ

112

10-20% so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Ví dụ:

Nhật Bản có cam kết thuế quan với các mặt hàng dệt may của Việt

Nam như sau: Thuế suất đối với thị trường Nhật Bản vẫn duy trì mức ưu đãi

0% như đang được áp dụng dành cho các sản phẩm dệt may xuất khẩu của

Việt Nam hiện nay (Bộ Công Thương, 2015). Đồng thời, xóa bỏ thuế nhập

khẩu ngay khi CPTPP có hiệu lực với 1946/1975 (tương đương 98,5%) dòng

thuế dệt may của Việt Nam Cắt giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình 11 năm kể

từ khi Hiệp định có hiệu lực với 24/1975 dòng thuế thuộc các Chương 61, 62

(tơ tằm kén, các chi tiết của quần áo, tơ obi…) Giữ nguyên mức thuế MFN

với 5/1975 dòng thuế có mã HS 500100.010, 500200.211, 500200.215,

500200.216, 500200.217 thuộc 02 Phân nhóm kén tơ tằm và tơ tằm thô (chưa

xe).

Australia có cam kết thuế quan với các mặt hàng dệt may của Việt Nam

như sau: Thuế nhập khẩu hàng hóa dệt may từ Việt Nam sẽ áp dụng mức thuế

suất 5% trong ba năm đầu và lập tức giảm xuống 0% kể từ năm thứ tư trở đi

tính từ thời điểm Hiệp định có hiệu lực đối với các sảm phẩm thuộc phân loại

HS (6203, 6204 và 6206). Xóa bỏ thuế quan ngay khi CPTPP có hiệu lực với

745/911 (tương đương khoảng 81,8%) dòng thuế dệt may của Việt Nam. Cắt

giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình 3-4 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với

166 dòng thuế còn lại, cụ thể: Lộ trình 3 năm với 22/911 dòng thuế (quần áo

đồng bộ từ sợi tổng hợp, áo jacket và áo khoác thể thao, các loại áo ngủ và bộ

pyjama, bộ quần áo thể thao từ bông hoặc sợi tổng hợp…) Lộ trình 4 năm với

144/911 dòng thuế, chủ yếu thuộc các mặt hàng may mặc

New Zealand có cam kết thuế quan với các mặt hàng dệt may của Việt

Nam như sau: Xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi CPTPP có hiệu lực với

851/1045 (tương đương khoảng 81,4%) dòng thuế dệt may của Việt Nam Cắt

giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình 5-7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với

194 dòng thuế còn lại.

Canada có cam kết thuế quan với các mặt hàng dệt may của Việt Nam

như sau: Các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam vào Canada sẽ được

113

hưởng thuế suất 0% sau 3 năm, trong đó 42.9% kim ngạch xuất khẩu của Việt

Nam sẽ được miễn thuế vào năm đầu tiên và 57.1% kim ngạch sẽ có thuế suất

bằng 0% vào năm thứ 4. Đồng thời, xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi CPTPP

có hiệu lực với 1068/1203 (tương đương khoảng 88,8%) dòng thuế dệt may

của Việt Nam Cắt giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình 4-6 năm kể từ khi Hiệp

định có hiệu lực với 135 dòng thuế còn lại.

Cũng theo cam kết của CPTPP, xuất khẩu dệt may Việt Nam vào thị

trường Mexico và Peru sẽ được hưởng thuế suất 0% vào năm thứ 16 (VCCI,

2019)

b) Cam kết về quy tắc xuất xứ

Quy tắc xuất xứ về dệt may Quy tắc xuất xứ chủ đạo đối với hàng dệt

may trong CPTPP là “yarn-forward” (“từ sợi trở đi’), hay còn gọi là quy tắc

“ba công đoạn”. Quy tắc này được hiểu một cách chung nhất là tất cả các

công đoạn sản xuất hàng dệt may từ sợi trở đi, bao gồm (i) kéo sợi, dệt và

nhuộm vải; (ii) cắt và (iii) may quần áo phải được thực hiện trong nội khối

CPTPP. CPTPP chỉ chấp nhận 03 mặt hàng được áp dụng quy tắc “cắt và

may” là vali, túi xách; áo ngực phụ nữ; và quần áo trẻ em bằng sợi tổng hợp.

Ngoài ra, Chương Dệt may của CPTPP cũng quy định một số ngoại lệ và linh

hoạt đối với quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” (ví dụ nguyên tắc tỷ lệ tối thiểu,

các mã nguyên liệu thuộc danh mục nguồn cung thiếu hụt…).

Theo quy định của CPTPP thì các trường hợp sau đây vẫn được coi là

có xuất xứ CPTPP:

- Các sản phẩm dệt may ngoài các Chương từ 61 đến 63 không đáp ứng

được các quy tắc xuất xứ về chuyển đổi mã HS quy định trong Phụ lục A-

Chương 4 của Hiệp định, nhưng khối lượng các nguyên liệu không đáp ứng

được quy tắc chuyển đổi mã HS đó không vượt quá 10% tổng khối lượng của

sản phẩm;

- Các sản phẩm dệt may từ các Chương 61 đến 63 không đáp ứng được

các quy tắc xuất xứ về chuyển đổi mã HS quy định trong Phụ lục A-Chương 4

của Hiệp định, nhưng khối lượng của các nguyên liệu sợi không đáp ứng quy

114

tắc chuyển đổi mã số HS được dùng trong sản xuất ra thành phần quyết định

mã HS của sản phẩm dệt may đó có không vượt quá 10% tổng khối lượng của

thành phần thì sản phẩm dệt may đó. Chú ý là trong cả hai trường hợp trên,

nếu các sản phẩm dệt may chứa nguyên liệu là sợi đàn hồi (elastomeric yarn)

mà nguyên liệu này quyết định phân loại của sản phẩm thì sẽ sản phẩm đó chỉ

được coi là có xuất xứ nếu sợi đàn hồi đó được sản xuất toàn bộ trong khu

vực CPTPP.

c) Cam kết về hàng rào kỹ thuật

Hiệp định CPTPP cam kết về hàng rào kỹ thuật đối với dệt may được

quy định trong nội dung biện pháp tự vệ và hợp tác hải quan. Theo đó, Hiệp

định cho phép các quốc gia nhập khẩu tăng thuế trở lại nếu xuất khẩu của đối

tác trong khối có khả năng gây ra các thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành

sản xuất trong nước của nước nhập khẩu. Tuy nhiên, khi thực hiện biện pháp

tự vệ này, các quốc gia áp dụng biện pháp tự vệ phải có các biện pháp đền bù

tổn thất về kinh tế tương thích mà quốc gia xuất khẩu phải gánh chịu do

không được hưởng mức thuế suất ưu đãi như cam kết trong Hiệp định (Bộ

Công Thương, 2015). Bên cạnh đó, Hiệp định cũng quy định rằng các quốc

gia thành viên có trách nhiệm và nghĩa vụ hợp tác hải quan để chống các hành

vi gian lận hưởng lợi từ chính sách ưu đãi thuế quan nhằm phòng chống gian

lận thương mại.

3.4.1.2. Tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam

Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

(CPTPP) đã tạo ra bước đột phá cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam nói

chung và xuất khẩu dệt may nói riêng. CPTPP là khu vực có quy mô thị

trường lớn với GDP năm 2017 đạt 10,275 tỷ USD (chiếm 13% toàn cầu) và

dân số đạt 506 triệu người (chiếm 7% toàn cầu). Đối với lĩnh vực dệt may,

CPTPP là khu vực thị trường lớn thứ 2, chỉ sau Mỹ (47%). Canada, Nhật Bản,

Mexico, Australia, New Zealand, Singapore là các quốc gia phụ thuộc lớn vào

hàng dệt may nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc. Trong khi đó, Việt Nam

chưa kí kết hiệp định thương mại song phương nào với Canada, Mexico và

115

Peru, do đó, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam tại các thị trường này còn yếu và

CPTPP sẽ tạo lợi thế vượt trội cho Việt Nam mở rộng và khai thác thị trường

sang thị trường Canada đã tăng trưởng tới trên 50% so với cùng kỳ năm 2021. (Thống kê

các nước CPTPP. Đơn cử như dệt may, 9 tháng đầu năm 2022, xuất khẩu mặt hàng này

của Hải quan Việt Nam, 2022).

Tóm lại, sau hơn 3 năm chính thức có hiệu lực, Hiệp định Đối tác toàn

diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được đánh giá là đã tác

động tích cực tới hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam, cùng với

đó giúp Việt Nam có cơ hội cơ cấu lại thị trường xuất khẩu theo hướng cân

bằng hơn, giảm tập trung vào thị trường Nhật Bản và tăng tỷ trọng xuất khẩu

sang các thị trường Canada, Australia, Singapore....

3.4.2. Cam kết trong EVFTA và tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt

Nam

3.4.2.1. Các cam kết cụ thể liên quan đến hàng dệt may

a) Cam kết cắt giảm thuế quan

Với EVFTA, 100% các mặt hàng dệt may của Việt Nam sẽ được giảm

thuế nhập khẩu về 0% sau tối đa 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Cụ

thể, EU sẽ xóa bỏ thuế quan với 77,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam

sau 5 năm và 22,7% kim ngạch còn lại sẽ được xóa bỏ sau 7 năm. (VCCI,

2022).

Như vậy, tham gia EVFTA, hàng dệt may Việt Nam sẽ có lợi thế cạnh

tranh hơn Trung Quốc và lợi thế cạnh tranh về thuế của các quốc gia cạnh

tranh như Bangladesh, Campuchia, Pakistan sẽ không còn trong thời gian tới.

Campuchia đang đứng trước thách thức sẽ chính thức bị loại khỏi chương

trình ưu đãi thuế quan GSP ngay từ tháng 8/2020 và thuế nhập khẩu hàng dệt

may của Campuchia vào EU sẽ tăng lại 12% do vi phạm một số nguyên tắc về

theo quy định của EU.

https://vinatex.com.vn/tac-dong-cua-hiep-dinh-evfta-doi-voi-nganh-det-

may-viet-nam/

116

b) Cam kết về quy tắc xuất xứ

Hiệp định EVFTA dành riêng Chương 4 để nói về các điều kiện quy tắc

xuất xứ mà hàng hóa của các bên tham gia phải tuân thủ để được hưởng mức

ưu đãi về thuế quan. Đối với ngành dệt may, ngoài các quy tắc xuất xứ chung

áp dụng cho toàn bộ các ngành xuất khẩu, thì Hiệp định cũng quy định rõ

ràng các quy tắc riêng áp dụng cho sản phẩm sử dụng một phần nguyên liệu

không xuất xứ (VCCI, 2017). Quy tắc từ vải trở đi (quy tắc 2 công đoạn)

được áp dụng như là tiêu chuẩn để xác định các sản phẩm được hưởng ưu đãi

thuế suất như trong cam kết của Hiệp định. Theo đó, các sản phẩm ngành dệt

may được xem là có nguồn gốc xuất xứ theo Hiệp định phải thỏa mãn các

điều kiện (1) vải được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất sản

phẩm may mặc phải có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam hoặc EU và (2) việc

tiến hành sản xuất (cắt/may) các sản phẩm dệt may phải được tiến hành bên

trong lãnh thổ của Việt Nam hoặc các thành viên của EU. Bên cạnh đó, Hiệp

định cũng cho phép thực hiện nguyên tắc cộng gộp về quy tắc xuất xứ dựa

trên thực tế cả hai bên cùng có FTA đối với đối tác thứ ba. Theo đó, vải xuất

xứ từ Hàn Quốc cũng được xem như có xuất xứ từ Việt Nam và EU vì Việt

Nam và Hàn Quốc đều có FTA đối với EU (VCCI, 2017). Để giải quyết các

vấn đề có thể xảy ra trong tương lai liên quan đến các FTA mới đối với đối

tác thứ ba, Hiệp định EVFTA cũng quy định nếu trong tương lai có đối tác

cùng ký kết FTA với Việt Nam và EU, Ủy ban Hải quan của EVFTA sẽ là

đơn vị được ủy nhiệm cao nhất trong việc quyết định có áp dụng nguyên tắc

cộng gộp hay không.

c) Cam kết về hàng rào kỹ thuật

Khác với CPTPP, trong Hiệp định EVFTA hầu như không có quy định

riêng biệt áp dụng liên quan đến các cam kết về hàng rào kỹ thuật (TBT), các

cam kết chủ yếu xoay quanh vấn đề hợp tác chung hoặc minh bạch hóa các

hàng rào kỹ thuật. Một số cam kết liên quan đến TBT đáng chú ý trong

EVFTA như cam kết ghi nhãn hàng hóa, hợp tác trong việc công nhận quy

trình đánh giá sự phù hợp của mỗi bên…(VCCI, 2019).

117

3.4.2.2. Tác động đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam

Ngoài việc hưởng lợi thế về thuế suất, Hiệp định này còn hứa hẹn mang

lại cho doanh nghiệp dệt may Việt Nam cơ hội nhập khẩu máy móc chất

lượng cao, tiếp cận nguồn nguyên liệu đạt chuẩn tại EU. Như vậy, trong dài

hạn EVFTA sẽ mang lại lợi ích về mọi mặt cho ngành dệt may Việt Nam.

Những lợi ích mà EVFTA mang lại cho ngành dệt may Việt Nam từ khi

EVFTA có hiệu lực tới nay được thể hiện thông qua sự tăng trưởng kim ngạch

xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang EU. Cụ thể như sau: Trước những

tác động của đại dịch Covid-19, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang

EU những tháng đầu năm 2020 giảm mạnh. 7 tháng đầu năm 2020, kim ngạch

xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU đạt 1,68 tỷ USD, giảm

15,98% so với cùng kỳ năm 2019. Mặc dù tình hình kinh tế trong nước và thế

giới có những biến động phức tạp, khó lường dưới tác động của đại dịch

Covid-19, dệt may là một trong những ngành hàng chịu thiệt hại trực tiếp lớn

nhất, nhưng kể từ tháng 8 năm 2020 (thời điểm Hiệp định EVFTA bắt đầu có

hiệu lực) đã góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp dệt may nước ta vượt lên

khó khăn, giá trị kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này bắt đầu cải thiện và tiếp

tục duy trì đà tăng trưởng tốt trong năm 2020 và 2021. Cụ thể, năm 2020 kim

ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may của Việt Nam sang EU đạt 3,07 tỷ USD

(Đỗ Thị Bích Thuỷ, 2020). Còn năm 2021, kim ngạch xuất khẩu dệt may của

Việt Nam sang thị trường EU đạt 3,7 tỷ USD, tăng 14% (Bộ Công thương,

2021). Đặc biệt, trong 5 tháng đầu năm 2022, giá trị kim ngạch xuất khẩu sản

phẩm dệt may của nước ta sang thị trường EU tăng mạnh, đạt mức 1,66 tỷ

USD tăng 36,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu hàng dệt

may sang Đức đạt 409 triệu USD, tăng tới 44% và sang Hà Lan đạt 376 triệu

USD, tăng 43%,... (Tổng cục Hải Quan, 2022).

3.4.3. Cam kết trong UKVFTA và tác động tới xuất khẩu dệt may của Việt

Nam

3.4.3.1. Các cam kết cụ thể liên quan đến mặt hàng dệt may

118

a) Về cắt giảm thuế quan

Với UKVFTA, thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam

sang UK. Việc thực hiện cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa nói chung và

hàng dệt may nói riêng của Việt Nam sang Vương quốc Anh sau khi

UKVFTA có hiệu lực, sẽ góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt

may của Việt Nam sang thị trường này. Mặc dù hàng năm Việt Nam xuất

khẩu đạt tới hàng chục tỷ USD (35,2 tỷ USD năm 2020) song hiện kim ngạch

sản phẩm dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Vương quốc Anh mới

chiếm chưa tới 3% tổng kim ngạch xuất khẩu. Khi UKVFTA có hiệu lực, các

mặt hàng dệt may của Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0% theo lộ

trình sau 4 – 8 năm, trong đó một số sản phẩm từ mức 12% có thể sẽ ngay lập

tức giảm xuống 0%. Như đã nêu trên, UKVFTA kế thừa những nội dung cơ

bản của EVFTA và cam kết giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình trong EVFTA

và UKVFTA là giống nhau. Với EVFTA, 100% các mặt hàng dệt may của

Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0% sau tối đa 7 năm kể từ khi

Hiệp định có hiệu lực. Cụ thể, đối với mặt hàng dệt may, EU sẽ xóa bỏ thuế

quan với 77,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sau 5 năm và 22,7% kim

ngạch còn lại sẽ được xóa bỏ sau 7 năm. Do đó, những lợi ích này cũng sẽ

nhìn thấy được từ thị trường Anh thông qua UKVFTA (Hoi, 2021). Hiện tại,

xuất khẩu của ngành dệt may của Việt Nam sang Anh chỉ chiếm khoảng 2%

tổng lượng nhập khẩu vào thị trường Anh. Do đó ngành này vẫn còn dư địa

rất lớn để phát triển và gia tăng kim ngạch. Với những cam kết về cộng gộp

đối với nguyên liệu vải từ Hàn Quốc và EU sẽ giúp các sản phẩm dệt may

thúc đẩy mở rộng nguồn cung nguyên liệu trong ngành này để tận hưởng ưu

đãi, tránh bị phụ thuộc vào một số thị trường nhất định.

b) Về quy tắc xuất xứ

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 20/NQ-CP năm 2022 về ký công

hàm trao đổi với Hàn Quốc để triển khai nguyên tắc cộng gộp xuất xứ theo

UKVFTA. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng ban hành Thông tư

02/2021/TT-BCT quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa trong UKVFTA. Cụ

119

thể, trong Thông tư này, để hưởng ưu đãi thuế quan theo UKVFTA, chứng từ

chứng nhận xuất xứ hàng hóa phải được nộp cho cơ quan hải quan Việt Nam

trong thời gian 2 năm kể từ thời điểm nhập khẩu. Cơ quan hải quan có thể yêu

cầu bản dịch nếu chứng từ chứng nhận xuất xứ không phải bằng tiếng Anh.

Theo thông tư này, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam có trị giá dưới 6.000

Euro, nhà xuất khẩu được phép tự chứng nhận xuất xứ; đối với lô hàng có trị

giá trên 6.000 Euro, áp dụng cơ chế C/O do cơ quan, tổ chức được Bộ Công

Thương ủy quyền cấp. Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, lô hàng có trị giá

dưới 6.000 Euro, nhà xuất khẩu được phép tự chứng nhận xuất xứ; lô hàng có

trị giá trên 6.000 Euro, chỉ có nhà xuất khẩu đủ điều kiện theo quy định của

UK mới được tự chứng nhận xuất xứ.

Đối với nhà xuất khẩu tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo quy định

khi hàng hóa có xuất xứ Việt Nam và đáp ứng quy định khác của UKVFTA,

Thông tư nêu rõ, nhà xuất khẩu tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trên hóa đơn,

phiếu giao hàng hoặc chứng từ thương mại khác có đủ thông tin về hàng hóa,

bằng cách đánh máy, đóng dấu hoặc in nội dung lời văn khai báo xuất xứ

hàng hóa trên chứng từ.

3.4.3.2. Tác động đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam

Hiệp định này giúp Việt Nam và Vương quốc Anh & Bắc Ireland duy

trì các điều kiện thương mại ưu đãi và lợi ích kinh tế thông qua các cam kết

mở cửa thị trường đã có trong EVFTA. Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng gần

2,5% giá trị nhập khẩu của Anh về hàng dệt may, Anh nhập nhiều nhất từ

Trung Quốc với tỷ trọng 21% và Bangladesh tỷ trọng là 15%. Giá trị kim

ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Anh chỉ chiếm gần 2% tổng giá trị xuất

khẩu dệt may của Việt Nam. Năm 2021, giá trị này đạt 628 triệu USD, tăng

5% so với năm 2020. Đầu năm 2022, tăng trưởng xuất khẩu dệt may sang

Anh tăng 58%. Sau đại dịch Covid-19 với sự hồi phục kinh tế và cùng với

những cơ hội mang lại từ UKVFTA, giá trị xuất khẩu hàng dệt may sang Anh

120

dự báo sẽ tăng trưởng mạnh trong những năm tới

Tiểu kết chương 3

Bức tranh xuất khẩu toàn ngành dệt may của Việt Nam trong giai đoạn

2009-2021 với gam màu sáng với những con số hết sức ấn tượng cả về số

lượng lẫn tốc độ tăng trưởng. Về thị trường, xuất khẩu các sản phẩm ngành

dệt may của Việt Nam đã được mở rộng tới 180 quốc gia và vùng lãnh thổ

nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào 5 thị trường chủ lực là Hoa Kỳ, EU, Nhật

Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Về cơ cấu, ngành hàng xuất khẩu chính chủ

yếu là các sản phẩm may, trong khi đó các loại sản phẩm xơ sợi chiếm tỷ

trọng tương đối nhỏ. Trong bối cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự

do thế hệ mới, mặc dù còn nhiều hạn chế cần khắc phục nhưng xuất khẩu dệt

may của Việt Nam tiếp tục cho thấy sự gia tăng, đặc biệt là các mặt hàng chất

lượng cao, đồng thời có sự dịch chuyển cơ cấu tích cực, thể hiện sự nắm bắt

cơ hội khi các FTAs thế hệ mới có hiệu lực.

Tuy vậy, xuất khẩu ngành hàng dệt may hiện nay của Việt Nam vẫn phụ

thuộc vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thiếu chủ động nguồn

cung đầu vào cho sản xuất, và trong chuỗi giá trị ngành dệt may mới chỉ tham

gia ở những khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp, cơ cấu xuất khẩu ngành hàng dệt

may chủ yếu phụ thuộc vào phương thức gia công xuất khẩu sẽ là những

thách thức hết sức đáng quan ngại cho sự phát triển ngành. Tuy nhiên, bằng

các chính sách ở tầm vĩ mô của nhà nước, và nhận thức đúng đắn về con

đường phát triển ở tầm vi mô của các doanh nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu

ngành dệt may theo hướng hiện đại, thân thiện với môi trường và bền vững

nhằm tận dụng các lợi thế mà các FTAs thế hệ mới mang lại được xem là

hướng đi đúng đắn và phù hợp nhằm phát triển sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu

121

dệt may của Việt Nam trong thời gian tới.

CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY

XUẤT KHẨU DỆT MAY TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM THỰC THI

CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI

4.1. Dự báo nhu cầu thị trường dệt may thế giới

4.1.1. Các nhân tố tác động tới nhu cầu thị trường dệt may thế giới

Việt Nam xác định ngành dệt may không chỉ là ngành công nghiệp mũi

nhọn trong chiến lược xuất khẩu của mình mà còn là ngành công nghiệp

quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề mang

tính trọng đại của quốc gia như việc làm và các vấn đề an sinh xã hội. Do

đó, định hướng xuất khẩu dệt may của Việt trong bối cảnh thực hiện các

FTA thế hệ mới có sự tương tác và tác động lớn bởi bối cảnh kinh tế và

chính trị của khu vực và thế giới cũng như những xu hướng mang tính thời

đại hiện nay. Tựu chung lại, định hướng xuất khẩu của Việt Nam phải được

đặt trong điều kiện và diễn biến của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, xu

hướng bảo hộ thương mại gia tăng, khả năng Mỹ quay trở lại tham gia Hiệp

định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và xung đột

thương mại Mỹ - Trung để xác định mục tiêu chiến lược trong thời gian tới

(bao gồm cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn).

4.1.1.1. Cách mạng công nghiệp 4.0

Thế giới đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp tuy nhiên cuộc

cách mạng công nghiệp 4.0 lần này có những sự khác biệt và ở tầm thay đổi

mang tính vĩ đại hơn. Nó là sự kết hợp cao độ giữa hệ thống siêu kết nối vậy

lý và kỹ thuật số với tâm điểm là mạng không gian vận vật và trí tuệ nhân

tạo. Cách mạng công nghiệp 4.0 được đánh giá sẽ có phạm vi, quy mô và tốc

độ tác động lớn, ảnh hưởng tất cả mọi lĩnh vực và tới toàn bộ nền kinh tế.

Trong đó, cuộc cách mạng này sẽ mang lại sự thay đổi rất mạnh mẽ về năng

suất, quy mô và cách thức quản lý; đồng thời, hướng tới các nguồn năng

lượng mới thay thế và khai thác hiệu quả nguồn năng lượng này. Như vậy,

122

công nghiệp 4.0 đồng thời mang lại cả cơ hội và thách thức cho Việt Nam

trên chặng đường phát triển phía trước, tuy nhiên, với Việt Nam dường như

thách thức nhiều hơn cơ hội (Lo Thi and Guzikova, 2020; Lê Thanh Thủy,

2019).

Cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra với cường độ mạnh mẽ trên thế giới

và Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế đó. Cách mạng 4.0 sẽ ảnh hưởng

tới mọi lĩnh vực của kinh tế ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên ngành dệt

may được cho là một trong những ngành sẽ bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất bởi

đặc trưng thâm dụng lao động của ngành. Theo Báo cáo của Tổ chức Lao

động thế giới, cách mạng công nghiệp 4.0 có thể sẽ thay thế 85% lao động

ngành dệt may của Việt Nam chỉ trong vài thập kỷ tới. Về mặt lý thuyết, dệt

may với nhiều công đoạn, đồng thời mang tính thời trang cao (yêu cầu yếu

tố con người) do đó, sẽ là bất khả khi để thay thế lao động chân tay trong

thời gian ngắn, tuy nhiên, tác động của công nghiệp 4.0 vẫn sẽ làm gia tăng

nguy cơ mất việc đối với lao động dệt may, đặc biệt là lao động trình độ thấp

và lao động ở những công đoạn có thể dễ dàng thay thế được bằng máy móc.

Theo đánh giá của Tổ chức Lao động Thế giới, trong vòng một thập kỷ tới

sản xuất xơ sợi hóa học có khả năng sẽ được thay thế dần bằng máy móc;

trong khi đó, các công đoạn sản xuất tơ, sợi tự nhiên, dệt, vải không dệt và

nhuộm có thể sẽ hoàn tất quá trình thay thế con người bằng máy móc. Báo

cáo cũng cho rằng các công đoạn may do thị hiếu và mang đặc trưng thời

trang cao nên sự thay thế sẽ ở những mức độ khác nhau tùy thuộc vào thời

vụ, đặc tính sản phẩm, nhu cầu hay kiểu dáng. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng

công nghiệp 4.0 sẽ cho phép các quốc gia phát triển và cũng là những thị

trường xuất khẩu dệt may chính của Việt Nam như các nước thuộc EU, Nhật

Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ quay trở lại sản xuất các sản phẩm dệt may do

được sản xuất bằng may móc. Do đó, định hướng chiến lược ngành dệt may

cần phải tính đến yếu tố của cuộc cách mạng 4.0. Trong định hướng chiến

lược ở cấp độ nhà nước và doanh nghiệp, cần nhìn nhận đúng đắn cơ hội và

123

thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong sự tương tác đối với

ngành dệt may để có cái nhìn khách quan về bức tranh chung của toàn

ngành.

Hình 4.1: Đánh giá tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với xuất

khẩu dệt may của Việt Nam

Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát

Kết quả khảo sát của Luận án cũng cho thấy kết quả tương đồng với

nhận định rằng cách mạng công nghiệp 4.0 có tác động lớn đối với xuất

khẩu dệt may Việt Nam. Trong tổng số 518 người được hỏi có đến 160

người, tương đương với 30.89% trả lời cách mạng công nghiệp 4.0 tác động

rất lớn đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam; trong đó, tỷ lệ số người

hoạt động trong ngành dệt may là 32.35% so với con số 29.64% số người

không hoạt động trong ngành dệt may. Số người được hỏi trả lời cách mạng

công nghiệp 4.0 có tác động lớn đối với xuất khẩu dệt may cũng chiếm tỷ lệ

rất cao, lần lượt là 25.1%, 23.11% và 26.79% đối với toàn bộ mẫu, đối tượng

hoạt động trong lĩnh vực dệt may và đối tượng không hoạt động trong ngành

dệt may.

Số liệu khảo sát cũng chỉ ra rằng chỉ có 11.78% số người được hỏi cho

rằng cách mạng công nghiệp 4.0 không có tác động đến hoạt động xuất khẩu

124

dệt may của Việt Nam. Số liệu từ cuộc khảo sát phần nào khẳng định thêm

cho nhận định cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ giữ một vai trò rất lớn trong

việc định hình cấu trúc xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong tương lai.

4.1.1.2. Xung đột thương mại Mỹ - Trung

Một diễn biến mới hiện nay mà ngành xuất khẩu dệt may Việt Nam

trong định hướng chiến lược phát triển cần phải chú ý đó là cuộc chiến tranh

thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đang diễn ra dữ dội và rất khó đoán

định. Trong ngắn hạn, cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung có thể ít tác

động tới ngành dệt may Việt Nam (trong gói 50 tỷ USD Mỹ đưa ra để trừng

phạt Trung Quốc thì chưa có liên quan đến ngành dệt may) nhưng về trung

và dài hạn, ngành dệt may cũng là một trong các ngành sẽ chịu nhiều tác

động từ cuộc chiến thương mại trên. Mới nhất, gói 200 tỷ USD mà chính

quyền Mỹ đưa ra để trừng phạt Trung Quốc đã có một số loại vải bị áp thuế

trừng phạt. Và khả năng trong các biện pháp tiếp theo của Mỹ cũng như

những biện pháp phản đòn của Trung Quốc sẽ có nhiều sản phẩm của ngành

dệt may bị áp thuế trừng phạt. Việc áp thuế của Mỹ lên các ngành hàng dệt

may của Trung Quốc sẽ tạo áp lực cạnh tranh lên sản phẩm của Việt Nam

với Trung Quốc trên các thị trường bởi lẽ Trung Quốc sẽ phải tìm kiếm các

thị trường thay thế. Song song với đó, Trung Quốc là thị trường xuất nhập

khẩu chính về nguyên phụ liệu dệt may của Việt Nam (70-80% mặt hàng sợi

của Việt Nam được xuất sang Trung Quốc, tương tự gần 75% nguyên phụ

liệu được nhập khẩu từ thị trường này). Khi cuộc chiến tranh thương mại Mỹ

- Trung lan rộng, các mặt hàng dệt may xuất nhập khẩu chủ lực như vải và

sợi sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp.

Về mặt lý thuyết, xung đột thương mại Mỹ - Trung ở khía cạnh nào đó

có thể tạo cơ hội cho Việt Nam gia tăng thị phần xuất khẩu dệt may vào thị

trường Hoa Kỳ. Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, trong số 20 mặt hàng dệt

may của Trung Quốc có nguy cơ bị gia tăng áp thuế nhập khẩu tại thị trường

Mỹ thì có 5 mặt hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh, bao gồm vải canvas,

vải mành làm lốp xe, vải dệt thoi từ sơ xợi, sợ xo tổng hợp PE. Tuy nhiên,

125

khi bị áp thuế, Trung Quốc sẽ có xu hướng đầu tư ra nước ngoài nhằm tránh

nhãn xuất xứ, Việt Nam là quốc gia láng giềng, đồng thời hội tụ đủ yêu cầu

để phát triển ngành dệt may Lê Quang Thuận, 2019; Lê Hồng Thuận, 2017).

Do đó, không chuẩn bị tốt, ngành dệt may của Việt Nam sẽ bị cạnh tranh với

các công ty dệt may của Trung Quốc ngay chính trên sân nhà của mình. Một

vấn đề nữa cũng cần phải được nghiên cứu trong cuộc xung đột thương mại

Mỹ - Trung là khả năng Trung Quốc sẽ giảm giá đồng Nhân dân tệ để cạnh

tranh với các nước xuất khẩu khác. Và như hệ quả tất yếu, xuất khẩu dệt

may của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng tương đối.

Hình 4.2: Đánh giá tác động của xung đột thương mại Mỹ - Trung đối

với xuất khẩu dệt may Việt Nam

Nguồn: từ khảo sát của tác giả

Xem xét đánh giá của người dân về mức độ tác động của xung đột

thương mại Mỹ - Trung đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam, kết quả

khảo sát của Luận án cho thấy có độ nhiễu khác nhau trong các đánh giá của

người dân đối với xung đột thương mại Mỹ - Trung. Tuy nhiên, có một điểm

chung là có đến gần 80.12% số người được hỏi khẳng định cuộc chiến

thương mại Mỹ - Trung sẽ có tác động lên xuất khẩu dệt may của Việt Nam

theo những chiều hướng khác nhau, chỉ có hơn 19.88% số người được hỏi

cho rằng không ảnh hưởng. Một điểm đánh chú ý là trong tổng số hơn 415

người trả lời có ảnh hưởng thì có đến hơn 63.49% cho rằng cuộc chiến

thương mại Mỹ - Trung sẽ mang lại cơ hội cho xuất khẩu dệt may hơn là 126

những tác động tiêu cực, chỉ có 11.59% người được trả lời cho rằng ảnh

hưởng tiêu cực chiếm ưu thế, và có tới 24.82% số người được hỏi trả lời có

ảnh hưởng nhưng không có sự khác biệt giữa tích cực và tiêu cực.

Như vậy, tác động của cuộc xung đột thương mại Mỹ - Trung lên

ngành dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng của Việt Nam là

không thể tránh khỏi. Yêu cầu bức thiết phải chuẩn bị các kịch bản ứng phó

với những tác động tiêu cực, đồng thời phải xác định chiến lược phù hợp

nhằm khai thác lợi thế mà nó mang lại.

4.1.1.3. Ảnh hưởng của đại dịch covid -19

Ngành dệt may ở tất cả các nước đang gia công sản xuất đều đang hứng

chịu những hệ luỵ nặng nề từ đại dịch COVID-19. Đại dịch COVID-19 đã

làm thay đổi cả chuỗi sản xuất của ngành dệt may toàn cầu. Những nền công

nghiệp gia công và xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới như Ấn Độ,

Bangladesh hay Việt Nam đang phải chịu những tổn thương liên tiếp khi

nguồn cung nguyên phụ liệu lớn nhất thế giới là Trung Quốc và nguồn cầu

lớn nhất thế giới là châu Âu và Mỹ đang nằm trong tình trạng đóng cửa.

Thương mại dệt may toàn cầu đã sụp đổ trong nửa đầu năm 2020, đặc

biệt ở các nước mà ngành dệt may chiếm tỷ trọng lớn hơn trong xuất khẩu.

Ngoài ra, xuất khẩu sang các khu vực mua hàng lớn ở Liên minh châu Âu,

Hoa Kỳ và Nhật Bản giảm khoảng 70%. Ngành công nghiệp này cũng bị gián

đoạn chuỗi cung ứng do thiếu bông và các nguyên liệu thô khác.

Ngành công nghiệp dệt may là thị trường có tốc độ phát triển nhanh

chóng. Với các đối thủ cạnh tranh chính là Trung Quốc, Liên minh Châu Âu,

Hoa Kỳ và Ấn Độ. Trung Quốc là nước sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may

thô hàng đầu thế giới. Hoa Kỳ là nước sản xuất và xuất khẩu bông thô hàng

đầu, đồng thời cũng là nước nhập khẩu hàng dệt may thô hàng đầu. Ngành

công nghiệp dệt may của Liên minh châu Âu bao gồm Đức, Tây Ban Nha,

Pháp, Ý và Bồ Đào Nha dẫn đầu với giá trị hơn 1/5 ngành dệt may toàn cầu.

Ấn Độ là nền công nghiệp sản xuất dệt may lớn thứ ba và chiếm hơn 6% tổng

127

sản lượng dệt may trên toàn cầu. Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng ở

các nước phát triển và đang phát triển cùng với công nghệ phát triển đang

giúp ngành dệt may có những cơ sở lắp đặt hiện đại có khả năng sản xuất vải

hiệu quả cao. Những yếu tố này đang giúp ngành dệt may ghi nhận nhiều

doanh thu hơn trong giai đoạn nghiên cứu và được kỳ vọng sẽ giúp ngành

tăng trưởng hơn nữa trong giai đoạn dự báo.

Tác động của COVID-19 đến ngành thời trang may mặc rất rõ ràng, cụ

thể sản lượng ngành dệt may ở châu Âu giảm 26,9% trong giai đoạn từ tháng

4 đến tháng 6 năm 2020, khi đại dịch bùng nổ trên toàn cầu đạt đỉnh điểm.

Trong lĩnh vực quần áo, sản xuất suy thoái mạnh trong giai đoạn từ tháng 1

đến tháng 4 năm 2020. Đến tháng 5, thương mại bán lẻ hàng may mặc, dệt

may và giày dép mới có sự khởi sắc ở châu Âu, khi các chính phủ dần dỡ bỏ

các biện pháp khóa cửa và hoạt động kinh doanh tiếp tục với tốc độ tương tự

như mức bình thường được biết đến trước khi bùng phát COVID-19. Nhập

khẩu các sản phẩm dệt của EU lại tăng mạnh, tăng 154,2% so với cùng kỳ

năm trước. Điều này có thể là do việc nhập khẩu thiết bị bảo vệ cá nhân (PPE)

cần thiết trong thời kỳ đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng COVID-19 ở châu

Âu.

Đối với mảng thời trang và phụ kiện, nhiều quốc gia Châu Âu, bao gồm

Anh , Đức và Ý đã chứng kiến mức tăng trưởng doanh thu và lượng đặt hàng

cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Dựa trên kết quả hoạt động hàng tuần

hàng năm, hoạt động bán lẻ trực tuyến ở các quốc gia này đã tăng đột biến

trong tháng 4, các cửa hàng truyền thống tiếp tục kinh doanh và người tiêu

dùng không còn phải phụ thuộc vào các kênh trực tuyến.

Châu Á là một trong những thị trường lớn nhất của ngành dệt may trên

thế giới, đã phải hứng chịu những hạn chế kéo dài cùng với sự sụt giảm đột

ngột nhu cầu quốc tế đối với sản phẩm của khu vực. Tổn thất này đặc biệt cao

ở các nước mà ngành dệt may chiếm tỷ trọng lớn hơn trong xuất khẩu.

Ngành dệt may Ấn Độ được ước tính có tốc độ tăng trưởng kép hàng

năm (CAGR) là 10% từ năm tài chính 2016 đến năm tài chính 2021. Xuất

128

khẩu trong ngành dệt may dự kiến sẽ đạt 300 tỷ USD vào năm 2024. Tuy

nhiên, đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tốc độ tăng trưởng

của ngành dệt may nước này khi nhiều đơn vị dệt may đã ngừng sản xuất.

Cuộc khủng hoảng đã khiến các doanh nghiệp dệt may phải đưa ra những

quyết định khó khăn như sa thải, cắt giảm lương và yêu cầu nhân viên nghỉ

việc không lương. Tất cả những điều này đã dẫn đến việc người lao động bị

kiệt sức về mặt cảm xúc, gây ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần

của họ.

Vải không dệt được sử dụng để làm các sản phẩm khác nhau trong

ngành chăm sóc sức khỏe, chẳng hạn như áo choàng phẫu thuật, tạp dề, màn,

các bộ phận của mặt nạ và băng vết thương. Chúng cũng được sử dụng trong

các sản phẩm vệ sinh, chẳng hạn như khăn vệ sinh, băng vệ sinh, tã trẻ em và

lót khăn ăn. Việc gia tăng các ca phẫu thuật và việc xây dựng các cơ sở y tế

mới là động lực chính cho thị trường ngành công nghiệp không dệt phát triển.

Ngoài ra, do sự bùng phát COVID-19, nhu cầu về khẩu trang không dệt đã gia

tăng đáng kể để ngăn chặn sự lây lan của vi rút. Điều này đã dẫn đến sự gia

tăng nhu cầu về vải không dệt trên toàn thế giới, với tốc độ cấp số nhân.

Châu Á – Thái Bình Dương dự kiến sẽ chứng kiến sự gia tăng đáng kể

các sản phẩm vệ sinh, do nhu cầu sử dụng ngày càng tăng ở các nước như Ấn

Độ và Trung Quốc. Tại Ấn Độ, theo BCH (Hiệp hội ngành hàng không dệt

Ấn Độ), tỷ lệ thâm nhập thị trường của băng vệ sinh đã tăng 18% so với năm

2014. Hiện ước tính có hơn 60% phụ nữ Ấn Độ không sử dụng các sản phẩm

chăm sóc vệ sinh. Điều này chủ yếu là do lượng dân cư sống ở nông thôn cao.

Với sự gia tăng tỷ lệ thâm nhập của các sản phẩm chăm sóc vệ sinh, do các

biện pháp phòng ngừa vệ sinh ngày càng tăng.

Tại Trung Quốc, thị trường dành cho các sản phẩm phụ nữ và tã trẻ em

đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, do sự gia tăng các mối quan tâm liên

quan đến vệ sinh. Sự gia tăng dân số, dân số già ngày càng tăng và sự bùng

phát COVID-19 trên toàn thế giới đang thúc đẩy nhu cầu về vải không dệt

129

trong ngành chăm sóc sức khỏe.

4.1.1.4. Các yếu tố khác

Một số yếu tố khác có thể ảnh hưởng tới thị trường dệt may thế giới

như xu hướng quay trở lại của bảo hộ thương mại, vai trò của các tập đoàn

xuyên quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các vấn đề môi trường và an sinh

xã hội, đặc biệt là khả năng Mỹ quay trở lại Hiệp định Đối tác toàn diện và

Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Dệt may được cho là ngành

hưởng lợi nhiều nhất khi Hiệp định Kinh tế đối tác xuyên Thái Bình Dương

được ký kết. Việc Mỹ rút khỏi TPP mặc dù nhiều ý kiến cho rằng sẽ không

tác động nhiều tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam, tuy nhiên, không thể

không phủ nhận lợi ích thu được của ngành dệt may sẽ bị giảm sút do Mỹ là

thị trường lớn luôn chiếm gần 50% thị phần đối với xuất khẩu dệt may của

Việt Nam (Lu, 2018; Nguyen and Le, 2019). Quan điểm xuất khẩu dệt may

không bị tác động nhiều khi Mỹ rút khỏi TPP có lẽ xuất phát từ nội dung của

hiệp định liên quan đến dệt may là yêu cầu về quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi.

Thực tế ở Việt Nam cho thấy, các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam phần

lớn nhập khẩu sợi, do đó, chúng ta sẽ không được hưởng lợi từ quy tắc xuất

xứ này. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh

mẽ, và ngành dệt may cũng đang chuyển mình theo sự thay đổi đó. Do đó,

xu hướng các doanh nghiệp trong nước nội địa hóa xơ sợi, đầu tư phát triển

ngành công nghiệp phụ trợ, cũng như làn sóng đầu tư từ nước ngoài vào

ngành dệt may được dự báo sẽ trở thành xu hướng mới trong thời gian tới

(Nguyễn Xuân Thọ, 2019). Do đó, kịch bản Mỹ trở lại Hiệp định Đối tác

Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương cần được xem xét trong định

hướng chiến lược phát triển ngành dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may

nói riêng của Việt Nam. Một bối cảnh nữa cũng có thể tác động lớn đối với

xuất khẩu dệt may Việt Nam là việc Trung Quốc thực hiện chiến lược Nhất

đới – Nhất lộ, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc phát triển vùng sản xuất

dệt may ở khu vực hạ lưu Lan Thương, một cách nào đó, sẽ có tác động nhất

định đến chiến lược phát triển ngành dệt may của Việt Nam và xuất khẩu

130

ngành hàng dệt may của Việt Nam (Le et al. 2019; Ngo, 2017).

4.1.2. Dự báo nhu cầu thị trường dệt may thế giới

Theo các nhà phân tích kinh tế, lạm phát gia tăng và thắt chặt tài chính

đã phủ bóng đen lên kinh tế Mỹ, châu Âu, dẫn đến sự suy giảm nhu cầu toàn

cầu kể từ quý II/2022. Việc Mỹ, EU lạm phát đang tác động tiêu cực đến xuất

khẩu dệt may của các doanh nghiệp Việt bởi đây là hai thị trường truyền

thống- chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu xuất khẩu toàn ngành này.

Thị trường Hoa Kỳ:

Tại Hoa Kỳ, lạm phát tăng cao, xu hướng giảm mua hàng may mặc để

tiết kiệm chi tiêu… có thể ảnh hưởng không nhỏ đến mục tiêu xuất khẩu hàng

dệt may Việt Nam. Con số tăng trưởng xuất khẩu khả quan của dệt may Việt

Nam sang Hoa Kỳ trong 5 tháng đầu năm được dự báo khó duy trì trong 2

quý còn lại của năm 2022. Bởi lẽ, nhu cầu nhập khẩu dệt may của Hoa Kỳ dự

báo sẽ giảm 12 tỷ USD trong thời gian tới, tương ứng 7-10% tổng cầu dệt

may của thị trường này. Tập đoàn Dệt may Việt Nam cũng đã dẫn kết quả

khảo sát của ThredUP (Website bán đồ thời trang cũ): 44% người tiêu dùng

Mỹ và 34% thế hệ Z (sinh từ sau năm 1996) sẽ cắt giảm chi tiêu cho hàng

may mặc, mức cắt giảm nhiều nhất trong số 5 nhóm hàng họ sẽ cắt giảm chi

tiêu gồm: Lương thực, thực phẩm, xăng dầu, nhà hàng, chi phí sinh hoạt cho

hộ gia đình.

Khi kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng chậm lại, người tiêu dùng thận trọng

hơn trong việc chi tiêu tùy ý cho quần áo để ưu tiên các nhu cầu thiết yếu

khác. Đáng chú ý, ngay trong quý đầu tiên của năm 2022, quần áo chỉ chiếm

3,9% tổng chi tiêu của người tiêu dùng Hoa Kỳ, giảm từ 4,3% vào năm 2019

trước đại dịch.

Thực tế, ngày càng có nhiều người tiêu dùng Hoa Kỳ chuyển sang mua

sắm đồ cũ để tiết kiệm chi tiêu. Thị trường đồ cũ của Hoa Kỳ dự kiến sẽ tăng

hơn gấp đôi vào năm 2026, đạt 82 tỷ USD. Doanh số bán hàng may mặc đã

qua sử dụng dự kiến sẽ tăng nhanh hơn 16 lần so với lĩnh vực quần áo bán lẻ

131

ở Hoa Kỳ vào năm 2026.

Một cuộc khảo sát với quy mô 2.000 người trưởng thành tham gia, thực

hiện vào tháng 4/2022 tại Hoa Kỳ cũng cho thấy 44% người tiêu dùng cho

biết họ đang cắt giảm mua hàng may mặc; 80% cho biết họ đang mua cùng

một số lượng hoặc nhiều hơn các mặt hàng quần áo cũ và 25% cho biết họ sẽ

cân nhắc mua nhiều mặt hàng quần áo cũ hơn nữa nếu giá tiếp tục tăng.

Những kết quả khảo sát và dự báo trên một lần nữa cho thấy triển vọng

xuất khẩu không mấy sáng của dệt may Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ trong

những tháng còn lại của năm 2022. Thực tế, thị phần xuất khẩu hàng may mặc

của Việt Nam vào Hoa Kỳ quý I/2022 so với cùng kỳ đã giảm từ 19,7%

xuống 18,3%. (Công thương.vn, 2022)

Thị trường EU: là một thị trường rộng lớn, đa dạng và có nhiều tiềm

năng đối với sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam, với 28 quốc gia

thành viên, hơn 500 triệu người, chiếm 43% tổng nhập khẩu sản phẩm dệt

may toàn cầu. Hiện nay EU đang có xu hướng chiến lược tăng cường mở rộng

quan hệ với các nước châu Á, theo chiều hướng này Việt Nam ngày càng có

vị thế quan trọng trong chiến lược mới của Châu Âu. Tuy vậy, các vấn đề về

truy xuất nguồn gốc xuất xứ, chất lượng, nhãn hiệu, trách nhiệm xã hội của

doanh nghiệp dệt may,…là những yêu cầu khắt khe tại thị trường hết sức tiềm

năng như EU. Với thói quen và thị yếu cấp cao đòi hỏi các sản phẩm dệt may

cao cấp có vẻ như được ưa chuộng và tiêu dùng tốt hơn các sản phẩm bình

dân. Bên cạnh đó, các sản phẩm dệt may ít chứa hóa chất, có nguồn gốc từ

thiên nhiên, có tính năng bảo vệ sức khỏe,..là những đặc tính mà cư dân EU

rất ưa chuộng và thường xuyên lựa chọn. Ngoài ra, tính thời trang và phong

cách đôi khi cũng được đặt lên hàng đầu, thay vì các tiêu chí khác thậm chí là

giá thành. Sự thay đổi nhanh chóng và kịp thời nắm bătd các xu thế tiêu dùng

tại nơi luôn được coi như là kinh đô thời trang EU rất cần được xem xét kỹ

lưỡng trong chiến lược kinh doanh sản phẩm. Đặc biệt, khi FTA Việt Nam –

EU có hiệu lực, với việc cắt giảm thuế từ 12 % xuống còn 0% chắc chắn sẽ là

132

động lực tăng trưởng cho dệt may Việt Nam vào EU trong thời gian tới.

Thị trường các nước CPTPP: Dệt May Việt Nam là ngành nghề duy

nhất đồng hành cùng 7 năm đàm phán hiệp định TPP (nay là CPTPP) và các

doanh nghiệp hết sức vui mừng khi các nỗ lực của Ngành đã có thành quả.

Theo báo cáo của World bank, đây là 2 thị trường có sự phát triển cao, sử

dụng dệt may khá lớn với khoảng 10 tỷ USD một năm trong khi thị phần xuất

khẩu của dệt may Việt Nam còn nhỏ chỉ khoảng đến 500 triệu USD [134].Vì

vậy, Dệt May Việt Nam vẫn nhìn thấy CPTPP có một cơ hội để mở rộng kim

ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may vào 2 thị trường này để đóng góp vào mục

tiêu tăng trưởng trên 10% của Ngành.

Trong các nước CPTPP, thị trường Nhật Bản tiêu thụ trung bình mỗi

năm Nhật Bản khoảng 4 tỷ USD cho hàng dệt may, là một trong những thị

trường nhập khẩu lớn đối với sản phẩm dệt may Việt Nam. Quy trình sản

phẩm nhập khẩu từ nước ngoài thường thông qua Công ty thương mại trước

khi đến với người mua và cuối cùng là người tiêu dùng tại Nhật Bản. Luật

nhãn hiệu cùng với tiêu chuẩn nghiêm ngặt về đảm bảo sức khỏe, ít sử dụng

chất gây phản ứng độc hại với da là những quy định ngặt nghèo đối với các

sản phẩm dệt may muốn xuất khẩu vào Nhật Bản. Quan hệ căng thẳng bởi

tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Nhật Bản trong thời gian qua đang

làm xu thế nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc, quốc gia xuất khẩu hàng

dệt lớn nhất tại thị trường Nhật Bản bị suy giảm. Giảm dần sự phụ thuộc vào

các khâu trung gian và tuân thủ tối đa quy định chặt chẽ về chất lượng và độ

an toàn của sản phẩm là hướng di cần thiết để Việt Nam gia tăng thị phần tại

Nhật Bản khi cả 2 quốc gia đều là thành viên của CPTPP.

4.2. Quan điểm, định hướng và mục tiêu xuất khẩu dệt may Việt Nam

4.2.1. Quan điểm, định hướng của Việt Nam về xuất khẩu dệt may

Với lợi thế so sánh của mình, những năm qua ngành dệt may Việt Nam

nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng luôn được Chính phủ đặc biệt chú

trọng đầu tư và phát triển. Thực tế chứng minh rằng xuất khẩu dệt may của

Việt Nam trong những năm gần đây luôn cho thấy xuất khẩu dệt may đóng

133

góp tỷ phần rất lớn trong cơ cấu xuất khẩu chung của Việt Nam, đồng thời

dệt may cũng chiếm giữ vai trò và vị trí chiến lược quan trọng trong quá

trình tiến ra thị trường quốc tế của hàng hóa Việt Nam (Luong, 2001; Lo and

Guzikova, 2020; Lee and Linda, 2016). Do đó, nhằm tạo lập khung sườn cho

chiến lược phát triển của ngành, Chính phủ đặc biệt quan tâm đến các vấn đề

pháp lý, trong đó nhấn định đến quan điểm, đường lối và chiến lược phát

triển. Hai văn bản có tính chất pháp lý cao nhất nhằm định hướng chiến lược

cho phát triển sản xuất và xuất khẩu của ngành dệt may là Quyết định

36/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 10/03/2008 và Quyết định

3218/QĐ-BCT của Bộ Công thương ngày 11/04/2014. Trong đó, nội dung

Quyết định 3218/QĐ-BCT là văn bản thể hiện quan điểm mới nhất, cập nhập

bối cảnh mới nhất và có tính cấp thiết nhất trong chiến lược xuất khẩu dệt

may đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Quyết định này nêu rõ quan điểm phát

triển ngành dệt may theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững; Chuyển

mạnh sản xuất từ gia công sang mua nguyên liệu, bán thành phẩm, đảm bảo

nâng cao chất lượng, đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu…Mục tiêu phát

triển Xây dựng ngành công nghiệp dệt may trở thành một trong những ngành

công nghiệp mũi nhọn, hướng về xuất khẩu và có khả năng đáp ứng nhu cầu

tiêu dùng trong nước ngày càng cao; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao

khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc vào nền kinh tế khu vực và thế

giới…

Giai đoạn 2013 đến 2015: tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất công

nghiệp toàn ngành đạt 12% đến 13%/năm, trong đó ngành dệt tăng 11% đến

12%/năm, ngành may tăng 13% đến 14%/năm. Tăng trưởng xuất khẩu đạt

10% đến 11%/năm. Tăng trưởng thị trường nội địa đạt 9% đến 10%/năm.

Giai đoạn 2016 đến 2020: tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất công

nghiệp toàn ngành đạt 12% đến 13%/năm, trong đó ngành dệt tăng 13% đến

14%/năm, ngành may tăng 12% đến 13%/năm. Tăng trưởng xuất khẩu đạt 9%

đến 10%/năm. Tăng trưởng thị trường nội địa đạt 10% đến 12%/năm.

Giai đoạn 2021 đến 2030: tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất công

134

nghiệp toàn ngành đạt 9% đến 10%/năm. Trong đó ngành dệt tăng 10% đến

11%/năm, ngành may tăng 9% đến 10%/năm. Tăng trưởng xuất khẩu đạt 6%

đến 7%/năm. Tăng trưởng thị trường nội địa đạt 8% đến 9%/năm. Cơ cấu

ngành dệt, ngành may trong cơ cấu toàn ngành dệt may: đến năm 2015, ngành

dệt chiếm tỷ trọng 45%, ngành may chiếm tỷ trọng 55%; năm 2020, tỷ trọng

ngành dệt tăng lên 47%, ngành may giảm còn 53%; năm 2030, ngành dệt tăng

lên 49%, ngành may còn 51% trong toàn bộ cơ cấu ngành dệt may.

Theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến

năm 2020, tầm nhìn 2030 cho thấy Chính phủ Việt Nam coi trọng việc phát

triển ngành dệt may theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững, chuyển đổi

phương thức sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng sản

phẩm. Bên cạnh việc đáp ứng thị trường tiêu dùng trong nước, xuất khẩu dệt

may được xác định là phương thức cơ sở, nền tảng cho sự phát triển của toàn

ngành. Nhấn mạnh sự chuyển dịch cơ cấu phục vụ chiến lược xuất khẩu sản

phẩm dệt may, Việt Nam sẽ thiết lập các cơ chế tập trung phát triển các sản

phẩm công nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu, nâng cao giá trị gia tăng

của sản phẩm. So với Quyết định 36/2008/QĐ-TTg có sự thay đổi căn bản

về quan điểm xuất khẩu dệt may, nếu như trước kia Việt Nam xem xét xuất

khẩu dệt may như là mục tiêu cho phát triển và mở rộng thị phần thì tầm

nhìn đến năm 2030 của Việt Nam trong Quyết định 3218/QĐ-BCT xác định

xuất khẩu dệt may là phương thức phát triển ngành. Như vậy, trong quan

điểm về thúc đẩy xuất khẩu dệt may đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, Việt

Nam ở những khía cạnh nào đó đã đặt trong bối cảnh thực thi các Hiệp định

thương mại tự do thế hệ mới với các cam kết và điều khoản được dự báo sẽ

135

thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu dệt may của Việt Nam.

Hình 4.3: Các mục tiêu cụ thể của ngành dệt may đến năm 2030

Chỉ tiêu ĐVT 2015 2020 2030

1. Kim ngạch XK Tỷ USD 23-24 36-38 64-67

Tỷ lệ XK so cả nước % 15-16 13-14 9-10

2. Sử dụng lao động 1.000 ng 2.500 3.300 4.400

3. Sản phẩm chủ yếu

- Bông xơ 1000 Tấn 8 15 30

- Xơ, sợi tổng hợp 1000 Tấn 400 700 1.500

- Sợi (kéo từ xơ cắt ngắn) 1000 Tấn 900 1.300 2.200

- Vải các loại Tr. m2 1.500 2.000 4.500

- Sản phẩm may Tr. SP 4.000 6.000 9.000

4. Tỷ lệ nội địa hóa % 55 65 70

Nguồn: Quyết định 3218/QĐ-BCT

Ngày 6/8/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số

115/NQ-CP về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ, trong đó

đặc biệt nhấn mạnh đến việc phát triển và xây dụng mạng lưới liên kết cung

cấp nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất dệt may, phục vụ cho chiến lược

xuất khẩu dệt may. Theo đó, Nghị quyết 115/NQ-CP vạch rõ mục tiêu đến

năm 2025 Việt Nam phải đảm bảo được it nhất 65% nguồn nguyên vật liệu

đầu vào cho sản xuất toàn ngành dệt may. Đây là bước đi chính sách mang

tầm chiến lược, kỳ vọng sẽ mang lại nhiều hiệu ứng tích cực đối với xuất

khẩu dệt may của Việt Nam.

4.2.2. Mục tiêu xuất khẩu dệt may đến năm 2030

Trên cơ sở quan điểm định hướng, Việt Nam xác định các mục tiêu cụ

thể cho sản xuất ngành dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng.

Mục tiêu xuất khẩu dệt may đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 của ngành dệt

may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng được thể hiện cụ thể và rõ nét

trong Quyết định 3218/QĐ-BCT của Bộ Công thương. Trong đó, mục tiêu

chung nhất vẫn là xây dựng được ngành dệt may trở thành ngành mũi nhọn

hướng đến xuất khẩu với khả năng cạnh tranh cao, hội nhập với khu vực và

thế giới. Để thực hiện được mục tiêu hướng về xuất khẩu, Việt Nam cũng xác 136

định phải phát triển ngành dệt may theo hướng bền vững dựa trên đội ngũ lao

động tay nghề, công nghệ cao và thân thiện với môi trường. Trong mục tiêu

chung đó, Việt Nam cũng xác định từ năm 2020 phải xây dựng được một số

thương hiệu sản phẩm dệt may vượt tầm biên giới, tức là xác lập được thương

hiệu quốc gia về một số sản phẩm dệt may.

Về mục tiêu cụ thể, Việt Nam xác định xuất khẩu dệt may của Việt

Nam đến năm 2030 phải đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân đạt

10%/năm, trong đó tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm giai đoạn 2013-

2015 đạt 10% đến 11%, giai đoạn 2016-2020 trong khoảng 9% đến 10% và

giai đoạn 2021-2030 là từ 6% đến 7%. Về giá trị tuyệt đối, Việt Nam đặt

mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu đến năm 2020 là khoảng 36-38 tỷ

USD/năm và đến năm 2030 đạt 64-67 tỷ USD/năm. Để thực hiện được mục

tiêu xuất khẩu đề ra, Việt Nam tiến hành xây dựng chương trình sản xuất

phục vụ xuất khẩu, trong đó nhấn mạnh đến phát triển các sản phẩm có khả

năng gắn kết với sản xuất sợi, may mặc nhằm tận dụng và phát huy các lợi

thế của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như các mặt hàng dệt

kim, dệt thoi.

Trong Dự thảo “Chiến lược phát triển ngành dệt may, da giày Việt Nam

đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035”, dự kiến kim ngạch xuất khẩu bình

quân sẽ tăng từ 5% - 6%/năm trong giai đoạn đến năm 2030 (năm 2030 dự

kiến 68 – 70 tỷ USD); tăng từ 2-3%/năm trong giai đoạn từ 2031 đến 2045

(năm 2045 đạt khoảng 95 – 100 tỷ USD). Từ nay đến năm 2030, ngành

chuyển dần trọng tâm sang phát triển bền vững, kinh doanh tuần hoàn. Từ

năm 2030 – 2045, phát triển hiệu quả, bền vững theo mô hình kinh tế tuần

hoàn. Hoàn thiện chuỗi giá trị trong nước và tham gia ở vị trí có giá trị cao

trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Xuất khẩu và tiêu thụ trong nước bằng các

thương hiệu riêng mang tầm khu vực và thế giới. Đây là cơ hội để nâng chất

thị trường dệt may Việt Nam, nâng tính cạnh tranh với các quốc gia xuất khẩu

137

dệt may trong khu vực và trên thế giới.

4.3. Phân tích SWOT xuất khẩu dệt may Việt Nam

4.3.1. Cơ hội mang lại từ các FTA thế hệ mới đối với xuất khẩu dệt may

Các FTA thế hệ mới là các hiệp định có mức độ cam kết mở cửa thị

trường cao hơn so với các cam kết trong WTO và các FTA truyền thống. Các

FTA thế hệ mới có thể được xem như là các hiệp định WTO plus (WTO

cộng), bao gồm các điều khoản vốn trước đây đã từng bị từ chối, nay lại được

chấp nhận. Các FTA thế hệ mới bao gồm cả những vấn đề vượt ra ngoài vấn

đề thương mại truyền thống, có thể liệt kê như các vấn đề về đầu tư, lao động,

môi trường, minh bạch chính sách, cải cách thể chế,... nên sẽ tạo ra sức ép to

lớn để hội nhập. Các hiệp định FTA thế hệ mới đang là chiến lược chủ đạo, và

toàn cầu hóa đang trở thành chiến lược bị áp đảo ở các nước trên thế giới hiện

nay (Nguyễn Thanh Tâm, 2016). Hầu hết các nước khác cũng đang nỗ lực

như Việt Nam để đi đến thoả thuận cho một luật chơi mới, khi mà sân chơi

WTO dường như đã không đáp ứng được các yêu cầu thời đại. Các hiệp định

FTA thế hệ mới được đánh giá là đang đặt ra rất nhiều thách thức cho các

thành viên FTA nói chung và Việt Nam nói riêng, cũng như trật tự thương

mại toàn cầu. Tuy nhiên, thách thức càng lớn cũng cho thấy cơ hội càng lớn,

và không phải mọi thách thức đều đến từ FTA thế hệ mới, mà đến từ chính

bản thân mỗi thành viên. Từ một nước nông nghiệp phải nhờ vào viện trợ của

nước ngoài, hiện nay Việt Nam đã trở thành quốc gia hàng đầu về xuất khẩu

các sản phẩm nông nghiệp như gạo, tiêu, điều, cafe. Điều đó cho thấy Việt

Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh được trong môi trường thương mại quốc tế

đầy thách thức. Việt Nam lẽ tất yếu phải học cách thích nghi và sinh tồn cùng

với những biến đổi càng càng mạnh mẽ hơn của thương mại quốc tế ngày này.

Hội nhập khu vực đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong chính sách đối ngoại

của Việt Nam, và tham gia các FTA thế hệ mới là quyết định chủ động của

Việt Nam, nhằm nâng cao vị thế của đất nước, nhất là vị thế trong một khu

vực năng động và rất nhạy cảm như khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nơi

đang diễn ra cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. So với 10 nước

138

ASEAN, Việt Nam là nước chủ động và tích cực đàm phán, ký kết các FTA

thế hệ mới, cho thấy Việt Nam thực sự thể hiện được sự thích ứng nhanh với

những thay đổi về luật chơi, cách chơi và sân chơi trong thương mại toàn cầu.

Tuy nhiên, đối với ngành dệt may, Việt Nam vẫn đang gặp phải nhiều vấn đề

khó khăn cần những giải pháp và bước đột phá mới.

Như đã nêu trên, các hiệp định thương mại tự do thế hệ với nội dung

cam kết rộng hơn, mức độ sâu hơn, đặc biệt đề cập đến các vấn đề phi thương

mại. Xuất khẩu dệt may được xem là chiến lược chủ đạo trong phát triển kinh

tế cũng như hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, do đó, trong quá trình

hình thành và thực thi các hiệp định FTA thế hệ mới, ngành dệt may nói

chung và xuất khẩu dệt may của Việt Nam nói riêng đồng thời đón nhận nhiều

cơ hội mới:

Thứ nhất, việc tham gia các FTA thế hệ mới với các ưu đãi về cắt giảm

thuế quan sâu sẽ giúp tăng trưởng xuất khẩu dệt may Việt Nam, hàng dệt may

sẽ được hưởng thuế xuất nhập khẩu ưu đãi tới 0% mang lại lợi thế cạnh tranh

lớn. Giảm và xóa bỏ thuế dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nguồn hàng dệt

may nhập khẩu giữa các nước tham gia do giá thành rẻ hơn, chất lượng và

mẫu mã phong phú hơn. Giảm thuế cũng giúp cho việc mở rộng thị phần hàng

dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang các nước trong khu vực thương mại tự

do hay các nước đã cùng ký kết FTA. Theo đánh giá của Sacombank (2020),

giá trị xuất khẩu ngành hàng dệt may của Việt Nam có thể tăng trưởng thêm

hơn 4% hàng năm nhờ vào lợi thế từ thuế quan của chỉ riêng hai hiệp định

CPTPP và EVFTA (Vazentti and Huong, 2014). Một trong các đặc trưng tiêu

biểu của các hiệp định FTA thế hệ mới là hầu hết các loại thuế quan liên quan

đến thương mại hàng hóa, trong đó có nhóm hàng dệt may sẽ được giảm hoặc

loại bỏ hoàn toàn theo lộ trình.

Tóm lại, việc cắt giảm thuế quan tạo ra thuận lợi lớn trong cạnh tranh

về giá cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, giúp tăng thêm quy mô sản

xuất cũng như giá trị xuất khẩu, lực lượng lao động tham gia vào ngành dệt

may sẽ cao hơn kéo theo chất lượng lao động tốt hơn, tạo đà cho doanh

139

nghiệp dệt may tăng trưởng và phát triển.

Thứ hai, lợi ích từ quy tắc xuất xứ. Yêu cầu về nguồn gốc xuất xứ khắt

khe trong các hiệp định FTA thế hệ mới, thoạt nhìn sẽ là rào cản đối với xuất

khẩu dệt may của Việt Nam, nhưng sâu sa lại là cơ hội không thể tốt hơn cho

ngành dệt may Việt Nam tranh thủ phát triển ngành sản xuất nguyên phụ liệu,

vốn là nút thắt nghẽn trong chiến lược phát triển bền vững của ngành sản xuất

dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng của Việt Nam. Bên cạnh

đó, hiện nay làn sóng đầu tư (bao gồm cả đầu tư trong nước và đầu tư trực

tiếp nước ngoài) vào các ngành sản xuất xơ sợi, vải, phụ liệu cho ngành dệt

may tại Việt Nam nhằm đón đầu lợi ích khi các hiệp định FTA thế hệ mới mà

Việt Nam đang theo đuổi có hiệu lực, đặc biệt là CPTPP và EVFTA (Nguyễn

Hoàng Khởi và Lưu Tiến Thuận, 2015). Làn sóng đầu tư này không chỉ tạo cơ

hội cho Việt Nam chuyển đổi cơ cấu ngành như đã đề cập ở trên mà còn tạo

điều kiện cho phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may của Việt

Nam vốn không chỉ yếu mà còn thiếu (Nguyễn Đức Kiên, 2018). Tóm lại, với

những quy định “nới rộng” về quy tắc xuất xứ, sản xuất và xuất khẩu dệt may

Việt Nam sẽ tận dụng được những ưu đãi khi EVFTA và UKVFTA có hiệu

lực.

Thứ ba, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư vào các lĩnh

vực mà ngành còn yếu kém như nguyên phụ liệu đầu vào, dệt, nhuộm...Các

FTA thế hệ mới mang lại những điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng

môi trường kinh doanh, phát triển kinh tế theo hướng bền vững. Trong các

Hiệp định CPTPP, EVFTA và UKVFTA đều có những quy định về môi

trường, đây là sức ép lớn yêu cầu Việt Nam phải cải thiện vấn đề này trong

trao đổi thương mại với các thị trường lớn hầu hết đã ký FTA thế hệ mới với

Việt Nam. Các tiêu chuẩn cao về môi trường mà các quốc gia thành viên của

các FTA thế hệ mới đang tuân thủ khi xuất khẩu vào Việt Nam tạo nên thế

mạnh cạnh tranh của riêng các nước này. Các doanh nghiệp Việt từ đó cũng

phải tuân thủ các quy tắc này và có những sự thay đổi trong nhận thức về môi

trường cũng như thay đổi chiến lược kinh doanh cho phù hợp. Thông qua các

140

FTA thế hệ mới, các doanh nghiệp có cơ hội nhập khẩu các sản phẩm thiết bị

máy móc tiên tiến với giá thành rẻ hơn từ Vương quốc Anh, một trong những

trung tâm khoa học - kỹ thuật hàng đầu của thế giới. Các thiết bị được nghiên

cứu ngày càng có giá thành cạnh tranh hơn, ứng dụng công nghệ mới nâng

cao năng suất lao động, giảm tác hại tiêu cực đến môi trường. Đây là cơ hội

để các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng những phương thức sản xuất hiện đại

để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm áp lực đến môi trường và định hướng

nền kinh tế phát triển bền vững.

Trong thời gian đàm phán EVFTA và UKVFTA, nhiều doanh nghiệp

FDI đã coi Việt Nam như điểm đến mới quan trọng để đầu tư, chuyển giao

công nghệ và kỹ năng quản lý. Nhờ đó, Việt Nam được tiếp thu nhiều công

nghệ kỹ thuật hiện đại, tay nghề của người lao động cũng được nâng cao để

đáp ứng kịp tiến trình sản xuất. Nhờ đó, ngành công nghiệp dệt may Việt

Nam có những bước phát triển vượt bậc, tỷ lệ nội địa hóa ngày càng được

tăng cao. Các doanh nghiệp trong ngành tận dụng được các ưu đãi về xuất xứ

cho sản phẩm dệt may trong Hiệp định.

Đồng thời, với việc lợi thế cạnh tranh tăng lên nhờ giảm thuế nhập

khẩu, việc Việt Nam gia nhập CPTPP cũng là cơ hội lớn để thu hút đầu tư cho

lĩnh vực Dệt may. Hiện nhiều doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp FDI

và doanh nghiệp nhà nước lớn như Vinatex đã triển khai các dự án đầu tư, đặc

biệt là khâu đầu tư vào sản xuất nguyên liệu đầu vào như xe sợi, dệt, nhuộm

và in vải.

Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam đang ngày càng đa dạng hóa nguồn

cung cấp nguyên liệu thông qua nhập khẩu từ Nhật Bản và Hàn Quốc để xuất

khẩu sang Anh với thuế suất ưu đãi, đây sẽ là thế mạnh mà nhiều nước thành

viên ASEAN không có, từ đó, sẽ giúp Việt Nam có được năng lực cạnh tranh

141

tốt hơn so với các đối thủ từ Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN.

Hình 4.4: Đánh giá cơ hội khi tham gia các FTA thế hệ mới

Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát.

Thứ tư, thu hút và nâng cao chất lượng lao động. Với đặc thù là một

ngành thâm dụng nhân công, việc thực thi các cam kết trong các FTA thế hệ

mới, thị trường lao động ngành dệt may sẽ có cơ hội gia tăng về số lượng và

nâng cao về chất lượng (Ngô Dương Minh, 2017; Lê Thị Kiều Oanh và Đỗ

Thị Thu Hồng, 2017). Khía cạnh gia tăng về số lượng lao động dệt may (giúp

giải quyết bài toán việc làm ở nông thôn) có thể dễ dàng nhìn thấy bởi cơ hội

tăng trưởng lớn đối với ngành xuất khẩu dệt may sẽ đi kèm với nhu cầu về lao

động ngành dệt may gia tăng. Như đã bàn luận, các tiêu chuẩn mới về lao

động, môi trường và quản trị trong các hiệp định FTA thế hệ mới đòi hỏi

những cải thiện căn bản đối với lao động dệt may ở những mức độ lớn hơn, ít

nhất là đối với các tiêu chuẩn về lao động và môi trường hiện nay của Việt

Nam. Như là một hệ quả tất yếu, lao động ngành dệt may đứng trước cơ hội

không thể tốt hơn để cải thiện chất lượng, nâng cao tay nghề, tiếp cận gần hơn

với trình độ của các nước tiên tiến. Lao động Việt Nam không những phải

đảm bảo tác phong lao động công nghiệp theo yêu cầu của doanh nghiệp mà

còn phải đảm bảo yêu cầu của các đối tác, doanh nghiệp đầu tư và thị trường

nước ngoài. Bên cạnh đó, làn sóng đầu tư mới vào ngành công nghiệp phụ trợ

tại Việt Nam (lĩnh vực yêu cầu tay nghề lao động cao hơn) cũng sẽ giúp cải

thiện chất lượng và nâng tầm chất lượng lao động dệt may trong tương lai. 142

Theo đánh giá sơ bộ của Sacombank (2020), chỉ riêng lợi thế từ hai hiệp định

CPTPP và EVFTA có thể tạo thêm từ 20.000 đến 26.000 việc làm mới hàng

năm cho ngành dệt may Việt Nam.

Thứ năm, cải thiện quá trình thực thi các quy định áp dụng cho hàng

xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước thành viên FTA thế hệ mới.

Trên cơ sở các cam kết trong FTAs thế hệ mới sẽ tạo cơ sở pháp lý cho các

hoạt động trao đổi thương mại giữa Việt Nam với thị trường các nước thành

viên FTA thế hệ mới. Đòi hỏi các nhà xuất nhập khẩu phải đáp ứng đúng các

tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt. Các cam kết trong phòng vệ thương mại

(chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ) và các rào cản kỹ thuật thương mại,

biện pháp kiểm dịch động thực vật, yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm…sẽ

có những ảnh hưởng tích cực đến xuất khẩu của Việt Nam. Việc này đòi hỏi

các doanh nghiệp không chỉ phải tích cực sản xuất đủ số lượng hàng hóa đáp

ứng nhu cầu nhập khẩu của thị trường các nước đối tác trong CPTPP,

EVFTA, UKVFTA mà sản phẩm thu được phải đi kèm với chất lượng tốt và

những cam kết an toàn sức khỏe, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Dựa trên cơ sở tập trung vào việc thiết lập cơ chế hợp tác minh bạch,

xử lý nhanh các tranh chấp phát sinh mà không yêu cầu các cam kết quy định

cụ thể đối với từng trường hợp cụ thể, các FTA thế hệ mới sẽ góp phần cải

thiện quá trình thực thi các quy định liên quan. Hai quốc gia sẽ được linh hoạt

hơn và có nhiều cơ hội bình luận vào việc ban hành hay sửa đổi các quy định,

cơ hội giải quyết ôn hòa và hợp lý các tranh chấp trong quá trình thực thi…)

Tóm lại, các hiệp định FTA thế hệ mới được ký kết sẽ là cú hích mới

cho doanh nghiệp dệt may Việt Nam phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng.

Quy mô sản xuất và xuất khẩu dệt may sẽ gia tăng mạnh mẽ, trong khi đó, cơ

hội hoàn thiện trong hệ thống sản xuất, cải thiện giá trị gia tăng sẽ thúc đẩy

chất lượng sản phẩm dệt may của Việt Nam (Grumiller et at., 2018; Nguyễn

Văn Quang 2020).

Như vậy, có thể khẳng định rằng cơ hội là rất lớn đối với các doanh

143

nghiệp xuất khẩu dệt may của Việt Nam khi các hiệp định thương mại tự do

thế hệ mới được thực thi. Số liệu từ Khảo sát của luận án bổ sung ý nghĩa cho

nhận định trên. Theo đó, 25.5% tổng số người được hỏi cho rằng tham gia các

hiệp định FTA thế hệ mới sẽ rất triển vọng đối với hoạt động xuất khẩu dệt

may của Việt Nam, trong đó 22.3% thuộc nhóm người không liên quan đến

hoạt động dệt may và 28.2% thuộc nhóm người liên quan đến hoạt động dệt

may. Con số ngày đối với nhận định rất triển vọng là 17.3%, trong đó cho hai

nhóm đối tượng lần lượt là 18.5% và 16.1%. Sự khác biệt tương đối nhỏ giữa

hai nhóm có hoạt động và không hoạt động trong ngành dệt may khi nhận

định về triển vọng của xuất khẩu dệt may trong bối cảnh hình thành và thực

thi các hiệp định FTA thế hệ mới cho thấy bức tranh chung và đồng nhất về

triển vọng phát triển của xuất khẩu dệt may Việt Nam trong thời gian tới.

4.3.2. Thách thức đối với xuất khẩu dệt may từ các FTA thế hệ mới

Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tất yếu sẽ

mang lại cơ hội lớn cho tăng trưởng xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Tuy

nhiên, trong một môi trường cạnh tranh mới ở đó mức độ hội nhập sâu hơn,

rộng hơn, các thị thường lớn hơn và tuân thủ các quy tắc, tiêu chuẩn cao hơn

chắc chắn ngành dệt may Việt Nam sẽ phải đương đầu với nhiều thách thách

khốc liệt hơn. Hình 3.4 ở trên phần nào cũng lột tả được nhận định của người

dân về thách thức đối với xuất khẩu dệt may khi Việt Nam tham gia các hiệp

định FTA thế hệ mới. Có lý do để nghi ngại rằng cho thực tế rằng có đến hơn

41% số người được hỏi (42% đối với người hoạt động ngoài ngành và 41 đối

với người hoạt động trong ngành) trả lời rằng tham gia các FTA thế hệ mới

không mang lại nhiều cơ hội và triển vọng cho xuất khẩu dệt may của Việt

Nam, thậm chí có đến gần 10% số người được hỏi khẳng định sẽ không có

triển vọng. Điều này có thể xuất phát từ những thách thức mà xuất khẩu dệt

may Việt Nam có thể gặp phải khi Việt Nam tham gia các hiệp định FTA thế

hệ mới. Cụ thể:

Thứ nhất, những cam kết về xuất xứ, hàng rào kỹ thuật, các điều khoản

về lao động, môi trường gây ra sức ép, khó khăn cho một số quốc gia xuất

144

khẩu hàng dệt may trong đó có Việt Nam do chưa đủ điều kiện đáp ứng được

những quy định trong các FTA. Như đã nêu trên, quy tắc xuất xứ trong các

FTA thế hệ mới bên cạnh cơ hội là những thách thức không nhỏ đối với xuất

khẩu dệt may Việt Nam. Đặc biệt quy tắc xuất xứ quy định trong CPTPP. Yêu

cầu về xuất xứ, hàng rào kỹ thuật trogn CPTPP đòi hỏi ngành công nghiệp dệt

may Việt Nam phải đầu tư vào phải triển ngành sợi, vải. Phát triển sản xuất

nguyên phụ liệu trong nước sẽ gặp khó khăn trong giai đoạn đầu vì nước ta từ

trước đến nay phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, nhập

khẩu vải và nguyên phụ liệu ngành dệt may hiện đang có giá trị khoảng 40%

giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc, trong đó 70% vải nhập khẩu phục

vụ cho mục đích may xuất khẩu. Chi phí cho nhập khẩu nguyên phụ liệu đang

chiếm khoảng 30% tổng giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp. Ngoài ra nguồn

nguyên liệu sản xuất trong nước chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất

lượng và kỹ thuật.

Hiện nay, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải nhập khoảng 80%

nguyên liệu đầu vào từ Trung Quốc, Hàn Quốc là các quốc gia không tham

gia đàm phán CPTPP. Nguyên nhân công nghiệp sản xuất nguyên liệu đầu

vào, công nghiệp phụ trợ cho các ngành thời trang chưa phát triển là do hàng

xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là gia công thuê, nguyên liệu do các hãng

nước ngoài chỉ định. Trong khi đó, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ,

sản xuất vật liệu nguồn đòi hỏi phải có quy mô thị trường lớn mới có thể

mang lại hiệu quả. Một số lĩnh vực như dệt, nhuộm, thuộc da cũng là những

ngành đòi hỏi đầu tư lớn và đáp ứng các tiêu chuẩn cao về môi trường nên các

nguồn lực trong nước khó có thể đẩy mạnh đầu tư. Bên cạnh những khó khăn

trên, theo một số chuyên gia thì nhiều doanh nghiệp dệt may vẫn hoạt động

tốt theo hình thức gia công và chưa muốn đầu tư chiều sâu bởi không đủ

nguồn lực tài chính cũng như kinh nghiệm, quan hệ trên thị trường quốc tế. Vì

vậy, vấn đề đầu tư mở rộng để nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động trong

sản xuất và đáp ứng các tiêu chuẩn của các thị trường lớn vẫn sẽ là một khó

145

khăn đáng kể với các doanh nghiệp trong nước.

Thứ hai, thách thức từ yêu cầu về tính minh bạch và các quy tắc truy

xuất nguồn gốc nghiêm ngặt. Hiệp định EVFTA đề cao tính minh bạch và

trung thực. Nếu bên phía EU phát hiện doanh nghiệp dệt may Việt Nam có

hành vi cố tình gian dối hoặc vô tình gian dối về nguồn gốc hàng hóa, nguyên

phụ liệu theo quy định về quy tắc xuất xứ, thậm chí hành vi đó không xảy ra

vào thời điểm hiện tại, bên phía đối tác EU có thể truy ngược lại những đơn

hàng trong quá khứ để xác minh nguồn gốc thì cả ngành dệt may sẽ phải chịu

những chế tài trừng phạt từ EU. Nếu các doanh nghiêp dệt may Việt Nam

hoạt động đơn lẻ rồi đi theo lợi ích cá nhân, thì không chỉ gặp khó khăn khi

tham gia vào thị trường EU mà còn tạo ra rủi ro cho cả ngành dệt may của

Việt Nam. Đây cũng là một trong những thách thức đối với xuất khẩu dệt may

Việt Nam.

Bên cạnh đó, thị trường Anh đòi hỏi rất cao về tiêu chuẩn và yêu cầu

chất lượng đối với các sản phẩm nhập khẩu, buộc Việt Nam phải nâng cao

chất lượng sản phẩm và đảm bảo tính đồng bộ của sản phẩm để chinh phục thị

trường kén chọn. Việt Nam phải tuân thủ Quy tắc xuất xứ (RO) khi xuất khẩu

sang Anh, đặc biệt là các quy định về truy xuất nguồn gốc trong nước ngày

càng trở nên nghiêm ngặt. Trong UKVFTA, khâu dệt vải và may phải được

thực hiện ở Việt Nam hoặc ở các quốc gia đã ký kết FTA với UK, vì vậy

nguồn cung cho các sản phẩm nguyên liệu đầu vào sẽ khắt khe và hạn chế

hơn. Trước đây, Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu chủ yếu từ Trung Quốc thì

nay sẽ phải tìm đến các nhà cung ứng khác để phù hợp được yêu cầu từ Anh.

Để có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường UK, dệt may phải đáp ứng quy

tắc xuất xứ tương đối chặt, từ sợi hoặc vải trở đi, hoặc từ vải trở đi trong khi

nước ta chưa có ngành dệt nhuộm và vẫn phải dựa vào nhập khẩu các nguyên

liệu chính để sản xuất hàng xuất khẩu.

Thứ ba, một trong những thách thức lớn nhất mà các xuất khẩu dệt may

có thể gặp phải khi Việt Nam tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới đó

chính là khả năng cạnh tranh ngành trên thị trường quốc tế. Kết quả khảo sát

146

của Luận án cho thấy có đến 15.5% số người được hỏi (tương đương với 80

trên tổng số 518 người) trả lời rằng cạnh tranh từ các đối tác bên ngoài là

thách thức lớn nhất đối với các việc xuất khẩu dệt may Việt Nam. Đáng chú

ý, đánh giá này từ khảo sát cho thấy sự nhất quán cao giữa cả hai đối tượng

được hỏi hoạt động trong ngành dệt may và không hoạt động trong ngành dệt

may. Điều đó ngụ ý rằng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu

dệt may sẽ đứng trước những khó khăn, thách thức lớn trong cuộc chơi được

điều chỉnh bởi các tiêu chuẩn có tính chất toàn cầu của các hiệp định FTA thế

hệ mới. Theo nội dung cam kết của các FTA thế hệ mới, điển hình là CPTPP

và EVFTA thì nếu các doanh nghiệp dệt may Việt Nam muốn tận dụng hiệu

quả cao nhất thì phải hình thành các chuỗi cung ứng bên trong, trong đó sự

liên kết các khâu trong sản xuất là vô cùng quan trọng. Trong ngắn hạn, có thể

dễ dàng nhận thấy sự liên kết này của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là

rất lỏng lẻo và yếu. Do đó, trong dài hạn hình thành các chuỗi cung ứng hoàn

chỉnh từ thiết kế nguyên phụ liệu, may, phân phối phải được đặc biệt nhấn

mạnh và coi trọng trong chiến lược phát triển. Cần phải tận dụng tốt cơ hội

tham gia các FTA thế hệ mới để gia tăng năng lực cạnh tranh, xây dựng chiến

lược phát triển bền vững trong tương lai.

Bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh ngành là thách thức mang tính

dài hạn và đòi hỏi nhà nước và các doanh nghiệp dệt may cần có những bước

đi chiến lược để biến thách thức thành cơ hội khi các hiệp định thương mại tự

do thế hệ mới được thực thi. Tuy nhiên, thách thức được xem là lớn nhất và

hiện hữu nhất hiện nay đối với ngành sản xuất và xuất khẩu ngành hàng dệt

may của Việt Nam là làm thế nào để tiếp cận được thị trường các nước thành

viên tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới, trong khi nguyên phụ liệu phục

vụ sản xuất hàng xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam lại chủ yếu nhập

khẩu từ các thành viên không tham gia các hiệp định thương mại thế hệ mới

với Việt Nam, ở đây là Trung Quốc.

Khi các hiệp định FTA thế hệ mới có hiệu lực đồng nghĩa với việc Việt

Nam phải mở cửa cho các doanh nghiệp thành viên tham gia vào thị trường

147

Việt Nam, nguy cơ từ việc mở cửa sẽ hiện hữu đối với các doanh nghiệp dệt

may ngay trên thị trường nội địa. Theo đánh giá của Hiệp hội dệt may Việt

Nam thì thực trạng ngành dệt may Việt Nam hiện nay tự thân phơi bày những

yếu điểm “chí mạng”, trở thành thách thức lớn không chỉ trong bối cảnh hình

thành các FTA thế hệ mới mà còn cả chiến lược phát triển bền vững trong

tương lai. Đó là, tỷ tọng tích lũy ngành chưa cao, các doanh nghiệp dệt may

chủ yếu mới đáp ứng được nhu cầu về phân khúc khâu may (khâu không chỉ

cần sự đầu tư thấp, mà còn yêu cầu thấp về lao động, kỹ thuật và đặc biệt dễ

dịch chuyển khi có biến động từ các tác nhân bên ngoài). Dẫn chứng thực tế

này, theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, hiện nay hầu hết các công ty sản xuất

xuất khẩu dệt may Việt Nam đều phải sử dụng ít nhất 40-50% nguyên phụ

liệu nhập từ các nước không phải thành viên của CPTPP và EVFTA, trong

khi đó nguồn cung trong nước không đủ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất. Sự

liên kết chuỗi cung ứng thêm một lần nữa trở thành thách thức lớn đối với

xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Số liệu khảo sát của Luận án cung cấp thêm

bằng chứng cho nhận định về thách thức thiếu nguồn cung nguyên liệu và sự

hạn chế của các ngành công nghiệp phụ trợ. Theo đó, có đến 17.1% số người

hoạt động trong ngành dệt may cho rằng ngành công nghiệp phụ trợ chưa đáp

ứng được yêu cầu là thách thức lớn nhất khi các hiệp định FTA thế hệ mới

được thực thi, con số ngày đối với sự phụ thuộc nguồn nguyên liệu từ bên

ngoài là 18.6%. Mặc dầu có nhưng nhận định khác nhau, nhưng nhóm người

được hỏi không hoạt động trong lĩnh vực dệt may cũng chỉ ra rằng hai yếu tố

trên thách thức lớn đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam (lần lượt 2.9 và

148

9.7%).

Hình 4.5: Đánh giá thách thức đối với xuất khẩu dệt may Việt Nam

Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát

Thứ tư, một thách thức không thể không đề cập là xu hướng đầu tư rất

nhanh và mạnh của các nhà đầu tư nước ngoài với lợi thế lớn về công nghệ,

tài chính và thị trường sẽ cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp dệt may

Việt Nam (Gereffi and Memedovic, 2003; Goto et al, 2011; De Marchi et al,

2018). Xu hướng này được xem là hướng đi tắt đón đầu của các nhà đầu tư

nhằm tận dụng lợi thế về yêu cầu xuất xứ khi các hiệp định FTA thế hệ mới

được thực thi. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hầu như đều yếu và thiếu

về tài chính, công nghệ, nhân lực và phần nào đó là thị trường. Theo Hiệp hội

dệt may Việt Nam, hơn 90% doanh nghiệp sản xuất dệt may ở Việt Nam là

doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng tích tụ tài chính thấp, tỷ lệ lại tái đầu tư

chưa cao. Trong bối cảnh mới, lợi thế có được từ việc thực thi các FTA thế hệ

mới sẽ không được chuyển về các doanh nghiệp dệt may nội địa, mà thực chất

sẽ được chuyển sang các doanh nghiệp dệt may đầu tư nước ngoài. Thực tế

này không chỉ là thách thức lớn đối với lợi ích thực mà các doanh nghiệp dệt

may Việt Nam được hưởng mà còn dẫn tới thách thức mới trong tái cấu trúc

và chuyển đổi ngành dệt may theo hướng hiện đại và bền vững của Việt Nam

trong thời gian tới. Khảo sát của Luận án cho thấy, 14.8% số người được hỏi

cho rằng trình độ khoa học kỹ thuật là những thách thức lớn nhất mà các

doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam phải vượt qua, trong khi đó 14.9% 149

số người được hỏi cho rằng năng lực tài chính mới là thách thức lớn nhất.

Thực tế này phần nào tái khẳng định năng lực hạn chế của các doanh nghiệp

dệt may nội địa trong tương quan với các đối thủ dệt may trên thế giới.

Suốt trong thời gian qua, các doanh nghiệp FDI trong các lĩnh vực sản

xuất hàng thời trang đã chiếm lĩnh ưu thế tuyệt đối so với các doanh nghiệp

trong nước. Trước những cơ hội CPTPP mang lại, Hiện nay, nhiều doanh

nghiệp nước ngoài tại các nước không tham gia CPTPP như Đài Loan,

Hongkong, Hàn Quốc cũng đã quan tâm đầu tư vào thị trường Việt Nam Điển

hình như Công ty Kyungbang (Hàn Quốc) đã đưa vào hoạt động cơ sở sản

xuất sợi tại tỉnh Bình Dương, vốn đầu tư giai đoạn 1 là 40 triệu USD và sẽ

tiếp tục đầu tư thêm 160 triệu USD để trở thành nhà máy sợi lớn nhất châu Á;

nguồn vốn FDI còn đến từ các doanh nghiệp như Texhong (Hongkong),

Mitsui (Nhật Bản), Sunrise (Hàn Quốc), Hyosung (Hàn Quốc - nhà sản xuất

spandex lớn nhất trên thế giới)… Như đã phân tích ở trên, hiện nay các hãng

dệt may quốc tế vẫn nắm chi phối về nguồn nguyên liệu cũng như thị trường

đầu ra và chỉ thuê các nước kém phát triển hơn gia công hàng hóa. Vì vậy,

bên cạnh lợi ích về vấn đề tạo công ăn việc làm và góp phần phát triển kinh tế

tại địa phương thì các doanh nghiệp này cũng tạo nên cạnh tranh về nguồn lực

với các doanh nghiệp trong nước và có thể đẩy các chi phí đầu vào tăng lên.

Nếu không có định hướng chính sách hợp lý cũng như những nỗ lực từ bản

thân các doanh nghiệp trong nước thì rất có thể các chính sách ưu đãi sẽ được

các doanh nghiệp FDI tận dụng triệt để trong khi các doanh nghiệp trong nước

vẫn khó tận dụng để phát triển.

Thứ năm, thách thức từ năng suất và chất lượng lao động của ngành dệt

may Việt Nam. Mặt khác, trong bối cảnh hình thành và thực thi các hiệp định

thương mại tự do thế hệ mới, năng suất lao động và chất lượng lao động

ngành dệt may cũng sẽ là thách thức lớn đối với ngành dệt may của Việt

Nam. Thông tin từ Hiệp hội dệt may Việt Nam phơi bày thực tế đáng buồn

rằng năng suất lao động ngành dệt may của Việt Nam thậm chí còn thấp hơn

150

cả Campuchia và Ấn Độ chứ chưa nói gì đến các đối thủ trực tiếp của Việt

Nam như Trung Quốc, Indonesia hay Bangladesh. Số liệu khảo sát từ thực tế

cho thấy có tới 19.6% số người hoạt động trong ngành dệt may cho rằng thiếu

nguồn nhân lực cao là thách thức lớn đến đối với xuất khẩu dệt may của Việt

Nam (cao nhất trong so sánh với các thách thức khác), trong khi đó cũng có

tới 12.2% số người được hỏi không hoạt động trong ngành dệt may đồng tình

với nhận định này. Về mặt lý thuyết, năng suất lao động là nhân tố quan trọng

quyết định giá thành sản phẩm, chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Năng

suất lao ngành dệt may của Việt Nam thấp tất yếu sẽ đẩy giá thành sản phẩm

ngành hàng dệt may của Việt Nam lên cao một cách tương đối so với hàng

hóa cùng chủng loại của các nước khác, ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược

phát triển dài hạn không chỉ của từng doanh nghiệp mà của cả ngành dệt may.

Như đã trình bày ở trên, tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới cũng là cơ

hội cho Việt Nam cải thiệp năng suất lao động, chất lượng lao động ngành dệt

may, tuy nhiên, nếu không xử lý tốt các thách thức thì cơ hội này sẽ không

những không còn mà còn trở thành thách thức trọng yếu ngăn cản đà phát

triển của ngành dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng của Việt

Nam.

Hình 4.6: Thách thức khi Việt Nam thực thi các FTA thế hệ mới

Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát

Thứ sáu, một thách thức cũng hết sức đáng quan ngại không đến từ bản

thân nội tại của các doanh nghiệp mà đến từ nhận thức và tầm hiểu biết về các 151

hiệp định FTA thế hệ mới. Theo kết quả từ khảo sát cho thấy nhiều người

hoạt động trong ngành dệt may còn rất mơ hồ về các hiệp định FTA thế hệ

mới. Theo đó, hầu hết số người được hỏi đều cho rằng chỉ hiểu biết sơ qua về

các hiệp định FTA thế hệ mới, thậm chí một số người trả lời là không biết,

trong khi đó tỷ lệ số người tìm hiểu kỹ và rất kỹ các hiệp định FTA thế hệ

mới rất thấp trong tổng thể mẫu khảo sát. Cụ thể, với mức độ hiểu biết các

hiệp định FTA thế hệ mới với thang điểm cao nhất là 5, thấp nhất là 0, đối với

CPTPP có 2.51% số người được hỏi trả lời ở thang điểm 0, 34.17% thang

điểm 1, 23.94% thang điểm 2, 28.76% thang điểm 3, 10.62% thang điểm 4 và

chỉ 1.93% thang điểm 5. Khảo sát đưa ra kết quả tương tự đối với các hiệp

định EVFTA, VKFTA, EAEU và RCEP (xem thêm Hình 3.7). Thực tế này sẽ

đặt ra thách thức vô cùng lớn đối với không chỉ nhà nước trong việc giúp

người dân hiểu hơn về các hiệp định FTA thế hệ mới mà cả đối với các doanh

nghiệp xuất khẩu dệt may trong thời gian tới.

Hình 4.7: Mức độ hiểu biết của người dân về các FTA thế hệ mới

Nguồn: Tính toán của tác giả từ khảo sát

Bên cạnh một số các thách thức nêu trên, xuất khẩu dệt may Việt Nam

cũng đối diện nhiều vấn đề khác chẳng hạn như cơ chế quản lý nhà nước có

thể chưa đáng ứng với những đòi hỏi cao của các tiêu chuẩn mới, hay chất

lượng sản phẩm còn nhiều hạn chế trong tương quan so sánh. Tuy nhiên, có

152

sự liên kết nội sinh giữa những vấn đề tồn tại này đối với các thách thức đã

nêu, do đó, nếu xử lý tốt các thách thức trên, đồng thời một số vấn đề khác

cũng sẽ được giải quyết.

4.3.3. Điểm mạnh của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam

Để xác định triển vọng xuất khẩu dệt may Việt Nam trong đó trình thực

thi các hiệp định FTA thế hệ mới trong thời gian tới, Luận án phân tích điểm

mạnh, yếu được đặt trong bối cảnh hình thành và thực thi các Hiệp định

thương mại tự do thế hệ mới đối với xuất khẩu dệt may Việt Nam, chứ

không phải phân tích toàn ngành sản xuất dệt may của Việt Nam.

Thứ nhất, xuất khẩu dệt may của Việt Nam có các điểm mạnh đến từ

nguồn nhân công dồi dào, chi phí lao động giá rẻ, do đó, sản phẩm dệt may

xuất khẩu không chỉ có nguồn cung lớn về số lượng mà còn có giá cả tương

đối rẻ trong so sánh với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp bởi giá công nhân của

ngành may mặc của Việt Nam rẻ nhất so với các nước trong khu vực và thế

giới. Tiền lương công nhân trong ngành hiện nay chỉ cao gấp 2 lần tiền lương

tối thiểu ( khoảng 150000VND). Giá nhân công rẻ-> chi phí thấp-> giá thành

sản phẩm rẻ-> tạo lợi thế cạnh tranh trong sản phẩm may mặc.

Bên cạnh đó, người lao động Việt Nam cần cù chăm chỉ và khéo léo

nên có những sản phẩm yêu cầu tay nghề thủ công rất độc đáo đặc sắc và có

sự khác biệt -> tạo lợi thế cạnh tranh cũng như vậy giúp Việt Nam có những

thuận lợi lớn trong xuất khẩu và trong việc tạo dựng các làng nghề để phát

triển ngành.

Thứ hai, ngành may mặc Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao, số lượng

các doanh nghiệp may liên tục tăng qua các năm và quy mô của doanh nghiệp

ngành càng lớn cả về mọi nguồn lực. Giá trị xuất khẩu 260 triệu USD/tháng

và tăng ở các thị trường chính là Mỹ, EU, Nhật

Thứ ba, ngành dệt may Việt Nam có thế mạnh trong việc sản xuất các

sản phẩm dệt kim. Đây là chủng loại mà người tiêu dùng Mỹ, EU rất ưa

chuộng. Bên cạnh đó, trong phân khúc tầm trung và phổ thông các sản phẩm

153

dệt may, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được đánh giá tương đối cao về

chất lượng và độ an toàn (Thu Hoài, 2016; Jabobs et al, 2016; Nguyễn Văn

Quang, 2020).

Thứ tư, một số thương hiệu được khẳng định trên thị trường trong và

ngoài nước: May 10, May Việt Tiến, Dệt Kim Đồng Xuân, Gấm Thái Tuấn,

áo sơ mi An Phước… Những thương hiệu này không chỉ đứng vững trong thị

trường trong nước mà còn giúp ngành dệt may Việt Nam tạo dựng tên tuổi

trên thị trường nước ngoài

Thứ năm, ngành may mặc được đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại với

những máy cắt, máy ép, là hơi…giảm bớt các công đoạn thủ công.

Thứ sáu, có chiến lược phát triển ngành dệt may nói chung và định

hướng xuất khẩu dệt may nói riêng của Chính phủ (Macintosh, 2013; Nadvi et

al, 2004; Nguyen et al., 2015). Với nền tảng và khung khổ pháp lý vững chắc,

các sản phẩm dệt may của Việt Nam sẽ có thêm một điểm tựa vững chắc

trong các hoạt động xuất khẩu của mình.

4.3.4. Điểm yếu của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam

Bên cạnh những điểm mạnh nêu trên, xuất khẩu dệt may của Việt Nam

vẫn tồn tại nhiều điểm yếu.

Thứ nhất, nguyên vật liệu ngành vẫn còn phải nhập khẩu và ngành dệt

có tốc độ tăng trưởng chậm hơn ngành may nên ngành may không có sự chủ

động trong sản xuất kinh doanh. Tình trạng này còn làm ảnh hưởng tới các

đơn đặt hàng về thời gian, chất lượng và hiệu quả kinh tế tỷ lệ nội địa hóa các

sản phẩm ngành may còn thấp và hiệu quả kinh tế chưa cao. Theo Hiệp hội

Dệt may Việt Nam thì có đến hơn 75% nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất

ngành dệt may của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải nhập khẩu từ

Trung Quốc và Đài Loan. Như vậy, thực tế này cho thấy ngành dệt may của

Việt Nam vẫn còn những điểm yếu “chí mạng”, có khả năng trở thành điểm

nghẽn cho phát triển bền vững, đồng thời cũng chưa thực hiện được chức

năng hỗ trợ cho chính mình.

Năm 2019, Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc gần 60% vải, 55% sợi

154

và 45% phụ liệu phục vụ sản xuất hàng may mặc tiêu dùng nội địa và xuất

khẩu. Với bông nhập khẩu, ngành dệt may nhập lớn nhất từ Mỹ với 65,77%.

Phụ thuộc quá lớn nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài dễ gây ra những rủi

ro cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ gần đây nhất

là ảnh hưởng dịch bệnh Covid -19 đã làm đứt, gãy nguồn cung ứng nguyên

liệu cho doanh nghiệp Việt Nam. Chiến thương mại Mỹ - Trung khi Mỹ áp

thuế cao đối với hàng dệt may Trung Quốc sẽ xuất hiện xu hướng chuyển tải

bất hợp pháp, gian lận xuất xứ của các doanh nghiệp Trung Quốc sang Việt

Nam. Đây chính là nguy cơ để Mỹ có thể truy xuất nguồn gốc, đánh thuế

chống lẩn tránh đối với hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ.

Thứ hai, giá lao động rẻ nhưng chất lượng lao động không cao, đặc biệt

lao động có trình độ chuyên môn thấp chiếm 60% nên nâng suất lao động

thấp, so với các nước trong khu vực thì năng suất lao động của ngành dệt may

nước ta chỉ bằng 2/3. Lương thấp gây ra tình trạng di chuyển lao động trong

cùng ngành hoặc ra khỏi ngành làm cho việc đào tạo chuyên môn gặp nhiều

khó khăn. Ngoài ra công ty có khả năng xuất khẩu hàng may mặc và gia công

là chủ yếu chứ không thực hiện xuất khẩu trực tiếp. Chi phí cho nhân công rẻ

nhưng chi phí bình quân/1 đơn vị sản phẩm vẫn cao. Do đó giá các mặt hàng

dệt may nói chung của chúng ta vẫn cao hơn so với Ấn Độ, Trung Quốc,

Indonesia khoảng 30%-40%. Đồng thời hệ thống tiêu chuẩn chất lượng chưa

được chuẩn hóa trong ngành nên mỗi công ty trong ngành có định mức về tiêu

chuẩn khác nhau mà không thống nhất trong toàn ngành.

Thứ ba, tuy ngành dệt may có sự đầu tư lớn nhưng chưa đồng bộ. Có

những loại máy móc thiết bị đã quá lạc hậu nhưng còn tận dụng nên năng suất

không cao. Khả năng tự thiết kế còn yếu, phần lớn là làm theo mẫu mã đặt

hàng của phía nước ngoài để xuất khẩu. Đồng thời, chưa xây dựng được

thương hiệu riêng cho ngành dệt may của ngành dệt may của Việt Nam nên

chưa có hệ thống các kênh phân phối rộng rãi trên thị trường nước ngoài.

Theo đánh giá của VITAS, hiện nay Việt Nam chưa có thương hiệu dệt may

vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, trong khi đó một số doanh nghiệp dệt may

155

trong nước cố gắng xây dựng thương hiệu cho riêng mình nhưng vẫn chưa

xác lập được vị trí, thậm chí chỗ đứng ngay bên trong thị trường nội địa

cũng bị cạnh tranh khốc liệt từ các đối tác bên ngoài (Nguyễn Hoàng Giang,

2014; Nayak et al., 2019).

Thứ tư, năng lực sản xuất còn nhiều hạn chế. Khâu dệt vải của nước ta

tạo ra khoảng 1,5 tỷ mét vải/năm (chiếm 18% nhu cầu). Trong khi đó nguồn

nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc (khoảng 80%);

nhập khẩu từ các nước TPP chiếm 5,3%. Mặc dù dệt may là ngành có thế

mạnh nhưng Việt Nam tập trung chủ yếu vào phương thức gia công xuất

khẩu, chiếm khoảng 70%, phương thức mua nguyên liệu, bán thành phẩm

theo khách hàng chỉ định hoặc tự khai thác (FOB I và FOB II) chỉ ở khoảng

20%; phương thức sản phẩm bao gồm cả thiết kế (ODM) là 9% và phương

thức sản xuất và tiếp thị bán hàng trực tiếp tại các trung tâm thương mại nước

ngoài (OBM) chỉ vỏn vẹn 1%. Vì vậy, giá trị tăng thêm của hàng dệt may

xuất khẩu chỉ chiếm trên 50%. Ngành dệt may vẫn còn tập trung quá lớn vào

loại hình gia công tại khâu đoạn may, vốn có giá trị gia tăng thấp và mức độ

thâm dụng lao động cao, trong khi nguồn lao động trong nước hạn chế. Đây là

điểm bất cập lớn và lâu dài của dệt may Việt Nam.

Thứ năm, mặc dù trải qua giai đoạn dài xây dựng và phát triển ngành

dệt may Việt Nam bị thụ động trong nguồn cung nguyên phụ liệu phục vụ

sản xuất hàng xuất khẩu Như vậy, trong bối cảnh các hiệp định FTA thế hệ

mới được thực thi, xuất khẩu dệt may của Việt Nam dự báo tăng trưởng cao,

đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp dệt may sản xuất định hướng xuất

khẩu không chủ động được nguồn hàng xuất khẩu. Yếu điểm này có nguồn

gốc từ cơ cấu ngành dệt may của Việt Nam có vấn đề, khi chúng ta thời gian

dài đã quá chú trọng vào đầu tư sản xuất theo phương thức gia công mà

không chú trọng cân đối cấu trúc ngành (Tran, 2012; Wang et al, 2017).

Khuyết điểm trong chuỗi cung ứng khiến cho quá phụ thuộc vào nguyên phụ

liệu nhập khẩu, dẫn tới thụ động trong chiến lược xuất khẩu.

Thứ sáu là điểm yếu về cơ chế chính sách liên quan đến các hoạt động

156

xuất khẩu dệt may của doanh nghiệp (Nguyen and Le, 2005; Nguyen et al,

2014; Nguyen et al, 2020). Theo VITAS, các thủ tục hải quan và các vấn đề

liên quan đến các cơ quan nhà nước chiếm thời lượng rất lớn trong chu trình

xuất khẩu sản phẩm dệt may, nó làm giảm tính cạnh tranh của hàng hóa dệt

may trong tương quan đối với các đối tác. Theo số liệu tổng hợp và công bố

bởi VITAS, thời gian cho chu trình nhập khẩu nguyên phụ liệu của các doanh

nghiệp trong nước kéo dài trong khoảng 25-30 ngày, trong đó vận chuyển

quốc tế là 15-25 ngày, thủ tục hải quan từ 3-7 ngày và vận chuyển trong nước

là 2-3 ngày. Như vậy, chỉ tính riêng thời gian làm thủ tục hải quan đối với

hàng nguyên phụ liệu nhập khẩu và sản phẩm xuất khẩu đã lên tới 4-6 ngày,

trong khi đó,Trung Quốc chỉ chưa đầy 1.5 ngày cho toàn bộ hai quá trình trên

(Nguyệt A. Vũ, 2014; Bộ Công thương, 2019).

Thứ bảy, hạn chế về quy mô và nguồn lực. Đa số các doanh nghiệp Việt

Nam trong các lĩnh vực sản xuất dệt may, da giày hiện nay đều có quy mô

nhỏ và chỉ tập trung gia công, nguồn nguyên liệu và thị trường hoàn toàn phụ

thuộc vào đối tác nước ngoài. Để đầu tư theo hướng mở rộng khả năng chủ

động trong chuỗi giá trị (chủ động nguyên liệu đầu vào, thị trường đầu ra) đáp

ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu sẽ đòi hỏi phải có

kinh phí đầu tư lớn. Để có thể xây dựng một khu sản xuất xe sợi - dệt nhuộm -

may khép kín có quy mô lớn thì tổng vốn đầu tư có thể lên tới hàng nghìn tỷ

đồng. Một quy trình thuộc da và sản xuất sản phẩm co quy mô trung bình

cũng cần tới vài trăm tỷ đồng.. Bên cạnh khó khăn về vốn, các lĩnh vực sản

xuất vật liệu nguồn cho dệt may, da giày cũng vấp phải khó khăn về vấn đề

môi trường do sử dụng nhiều chất hóa học cũng như tạo ra các chất thải khó

xử lý. Việc xây dựng một quy trình xử lý chất thải, nếu không có quy hoạch

đồng bộ, có thể còn lớn hơn việc xây dựng một nhà máy sản xuất mới.

Trong thời gian tới, ngành dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều

thách thức, trong đó lợi thế về lao động dồi dào và chi phí lao động thấp sẽ

giảm dần. Dưới tác động của cuộc CMCN 4.0, ngành dệt may Việt Nam cần

phải đổi mới công nghệ, xây dựng chiến lược đào tạo, chuyển đổi nguồn nhân

157

lực chất lượng cao một cách kịp thời.

4.4. Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối

cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

4.4.1. Nhóm giải pháp vĩ mô từ phía nhà nước

Nhóm giải pháp vĩ mô từ phía nhà nước là nhóm các biện pháp phát

triển chung cho ngành dệt may, trong đó tác giả sẽ nhấn mạnh đến một số yếu

tố tác động đến việc thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm dệt may của Việt Nam.

Nhóm giải pháp vĩ mô được xây dựng và phân tích trong luận án dựa trên

nhóm giải pháp vĩ mô mà Bộ Công thương đã đề cập trong Quyết định

3218/QĐ-BCT ngày 11/04/2014, tuy nhiên được đặt trong bối cảnh thực hiện

các hiệp định FTA thế hệ mới.

4.4.1.1. Nhà nước cần có sự hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu tiếp

cận thị trường

Nhà nước cần thúc đẩy mở rộng các văn phòng đại diện, tăng cường sự

hiện diện thương mại tại các quốc gia EU và các quốc gia thành viên của

CPTPP, xây dựng chiến lược xúc tiến thương mại, trong đó nhấn mạnh đến

việc kết nối với các doanh nghiệp sở tại có năng lực về bán buôn, bán lẻ, đặc

biệt các doanh nghiệp có kênh phân phối riêng đủ mạnh. Đây cũng là cách

thức hữu hiệu để nhà nước có thể giúp doanh nghiệp quảng bá thương hiệu

sản phẩm đến bạn hàng quốc tế. Số liệu khảo sát từ Luận án cho thấy có

17.39% số người được hỏi cho rằng nhà nước cần thực hiện các biện pháp hỗ

trợ thông tin tiếp cận thị trường nước ngoài, đặc biệt có đến hơn 12% số

người cho rằng các chính sách liên quan tiếp cận thông tin thị trường thông

nước cũng cần được nhà nước quan tâm hỗ trợ. Trong khi đó, khi được hỏi

doanh nghiệp cần làm gì để nắm bắt cơ hội từ các hiệp định FTA thế hệ mới,

13.51% số người trả lời doanh nghiệp cần nâng cấp kênh marketing nhằm tiếp

xúc và mở rộng thị trường mới. Điều này cho thấy, nhóm giải pháp thị trường

tương đối quan trọng đối với chiến lược thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt

Nam.

Thực tế cho thấy xuất khẩu dệt may của Việt Nam hiện nay chủ yếu

158

theo phương thức hợp đồng thông qua các kênh trung gian đến từ các quốc

gia như Hồng Kong, Hàn Quốc, hoặc Đài Loan, mà ít chú trọng hay đúng hơn

là chưa tìm được các kênh xuất khẩu trực tiếp đến các thị trường nhập khẩu

(Oteifa, 2000; Nguyen, 2016; Nguyễn Thị Thúy, 2014; Trương Thị Phúc

Nguyên, 2020). Trong khuôn khổ hiệp định EVFTA và CPTPP, nhà nước cần

tạo lập được cầu nối để các doanh nghiệp Việt Nam có thể thâm nhập trực

tiếp vào các thị trường này nhằm tránh bị phụ thuộc vào các bên trung gian.

Bên cạnh đó, cải cách thủ tục hành chính nhấn mạnh đến lĩnh vực thuế, hải

quan theo hướng đơn giản hóa các thủ tục là cách thức tốt nhất để giúp các

doanh nghiệp xuất khẩu dệt may rút ngắn thời gian xuất khẩu, giảm chi phí

giấy tờ, đồng thời tăng tính cạnh tranh trên trường quốc tế.

Đối với nhóm giải pháp này, Nhà nước cũng cần chú trọng đến việc

nâng cao nhận thức và phổ biến các kiến thức luật thương mại nói chung, và

các điều khoản cam kết trong các hiệp định thương mại FTA thế hệ mới, đặc

biệt là hai hiệp định EVFTA và CPTPP tới các doanh nghiệp xuất khẩu dệt

may, giúp các doanh nghiệp có những kiến thức cần thiết, chuẩn bị các

phương cách để vượt qua các rào cản của các thị trường nhập khẩu.

Hình 4.8: Ưu tiên hỗ trợ từ nhà nướcđối với

doanh nghiệp xuất khẩu dệt may

Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát

4.4.1.2. Nhà nước tang cường hỗ trợ đầu tư phát triển ngành dệt may xuất

159

khẩu

Chỉ khi nào thúc đẩy được các hoạt động xuất khẩu thì nền tảng sản

xuất ngành dệt may trong nước phải phát triển đủ mạnh làm bệ phóng cho các

doanh nghiệp hướng ra bên ngoài. Để làm được điều đó, Việt Nam cần xác

định bản đồ quy hoạch đầu tư chi tiết trên cả hai khía cạnh địa bàn sản xuất và

lĩnh vực sản xuất, đồng thời thực hiện các chính sách khuyến khích đầu tư xây

dựng cụm khu công nghiệp dệt may, xây dựng được chuỗi sản xuất và mạng

lưới tiêu thụ sản phẩm. Tức là, thúc đẩy mạng liên kết giữa các doanh nghiệp

trong chuỗi giá trị, thông qua phát triển các cụm, khu vực liên kết dệt may

(Le and Wang, 2017; Nguyễn Xuân Thọ, 2019; Nguyễn Văn Quang, 2020).

Đây có thể được xem là các giải pháp nền tảng để tạo thuận lợi cho các doanh

nghiệp dệt may thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu của mình. Trong bối cảnh

thực thi các hiệp định EVFTA và CPTPP như hiện nay, yêu cầu về chất lượng

sản phẩm, mẫu mã hàng hóa cũng như các yêu cầu liên quan đến môi trường,

an sinh xã hội được đặc biệt quan tâm, vì vậy, chính phủ cần phải thực hiện

các giải pháp thu hút đầu tư hợp lý có định hướng, có trọng điểm và phải cân

đối nhằm tạo nền tảng hỗ trợ tốt cho xuất khẩu. Trong nhóm giải pháp này,

Nhà nước cũng phải cần chú trọng đầu tư hơn nữa cho cơ sở hạ tầng cứng như

giao thông, đường sá; và cơ sở hạ tầng mềm như dịch vụ logistics, môi trường

kinh tế như tỉ giá hối đoái, các quy định hải quan và biểu thuế với mục đích

hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong các hoạt

động xuất khẩu.

4.4.1.3. Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu

Việt Nam cũng như các quốc gia đang phát triển khác được đánh giá là

tương đối yếu về khâu quản lý, không chỉ riêng trong ngành dệt may mà đối

với toàn bộ ngành kinh tế, thậm chí trên phạm vi toàn quốc gia. Xuất khẩu dệt

may của Việt Nam giành được các lợi ích thích đáng trong quá trình thực thi

các hiệp định thương mại tự do kiểu mới chỉ khi hình thành được hệ thống

quản lý tiên tiến. Do đó, thiết lập chính sách thúc đẩy hình thành mạng liên

kết sản xuất và chuỗi giá trị ngành theo hình thức hợp tác chuỗi cung ứng từ

160

các sản phẩm thượng nguồn đến hạ nguồn, từ các sản phẩm tạo giá trị gia tăng

thấp đến các sản phẩm mang lại giá trị gia tăng cao là yêu cầu tối quan trọng

đối với sản xuất dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng. Việc áp

dụng khoa học công nghệ và kỹ thuật trong sản xuất và quản lý cần phải được

khuyến khích, các tiêu chuẩn của ngành cũng cần phải được cập nhật thường

xuyên theo những điều kiện và bối cảnh của thế giới.

Đối với quản lý nhà nước, kiến nghị tạo lập các chính sách phù hợp để

xử lý nhanh các vấn đề thủ tục hải quan sẽ giúp các doanh nghiệp nhập khẩu

tiết kiệm rất nhiều thời gian, chi phí và chủ động hơn trong sản xuất. Không

dừng lại ở đó, việc rút ngắn thời gian thủ tục hải quan cũng thúc đẩy các

doanh nghiệp xuất khẩu tiếp cận nhanh hơn với thị trường xuất khẩu. Chất

lượng quản trị nhà nước nói chung và chất lượng quản trị phục vụ xuất khẩu

dệt may nói riêng thực tế ở Việt Nam đang gây cản trở khá lớn đối với các

hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp dệt may. Số liệu điều tra của Luận Án

chỉ ra rằng phần lớn số người được hỏi khẳng định Nhà nước cần đơn giản

các khâu thủ tục hành chính để giúp đỡ doanh nghiệp dệt may. Cụ thể, có tới

19.33% số người được hỏi (cao nhất các hỗ trợ ưu tiên mà người dân và

doanh nghiệp cần nhà nước thực hiện ngay) cho rằng đơn giản hóa thủ tục

hành chính nên là ưu tiên số một trong bối cảnh thực hiện các hiệp định FTA

thế hệ mới để hỗ trợ xuất khẩu dệt may.

Trong vấn đề quản lý, vai trò của Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS)

hay Hiệp hội Bông sợi Việt Nam là rất quan trọng trong việc cung cấp thông

tin cho các doanh nghiệp xuất khẩu như thông tin thị trường quốc tế, thông tin

các hội chợ quốc tế… Các Hiệp hội này cần phải được nâng cao vai trò hoạt

động của mình trở thành cầu nối giữa nhà nước, doanh nghiệp xuất khẩu dệt

may và thị trường thế giới.

4.4.1.4. Phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ

Nhân lực chất lượng cao và trình độ khoa học công nghệ là hai điểm

nghẽn của ngành dệt may hiện nay của Việt Nam, đặc biệt trong quá trình

chuyển đổi cơ cấu ngành để tận dụng những lợi thế có được, đặc biệt khi các

161

hiệp định EVFTA và CPTPP đã chính thức có hiệu lực. Trong bối cảnh các

doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ lực đứng ra đào tạo nguồn nhân lực cũng

như cung cấp các dịch vụ khoa học công nghệ thì vai trò của nhà nước ngày

càng quan trọng và cũng là một trong những hỗ trợ cơ bản nhất mà Chính phủ

có thể giúp doanh nghiệp thúc đẩy các hoạt động sản xuất và xuất khẩu các

mặt hàng dệt may. Chính phủ cần tiếp tục thực hiện Chương trình đào tạo

nguồn nhân lực cho ngành dệt may, trong đó gia cố hệ thống đào tạo chuyên

ngành dệt may, liên kết hợp tác và trao đổi với nước ngoài triển khai chương

trình đạo tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may. Đào tạo nhân lực cho ngành

dệt may cũng cần có những bước đi lộ trình đầu tư hợp lý nhằm đáp ứng các

điều kiện mới về nhân lực trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự

do thế hệ mới. Song song với đó, Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ các

trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu áp

dụng công nghệ mới, vật liệu mới; đồng thời xây dựng các tiêu chuẩn về công

nghệ, chất lượng, thiết kế theo các tiêu chuẩn của thế giới. Các hiệp định FTA

thế hệ mới với những yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng, mẫu mã, nhãn mác,

tiêu chuẩn môi trường, do đó, sự chuyển biến tích cực của nguồn nhân lực và

khoa học công nghệ sẽ là động lực lớn thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu dệt

may của Việt Nam trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế

hệ mới.

4.4.1.5. Quy hoạch và phát triển nguồn nguyên phụ liệu tại chỗ

Con đường dài để ngành dệt may Việt Nam phát triển là chúng ta cần

phải có chính sách kêu gọi đầu tư sản xuất nguyên liệu cho ngành dệt-nhuộm

sao cho các nhà đầu tư thấy có cơ hội để phát triển nguyên liệu dệt may tại

Việt Nam. Sự thực thì đất nước Việt Nam có đủ điều kiện để trở thành một

nơi cung ứng nguyên liệu dệt-nhuộm cao cấp nhưng chúng ta vẫn chưa có

những nhà đầu tư đủ tầm muốn đầu tư vào ngành này.

Việt Nam cần có cách tiếp cận mở hơn, thiết lập các chiến lược tái cấu

trúc ngành cụ thể và rõ ràng, nhấn mạnh đầu tư vào các sản phẩm nguyên phụ

liệu. Đây không chỉ là chiến lược nhằm phát triển bền vững mà còn là chiến

162

lược sống còn với ngành dệt may, qua đó phần nào giúp nâng cao năng lực

cạnh tranh của ngành và của cả nền kinh tế (Nguyễn Thị Cẩm Loan, 2014;

Nguyen, 2016; Pertiwi, 2017; Trần Thị Thuận Giang và Ngô Nguyễn Thảo

Vy, 2017).

Như đánh giá ở trên, khi các hiệp định FTA thế hệ mới như hiệp định

EVFTA và CPTPP có hiệu lực, xuất khẩu dệt may Việt Nam được dự báo sẽ

tăng trưởng ấn tượng. Tuy nhiên, hiện nay sản phẩm dệt may cho xuất khẩu

của Việt Nam được sản xuất phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên phụ liệu

nhập khẩu, do đó bài toán về cung ứng nguồn nguyên phụ liệu bền vững cho

các hoạt động sản xuất của ngành dệt may là hết sức quan trọng. Giải được

bài toán này không chỉ giúp ngành dệt may Việt Nam chủ động trong nguồn

cung đầu vào cho sản xuất mà còn chủ động trong các hoạt động xuất khẩu

của mình, đồng thời nó cũng giúp ngành dệt may chuyển dịch cơ cấu theo

hướng tích cực. Theo Quyết định 3218/QĐ-BCT, Việt Nam xác định xây

dựng trung tâm cung ứng nguồn nguyên phụ liệu tại Hà Nội và Thành phố Hồ

Chí Minh, thu hút đầu tư nước ngoài trong sản xuất các sản phẩm như xơ, sợi,

nhuộm, đồng thời, phát triển vùng trồng nguyên liệu bông. Đây là chiến lược

đúng đắn nhằm xây dựng nền tảng cho quá trình thực hiện các hiệp định

thương mại tự do thế hệ mới, tuy nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu theo

hướng phát triển trọng điểm nguyên phụ liệu cho sản xuất phục vụ xuất khẩu

dệt may vẫn còn tương đối chậm. Điều này thể hiện rõ nhất ở thực tế tỷ lệ

nhập khẩu nguyên phụ liệu cho sản xuất sản phẩm dệt may xuất khẩu trong

những năm gần nay vẫn còn rất cao. Trong bối cảnh các hiệp định FTA thế hệ

mới, trọng tâm là hai hiệp định EVFTA và CPTPP sắp và đã được thực thi

cần đòi hỏi nhà nước có những quyết tâm chính trị lớn hơn, mạnh mẽ hơn và

quyết liệt hơn trong việc giải bài toàn nguồn cung nguyên phụ liệu. Trong

thực thi nhóm giải pháp này, Việt Nam cũng cần đặc biệt quan tâm đến nguồn

vốn đầu tư FDI, vì trong ngắn hạn và trung hạn nguồn vốn FDI sẽ giải quyết

tốt nhất yêu cầu về xây dựng nguồn nguyên phụ liệu cho sản xuất, tuy nhiên,

163

cũng cần phải gắn kết các điều kiện theo hướng tiên tiến, công nghệ hiện đại

và thân thiện môi trường nhằm tránh tình trạng lệch hướng phát triển trong

dài hạn.

4.4.1.6. Đẩy mạnh việc “Xanh hóa” ngành dệt may và bảo vệ môi trường

Các FTA thế hệ mới cũng đặt ra các thách thức cho doanh nghiệp do

đều có cam kết về bảo vệ môi trường và phát thải thấp, đưa ra các tiêu chí,

ràng buộc về phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, trách nhiệm với môi

trường, cộng đồng. Các cam kết của Việt Nam với các đối tác trong 2 hiệp

định FTA thế hệ mới, đặc biệt là hai hiệp định quan trọng mà Việt Nam tham

và đã có hiệu lực là EVFTA và CPTPP đều nhấn mạnh đến yếu tố môi

trường. Đây là xu hướng không thể tránh khỏi khi Việt Nam theo đuổi các

chiến lược tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới trong thời gian tới. Chính

vì vậy, để có thể tận dụng tốt “đòn bẩy” FTA, nâng cao năng lực cạnh tranh

trong dòng chảy hội nhập toàn cầu, giữ đà tăng trưởng bền vững và tiếp tục

tạo sự bứt phá, các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng dệt may xuất khẩu không

chỉ phải nỗ lực cải thiện về chất lượng, giá thành sản phẩm mà buộc phải

“xanh hóa” cả quá trình sản xuất.

Cùng với đó, tiêu dùng xanh – tiêu dùng bền vững, thời trang xanh

đang trở thành xu hướng toàn cầu, đặc biệt được quan tâm sau sự xuất hiện

của dịch Covid-19. Một thống kê cho thấy, có đến 85% người tiêu dùng thay

đổi hành vi mua hàng theo hướng bền vững hơn trong 5 năm qua, 60% người

tiêu dùng đánh giá tính bền vững là tiêu chí mua hàng quan trọng và 34% sẵn

sàng trả nhiều hơn cho các sản phẩm hoặc dịch vụ bền vững (theo The Global

Sustainability Study 2021, Simon-Kucher & Partners). Trong xu thế đó, nhiều

thương hiệu thời trang quốc tế đã đưa ra các cam kết giảm phát thải và xanh

hóa toàn bộ chuỗi cung ứng. Vì thế, để giữ vững vị thế trong chuỗi cung ứng

toàn cầu cũng như gia tăng sức cạnh tranh và tiếp cận người tiêu dùng, hướng

tới sự tăng trưởng và phát triển bền vững, xanh hóa sản xuất là bài toán mà

các doanh nghiệp ngành dệt may phải giải quyết.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ

164

ngành, hiệu quả và tiết kiệm thân thiện với môi trường, đồng thời tăng cường

nghiên cứu khoa học về môi trường để đáp ứng các hàng rào kỹ thuật trong

hội nhập (Cao Quý Long, 2012; Phạm Thị Lụa, 2014; Phùng Thị Quỳnh

Trang, 2017; Le and Wang, 2017; Vu et al, 2020). Trong việc thu hút đầu tư,

đặc biệt là đầu tư vào các ngành sản xuất nguyên phụ liệu (nguy cơ ô nhiễm

cao) nhà nước cần thiết lập các điều kiện nghiêm ngặt nhằm tránh tình trạng

lạm phát đầu tư gây ô nhiễm. Với đặc thù của sản xuất các sản phẩm thượng

nguồn của dệt may như dệt, nhuộm, hoàn tất dệt dễ gây nên các tác động

tiêu cực tới môi trường, do đó Việt Nam cần đặc biệt lưu ý trong vấn đề thiết

lập các tiêu chuẩn về môi trường trong đầu tư sản xuất các sản phẩm dệt

may phục vụ cho xuất khẩu. Thực tế ở Việt Nam cho thấy rằng năng lực

doanh nghiệp dệt may còn nhiều hạn chế, trong khi đó việc xử lý môi trường

trong ngành dệt may yêu cầu về đầu tư lớn, tiêu chuẩn kỹ thuật cao, do đó,

chính phủ cần phải thiết lập các cơ chế hỗ trợ tài chính nhằm giúp các doanh

nghiệp trong vấn đề xử lý chất thải trong sản xuất các sản phẩm dệt may.

4.4.2. Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp

Để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu dệt may trong bối cảnh thực thi các

hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, bên cạnh các giải pháp đến từ phía

Nhà nước thì nhóm giải pháp đến từ phía doanh nghiệp cũng hết sức quan

trọng. Nếu như chính phủ thực hiện vai trò cung cấp hạ tầng cơ bản cho phát

triển ngành như hạ tầng giao thông, hạ tầng giao vận, hạ tầng thông tin

truyền thông, hạ tầng pháp lý, và hạ tầng giáo dục và dạy nghề thì doanh

nghiệp phải là người trực tiếp sử dụng các nguồn lực đó cho mục tiêu phát

triển cũng như các chiến lược kinh doanh xuất khẩu của mình, đặc biệt trong

bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thì doanh

nghiệp cần phải chủ động hơn nữa trong chiến lược xuất khẩu của mình (Lê

Hồng Thuận, 2017; Sacombank, 2020).

Trong khuôn khổ luận án, nghiên cứu sinh sẽ đưa ra một số các giải

pháp vi mô cả trong ngắn và dài hạn nhằm thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu

165

dệt may của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các cam kết của hiệp

định thương mại tự do thế hệ mới, nhấn mạnh vào hai hiệp định EVFTA và

CPTPP.

4.4.2.1. Doanh nghiệp cần hiểu rõ các FTA thế hệ mới mà Việt Nam tham gia

Các doanh nghiệp cần nâng cao tính chủ động trong tìm hiểu thông tin,

cơ chế chính sách, nghiên cứu thị trường, thẩm định đối tác hoặc phối hợp với

các tổ chức xúc tiến thương mại để xây dựng kế hoạch và tham gia triển khai.

Trong bối cảnh khu vực và quốc tế đang có sự biến chuyển, chính sách của

các nước lớn cũng thay đổi nhanh chóng, những FTA thế hệ mới có hiệu lực

đi liền với xu hướng gia tăng hàng rào bảo hộ thương mại phi thuế quan tại

nhiều khu vực. Cùng với đó, các FTA thế hệ mới đòi hỏi sự tuân thủ luật chơi

theo tiêu chuẩn cao về kỹ thuật, lao động, bảo vệ môi trường...Chính vì vậy

các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may cần tìm hiểu và nắm vững luật chơi khi

tham gia vào thị trường các nước, khu vực mà Việt Nam đã ký kết các FTA

thế hệ mới. Chó đến nay, mặc dù doanh nghiệp đã nâng cao hiểu biết về các

FTA thế hệ mới, tuy nhiên mới có hơn 30% số doanh nghiệp được khảo sát

cho biết nhận được thông tin về FTA thế hệ mới với EU, hơn 25% nhận được

thông tin về CPTPP...Đây chính là một trong những nguyên nhân chính khiến

nhiều cơ hội từ các FTA thế hệ mới bị doanh nghiệp bỏ lỡ. Doanh nghiệp có

thể tận dụng tốt những lợi ích từ các FTA thế hệ mới chỉ khi các doanh nghiệp

phải hiểu rõ hiệp định sẽ mang lại thuận lợi, thách thức gì cho lĩnh vực, mặt

hàng của mình. Từ đó có chiến lược thay đổi quy trình sản xuất, nguồn cung

nguyên liệu để đáp ứng được yêu cầu về xuất xứ hàng hóa, tiêu chuẩn kỹ

thuật của nước nhập khẩu. Chính phủ và các bộ, ngành đã nỗ lực ký kết các

FTA thế hệ mới, mở ra cơ hội về mặt thuế quan cho doanh nghiệp khi XK.

Điều kiện cần là sự nỗ lực của các doanh nghiệp trong việc tự đổi mới, nâng

cao năng lực cạnh tranh để tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường nhập

khẩu, từ đó tận dụng ưu đãi từ các FTA thế hệ mới này.

4.4.2.2. Cơ cấu lại hoạt động sản xuất của doanh nghiệp nhằm nâng cao

166

năng suất và chất lượng sản phẩm

Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn trong tổng

xuất khẩu của Việt Nam (đứng đầu trong giai đoạn 2007-2012 và thứ hai

trong giai đoạn 2013-2019), tuy nhiên đóng góp cho xuất khẩu ngành chủ

yếu đến từ lĩnh vực may mặc với phần lớn là các hoạt động gia công (cắt +

may) (Nguyệt A. Vũ, 2014). Tái cấu trúc ngành may mặc – chuyển dịch cơ

cấu ngành lên các vị trí cao hơn thâm dụng vốn và công nghệ, đồng thời có

hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn là yêu cầu sống còn đối với ngành dệt

may không chỉ trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế

hệ mới mà còn để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững

(Jacobs et al., 2016; Vu and Pham, 2016; Pertiwi, 2017; Lu, 2018). Do đó,

bản thân các doanh nghiệp bên cạnh việc thực hiện các hoạt động sản xuất

hiện có, chủ yếu là gia công, cần phải từng bước chuyển dịch hoạt động sản

xuất của mình lên vị trí cao hơn, chú trọng hơn vào các công đoạn thiết kế,

tiếp thị sản phẩm, phát triển sản phẩm và tạo dựng kênh phân phối sản phẩm

cho riêng mình. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng cần chuyển đổi từ

phương thức gia công CMT (cắt, may, hoàn thiện sản phẩm) sang phương

thức OEM (phương thức mua nguyên liệu, bán thành phẩm) và ODM

(Phương thức bao gồm cả sản xuất và thiết kế), tiến tới là phương thức OBM

(Phương thức sản xuất có thương hiệu riêng), từ đó sẽ giúp nâng cao giá trị

gia tăng xuất khẩu dệt may của Việt Nam.

Như đã nêu trên, các cam kết trong CPTPP, EVFTA và UKVFTA về

lĩnh vực dệt may đều yêu cầu rất cao về chất lượng sản phẩm, nhãn mắc, sự

thân thiện với môi trường, đồng nghĩa với việc là bản thân doanh nghiệp

phải tự mình vận động thay đổi theo các yêu cầu mới nếu không muốn đứng

ngoài cuộc chơi. Chuyển dịch cấu trúc ngành may mặc là yêu cầu rất bức

bách và thiết yếu song lại là con đường khá khó khăn và không thể thực hiện

trong một sớm một chiều, do đó, trước khi các Hiệp định thương mại tự do

thế hệ mới chính thức có hiệu thì các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may của

Việt Nam ngay từ bây giờ phải nhận thức được vấn đề và từng bước tiến

167

hành tái cấu trúc ngành.

Hình 4.9: Ưu tiên thực hiện các giải pháp đối với doanh nghiệp

Nguồn: Tính toán của tác giả từ Khảo sát

4.4.2.3. Xây dựng thương hiệu và kênh phân phối riêng

Thương hiệu là vấn đề rất quan trọng đối với sự thành công của bất cứ

sản phẩm hay bất cứ doanh nghiệp nào. Các doanh nghiệp dệt may Việt

Nam về cơ bản nhận thức được vấn đề đó, song lại chưa thực sự chú trọng

xây dựng hình ảnh thương hiệu riêng cho mình. Theo đánh giá của VITAS,

hiện nay rất ít các doanh nghiệp dệt may có năng lực xây dựng và phát triển

thương hiệu riêng cho mình. Một số doanh nghiệp dệt may tên tuổi đã có

thương hiệu nhất định nhưng chỉ mới dừng lại ở thị trường nội địa mà chưa

vươn tầm khu vực và thế giới (VCCI, 2017; Sacombank, 2020). Khi đề cập

đến thương hiệu, người tiêu dùng và đối tác sẽ hình dung ngay đến chất

lượng sản phẩm, mẫu mã, tiêu chí kỹ thuật, nhãn mác. Một khi xây dựng

được thương hiệu ở cấp độ khu vực và vươn ra thế giới, điều này sẽ rất

thuận lợi cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu trong

khi các hiệp định FTAs được thực thi. Bên cạnh các vấn đề cơ bản về sản

phẩm, kênh phân phối riêng chính là yếu tố quan trọng để xây dựng thương

168

hiệu của doang nghiệp. Kênh phân phối ở một góc độ nào đó chính là chất

dẫn để thương hiệu đến với thị trường, cũng là chất liên kết giữa sản phẩm

và thị trường. Theo Nguyệt A. Vũ (2014), sự liên kết giữa các doanh nghiệp

dệt may và người tiêu dùng ở Việt Nam đang rất yếu, đối với thị trường khu

vực và thế giới lại còn yếu hơn. Thực tế trên thế giới chứng mình rằng bất

cứ một thương hiệu ngành may mặc nào cũng có những kênh phân phối

riêng không chỉ ở thị trường nội địa mà còn trên phạm vi toàn cầu. Hiện nay,

Việt Nam đã hoàn tất những bước cuối cùng để tiến tới thực thi hiệp định

EVFTA và CPTPP, do đó đây là cơ hội rất tốt để các doanh nghiệp xuất

khẩu dệt may thiết lập các kênh phân phối ở thị trường các quốc gia này.

Bước đầu các doanh nghiệp dệt may có thể thiết lập văn phòng đại diện, hợp

tác với các kênh phân phối sở tại và xa hơn là tiến tới xây dựng kênh phân

phối riêng ở các thị trường xuất khẩu. Việc xây dựng thương hiệu và kênh

phân phối riêng bề ngoài là hai công đoạn riêng lẻ trong chiến lược kinh

doanh của doanh nghiệp nhưng thực chất chúng có quan hệ mật thiết với

nhau, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau. Vì vậy, các doanh nghiệp dệt may phải

đồng thời thực hiện cả hai chiến lược này. Kênh phân phối riêng chính là

cách thức tốt nhất để một doanh nghiệp tạo sự liên kết vững chắc giữa sản

phẩm của mình và thị trường hay người tiêu dùng.

Hình 4.10: Dệt may và Liên kết thị trường

169

Nguồn: Nguyệt A. Vũ (2014)

4.4.2.4. Giải pháp về quy tắc xuất xứ - ngoại lệ xuất xứ

Để thúc đẩy xuất khẩu dệt may, tận dụng được những lợi ích về cắt

giảm thuế quan từ các FTA thế hệ mới, Việt Nam trước tiên cần đáp ứng được

các tiêu chuẩn về xuất xứ hàng hóa. Theo quy tắc xuất xứ trong cam kết của

EVFTA (từ vải trở đi) và CPTPP (từ sợi trở đi), các doanh nghiệp Việt Nam

hiện nay vẫn gặp rất nhiều khó khăn bởi phần lớn doanh nghiệp dệt may của

Việt Nam mới chỉ đang thực hiện các công đoạn cắt và may, trong khi vải

nguyên liệu sử dụng để sản xuất chủ yếu được nhập khẩu từ các thị trường

chưa có FTA với EU và không tham gia CPTPP, chủ yếu đến từ Trung Quốc

và Đài Loan. Do đó, một mặt Chính phủ Việt Nam cần có chính sách định

hướng/khuyến khích các doanh nghiệp chú trọng đầu tư và phát triển công

nghiệp dệt và công nghiệp phụ trợ may để đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc xuất

xứ trong các cam kết của Hiệp định (Vanzetti and Vu, 2014; VCCI, 2017).

Bên cạnh việc các doanh nghiệp phải chuyển đổi sản xuất theo hướng tiên

tiến, chú trọng đầu tư phát triển công nghệ thì cách thức tận dụng các ngoại lệ

về xuất xứ trong các Hiệp định FTA thế hệ mới như trường hợp Hàn Quốc

trong EVFTA hay các quốc gia thuộc CPTPP trong hiệp định CPTPP là cách

thức hiệu quả nhất để vượt qua các rào cản về cam kết xuất xứ này. Quy tắc

xuất xứ 2 công đoạn trong Hiệp định EVFTA và quy tắc xuất xứ 3 công đoạn

trong CPTPP nghĩa là toàn bộ quá trình kéo sợi, dệt vải và nhuộm, hoàn tất và

may phải được thực hiện trong nội khối của Hiệp định sẽ khuyến khích các

doanh nghiệp dệt may của Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng

của khối, tuy nhiên đó là vấn đề của chiến lược đổi mới, chuyển dịch cơ cấu

trong trung và dài hạn, còn trong ngắn hạn áp dụng ngoại lệ xuất xứ là

phương cách linh hoạt nhất để các doanh nghiệp xuất khẩu các sản phẩm dệt

may của Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của mình đến thị trường các

170

quốc gia EU và các thị trường thành viên của CPTPP.

Tiểu kết chương 4

Xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong những năm gần đây đóng góp

tỷ phần rất lớn cho xuất khẩu chung của Việt Nam, đồng thời chiếm giữ vai

trò và vị trí chiến lược trong quá trình tiến ra thị trường quốc tế. Quyết định

quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2020,

tầm nhìn 2030 cho thấy Chính phủ Việt Nam coi trọng việc phát triển ngành

dệt may theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững, chuyển đổi phương thức

sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh

đáp ứng thị trường tiêu dùng trong nước, xuất khẩu dệt may được xác định là

phương thức cơ sở, nền tảng cho sự phát triển của toàn ngành.

Hiện nay, hai hiệp định thương mại tự do thế hệ mới quan trọng nhất đối

với Việt Nam là EVFTA và CPTPP đã chính thức có hiệu lực với những

phạm vi cam kết mở rộng và mức độ cam kết cao nhất mà Việt Nam từng

tham gia đàm phán và ký kết. Với ưu tiên chiến lược trong đàm phán, xuất

khẩu dệt may của Việt Nam trong thời gian tới khi các hiệp định này có hiệu

lực được dự báo sẽ có nhiều xung lực mới cho phát triển, tuy nhiên nó cũng

được dự đoán sẽ ẩn chứa nhiều rủi ro và thách thức.

Để thúc đẩy xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong quá trình thực thi các

hiệp định FTA thế hệ mới, Nhà nước cần thực hiện một loạt các nhóm giải

pháp liên quan đến thị trường, đầu tư, quản lý, nguồn nhân lực, khoa học công

nghệ, bảo vệ môi trường và nguồn nguyên phụ liệu. Bên cạnh đó, bản thân

doanh nghiệp cũng phải tự cải biên chính mình sao cho thích ứng và phù hợp

với các cam kết trong các FTA thế hệ mới, đồng thời áp dụng các biện pháp

nhằm tối ưu hóa các điều khoản mà các FTA thế hệ mới đem lại. Tái cấu trúc

ngành may mặc, xây dựng thương hiệu và kênh phân phối riêng, đồng thời tận

dụng nguyên tắc ngoại lệ trong cam kết xuất xứ là các giải pháp mà doanh

nghiệp dệt may cần phải tiến hành ngay từ bây giờ nhằm tận dụng các lợi thế

171

mà FTA thế hệ mới mang lại.

KẾT LUẬN

Trong nhiều năm qua, ngành dệt may của Việt Nam luôn giữ vị trí là

ngành công nghiệp chủ lực và là mũi nhọn xuất khẩu của cả nước. Với kim

ngạch xuất khẩu dẫn đầu cả nước, hàng dệt may của nước ta đang dần chiếm

lĩnh các thị trường quốc tế. Hội nhập KTQT, các doanh nghiệp dệt may Việt

Nam có thêm nhiều cơ hội tiếp cận với công nghệ mới, kỹ thuật tiên tiến và

được tiếp cận rộng hơn với thị trường quốc tế, có cơ hội hợp tác phát triển tốt

và bình đẳng hơn. Bên cạnh những cơ hội, các doanh nghiệp dệt may cũng sẽ

phải chịu thêm nhiều sức ép cạnh tranh, không chỉ cạnh tranh với các doanh

nghiệp dệt may nước ngoài để thâm nhập được vào thị trường của họ, mà còn

cạnh tranh với họ trên chính thị trường nội địa.

Thị trường kinh doanh hàng dệt may thế giới cạnh tranh ngày càng gay

gắt, lợi thế cạnh tranh xuất khẩu nhìn chung vẫn nghiêng về các nước đang

phát triển như: Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Pakistan, Campuchia…

Thương mại dệt may thế giới sẽ ngày càng tập trung vào tay các tập đoàn bán

lẻ đa quốc gia, từ việc chuyển dịch đầu tư, sản xuất, thiết kế sản phẩm, phân

khúc thị trường, tổ chức các chuỗi sản xuất - cung ứng cho đến khâu tiêu thị

sản phẩm cuối cùng. Các nước nhỏ, các nhà sản xuất và các công ty trung

gian nhỏ ngày càng khó có cơ hội phát triển nếu nằm ngoài các chuỗi giá trị

này. Việt Nam dù đã tham gia vào chuỗi nhưng ngành dệt may Việt Nam vẫn

bị coi là “đi trên đôi chân của người khác”do tỷ lệ gia công cao, chưa thâm

nhập sâu vào chuỗi giá trị.

Với mục tiêu đặt ra cho Luận án là thông qua việc phân tích, đánh giá

thực trạng xuất khẩu hàng dệt may trong bối cảnh Việt Nam tham gia các

Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đồng thời đánh giá tác động của các

FTAs thế hệ mới tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam, từ đó, Luận án có

những đề xuất đối với Nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may trong

việc triển khai các giải pháp nhằm đẩy mạnh quy mô, kim ngạch xuất khẩu

172

dệt may củaViệt Nam trong thời gian tới

Để thực hiện mục tiêu này, Luận án đã áp dụng tổng hợp các phương

pháp như phương pháp kế thừa, phương pháp phân tích hệ thống, phương

pháp phân tích tổng hợp và so sánh phối hợp với phương pháp ý kiến chuyên

gia, phương pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp khảo sát, thống kê và đã

đạt được những kết quả chính sau đây:

- Làm rõ cơ sở lý luận về xuất khẩu dệt may trong bối cảnh hình thành

các hiệp định tự do thế hệ mới. Luận án làm rõ đặc điểm và các nhân tố ảnh

hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Đồng thời, các khái niệm và sự

khác biệt giữa hiệp định thương mại tự do truyền thống và hiệp định thương

mại tự do thế hệ mới cũng được chỉ rõ.

- Phân tích bức tranh xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong bối cảnh

hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Trong đó, những cơ

hội và thách thức, điểm mạnh và điểm yếu của ngành dệt may Việt Nam nói

chung và xuất khẩu dệt may nói riêng được chỉ ra một cách cụ thể.

- Phân tích bối cảnh trong nước và thế giới tác động đến xuất khẩu dệt

may Việt Nam trong quá trình hình thành các hiệp định thương mại tự do thế

hệ mới.

- Phân tích quan điểm, định hướng và các giải pháp để thúc đẩy xuất

khẩu dệt may Việt Nam trong quá trình hình thành các hiệp định thương mại

tự do thế hệ mới.

- Từ góc độ tiếp cận đánh giá cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu dệt

may của Việt Nam trong bối cảnh hình thành các FTA thế hệ mới, Luận án đề

xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong

bối cảnh Việt Nam tham gia các FTAs thế hệ mới. Để thúc đẩy xuất khẩu dệt

may, tận dụng được những lợi ích về cắt giảm thuế quan từ các FTA, Việt

Nam trước tiên cần đáp ứng được các tiêu chuẩn về xuất xứ hàng hóa. Các

đơn hàng của Việt Nam phần lớn vẫn may theo hình thức gia công, nguồn vải

chủ yếu nhập khẩu nên việc đáp ứng về quy tắc xuất xứ là khá khó khăn. Bên

cạnh đó, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần chuyển đổi từ phương thức

173

gia công CMT (cắt, may, hoàn thiện sản phẩm) sang phương thức OEM

(phương thức mua nguyên liệu, bán thành phẩm) và ODM (Phương thức bao

gồm cả sản xuất và thiết kế), tiến tới là phương thức OBM (Phương thức sản

xuất có thương hiệu riêng), từ đó sẽ giúp nâng cao giá trị gia tăng xuất khẩu

dệt may của Việt Nam. Ngoài ra, để thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt Nam

trong những năm tới, các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực sản xuất, tự

chủ nguồn nguyên liệu đầu vào, áp dụng chuyển đổi số vào sản xuất kinh

doanh, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng các yêu cầu về môi

174

trường và lao động./.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Tài liệu tiếng Việt

1) Bộ Công Thương. (2015). Tóm tắt cam kết về Dệt may trong TPP. Hà

Nội, Việt Nam.

2) Bộ Công Thương (2016). Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam 2016-2021.

Hà Nội: NXB Công thương.

3) Nguyễn Hồng Chỉnh. (2017). Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt

may Việt Nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác xuyên Thái

Bình Dương (Luận án Tiến sỹ). Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.

4) Vũ Văn Diện. (2019). Việt Nam và các hiệp định thương mại tự do thế

hệ mới. Tạp chí Tài chính, 2/2019.

5) Vũ Bạch Diệp, Nguyễn Thị Phương Thảo và Ngô Hoài Thu. (2018).

Phân tích các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang

thị trường EU bằng mô hình trọng lực. Tạp chí Kinh tế và Quản trị kinh

doanh, số 7, 72-78.

6) Vũ Kim Dũng. (2015). Mô hình đàn sếu bay. Tạp chí Khoa học và công

nghệ, số 7/2015.

7) Vũ Quốc Dũng. (2007).Dệt may Việt Nam hậu WTO: Thực trạng và

những mục tiêu hướng tới.Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, số 9/2007.

8) Đỗ Thị Đông. (2011). Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liên kết

của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam. Đại học Kinh tế Quốc

dân, Hà Nội.

9) Dương Đình Giám (2001). Phương hướng và các biện pháp chủ yếu

nhằm phát triển ngành công nghiệp dệt – may trong quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam (Luận án Tiến sỹ). Đại học Kinh tế

Quốc dân, Hà Nội.

10) Bùi Trường Giang. (2010). Hướng tới chiến lược FTA của Việt Nam: Cơ

175

sở lý luận và thực tiễn Đông Á. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.

11) Nguyễn Hoàng Giang. (2014). Giải pháp xây dựng chiến lược thương

hiệu ngành dệt may Việt Nam. Tạp chí Tài chính, số 5/2014.

12) Trần Thị Thuận Giang và Ngô Nguyễn Thảo Vy. (2017). Hiện tượng

chệch hướng thương mại từ quy tắc xuất xứ ưu đãi chặt chẽ: Tương lai

của hàng dệt may ASEAN và Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Tạp chí

Khoa học Pháp lý, số 4(107)/2017.

13) Thu Hoài (2019). TPP và những tác động tới dệt may Việt Nam. Tạp chí

Công thương, số 1(12), 18-19.

14) Phan Thanh Hoàn. (2017). Cơ hội và thách thức của Dệt may Việt Nam

trong bối cảnh gia nhập TPP. Tạp chí Khoa học Đại học Huế, số

126(5A), 173–184.

15) Nguyễn Hoàng. (2009). Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất

khẩu vào thị trường các nước EU của doanh nghiệp dệt may Việt Nam

trong gia đoạn hiện nay (Luận án Tiến sỹ). Trường Đại học Thương mại,

Hà Nội.

16) Hà Văn Hội (2012). Phân tích chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may Việt

Nam. VNU Journal of Science: Economics and Business, số 28(1).

17) Hà Văn Hội. (2012). Chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam:

Những bất lợi, khó khăn và biện pháp đối phó. VNU Journal of Science:

Economics and Business, số 28(4).

18) Vũ Thanh Hương và Nguyễn Thị Minh Phương. (2016). Đánh giá tác

động theo ngành của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU: Sử

dụng các chỉ số thương mại. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và

Kinh doanh, số 32(3), 28-38.

19) JICA và NEU. (2004). Chính sách công nghiệp và thương mại Việt Nam

trong bối cảnh hội nhập. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống Kê.

20) Nguyễn Việt Khôi và Shashi Kant Chaudhary. (2019). Vị thế của Việt

Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. VNU Journal of Social Sciences and

176

Humanities, số 5(3).

21) Nguyễn Đức Kiên. (2018). Đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp

từ ngành dệt may. Tạp chí Cộng sản, số 135(2018).

22) Nguyễn Hoàng Khởi và Lưu Tiến Thuận. (2015). Những tác động chính

của Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương đến doanh

nghiệp dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Tạp chí Khoa

học Trường Đại học Trà Vinh, số 17(3), 32-38.

23) Nguyễn Thị Lan. (2016). Triển vọng của dệt may Việt Nam trong chuỗi

giá trị toàn cầu. Tạp chí Tài chính, số 3/2016.

24) Phạm Thùy Linh, Phạm Hoàng Linh và Trần Thị Thu Trâm. (2017).

Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập mới. Tạp

chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên, số 167(7).

25) Vũ Hồng Loan. (2013). TPP – Hiệp định thương mại tự do của thế kỷ

XXI. Tạp chí Tài chính, số 6/2013.

26) Nguyễn Thị Cẩm Loan. (2014). Chuẩn bị của ngành dệt may Việt Nam

trước thềm TPP. Tạp chí Khoa học Trường Đại học An Giang, số 2(1).

27) Cao Quý Long. (2012). Hệ thống rào cản kỹ thuật trong thương mại

quốc tế và những giải pháp khắc phục rào cản để xuất khẩu hàng dệt

may Việt Nam sang thị trường Mỹ trong bối cảnh mới (Luận văn thạc

sỹ). Trường Đại học Kinh tế, Hà Nội.

28) Phạm Thị Lụa. (2014). Rào cản kỹ thuật đối với hàng dệt may xuất khẩu

và giải pháp của Việt Nam (Luận án Tiến sỹ). Viện nghiên cứu Thương

mại, Hà Nội.

29) Ngô Dương Minh. (2017). Những rào cản đối với các doanh nghiệp Việt

Nam khi tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Tại chí Khoa học

và Đào tạo Ngân hàng, số 190(3), 34-43.

30) Trương Thị Phúc Nguyên. (2020). Báo cáo cập nhật ngành dệt may.

FPT Securities.

31) Đỗ Thị Hòa Nhã, Nguyễn Thị Oanh và Ngô Hoài Thu. (2019). Phân tích

177

tình hình xuất khẩu các nhóm hàng hóa của Việt Nam sang thị trường

EU. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên, số

196(S.03).

32) Trần Thị Bích Nhung. (2017). Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của

các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Tạp chí Quản lý Kinh tế Quốc tế,

số 95(95).

33) Lê Thị Kiều Oanh và Đỗ Thị Thu Hồng. (2019). Phát triển ngành Dệt

may Việt Nam trong tình hình hiện nay. Tạp chí Tài chính, số 2

(10/2019).

34) Kim Ngọc. (2015). Hiệp định đối tác Kinh tế toàn diện khu vực: Cơ hội

và thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí Khoa học Xã hội Việt

Nam, số 9/2015.

35) Phạm Thị Thu Phương. (2000). Những giải pháp chiến lược nhằm nâng

cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ngành May mặc Việt Nam. Hà Nội:

Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

36) Nguyễn Văn Quang. (2020). Chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu

hàng may mặc Việt Nam. Tạp chí Công thương, số 1/2020.

37) Lương Xuân Quỳ. (2014). Việt Nam và TPP. Tạp chí Phát triển và Hội

nhập, số 14(24).

38) Lê Xuân Sang và Nguyễn Thị Thu Huyền. (2011). Chính sách thúc đẩy

phát triển công nghiệp hỗ trợ: Lý luận, thực tiễn và định hướng cho Việt

Nam. Tham luận trình bày tại Hội thảo “Chính sách tài chính hỗ trợ phát

triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam”. Hà Nội.

39) Nguyễn Ngọc Sơn. (2007). Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu của

ngành dệt may. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 35-39.

40) Nguyễn Thanh Tâm. (2016). Tổng quan về các FTA thế hệ mới. Trường

Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.

41) Nguyễn Xuân Thọ. (2019). Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm

dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (Luận án Tiến

178

sỹ). Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

42) Lê Hồng Thuận. (2017). Báo cáo Ngành Dệt may: Thay đổi để bứt phá.

Fpt Securities.

43) Lê Quang Thuận. (2019). Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và

tác động tới kinh tế Việt Nam. Tạp chí Tài chính, 7/2019.

44) Võ Thanh Thu. (2013). Những giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt

may sang thị trường Mỹ sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Tạp chí Kinh

tế Phát triển, số 267(1), 45-53.

45) Võ Thanh Thu và Ngô Thị Hải Xuân. (2015). Định hướng phát triển

ngành dệt may VN đáp ứng yêu cầu hội nhập TPP. Tạp chí Phát triển

Kinh tế, số 26(1), 59-73.

46) Lê Thị Thúy. (2017). Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới: Cơ hội và

thách thức đối với Việt Nam. Khoa học Xã hội Việt Nam, số 5(114), 19-

29.

47) Nguyễn Thị Thúy. (2014). Giải pháp cho Việt Nam khi gia nhập các

hiệp định thương mại và TPP. Đại học Thăng Long, Hà Nội.

48) Lê Thanh Thủy. Ngành dệt may trong xu thế cách mạng công nghiệp

4.0. Tạp chí Tài chính, số 8/2019.

49) Phương Thanh Thủy. (2016). Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình

Dương: cơ hội và thách thức đối với Việt Nam. Tạp chí Khoa học Xã hội

Việt Nam, số 12, 1-28.

50) Phùng Thị Quỳnh Trang. (2017). Ngành dệt may Việt Nam: Thúc đẩy

thực hiện các giải pháp sản xuất sạch hơn nhằm nâng cao sức cạnh tranh.

Tạp chí Môi trường, số 2017/11.

51) Trung Tâm WTO. (2018). http://www.trungtamwto.vn/.

52) Trương Hồng Trình và Cộng sự. (2010). Tiếp cần chuỗi giá trị cho việc

nâng cấp ngành dệt may Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số

2(37).

53) VCCI. (2017). EVFTA và ngành dệt may, giày dép Việt Nam. Trung tâm

179

WTO.

54) Nguyệt A. Vũ. (2014). Ngành dệt may Việt Nam. Báo cáo Ngành

VietinbankSC, Hà Nội.

55) Ngô Thị Hải Xuân. (2012). Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái

Bình Dương: Cơ hội và thách thức đối với ngành dệt may VN xuất khẩu

sang thị trường Mỹ. Tạp chí Kinh tế Kinh tế, số 265(11).

56) Sacombank. (2020). Báo cáo ngành dệt may năm 2019. Sacombak-SBS,

Securities Company.

II. Tài liệu Tiếng Anh

57) Akamatsu, K. (1962). A historical pattern of economic growth in

developing countries. The Developing Economies, 1(s1), 3-25.

58) Anderson, J.E. and Wincoop, E. (2003). Gravity with Gravitas: A

Solution to the Border Puzzle. American Economic Review, 93, 170–192.

59) Baldwin R.E. (2006). Multilateralising Regionalism: Spaghetti Bowls as

Building Blocs on the Path to Global Free Trade. The World Economy,

29(11), 1451-1518.

60) Buchanan, F. R., Anwar, S. T., & Tran, T. X. (2013). Spotlight on an

emerging market: Assessing the footwear and apparel industries in

Vietnam. Global Business and Organizational Excellence, 32(2), 38-51.

61) Chandra, P. (2005). The textile and apparel industry in India. Indian

Institute of Management, Ahmedabad, India.

62) Chi, D. Q. (2020). Social and economic upgrading in the garment supply

chain in Vietnam (No. 137/2020). Working Paper.

63) Chi, T. (2011). Building a sustainable supply chain: an analysis of

corporate social responsibility (CSR) practices in the Chinese textile and

apparel industry. Journal of the Textile Institute, 102(10), 837-848.

64) Cox, A. (2015). The pressure of wildcat strikes on the transformation of

industrial relations in a developing country: The case of the garment and

textile industry in Vietnam. Journal of Industrial Relations, 57(2), 271-

180

290.

65) De Marchi, V., Giuliani, E., & Rabellotti, R. (2018). Do global value

chains offer developing countries learning and innovation

opportunities?. The European Journal of Development Research, 30(3),

389-407.

66) Drejet, R., & Rappaport, A. N. N. (2014). Energy efficiency and working

conditions in Vietnamese apparel factories. Fletcher F. World Aff., 38,

167.

67) Egan, V. (2012). Business constraints and recessionary effects on small

firms in Vietnam: A case study of the retail clothing industry.

In Advances in Business in Asia: The Opportunities, Threats, and Future

Trends of Businesses in China, India and the ASEAN

Countries (101(116), 101-116). Cambridge Scholars Publishing in

association with GSE Research.

68) Feenstra, R. C. (2015). Advanced international trade: theory and

evidence. Princeton university press.

69) Gereffi, G., & Memedovic, O. (2003). The Global Apparel value Chain:

what prospects for upgrading by developing countries. UN Industrial

Development Organization. Vienna: Austria.

70) Goto, K., Natsuda, K., & Thoburn, J. (2011). Meeting the challenge of

China: the Vietnamese garment industry in the post MFA era. Global

Networks, 11(3), 355-379.

71) Goto, K. (2012). Is the Vietnamese garment industry at a turning point?:

upgrading from the export to the domestic market. Inst. of Developing

Economies, Japan External Trade Organization.

72) Goto, K. (2013). Starting businesses through reciprocal informal

subcontracting: Evidence from the informal garment industry in Ho Chi

Minh city. Journal of International Development, 25(4), 562-582.

73) Goto, K. (2017). Development through innovation: The case of the Asian

apparel value chain. In Global innovation and entrepreneurship (95-

181

111). Palgrave Macmillan, Cham.

74) Gregory, R., Anstie, R., & Klug, E. (1991). Why are low-skilled

immigrants in the United States poorly paid relative to their Australian

counterparts? Some of the issues illustrated in the context of the

footwear, clothing, and textile industries. In Immigration, trade, and the

labor market (pp. 385-406): University of Chicago Press.

75) Grumiller, J., Raza, W., Staritz, C., Tröster, B., von Arnim, R., & Grohs,

H. (2018). The economic and social effects of the EU Free Trade

Agreement with Vietnam. ÖFSE–Austrian Foundation for Development

Research, 8, 2018.

76) Gujarati, D.N., and Porter, D.C. (2003). Basic econometrics

(4ed.). Singapore: McGrew Hill Book Co.

77) Ho, D., Kumar, A., & Shiwakoti, N. (2017, December). Supply chain

collaboration—A case study of textile and apparel industry. In 2017

IEEE International Conference on Industrial Engineering and

Engineering Management (IEEM) (pp. 1367-1371). IEEE.

78) Ho, H. T. T., & Watanabe, T. (2020). The dynamics of textile firm

responses to the restriction of endocrine disrupting surfactants: a

Vietnam case study. Journal of Risk Research, 23(4), 504-521.

79) Hoang, D., & Jones, B. (2012). Why do corporate codes of conduct fail?

Women workers and clothing supply chains in Vietnam. Global Social

Policy, 12(1), 67-85.

80) Jacobs, B., Simpson, L., Nelson, S., & Karpova, E. (2016). Matching

Sourcing Destination with Fashion Brands’ Business Model:

Comparative Advantages of Bangladesh and Vietnam Apparel

Industries. Fashion, Industry and Education, 14(2), 11-23.

81) Jagdish N.B. (1998). A Stream of Windows: Unsettling Reflections on

Trade, Immigration, and Democracy. Massachusetts Institute.

82) Keane, J., & te Velde, D. W. (2008). The role of textile and clothing

industries in growth and development strategies. Overseas Development

182

Institute, 7.

83) Kenta, G. (2007). Industrial Upgrading of the Vietnamese Garment

Industry: An Analysis from the Global Value Chains Perspective (No.

07-1, p. 4). RCAPS working paper.

84) Kenta, G. (2012). Is the Vietnamese garment industry at a turning point?:

upgrading from the export to the domestic market. In Fukinishi (Ed).,

“Dynamics of the Garment Industry in Low-Income Countries:

Experience ò Asia and Afria (Interim Report). Chousakenkyu

Houkokusho, IDE-JETRO, 2012.

85) Knutsen, H. M. (2004). Industrial development in the buyer-driven

networks: the garment industry in Vietnam and Sri Lanka. Journal of

Economic Geography, 4, 545–564.

86) Knutsen, H. M., & Nguyen, C. M. (2004). Preferential treatment in a

transition economy: the case of state‐owned enterprises in the textile and

garment industry in Vietnam. Norsk Geografisk Tidsskrift-Norwegian

Journal of Geography, 58(3), 125-135.

87) Kojima, K. (2000). The “flying geese” model of Asian economic

development: origin, theoretical extensions, and regional policy

implications. Journal of Asian Economics, 11(4), 375-401.

88) Le, Q. A., Tran, V. A., & Nguyen Duc, B. L. (2019). The Belt and Road

Initiative and Its Perceived Impacts on the Textile and Garment Industry

of Vietnam. Journal of Open Innovation: Technology, Market, and

Complexity, 5(3), 59.

89) Le, T. N., & Wang, C. N. (2017). The integrated approach for

sustainable performance evaluation in value chain of Vietnam textile and

apparel industry. Sustainability, 9(3), 477.

90) Lee, J. G., & Linda, N. S. (2016). Assessing the challenges and

opportunities for small and medium enterprises (SMEs) in the

Vietnamese apparel retail market. In International Textile and Apparel

Association Annual Conference Proceedings (Vol. 73, No. 1). Iowa State

183

University Digital Press.

91) Lo Thi, H. V., & Guzikova, L. A. (2020). Industry 4.0 in Vietnam:

strategic planning experience. Asia and Africa Today, (8), 64-68.

92) Lu, S. (2018). Evaluation of the Potential Impact of CPTPP and EVFTA

on Vietnam's Apparel Exports: Are We Over-optimistic about Vietnam's

Export Potential?. In International Textile and Apparel Association

Annual Conference Proceedings (Vol. 75, No. 1). Iowa State University

Digital Press.

93) Luong, H. V. (2001). The strength of Vietnamese industrial fabric:

institutional mechanisms of firm competitiveness in the textile and

garment industry. Journal of Asian Business, 17, 17–44.

94) MacIntosh, M. (2013). Institutional influences on firm level HRM: Some

evidence from the Vietnamese garment and footwear sectors. Asia

Pacific Journal of Human Resources, 51(2), 228-247.

95) Mai, N. T. N., & Phong, H. T. (2020). Supplier selection criteria in

Vietnam: A case study in textile and apparel industry. Journal of Asian

Business and Economic Studies, 26(S02), 71-100.

96) Munny, A. A., Ali, S. M., Kabir, G., Moktadir, M. A., Rahman, T., &

Mahtab, Z. (2019). Enablers of social sustainability in the supply chain:

An example of footwear industry from an emerging

economy. Sustainable Production and Consumption, 20, 230-242.

97) Nadvi, K., Thoburn, J. T., Thang, B. T., Ha, N. T. T., Hoa, N. T., Le, D.

H., & Armas, E. B. D. (2004). Vietnam in the global garment and textile

value chain: impacts on firms and workers. Journal of International

Development, 16(1), 111-123.

98) Nadvi, K., Thoburn, J., Thang, B. T., Ha, N. T. T., Hoa, N. T., & Le, D.

H. (2004). Challenges to Vietnamese firms in the world garment and

textile value chain, and the implications for alleviating poverty. Journal

184

of the Asia Pacific economy, 9(2), 249-267.

99) Nayak, R., Akbari, M., & Far, S. M. (2019). Recent sustainable trends in

Vietnam's fashion supply chain. Journal of Cleaner Production, 225,

291-303.

100) Ngo, C. N. (2017). Industrial Development, Liberalisation and Impacts

of Vietnam–China Border Trade: The Case of the Vietnamese Textile

and Garment Sector. European Journal of East Asian Studies, 16(1),

154-184.

101) Nguyen, C. M., & Le, Q. V. (2005). Institutional constraints and private

sector development: the textile and garment industry in Vietnam. ASEAN

Economic Bulletin, 297-313.

102) Nguyen, M. T. T., Nguyen, L. H., & Nguyen, H. V. (2019). Materialistic

values and green apparel purchase intention among young Vietnamese

consumers. Young Consumers.

103) Nguyen, N. H., Beeton, R. J., & Halog, A. (2014). Who Influence the

Environmental Adaptation Process of Small and Medium Sized Textile

and Garment Companies in Vietnam?. In Roadmap to Sustainable

Textiles and Clothing (pp. 189-207). Springer, Singapore.

104) Nguyen, N. H., Beeton, R. J., Halog, A., & Duong, A. T. (2015).

Environmental Adaptation by Small and Medium Sized Textile and

Garment Companies in Vietnam—Is Governance an Issue?. In Roadmap

to Sustainable Textiles and Clothing (pp. 87-107). Springer, Singapore.

105) Nguyen, P. M. H., & Dornberger, U. (2013). Functional Upgrading in

Global Apparel Value Chain: The Case of Vietnam. Economic and

Social Development: Book of Proceedings, 620.

106) Nguyen, T. V., Le, N. T., Dinh, H. L., & Pham, H. T. (2020). Greasing,

rent-seeking bribes and firm growth: evidence from garment and textile

firms in Vietnam. Crime, Law and Social Change, 1-17.

107) Nguyen, V. T. T., & Le, L. T. (2019). ‘Without United States’ Trans-

Pacific Partnership Agreement and Vietnam’s Apparel

185

Industry. Emerging Markets Finance and Trade, 1-25.

108) Nguyen, V. N. (2016). The barriers to Vietnam’s textile companies when

participating in the global textile value chain. Science and Technology

Development Journal, 19(1), 102-110.

109) Nong, N. M. T., & Ho, P. T. (2019). Criteria for Supplier Selection in

Textile and Apparel Industry: A Case Study in Vietnam. The Journal of

Asian Finance, Economics and Business, 6(2), 213-221.

110) Oteifa, H., Stiel, H., & Feilding, R. (2000). Vietnam’s Garment Industry:

Moving up the Value Chain. MPDF Private sector Discussion No. 7.

Mekong Project Development Facility.

111) Pelzman, J. (2006). Implications for the Vietnamese Textile and Apparel

Industry in Light of Abolishing the Multifiber Arrangement and the US-

Vietnam Bilateral Investment Treaty. Globalization and East Asia:

Opportunities and Challenges, 233.

112) Pelzman, J., & Shoham, A. (2010). Comparison of PRC and Vietnam's

responses to the elimination of US textile and apparel quotas: economic

and cultural perspectives. International Journal of Business and

Emerging Markets, 2(4), 385-408.

113) Pertiwi, S. B. (2017). Explaining the fast-growing textile and garment

industries (TGI) in Vietnam (2000-2015). Journal of ASEAN

Studies, 5(2), 157-169.

114) Phan, T., Doan, X., & Nguyen, T. (2020). The impact of supply chain

practices on performance through supply chain integration in textile and

garment industry of Vietnam. Uncertain Supply Chain

Management, 8(1), 175-186.

115) Phong, D. T., & Van Thong, N. (2008). Review of the textile coloration

industry in Vietnam. Coloration Technology, 124(6), 331-340.

116) Santos Silva, J.M.C. and Tenreyro, S. (2006). The Log of Gravity. The

186

Review of Economics and Statistics, 88, 641–658.

117) Santos Silva, J. M. C. and Tenreyro, S. (2011). Further Simulation

Evidence on the Performance of the Poisson Pseudo-Maximum

Likelihood Estimator. Economics Letters, 112(2), 220-222.

118) Schaumburg-Müller, H. (2009). Garment exports from Vietnam: changes

in supplier strategies. Journal of the Asia Pacific Economy, 14(2), 162-

171.

119) Schmid, G., & Phillips, O. (1980). Textile trade and the pattern of

economic growth. Review of World Economics, 116(2), 294-306.

120) Tewari, M. (2006). Adjustment in India's textile and apparel industry:

reworking historical legacies in a post-MFA world. Environment and

Planning A, 38(12), 2325-2344.

121) Thai, V. N., Tokai, A., Yamamoto, Y., & Nguyen, D. T. (2011). Eco-

labeling criteria for textile products with the support of textile flows: A

case study of the vietnamese textile industry. Journal of Sustainable

Energy & Environment, 2, 105-115.

122) Thoburn, J., Sutherland, K., & Hoa, N. T. (2007). Globalization and

Poverty: Impacts on Households of employment and restructuring in the

textiles industry of Vietnam. Journal of the Asia Pacific Economy, 12(3),

345-366.

123) Thomsen, T. (2007). Accessing golobal value chain? The rold of

business-state relations in the private clothing industry in Vietnam.

Journal of Economic Geography, 7, 753-766.

124) Thomsen, L. (2009). Internal business organisation in the private

garment industry in Vietnam: the roles of ethnicity, origin and

location. Competition & Change, 13(1), 29-50.

125) Thu, V. T. (2019). Effects of EVFTA on Vietnam’s apparel exports: An

application of WITS-SMART simulation model. Journal of Asian

187

Business and Economic Studies, 25(S02), 04-28.

126) Tran, A. N. (1996). Through the eye of the needle: Vietnamese textile

and garment industries rejoining the global economy. Crossroads: An

Interdisciplinary Journal of Southeast Asian Studies, 83-126.

127) Tran, A.N. (2012). Vietnamese Textile and Garment Industry in the

Global Supply Chain: State Strategies and Workers'Responses. SBGS

Faculty Publications and Presentations, 20.

128) Tran, T., Tran, T., Burgess, J., Müller, S., & Weber, M. (2018). An

Exploration of Extraordinary Characteristics Impacting on the

Improvement of Competitive Advantage of Vietnam’s Garment Industry.

In 2018 4th International Conference on Green Technology and

Sustainable Development (GTSD) (pp. 466-469). IEEE.

129) Vanzetti, D., & Huong, P. L. (2014). Rules of origin, labour standards

and the TPP. Paper presented at the 17th Annual Conference on Global

Economic Analysis.

130) Vixathep, S., & Matsunaga, N. (2012). Firm performance in a

transitional economy: a case study of Vietnam's garment

industry. Journal of the Asia Pacific Economy, 17(1), 74-93.

131) Vu, H. T., & Pham, L. C. (2016). A dynamic approach to assess

international competitiveness of Vietnam’s garment and textile industry.

SpringerPlus, 5(1), 203.

132) Vu, T., Nguyen, N., Nguyen, X., Nguyen, Q., & Nguyen, H. (2020).

Corporate social responsibility, employee commitment, reputation,

government support and financial performance in Vietnam's export

textile enterprises. Accounting, 6(6), 1045-1058.

133) Vu, T. T. M., Maung, Z., Nguyen, L. G., Nguyen, H. Q., Truong, T. T.,

Minh, K., ... & Nguyen, C. T. (2018). Prevalence of Allergic Rhinitis

and Individual Prevention Practices Among Textile Workers in

Vietnam. Global Journal of Health Science, 10(7).

134) Wang, C. N., Nguyen, H. K., & Liao, R. Y. (2017). Partner selection in

188

supply chain of Vietnam’s textile and apparel industry: The application

of a hybrid DEA and GM (1,1) approach. Mathematical Problems in

Engineering, 2017.

135) Yotov, Y.V., Piermartini, P., Monteiro, J.A., and Larch, M. (2016). An

advanced guide to trade policy analysis: The structure Gravity Model.

United Nations and World Trade Organization: WTO Publications.

136) Zhang, Z., To, C., & Cao, N. (2004). How do Industry Clusters Success:

A Case Study in China’s Textiles and Apparel Industries. Journal of

Textile and Apparel, Technology and Management, 4(2), 1-10.

137) Zimon, D., Madzík, P., & Sroufe, R. (2020). The Influence of ISO 9001

& ISO 14001 on Sustainable Supply Chain Management in the Textile

Industry. Sustainability, 12(10), 4282.

PHỤ LỤC

A. Tổng hợp kết quả khảo sát

Chọn " không" Chọn " Có" Q4 Q4

Tuổi Row Labels

52 21.85% 56 78.15% 20-30

121 50.84% 137 49.16% 31-40

23.11% 77 76.89% 55 40-50

4.20% 10 95.80% 10 tren 50

238 Grand Total 280

Q2 Row Labels

37.82% 106 37.86% 90 Nam

148 62.18% 174 62.14% Nữ

Q3 Row Labels

20 8.40% 19 6.79% Sau Đại học

Cao đẳng/Đại học 132 55.46% 68 24.29%

84 Trung cấp, đào tạp nghề 35.29% 186 66.43%

189

2 Trung học phổ thông 0.84% 7 2.50%

Trung học cơ sơ 0.00% 0 0.00% 0

Tiểu học 0.00% 0 0.00% 0

Khác 0.00% 0 0.00% 0

Row Labels Q4

100% vốn nhà nước 12.61% 37 13.21% 30

Liên doanh với nước ngoài 13.87% 29 10.36% 33

Nhà nước 140 58.82% 179 63.93%

Tư nhân 14.71% 35 12.50% 35

Khác 0.00% 0 0.00% 0

Row Labels Q6

Chuyên gia 13.87% 11 3.93% 13

Trợ lý quản lý và tương đương 10.50% 9 3.21% 15

Khác 31.09% 84 30.00% 74

Nhân viên 109 33.19% 152 54.29%

Trưởng/phó bộ phận và tương 20 11.34% 14 5.00% đương

Trưởng/phó bộ phận và tương 7 10 3.57% đương

Row Labels Q7

Biết một Hiệp định 19.75% 51 18.21% 47

Biết đầy đủ các hiệp định 34.87% 98 35.00% 83

Biết hơn một hiệp định 24.79% 77 27.50% 59

Không biết 20.59% 54 19.29% 49

Row Labels Q8

Hiểu bình thường 39.92% 103 36.79% 95

Hiểu kỹ 32.35% 104 37.14% 77

Hiểu rất kỹ 2.94% 13 4.64% 7

Hiểu sơ sài 24.79% 60 21.43% 59

190

Row Labels Q9

Bình thường 100 42.02% 112 40.00%

Không biết 7.98% 16 5.71% 19

Không triển vọng 9.24% 28 10.00% 22

Rất triển vọng 22.27% 79 28.21% 53

Triển vọng 18.49% 45 16.07% 44

Row Labels Q10

Bạn bè, gia đình 29.83% 64 22.86% 71

Cơ quan quản lý nhà nước 36.13% 94 33.57% 86

Đối tác kinh doanh 12.61% 49 17.50% 30

Truyền thông 21.43% 73 26.07% 51

Row Labels Q12

Bình thường 5.88% 24 8.57% 14

Không biết 1.26% 2 0.71% 3

Không ủng hộ 23.95% 53 18.93% 57

Rất ủng hộ 34.45% 102 36.43% 82

Ủng hộ 34.45% 99 35.36% 82

Row Labels Q13

có 169 71.01% 211 75.36%

không 69 28.99% 69 24.64%

Row Labels Q14

Bình thường 23.95% 53 18.93% 57

Ít tán thành 13.45% 36 12.86% 32

Rất tán thành 15.13% 44 15.71% 36

Tán Thành 113 47.48% 147 52.50%

Row Labels Q17

Đơn giản hóa thủ tục hành chính 47 19.75% 53 18.93%

Cung cấp thông tin và hỗ trợ chi 44 18.49% 37 13.21% tiết thông tin về các Hiệp định

191

Hỗ trợ tiếp cận thị trường nước 42 17.65% 48 17.14%

ngoài

Hỗ trợ thông tin về thị trường 24 10.08% 39 13.93% trong nước

Hỗ trợ về khoa học, công nghệ và 18 7.56% 12 4.29% tài chính

Hỗ trợ xây dựng nguồn nguyên 23 9.66% 41 14.64% liệu đầu vào

Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực 40 16.81% 50 17.86% chất lượng cao cho ngành dệt may

Row Labels Q18

Xây dựng chiến lược nâng cao

chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu 36 15.13% 47 16.79%

Nâng cấp kênh marketing nhằm

tiếp xúc và mở rộng thị trường 32 13.45% 38 13.57%

mới

Cải tiến khoa học công nghệ, ứng

dụng khoa học công nghệ thân 41 17.23% 49 17.50% thiện với môi trường, đáp ứng các

điều kiện của hiệp định

Xây dựng chuỗi giá trị nhấn mạnh

đến các công đoạn tạo giá trị lớn 26 10.92% 33 11.79%

hơn

Xây dựng thương hiệu quốc gia và 70 29.41% 86 30.71% mang tầm quốc tế

Mở rộng hoạt động sản xuất 33 13.87% 27 9.64%

Row Labels Q19

192

Cạnh tranh từ các đối tác bên 40 16.81% 40 14.29% ngoài

Chất lượng sản phẩm thấp 17 7.14% 13 4.64%

Thiếu hụt nguồn nhiên liệu đầu 23 9.66% 52 18.57% vào

Trình độ khoa học kỹ thuật thấp 45 18.91% 30 10.71%

Thiếu nguồn nhân lực chất lượng 29 12.18% 55 19.64% cao

Nguồn vốn ít 48 20.17% 27 9.64%

Cơ chế quản lý nhà nước 30 12.61% 15 5.36%

Ngành công nghiệp hỗ trợ chưa 7 2.94% 48 17.14% đáp ứng yêu cầu

Row Labels Q20

Tìm hiểu kỹ nội dung, chuẩn mực,

các quy định, quy trình và các thủ 36 15.13% 51 18.21% tục liên quan đến các hiệp định

thương mại tự do thế hệ mới

Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng

nguồn nhân lực nhằm đáp ứng với 35 14.71% 43 15.36%

yêu cầu mới

Từng bước tiến hành cải cách bộ

máy quản lý theo hướng hiện đại, 35 14.71% 41 14.64%

tiên tiến và hiệu quả.

Chuẩn bị các điều kiện cần thiết

để tiến hành đổi mới và chuyển 39 16.39% 34 12.14%

giao công nghệ mới

Tiến hành tìm hiểu, tiếp xúc, mở

rộng và thúc đẩy hoạt động kinh 22 9.24% 36 12.86%

doanh ở các thị trường mới

193

Chủ động tìm kiếm nguồn nguyên 28 11.76% 46 16.43% liệu đầu vào phục vụ sản xuất

Nâng cao hiệu quả sản xuất, chất

lượng sản phẩm và xây dựng 43 18.07% 29 10.36%

chiến lược thương hiệu mạnh

Row Labels Q22

Tác động rất lớn 83 29.64% 77 32.35%

Tác động lớn 75 26.79% 55 23.11%

Tác động bình thường 44 15.71% 44 18.49%

Ít tác động 40 14.29% 39 16.39%

Không tác động 38 13.57% 23 9.66%

Row Labels Q23

Ảnh hưởng rất tích cực 45 18.91% 55 19.64%

Ảnh hưởng tích cực 34 14.29% 32 11.43%

Ảnh hưởng rất tiêu cực 6 2.52% 9 3.21%

3.78% 11 3.93% Ảnh hưởng tiêu cực 9

Ảnh hưởng tích cực nhiều hơn tiêu 42 17.65% 55 19.64% cực

Ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn tích 9 3.78% 19 6.79% cực

Ảnh hưởng như nhau 45 18.91% 44 15.71%

Không ảnh hưởng 48 20.17% 55 19.64%

Row Labels Q24

Rất triển vọng 60 25.21% 79 28.21%

Triển vọng 83 34.87% 87 31.07%

Bình thường 48 20.17% 52 18.57%

Không triển vọng 29 12.18% 39 13.93%

Không biết 18 7.56% 23 8.21%

B. Bảng Khảo Sát

194

Bảng hỏi Khảo sát

Xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh hình thành các hiệp định

thương mại tự do thế hệ mới

Xin chân thành cảm ơn ông/bà đã tham gia Khảo sát "Xuất khẩu dệt may Việt

Nam trong bối cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”.

Mục đích tiến hành khảo sát Xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh hình

thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nhằm đánh giá nhận thức

của người dân và doanh nghiệp về các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

để phục vụ tư liệu cho việc viết luận án Tiến sỹ “Xuất khẩu dệt may Việt Nam

trong bối cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”.

Tôi xin cam đoan mọi thông tin và nội dung được cung cấp trong khảo sát

đều được giữ bí mật, và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.

Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của Quý vị!

A. Thông tin chung

2. Giới tính: Nam 1. Tuổi:

Nữ

3. Trình độ/chuyên môn

A. Tiểu học B. Trung học cơ sở

C. Trung học phổ thông D. Trung cấp/đào tạo nghề

E. Cao đẳng/Đại học F. Sau đại học

G. Khác (nêu rõ)

4. Xin ông bà cho biết công việc của mình có liên quan đến ngành dệt may

không?

A. Có B. Không

5. Xin cho biết công việc hiện tại của ông bà thuộc khu vực nào?

A. Tư nhân B. Nhà nước

C. Liên doanh với nước ngoài D. 100% vốn nhà nước

E. Khác (nêu rõ)

6. Chức vụ cao nhất hiện tại của ông bà?

195

A. Nhân viên B. Chuyên gia

C. Trưởng/phó bộ phận và tương đương D. Trợ lý quản lý và tương

đương

E. Trưởng/phó phòng và tương đương F. Khác (nêu rõ)

B. Thông tin về các hiệp định thương mại tự do kiểu mới

7. Ông bà có biết (nghe) đến các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới hay

không?

A. Biết một Hiệp định B. Biết hơn một Hiệp định

C. Biết đầy đủ các Hiệp định D. Không biết (nếu không

biết chuyển sang câu 11)

8. Doanh nghiệp của ông/bà đã tìm hiểu thông tin về các Hiệp định thương

mại tự do thế hệ mới chưa?

B. Hiểu kỹ A. Hiểu rất kỹ

D. Hiểu sơ sài C. Hiểu bình thường

E. Chưa tìm hiểu

9. Doanh nghiệp của ông/bà nhận định gì về cơ hội khi Việt Nam tham gia

các hiệp định đó?

A. Rất triển vọng

B. Triển vọng

C. Bình thường

D. Không có triển vọng

E. Không biết

10. Ông bà biết đến các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới qua kênh

thông tin nào?

A. Cơ quan quản lý của nhà nước B. Các kinh truyền thông (TV,

Radio, báo mạng, mạng xã

hội…)

C. Đối tác kinh doanh D. Qua bạn bè, người thân

E. Khác (nêu rõ)

11. Xin cho biết mức độ am hiểu của Ông Bà về các Hiệp định thương mại tự

196

do thế hệ mới sau? (Theo mức độ am hiểu từ thấp đến cao).

Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Mức độ hiểu biết

0 1 2 3 4 5

11.1 Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên

Thái Bình Dương

11.2 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên

minh châu Âu

11.3 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn

Quốc

11.4 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam Liên minh

kinh tế Á – Âu

11.5 Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực

12. Xin cho biết quan điểm của Ông Bà về việc Việt Nam tham gia đàm phán

và ký kết các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới?

A. Rất ủng hộ B. Ủng hộ

C. Bình thường D. Không ủng hộ

E. Không biết

C. Ngành dệt may và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

13. Ông Bà có tán thành quan điểm cho rằng ngành dệt may nên được chú

trọng đặc biệt trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam

đang theo đuổi?

A. Có B. Không

14. Nếu trả lời “Có” trong câu 13, xin cho biết mức độ tán thành?

A. Rất tán thành B. Tán thành

C. Bình thường C. Ít tán thành

197

D. Ý kiến khác

15. Theo Ông bà, mức độ tác động của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ

mới đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực

dệt may của Việt Nam sẽ như thế nào?

A. Tác động rất lớn B. Tác động lớn

C. Tác động bình thường D. Ít tác động

E. Không tác động E. Ý kiến khác

16. Theo Ông Bà, Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nào có tác động như

thế nào đến hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam?

(theo thứ tự lớn nhấttừ 0 đến 5).

Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Thứ tự

0 1 2 3 4 5

16.1 Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên

Thái Bình Dương (CPTPP)

16.2 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên

minh châu Âu (EVFTA)

16.3 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn

Quốc

16.4 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam Liên minh

kinh tế Á – Âu (VN-EAEU)

16.5 Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực

(RCEP)

17. Theo Ông Bà, ưu tiên mà các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay

mong muốn nhà nước hỗ trợ trong quá trình hội nhập (có thể chọn nhiều đáp

án)?

A. Đơn giản hóa thủ tục hành chính

B. Cung cấp thông tin và hỗ trợ chi tiết thông tin về các Hiệp định

198

C. Hỗ trợ tiếp cận thị trường nước ngoài

D.Hỗ trợ thông tin về thị trường trong nước

E. Hỗ trợ về khoa học, công nghệ và tài chính

F. Hỗ trợ xây dựng nguồn nguyên liệu đầu vào

G. Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành dệt may

H. Hỗ trợ khác (nêu rõ)

18. Theo Ông Bà, doanh nghiệp dệt may cần làm gì để nắm bắt cơ hội từ các

hiệp định thương mại tự do thế hệ mới? (có thể chọn nhiều hơn một đáp án)

A. Xây dựng chiến lược nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu

B. Nâng cấp kênh marketing nhằm tiếp xúc và mở rộng thị trường mới

C. Cải tiến khoa học công nghệ, ứng dụng khoa học công nghệ thân

thiện với môi trường, đáp ứng các điều kiện của hiệp định

D. Xây dựng chuỗi giá trị nhấn mạnh đến các công đoạn tạo giá trị lớn

hơn

E. Xây dựng thương hiệu quốc gia và mang tầm quốc tế

G. Mở rộng hoạt động sản xuất

H. Ý kiến khác

19. Theo Ông Bà, ngành dệt may Việt Nam đối diện với thách thức nào khi

Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới? (có thể chọn

nhiều hơn một đáp án)

A. Cạnh tranh từ các đối tác bên ngoài

B. Chất lượng sản phẩm thấp

C. Thiếu hụt nguồn nhiên liệu đầu vào

D. Trình độ khoa học kỹ thuật thấp

E. Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao

F. Nguồn vốn ít

H. Cơ chế quản lý nhà nước

G. Ngành công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng yêu cầu

199

K. Khác (nêu rõ)

20. Doanh nghiệp của Ông/Bà đã triển khai những hoạt động gì để tận dụng

cơ hội, phát huy những lợi thế của mình và khắc phục những khó khăn, hạn

chế những thách thức từ các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới?

A. Tìm hiểu kỹ nội dung, chuẩn mực, các quy định, quy trình và các

thủ tục liên quan đến các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

B. Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng với

yêu cầu mới

C. Từng bước tiến hành cải cách bộ máy quản lý theo hướng hiện đại,

tiên tiến và hiệu quả.

D. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến hành đổi mới và chuyển

giao công nghệ mới

E. Tiến hành tìm hiểu, tiếp xúc, mở rộng và thúc đẩy hoạt động kinh

doanh ở các thị trường mới

F. Chủ động tìm kiếm nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất

G. Nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm và xây dựng chiến

lược thương hiệu mạnh

H. Khác (nêu rõ)

21. Doanh nghiệp của ông/bà có tuân thủ những quy định của các Hiệp định

thương mại tự do thế hệ mới và các cam kết của Việt Nam trong sản xuất và

xuất khẩu hàng dệt, may?

A. Rất tuân thủ B. Tuân thủ

C. Tuân thủ bình thường C. Tuân thủ hạn chế

D. Chưa tuân thủ

22. Theo Ông Bà, cách mạng công nghiệp 4.0 có tác động như thế nào đến

ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại

tự do thế hệ mới?

A. Tác động rất lớn B. Tác động lớn

C. Tác động bình thường D. Ít tác động

200

E. Không tác động F. Ý kiến khác

23. Theo Ông bà, cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ hiện nay có ảnh hưởng

đến chiến lược xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam hay không?

A. Ảnh hưởng rất tích cực B. Ảnh hưởng tích cực

C. Ảnh hưởng rất tiêu cực D. Ảnh hưởng tiêu cực

E. Ảnh hưởng tích cực nhiều hơn tiêu cực F. Ảnh hưởng tiêu cực

nhiều hơn tích cực

G. Ảnh hưởng như nhau H. Không ảnh hưởng

24. Theo Ông Bà, triển vọng xuất khẩu dệt may của Việt Nam khi các hiệp

định thương mại tự do thế hệ mới có hiệu lực?

A. Rất triển vọng

B. Triển vọng

C. Bình thường

D. Không có triển vọng

E. Không biết

201

Xin chân thành cảm ơn!

202