
http://www.ebook.edu.vn 58
CHƯƠNG III
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU
HẠN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP
T.S Bùi Xuân Hải
Công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH) là một loại hình
doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế Việt nam hiện nay. Trong
chương này, những vấn đề pháp lý về công ty TNHH sẽ được trình
bày thành ba phần sau đây: (1) những vấn đề lý luận chung về
công ty TNHH, (2) quy chế pháp lý về công ty TNHH có hai thành
viên trở lên, và (3) quy chế pháp lý về công ty TNHH một thành
viên. Văn bản pháp luật quan trọng nhất về công ty TNHH theo
pháp luật hiện hành mà người đọc cần phải tham khảo là Luật
Doanh nghiệp 2005.1
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
1.1. Sự hình thành và phát triển của mô hình công ty TNHH
Xét về mặt lịch sử, mô hình công ty TNHH ra đời sau hình thức
công ty cổ phần và càng muộn hơn so với các loại hình công ty đối
nhân.2 Các công ty theo mô hình của công ty TNHH mà chúng ta
biết đến ngày nay thì chỉ thực sự xuất hiện ở cuối thế kỷ 19 và phát
triển mạnh ở thế kỷ 20. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, mô hình
công ty TNHH xuất hiện như là một sản phẩm của hoạt động lập
pháp khi mà người Đức đã ‘sáng tạo’ ra mô hình Gesellschaft mit
beschrankter Haftung – GmbH theo một đạo luật về công ty vào
năm 1892.3

http://www.ebook.edu.vn 59
Sự xuất hiện của mô hình công ty TNHH có lẽ sẽ thích hợp cho
kinh doanh ở qui mô vừa và nhỏ. Mô hình công ty này vừa có yếu
tố quan hệ nhân thân giữa các thành viên như công ty đối nhân,
vừa có tư cách pháp nhân và chế độ trách nhiệm hữu hạn của thành
viên như công ty cổ phần. Vì thế, mô hình này dường như đã được
ưa chuộng ở tất cả các nước. Tỷ lệ các công ty TNHH trong tổng
số các công ty thường chiếm rất cao, ví dụ, ở Anh, vào tháng 3
năm 2001, có tới 99% trong tổng số 1, 5 triệu công ty ở nước này
là công ty TNHH (private company).4 Vào cuối tháng 6 năm 2002,
ở Australia có tới 98,3 % trong tổng số 1,248 triệu các công ty là
công ty TNHH (proprietary company limited by shares).5
Pháp luật công ty châu Âu đã được người Pháp đem đến Việt Nam
từ cuối thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, vì thế chẳng có gì ngạc
nhiên khi mà pháp luật công ty của Việt Nam đã bị ảnh hưởng lớn
bởi mô hình luật công ty châu Âu. Các hình thức công ty như trong
luật thương mại của Pháp đã xuất hiện trong các Bộ luật thời Pháp
thuộc như Dân luật thi hành tại các Tòa Nam án Bắc kỳ 1931 và
Bộ luật Thương mại Trung Kỳ 1942.
Hai bộ luật này đều có qui định về các mô hình công ty, được gọi
là hội hay công ty, mà chúng ta thấy ngày nay trong luật thực định
của Việt Nam.6 Những qui định của Bộ luật Thuơng mại Trung kỳ
vẫn tiếp tục được áp dụng tai miền Nam Việt Nam cho đến khi Bộ
luật Thương mại Sài Gòn 1972 có hiệu lực áp dụng. Trong Bộ luật
Thương mại Sài Gòn 1972, mô hình công ty TNHH (hội trách
nhiệm hữu hạn) cũng tiếp tục được ghi nhận bên cạnh các hình
thức công ty khác.7
Sau mấy thập kỷ vắng bóng kinh doanh tư nhân và luật công ty,
thực hiện chính sách đổi mới, xây dựng nền kinh tế theo cơ chế thị
trường và ghi nhận quyền tự do kinh doanh đã được khởi xướng từ
Đại hội toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng CSVN, ngày
21.12.1990, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật công ty, đạo luật

http://www.ebook.edu.vn 60
công ty đầu tiên từ khi độc lập (1945). Đạo luật này có các qui
định về hai mô hình công ty là công ty TNHH và công ty cổ phần.
Bên cạnh các qui tắc pháp lý áp dụng chung cho cả hai loại hình
công ty, đạo luật này đã dành một chương riêng để qui định chi tiết
về công ty TNHH.
Do được ban hành trong những năm đầu tiên của thời kỳ đổi mới,
các qui định về công ty TNHH trong Luật Công ty 1990 còn rất sơ
xài. Vì thế, để đáp ứng đòi hỏi của công cuộc đổi mới, ngày
12.6.1999 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật doanh nghiêp thay
thế cho Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân năm
1990. Trong đạo luật mới này, mô hình công ty TNHH tiếp tục
được khẳng định và công nhận them loại hình công ty TNHH một
thành viên.
Qua mấy năm đi vào cuôc sống, LN1999 đã thành công lớn trong
việc tiếp tục khuyến khích, huy động các nguồn vốn cho phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam. Song, cùng
với các đạo luật khác về các hình thức tổ chức kinh doanh, Luật
DN 1999 cũng bộc lộ những hạn chế.8 Để tiếp tục đẩy mạnh công
cuộc đổi mới, cải thiện môi trường kinh doanh đáp ứng đòi hỏi của
việc hội nhập kinh tế quốc tế, tháng 11 năm 2005, Quốc hôi Việt
Nam đã thông qua Luật DN mới với sự phát triển một bước so với
Luật DN 1999.
Hiện nay Luật DN 2005 qui định về loại hình công ty TNHH với
hai mô hình: (1) công ty TNHH có hai thành viên trở lên, và (2)
công ty TNHH một thành viên. Ở nhiều nước, ví dụ Anh, Mỹ, Úc,
New Zealand …, người ta đã chấp nhận mô hình công ty một
thành viên đã lâu và sự điều chỉnh pháp luật giữa công ty có một
thành viên và các công ty có nhiều thành viên hầu như không khác
nhau. Luật doanh nghiệp 2005 của Việt Nam không dành một mục
riêng để qui định các vấn đề chung về công ty TNHH mà lại có hai

http://www.ebook.edu.vn 61
mục riêng để qui định về công ty TNHH có hai thành viên trở lên
và công ty TNHH một thành viên.
1. 2. Các đặc điểm cơ bản của công ty TNHH
Trước khi các qui định của pháp luật thực định Việt Nam sẽ được
trình bày ở phần hai và ba của chương này, rất cần thiết phải hiểu
một cách cơ bản về bản chất của các công ty TNHH.
Hiện nay, trên thế giới, mô hình công ty có cùng ‘dòng họ’ hay
theo hinh thức như công ty TNHH hiện nay ở Việt Nam là rất phổ
biến. Nhiều mô hình công ty trên thế giới tồn tại dưới các tên gọi
và hình thức khác nhau, song chúng đều cùng một ‘dòng họ’ với
loại hình công ty TNHH của Việt Nam. Chẳng hạn như ở Pháp có
loại hình Sociètè à Responsabilité Limitée - SARL; ở Đức có mô
hình GmbH - Gesellschaft mit beschrankter Hafttung, ở Anh có
loại hình công ty tư (private company); ở Hàn quốc có loại công ty
yuhan hoesa, …vv.9
Cho dù mô hình công ty TNHH có thể được gọi với tên khác nhau
theo các ngôn ngữ khác nhau, hay thậm chí cùng một thứ ngôn
ngữ thì mỗi nước vẫn có cách gọi chúng không giống hệt
nhau.10 Nhìn chung, bản chất của chúng tương đối giống nhau với
tính cách là một trong các mô hình công ty phổ biến nhất ở các đặc
điểm cơ bản sau đây:
+ 1. Công ty TNHH chỉ là một loại hình công ty, một mô hình
tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường như các loại hình
tổ chức kinh doanh khác. Công ty TNHH được coi là sản phẩm
của hoạt động lập pháp mang tính sáng tạo, nhưng suy cho cùng,
nó cũng xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, của nền kinh tế hàng
hóa tư bản chủ nghĩa từ cuối thế kỷ 19.

http://www.ebook.edu.vn 62
+ 2. Công ty TNHH là thực thể pháp lý hư cấu nhưng độc lập
và tách bạch hoàn toàn với các chủ thể đã đưa tài sản tạo lập nên
tài sản của nó về mặt pháp luật. Vì thế, các công ty thuộc dòng họ
‘công ty TNHH’ trên thế giới cho dù có thể được gọi tên không
giống nhau nhưng đều được công nhận là pháp nhân (một thực thể
pháp lý trừu tượng và độc lập - artificial legal person hay separate
legal entity).
+ 3. Về thành viên.
Số lượng những chủ thể góp vốn tạo lập nên mô hình công ty loại
này đều thường bị giới hạn ở mức tối đa, tức là thường bị giới hạn
về số lượng thành viên. Các nhà làm luật thường không chấp nhận
mô hình công ty này có số lượng thành viên quá lớn.
Bên cạnh đó, các thành viên của mô hình công ty này thường có
mối quan hệ với nhau về nhân thân: có thể là người trong dòng họ,
gia đình hay bạn bè, thân thiết ở mức độ có thể tin cậy và chia sẻ.
Tính chất của các mối quan hệ này gần giống như của công ty đối
nhân (mà điển hình là các hơp danh - partnership).
+ 4. Bản chất của loại công ty này mang tính đóng chứ không
mở như công ty cổ phần. Đặc tính này có liên quan chặt chẽ đến
việc huy động vốn từ công chúng của loại công ty này trong sự so
sánh với công ty cổ phần.
+ 5. Khả năng thay đổi thành viên của loại hình công ty này bị
hạn chế hơn so với công ty CP. Nếu các cổ đông trong công ty cổ
phần có thể chuyển nhượng cổ phần một cách dễ dãng thì điều đó
bị han chế hơn trong công ty TNHH.
Tóm lại: mô hình công ty TNHH rất phổ biến trên thế giới, là loại
hình công ty đối vốn mang tính đóng. Mô hình công ty này đã xuất

