
JOMC 6
ạp hí ật liệ ựng ập 11 ố 5 1 221
lấp ln vào lỗ rỗng và phản ứng pozzolan của tro bay trong cấu trúc
mẫu bê tông [3]. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước liên quan đến
sử dụng tro bay từ nhà máy nhiệt điện Duyên Hải để sản xuất bê tông
cường độ cao còn hết sức hạn chế.
Mặt khác, một báo cáo từ Bộ Xây dựng [11] cho biết hiện cả
nước có 25 nhà máy nhiệt điện đốt than đang hoạt động. Mỗi năm, có
khoảng 13 triệu tấn troxỉ được phát phải ra môi trường, trong đó tro
bay chiếm 80 – 85 %. Lượng troxỉ phát thải được phân bố ở cả ba miền
của Việt Nam, tập trung chủ yếu ở khu vực miền Bắc (chiếm 65 %),
trong khi miền Trung và miền Nam chỉ chiếm tương ứng khoảng 23 %
và 12 % tổng lượng troxỉ thải. Trên thực tế, mặc dù nhiều địa phương
đã có nhiều nỗ lực trong đẩy mạnh xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao làm
nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và sử dụng trong các công trình
xây dựng theo Quyết định số 452/QĐTTg nhưng kết quả vẫn chưa đạt
được các mục tiêu như mong đợi. Tính đến cuối năm 2020, tổng lượng
tro, xỉ nhiệt điện đã được tiêu thụ trên cả nước ở khoảng 44,5 triệu
tấn, tương đương với khoảng 42 % tổng trữ lượng tro, xỉ phát thải qua
các năm [11]. Như vậy, có thể thấy trữ lượng tro bay còn tồn đọng lại
rất lớn, cần có các nghiên cứu ứng dụng phù hợp nhằm làm giảm lượng
tro bay tồn đọng này một cách có hiệu quả.
Dựa trên thực trạng trữ lượng tro bay còn tồn đọng và tiềm năng
ứng dụng của nó trong công nghiệp bê tông, nghiên cứu này được đề
xuất thực hiện với các mục tiêu: (1) Tái sử dụng nguồn phụ phẩm tro
bay từ nhà máy nhiệt điện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh trong sản xuất bê
tông, mang lại hiệu quả nhất định về mặt môi trường tại địa phương;
(2) Chế tạo loại bê tông tro bay có cường độ cao và có thể ứng dụng tốt
trong các hoạt động xây dựng thực tế; (3) Đánh giá được ảnh hưởng
của các hàm lượng khác nhau của tro bay dùng để thay thế một phần
xi măng trong các cấp phối bê tông cường độ cao đến các tính chất của
bê tông như độ sụt, khối lượng thể tích, cường độ chịu nén, độ hút
nước, độ co khô và vận tốc truyền sóng siêu âm. Kết quả nghiên cứu
như một giải pháp có hiệu quả trong xử lý lượng tro bay tồn đọng, tạo
ra loại vật liệu xây dựng có chất lượng, thân thiện hơn với môi trường
và phục vụ tốt cho nhu cầu xây dựng theo định hướng phát triển bền
vững.
Vật liệu và phương pháp thí nghiệm
2.1. ật liệ ấp phối
Các vật liệu được sử dụng để chế tạo bê tông cường độ cao trong
nghiên cứu này được thể hiện ở Hình 1, cụ thể gồm: xi măng Nghi Sơn
PC40, tro bay từ nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1 thuộc tỉnh Trà Vinh,
cát sông, cát nghiền, đá mi, phụ gia siêu dẻo loại và nước. Khối lượng
riêng, thành phần hóa học của xi măng và tro bay được thể hiện ở Bảng
1. Có thể thấy được khối lượng riêng của tro bay nhỏ hơn so với khối
lượng riêng của xi măng, do đó khi sử dụng tro bay để thay thế một phần
xi măng có thể sẽ làm giảm khối lượng riêng của bê tông. Lưu ý rằng tro
bay được sử dụng trong nghiên cứu là tro bay loại theo TCVN
10302:2014 [12] với tổng hàm lượng Si2, Al23, và e23 lớn hơn 70 %.
Các tính chất của cát sông, cát nghiền và đá mi được cung cấp ở Bảng 2.
Trong nghiên cứu này, do cát sông có thành phần hạt tương đối mịn
trong khi cát nghiền có thành phần hạt khá thô, do đó cốt liệu nhỏ sẽ
được pha trộn từ 65 % cát sông và 35 % cát nghiền (tỉ lệ được chọn
theo thực nghiệm) với mục đích đạt được đường cong cấp phối hạt
thỏa mãn theo TCVN 7570:2006 [13].
nh Các loại vật liệu dùng trong nghiên cứu.
ảng
Các tính chất vật lý và hóa học của xi măng và tro bay.
Loại vật liệu Khối lượng riêng
(g/cm3)
Thành phần hóa học (% theo khối lượng)
Si2 Al23 e23 Mg Ca S3 Khác
Xi măng 3,06 23,5 6,0 3,7 2,0 59,9 0,4 1,1
Tro bay 2,22 59,2 26,7 6,1 0,9 1,1 0,1 3,9
ảng
Các tính chất của cát sông, cát nghiền và đá mi.
Loại vật liệu Khối lượng riêng (g/cm3) Độ hút nước (%) Mô đun độ lớn Đường kính hạt lớn nhất
(mm)
Cát sông 2,69 1,12 1,58
Cát nghiền 2,67 1,50 3,10
Đá mi 2,74 0,60 9,5
ạp hí ật liệ ựng ập 11 ố 5 1 221
Tác giả liên hệ, email: htphuocctu.edu.vn
Nhận ngày 09/07/2021, giải trình ngày 02/08/2021, chấp nhận đăng 12/10/2021
Ảnh hưởng của hàm lượng to ba tha thế một phần xi măng đến các tính
chất của bê tông cường độ cao
Đoàn Công Chánh guễn Ph huận ần Văn Khánh uỳnh ọng Phước
1Khoa Kỹ thuật và Công nghệ, Trường Đại học Trà Vinh.
2Khoa Công nghệ, Trường Đại học Cần Thơ
TỪ KH
TM TẮT
Bê tông cường độ cao
Tro bay
Đ
ộ sụt
Cư
ờng độ chịu nén
Đ
ộ co khô
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích đánh giá khả năng sử dụng nguồn phụ phẩm tro bay từ
nhà máy nhi
ệt điện trong chế tạo bê tông cường độ cao. Ảnh hưởng của hàm lượng tro bay dùng để
thay
th
ế một phần xi măng (0 – 50 % với bước tăng 10 %) đến các tính chất kỹ thuật của bê tông cường đ
ộ
cao đã đư
ợc nghiên cứu thông qua hệ thống các thí nghiệm bao gồm: đánh giá độ sụt, khối lượng th
ể
tích, cư
ờng độ chịu nén, độ hút nước, độ co khô và vận tốc truyền sóng siêu âm. Kết quả thí nghiệ
m cho
th
ấy tính công tác của hỗn hợp bê tông tăng và độ hút nước của mẫu bê tông cũng tăng tương ứng vớ
i
hàm lư
ợng tro bay trong cấp phối. Trong khi đó, cường độ chịu nén và vận tốc truyền sóng siêu âm giả
m
khi tăng hàm lư
ợng tro bay thay thế xi măng. Việc thay thế xi măng bằng tro bay mang lại hiệu quả
trong
vi
ệc làm giảm khối lượng thể tích và độ co khô của bê tông. Các mẫu bê tông trong nghiên cứu n
ày có
ch
ất lượng và độ bền tốt với giá trị tốc độ truyền sóng siêu âm ở mức 4570 m/s. Kết quả nghiên cứ
u
cũng cho th
ấy có thể thay thế đến 40 % xi măng bằng tro bay trong sản xuất bê tông cường độ cao vớ
i
giá tr
ị cường độ chịu nén ở 28 ngày tuổi ≥ 55 MPa.
KRDS
ABSTRACT
Highstrength concrete
ly ash
orkability
Compressive strength
Drying shrinkage
This study evaluates the possibility o using ly ash, a byproduct o coal thermal poer plants, in the
production o high
strength concrete. The inluence o ly ash as a partial cement substitution (by 0 – 50
%
ith an interval o 10
%) on the engineering properties o the high
strength concrete as investigated
through a test series o orkability, dry density, compressive strength, ater absorption, drying shrinkage,
and ultrasonic pulse velocity. The experimental results sho that the orkability o resh
concrete mixture
and ater absorption o concrete samples increased as increasing ly ash content in the mixtures.
Meanhile, compressive strength and ultrasonic pulse velocity ere reduced ith increasing ly ash
replacement levels. The replacement o cement ith ly ash as eective in reducing dry density and
drying shrinkage o hardened concrete. The concrete samples produced in this study achieved good quality
and durability ith ultrasonic pulse velocity values o above 4570 m/s. The test results
al
so reveal that
ly ash could be used to replace up to 40
% o cement in the production o high
strength concrete ith
compressive strength value at 28 days o
≥
55 MPa.
iới thiệu
Trong những năm qua, đã có rất nhiều kết quả nghiên cứu chỉ ra
rằng tro bay, một loại phụ phẩm chủ yếu của các nhà máy nhiệt điện
than, có tiềm năng tái sử dụng rất lớn do có hàm lượng khoáng cao.
Tro bay là một dạng vật liệu pozzolan được sử dụng rất nhiều trong
lĩnh vực vật liệu xây dựng. Việc ứng dụng tro bay có thể cải thiện được
các tính chất kỹ thuật và độ bền của bê tông như độ thấm ion clorua,
độ biến dạng [1] và vận tốc truyền sóng siêu âm [2]. Thêm vào đó, tro
bay được kết hợp với một số thành phần vật liệu khác như sợi thép,
muội silic, sợi polyplropylene có thể làm tăng cường độ chịu nén,
cường độ chịu uốn và mô đun đàn hồi của bê tông [3–6]. Tại Việt Nam,
loại tro bay có hàm lượng mất khi nung nhỏ hơn 11 % có thể được sử
dụng làm phụ gia khoáng để trộn vào xi măng trong khi các loại tro bay
khác có thể được ứng dụng trong xây dựng đường, trong công nghiệp
sản xuất bê tông, gạch không nung, v.v. Trong đó, ứng dụng tro bay để
sản xuất bê tông nguyên khối chiếm tới 45 % nhu cầu sử dụng tro bay
trong ngành xây dựng [7]. Trong những năm gần đây, đã có một số
nghiên cứu trong nước được thực hiện nhằm khảo sát khả năng ứng
dụng các loại tro bay ở các địa phương khác nhau vào hoạt động xây
dựng: Tiêu biểu như sử dụng tro bay nhiệt điện Phả Lại ở tỉnh Hải
Dương để làm mặt đường ô tô [8], tro bay nhiệt điện Ninh Bình ở tỉnh
Ninh Bình sử dụng để làm chất kết dính chịu nhiệt [9], tro bay nhiệt
điện Duyên Hải ở tỉnh Trà Vinh được sử dụng để gia cố nền [10].
Nguyễn Văn Chính và Đặng Văn Mến [3] cho rằng, với hàm lượng
khoáng cao, tro bay nhiệt điện Duyên Hải rất hữu ích trong việc cải
thiện các tính chất của bê tông. Cụ thể, cường độ chịu nén và cấp chống
thấm của bê tông chứa tro bay được tăng cường thông qua hiệu quả