KXẢO ĐIỆN ẢNH
Để một bộ phim hay yếu tố cốt lõi đương nhiên con người, không phải là
máy móc, thiết bị hay công nghệ. Một bộ phim hấp dẫn cần những tài năng biên
kịch, đạo diễn, diễn viên, ccủa chuyên gia hình ảnh-âm thanh nữa… Nhưng
ràng công nghệ, các công cụ, phương tiện hiện đại như kỹ thuật số để biến
những ý tưởng độc đáo, chất m của con người thành nhng nét hấp dẫn, cuốn
hút của bộ phim.
Phim truyền thống
Suốt gần 50m lịch sử điện ảnh cách mạng Việt Nam, hầu hết những đột phá, n
lực trong hình thức thể hiện phim đều dừng lại những thao tác cắt dán hết sức
đơn giản. Lác đác đôi ba phim cũng đưa kỹ xảo vào, nhưng chỉ mức giản đơn.
Bành Hải, Hãng phim truyện Việt Nam cho biết: “Các bạn biết là những hình ảnh
trong phim truyện Việt Nam hiện nay rất thật thà. Quay ngoài đời như thế nào
thì dùng như thế, hoàn toàn thiếu những kỹ xảo máy tính.
Chỉ đơn giản tên phim, hmuốn dùng những chuyển động, họ cũng không thể nào
làm được bởi vì làm bằng tay. Trước đây khi chúng tôi làm phim, quy trình cũ vẫn
phim nhựa. Thế thì chúng i phải chạy song song phim nhựa đó vi lại những
thiết bị ghi âm thanh, trước đây là phim, tnay là máy tính thì một điều
phức tạp là quá trình tìm hình đó rất là lâu vì dù sao đó cũng là thời gian thực, phải
tua phim đến điểm cần thiết để làm”.
Với cách làm phim truyền thống, là cách hầu hết các nhà sn xuất phim Việt
Nam đang áp dụng, quá trình hậu kcho phim được thực hiện bởi các phòng sản
xuất phim hay còn gọi là film lab: phim âm bản sau khi tráng rửa, được cắt, ghép
nối và sử dụng các kỹ xảo quang học.
Bản phim âm bản hoàn tất được nhân ra thành nhiều bộ phim dương bản để đem
trình chiếu tại các rạp. Với phương pháp truyền thống và cđiển như vậy, thời
gian cho việc xlý, cắt dựng phim kchậm chạp, lại độ phức tạp cao. Màu
sắc của phim khi trình chiếu bị hạn chế do phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghim
của đạo diễn hình ảnh trong lúc quay. Hơn nữa, trong quá trình âm thanh có thể s
dụng những hiệu quả của âm thanh, dtạo ra những tiếng vang, tiếng… hoặc
những tiếng khác đòi hỏi những thiết bị hỗ trợ bên ngoài và rất đắt tiền.
Tương lai gần đầy hứa hn
Năm 1993, công nghxử phim bằng kỹ thuật số xuất hiện khi hãng Kodak giới
thiệu định dạng hình ảnh kỹ thuật số Cineon.
Đến y giờ, vẫn ngưi nghĩ rằng đó là cuộc chơi của điện ảnh nghiệp dư, kts
làm sao có thể sánh được với chất lượng phim nhựa!
Nhưng gần một thập kỷ qua, điện ảnh đã bcuốn vào n lốc số hoá, bước những
bước dài trong kỹ nghệ xử lý hình ảnh, âm thanh nhkỹ thuật số. 10 năm trước thì
việc chuyển từ số sang phim là không thnhưng giờ đây với sự hỗ trợ của công
nghmới cùng với tốc độ của máy tính ngày một nhanh n, mạnh n, chúng ta
đã có thể chuyển từ video số sang phim nhựa.
Điện ảnh đã xuất hiện khái niệm số hoá và nhu cầu những người làm phim chuyển
sang shoá là rất cao. Hàng loạt các lợi ích hội mới mà ngành công nghiệp
điện ảnh trên toàn thế giới này khai thác được nhờ kỹ thuật số: thu ngắn vòng đời
sản xuất phim từ tiền kỳ, hậu kỳ cho đến phát hành, trình chiếu phimlượt lượt
tiếp bước theo nó. Thị trường Việt Nam mới được mở cửa, cho nên những thông
tin vviệc chuyển từ kthuật số thành phim nhựa chiếu rạp còn mới mẻ. Nhưng
đó là tất yếu.
(Theo VTV) Một núi thóc” trơ xương chờ… gỉ! 2,6 tỷ đồng vào những m đầu
thập niên chín mươi thể mua được cả “núi thóc” lớn. Mặc dù còn nhiều khó
khăn nhưng nhà nước vẫn quyết định đổi số thóc đó lấy một cái máy làm kxảo
điện ảnh để mong mỏi đòi hỏi điện ảnh phát triển mạnh hơn nữa, nhanh hơn
nữa… So với kỹ thuật điện ảnh thế giới lúc đó, cái máy này qukhông tệ vì nó
rất nhiều công dụng giúp cho trí tưởng tượng của các đạo diễn đỡngây ngô.
Tưởng như các đạo diễn phải đổ đến “vật báu” này nhưng n mười m qua
chba bộ phim có dùng chút xíu” kỹ xảo từ báu vật này… Hỏi ra mi biết c
đạo diễn hầu như không biết sử dụng máy!
Kxảo điện ảnh là một phần không thể thiếu của nền điện ảnh hiện đại. Thực ra,
xét vnghệ thuật truyền thống, nghệ không tìm nổi cách diễn đạt tự nhiên
phải dùng đến kỹ xảo thì đó đã một thất bại. Tuy nhiên do stiếp nhận mcảm
của công chúng từ điện nh hoàn toàn khác với các loại hình nghthuật khác nên
kỹ xảo điện ảnh được nhìn nhận ở hướng tích cực hơn.
Điện ảnh dành cho công chúng s cm nhận và hiểu bộ phim gần như tức thời nên
“hiện thực” nhiều khi phải vượt quá giới hạn của mình để đập” thẳng vào m
hồn công chúng.
Các đạo diễn cứ than thở về kỹ thuật làm phim của nước nhà lạc hậu nhưng họ
quên, hay h không được biết đến một i máy kỹ xảo vẫn nằm chờ phim Hãng
phim truyện Việt Nam. Chắc chắn là họ biết rất rõ vì đồng nghiệp của họ, đạo diễn
của các phim Tình Yêu Thần Nước, Dã Tràng Xe Cát… đã dùng chiếc máy này.
Trước khi biết câu chuyện “lạc loài” vchiếc máy, chúng ta cùng trò chuyện vi
ôngNguyễn Văn Nam, kỹ kinh tế điện ảnh và tuyến truyền hình, giám đốc
Hãng phim truyện VN. *…
Thưa ông, tạo sao các bộ phim của chúng ta không dùng tới máy kxảo trong khi
điều đó có thể giúp các đạo diễn bớt những cảnh quay vụng về?
- Thnhất là không phải bộ phim nào cũng cần đến kỹ xảo. Thứ hai làm kxảo
mất nhiều tiền lắm, kinh phí ở đâu ra. Hơn nữa, nếu có kinh phí thì ai biết dùng cái
máy này! * Các nhà m phim chứ ai? - Không phải ai cũng biết dùng cái y này
để làm ra các cảnh kỹ xảo. Khó lắm. dụ trong phim Tràng Xe Cát, đạo diễn
dùng máy để làm cảnh Dã tràng từ từ xuống nước và phía dưới sủi bọt lên.
- Kxảo như thế thì bất cứ đoạn phim quảng cáo nào chẳng làm được, cần gì đến
máy kxảo. - Quảng cáo dùng đến kỹ thuật video và máy tính, còn đây phim
truyện nhựa kia mà.
* Nhưng tại sao chúng ta không đào tạo một đội ngũ chuyên dùng i máy k xảo
này? - Đào tạo thế nào. Không phải ai đào tạo cũng thể làm kxảo điện ảnh
được. Các đạo diễn cũng lúc cần đến cái máy này nhưng không biết cách tạo ra
các cảnh kỹ xảo.
Cuối cùng, bây gichỉ làm nhim vụ m tiêu đề phim! Điều mấu chốt
trong cuộc nói chuyện y là các đạo diễn không dùng đến cái máy này vì hai điều
bản; thứ nhất họ sợ kinh phí làm phim s b“đội” cao như thế công sức của
họ (tính theo tiền) bị giảm xuống đáng kể, thứ hai là hầu hết trong số họ đều không
biết dùng chiếc máy này để tạo ra những cảnh kỹ xảo.
do thhai thật đáng kinh ngạc. Chúng ta mua đổ một “núi thóc” ra và trang
trọng, háo hức, hy vọng “rước” một cái máy kỹ xảo về để chấn hưng nền điện ảnh
hiện đại. Nhưng c đạo diễn những nhân tố quyết định sự hưng vượng ấy lại
không biết… dùng như thế nào. Tuy nhiên đó mặt kthuật, chúng ta th
học được. Nhưng ngay điều đó các nhà qun lý cũng không nghĩ tới vànghĩ tới
thì cũng ngần ngại nói rằng, không phải ai học rồi cũng tìm ra cách dùng máy k
xảo điện ảnh!
Công chúng nhđã từng xem hai bộ phim dùng kxảo ktrên không! Chắc
chắn câu trả lời là không. Một núi thóc đổ ra và chgiúp làm vài cảnh “sủi bọt”
một hai bộ phim “không ai còn nh”, không tác động nào vào đời sống điện
ảnh nước nhà thì qulà chúng ta đã “chơi sang”. Nhưng nếu đó là tin của cá nhân
thì là chuyện khác, ở đây ai cũng biết, cái máy đó là tài sản quốc gia.
Như vậy, trước khi chúng ta long trọng “rước” tiếp một hệ thống máy móc nào về,
mong rằng các quan chức năng phải biết rõ sđạt hiệu quả tới đâu và ai
dùng nó. Đây chlà một bài học trong vô số bài học khác mà các nhà quản lý điện
ảnh, các nhà làm phim phải học lại.
Nhưng tôi cho rằng lý do thứ hai không quan trọng lắm. Thậm chí không tồn tại
do này. Kthuật phát triển. Ngay một người bình thường, trên máy tính nhân
của mình cũng có thể tạo ra vô số các cảnh “kxảo” ly kì không kém các bphim
hiện đại. Họ chỉ thua kém các nhà làm phim là không biết thể hiện ý tưởng nghệ
thuật rõ ràng, mạch lạc thôi. Chúng ta không thể nói rằng các đạo diễn không biết
dùng máy kỹ xảo được. Đó điều phi lý và nực cười (Tôi hỏi một số đạo diễn,
hcười phá lên và… im lặng). Như vậy do mà cái máy nm chờgỉ nằm
chỗ khác. Chúng ta chẳng phải cất công ‘lặn lội” tìm đâu xa vì lý do đó chínhlý
do thnhất. Nếu làm kxảo thì bphim sẽ “gọn gàng” hơn, “khớp” n, tưởng
tượng bớt ngô nghê hơn. Nhưng như ông Giám đốc hãng phim truyện VN đã nói
không nói, chúng ta cũng biết, tiền bạc ngăn không cho chiếc máy này “kết
duyên” với các bộ phim.
Như vậy, trong nhiều điều làm cho nền điện ảnh hiện đại Việt Nam tẻ nhạt thì
chúng ta thấy rõ rng, những người hiến thân thực sự vì nghệ thuật điện ảnh quá ít
ch yếu là những người làm công ăn ơng. đã làm công ăn lương thì
“lương càng cao càng tốt chứ sao! Điện ảnh Việt Nam đành ch một thế hệ mới
“hiến thân” vì nghệ thuật thực sự vậy.
‘Bí mt’ của những cảnh quay khói lửa
Bánh mốc mùn cưa hai chất liệu chính được sử dụng trong cảnh bom nổ.
Các hosĩ thiết kế tiết lộ rằng, họ phải mua khá nhiều bánh mì vlàm cho mốc lên
để giống màu đất (để các diễn viên không lấy ăn). Sau đó họ vụn trộn vi
chất nổ và một số thứ khác như đất đã được lọc ky sỏi, bụi than mùn cưa. Quả
nđược chôn xuống một cái hố, khi giật kíp, quả nổ tung lên. Đất bắn ra mịn như
ném bom thật. Hình ảnh đẹp mà không hgây sát thương. Những miếng xốp cũng
được đưa vào các cảnh quay này sau khi đã được nhuộm đen. Trên màn ảnh,
chúng được nhìn thấy như những mảnh v văng ttung, sẵn sàng giết chết ai đó
rủi ro trúng phải. Thực tế thì xốp rất nhẹ, không đủ khả năng gây nguy hiểm.
Bom nổ, nhiên sau đó phải lửa cháy khói đen mịt mù. Du apatits, xăng
lập tức được huy động để tạo ra những đám cháy rừng rực, những cột khói cao đến
20 m. Lúc này thì độ nguy hiểm bắt đầu nhích lên khỏi vạch số 0. Nếu không cẩn
thận, tai nạn dễ dàng xảy ra. Chính vì thế, khi dựng một cảnh chiến, các hoạ
thiết kế phải “bày binh btrận” hết sức tỉ mỉ và công phu. V trí của từng quả n
được vạch ra mt cách chính xác trên đồ. Quả nổ nào kích trước, quả nnào
kích sau được xác định và phân công cthể.