Y dược của Trung QuốcPhần 1
1. NGUỒN GỐC TRUNG Y
Xưa nay biết bao học giả đã gắng ng cgiải kinh điển Trung y.
Những chứng cứ khảo cổ mới được phát hiện gần đây và c công trình
nghiên cứu vnhững ký lục của các y sư riêng biệt về các y án đã tiết lcho
thấy một xu ng canh n đa dạng trong việc thực hành Trung y.
Những dị biệt theo khu vực địa cũng như những yếu txã hội và chính tr
đã nh hưởng rõ rệt cách thức mà cá nhân hay tập thể đã xây dựng và thuyết
giải nền y học cổ điển. Trong khi hầu hết c nguồn liệu viết bằng chữ
Hán mô tmột ch giới hạn về một nn y thuật kiệt xuất và do nam gii
đảm nhiệm, thì một số văn bản tiết lộ về một lịch sử y học của phụ nữ.
Hoàng Đế
Những gì chúng ta biết được vsự thực hành Trung y suốt đời Chiến
Quốc và đời Hán là chyếu góp nht từ các chuyên lun ca các tác gi
danh vtriết và y thuật. c tác giả Trung Quốc ngày xưa xu hướng
gán tác phm của mình cho tam hoàng ngũ đế, c y sư truyền thuyết, hay
các bậc thầy của họ. Khi nghiên cu y thuật, các y sư ngày xưa thường sao
chép các đoạn bản thảo và sắp xếp chúng theo một thứ tnhằm phản ánh s
kế tục ca các y sư bậc thầy thuộc nhiều trường phái khác nhau. Điều này
giải thích sự hiện diện của bốn u tập lớn v c y lun châm cu, được
biết chung dưới tên Hoàng Đế Nội Kinh. Hng Đế là một vị vua truyền
thuyết, tương truyền sống khoảng 2697-2597 tcn, và được xem là cha đẻ của
Trung y. Đa phần lý thuyết trong Hoàng Đế Nội Kinh (biên son khoảng đầu
công nguyên) được trình bày qua li vấn đáp giữa Hoàng Đế và KBá, một
v quan cũng là chuyên gia về châm cứu và các vấn đề huyền bí.
Giá trị mà nhng bậc học thức nhìn nhn đối với các y luận này có th
giải thích sự hiện diện của những u tập đầu tiên vc liệu tương t
trong các ngôi mđời n, thí dnhư 3 ngôi Hán mộ được phát hiện tại Mã
Vương Đôi, thuộc Trường Sa, tỉnh Hồ Nam hiện nay. Trong scác n bản
khai quật ngôi Hán mộ số 3 thì 7 văn bản đề cập thuyết âm dương,
li ccúng tế, phòng trung thut, tĩnh tọa, các phương thuốc bào chế từ
thảo dược, động vật, và các cht liệu gia dụng.
Sự phát triển mau chóng của thương mại nói chung và ca kỹ thuật n
loát i riêng vào đời Minh đã giúp phbiến kiến thức y học. Sự giao tiếp
trực tiếp giữa y sư đệ tử không quan trng bằng việc các y điển quan yếu
được phổ biến rộng rãi hơn trước. Trong các gia đình theo nghiệp y, các thế
hệ con cu đã xuất bản đề cao tác phẩm y học của gia tiên. ràng việc
tường thuật các ca chẩn trtnh ng y đã chứng minh các quan điểm lý
thuyết và thhiện những kthuật mi. Những y án cũng trở nên phbiến
hơn, giúp người ta thấy được thuyết Trung y được vận dụng trong thực tế
ra sao.
Sau cùng, văn chương, nhất là các tiu thuyết từ đời Minh đời
Thanh đã to một n tượng muôn màu vsự phức tạp và tinh tế của thế gii
Trung y.
2. Y SƯ VÀ Y THUẬT
Hoa Đà
Những nghiên cứu về lịch sTrung y cho thấy các y Trung Quốc
thuxưa thực là đa dạng. Họ đồng thời cũng thể là nho sĩ, tăng nhân, đạo
sĩ, hay phụ nữ. Tuy nhiên những chuyên luận do c y sư trtác đôi khi đã
ảnh hưởng đến sphát triển ca Trung y, thí dnhư tác phẩm Thương n
Luận của Trương Trọng Cảnh (142-220). Tác phm được người đời sau trích
dẫn rất nhiều này đã chào đời sau một nạn bệnh dịch xảy ra và n pth
trấn ông cư ngụ. Y luận của ông được kế tc vào đời Tng, Kim, Nguyên do
một sy tưởng canh n và lập n trường pi riêng, chẳng hn
như n Mạc (khoảng 581-682, vsau được sùng i như một vị thần y
dược).
Suốt đời Thương, chiêm bốc hẳn rất cần thiết để xoa dịu cơn thịnh nộ
của tổ tiên; nhưng những khi khác thì chiêm bốc và lịch pháp được dùng đ
xác định qtrình hu quả của bệnh tật. Giới vu hịch (đồng cốt), nhất là
nvu (bà đồng) cũng thực hành y thuật, một ng việc liên quan đến chức
năng tôn giáo ca họ. Họ chuyên vchiêm bốc, mà việc y dùng để chẩn
bệnh. Họ có thể nim danh c cthần, triệu vời ma quỉ và chiêu hồn tổ
tiên vtrợ giúp việc trbệnh, hoặc chế tác c hình nm của bệnh nhân để
thư ếm hay trị bệnh.
Các phương pháp chẩn bệnh cổ truyền gọi là tchẩn: vọng (quan sát),
văn (nghe), vấn (hi han), và thiết (bt mạch). Mã Thiên chép truyn
Biển Thước Thương Công trong S , đã krằng thần y Bin Thước
thời Chiến Quốc đã biết «thiết mạch, vọng chn, thính thanh, vấn chẩn» rồi.
Tôn Tư Mạc
Các tác phẩm y học đã chng minh rằng cả y thuật mang tính n giáo
ln ma thuật lúc đã thành phn chủ lực trong truyền thống y thuật bác
học. Tuy nhiên, vào giữa thế kII tcn, nhng y sư thực hành y thuật theo
triết tnhiên hẳn đã txem mình nhng người bảo vệ cho một truyền
thống y học dựa trên kinh điển.
Trong khi sphát triển dược học là một phần chủ lực của thuật luyện
đan Đạo giáo, thì các nhà sư từ khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc sau
thế kI cn đã bắt đầu bào chế thuốc cũng như đặt ra cách ăn chay, tham
thin, và các i tp điều tức. Bùa cvà pháp ni quán dùng để trị các bệnh
do tà quái gây ra.