ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG

CHUYÊN ĐỀ

VĂN BẢN VÀ

SOẠN THẢO VĂN BẢN

Đà Nẵng, tháng

01.

2010

SOẠN THẢO VĂN BẢN

của văn bản

niệm và chức năng

dung và và

VĂN BẢN VÀ I. Khái Văn bản (VB) là gì? niệm: 1 Khái - Văn bản ghi tiện là chung nói một loại phương tin và truyền đạt ngôn (hay một loại kí hiệu) ngữ tin bằng thông nhất thành đời nhiều lĩnh trong hình định. VB được vực của sống XH của thể vực cụ lĩnh hội. Tùy theo từng xã đời sống và những VB có nước) mà nhhà lý QLNN (quản dung nội nhau. và khác hiện thức thể hình động - Văn bản là sản phẩm của hoạt tiếp bằng giao ngôn câu các tập hợp của là viết. Văn bản thường ngữ ở dạng tính thức, có hình về chỉnh hoàn tính tới 1 mục tiêu giao tiếp nhất định.

nội trọn vẹn về kết chặt chẽ liên hướng

VĂN BẢN VÀ

SOẠN THẢO VĂN BẢN

chép, thông thức, trọng

2. Văn bản hành chính (VBCH) là gì ? NN dùng quan VB của các cơ ghi để VBHC là truyền các QL (quản định quyết đạt các lý) và cho tin cần thiết QL theo động hoạt thể đúng thủ định. quyền luật thẩm tục, và khác, Văn bản HC là phương - cách Nói quan tiện phản QL và thông đảm bảo để nó kết quả ánh thời nó truyền động hoạt ý chí, mệnh đạt nước) nhà quan cấp dưới. cho của lệnh VBHC là quan, thức giữa các cơ chính dịch chức và công dân. NN với tổ chức với tổ

tin cho của QL, đồng CQNN (cơ các thông tin giao hoặc giữa nhau

SOẠN THẢO VĂN BẢN

VĂN BẢN VÀ II. Chức năng 1. Chức năng là

các

chung: động tin quan

VB là điều hành bộ trương

CQNN thì để tin về

chủ đến mục tiêu và phương

nhất của quát hành trong và tiện truyền tải QLNN lối của hoạt cụ động

VBHC nói hoạt các thông Nhà và dài lâu của từng

tin quản lý tin QL từ

Đảng động thể nơi này đến nơi

khác

trong

nước liên của cơ quan cơ hệ

CQQLNN đến quần

dân.

nhiệm vụ, mục tiêu hoạt các thông thông đạt QL hay từ các

CQQLNN đánh

giá

chúng thông

nhân tin thu

được qua

của văn bản hành chính thông tin: bản và tổng chức năng Đây vì trong trong quá trình QL, điều phương của máy nhất trọng + Thông đường hướng quan quan; về lại + Ghi + Truyền thống + Giúp các hệ

đạt

thông

các tin khác.

truyền

cho thống

VĂN BẢN VÀ

SOẠN THẢO VĂN BẢN

của văn bản

hành

chính

(QL).

tiện hữu hiệu QL cho

truyền cấp dưới một cách thuận

trong

việc

chính

VBHC giúp

giá lý

quản lý phương định xác. các cho cấp dưới ra đề để

và QL tổ việc QL của mình và là cơ quy quy

nhà theo các

chức, điều hành tốt dõi, kiểm sở đểtheo quản lý. Nó là trình tính đảm bảo định

II. Chức năng 2. Chức năng VBHC là - đạt các quyết lợi - công tra, đánh pháp sở cơ luật. pháp

SOẠN THẢO VĂN BẢN

của văn bản

(QL). truyền

hội

VĂN BẢN VÀ II. Chức năng chính hành lý pháp 3. Chức năng - phương VBHC là chép và ghi để tiện đạt các pháp phạm quy quan điều tiết các mối luật và để được văn bản đã pháp luật thống hệ hội bằng xã hệ hóa, tạo chính đủ rãi, đầy biến rộng điều kiện phổ xã hệ QLNN, quan và luật pháp thi việc thực xác nhất. đắn và thống minh, đúng nghiêm được các QL và định quyết các cho lý pháp sở - Nó là cơ thông TW đến CQNN từ các của tin QL khác phương.

địa

SOẠN THẢO VĂN BẢN

CHXHCNVN:

L, PL, L, NQ, NQLT, NĐ, QĐ, CT, TT, TTLT.

VĂN BẢN VÀ thống III. Hệ quy 1. Văn bản

VB của nước phạm

luật: pháp định, chỉ

thành

văn mang tính áp dụng

2. Văn bản cá biệt: (Quyết

quan, công

chức

ban hành

theo

trình

tự, thủ

thị thẩm quyền

NN có

pháp tục

luật do cơ nhất

đưa

ra

quyết

định

định..) 3. Văn bản

thường: ( không thể

văn bản

các QPPL hoặc văn bản cá

hành không

chính dùng

quản lý, do đ ó biệt)

loại hóa đơn, séc, các

loại

4.Văn bản quản lý lĩnh

môn: (các

văn bằng, chứng

chỉ)

tế, hợp

đồng

dân

sự, hợp

đồng

lao

thông thay để vực đồng

cho chuyên kinh

đồng: (hợp

quy, quy

chế, quy

của từng

quan

đơn

định

5. Các động) 6. Các vị

trong

loại hợp văn bản lĩnh từng đổi: (Nội thể)

chuyển vực QL cụ

Các

loại văn bản hành chính (VBHC)

QL định quyết những quan, công luật, do cơ tự, thủ trình theo ban hành riêng sự tắc xử quy các ra thể, được chỉ cụ đối tượng rõ, thể. quyết công việc cụ đơn vị, các 6 đua thi biệt và Chỉ

* Văn bản cá biệt: (VBCB) là thành văn mang tính áp dụng chức NN có thẩm quyền định tục nhất đưa nhằm đối với 1 hoặc 1 nhóm giải để cách hay nói khác (VD: QĐ của GĐ Bưu khen điện trong cao tích thành có nhân cá 2008) đầu năm tháng Văn bản cá biệt có 2 loại: Quyết thị

thưởng tác công cá định

biệt.

Văn bản cá biệt: (VBCB)

đối

PL) dụng việc cụ định quyết

VB được ban là thể đối với lên

- Chỉ

-Quyết định biệt: (QĐ áp cá hành để công các quyết giải tương lương, thể. Đó là những cụ nhiệm, miễn nhiệm, phê luật, bổ thưởng, kỷ khen …) án duyệt dự VB được biệt: là cá thị ban hành vận hành bộ để quyền QL của thuộc máy và đơn vị nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đơn vị, có NN giao mà cho các nội của cấp trên giao lệnh mệnh cho luật và các việc thực hiện quá trong sinh nhiệm vụ

dung chứa cấp dưới cụ

đựng trong phát thể

pháp trình

QL

Văn bản

thường: (VBHCTT)

thông

dung của

các đổi, ghi điều hành tác nghiệp hành chính.VBHCTT được dùng để QL do đó

chính loại văn bản mang tính thông tin, điều phạm VBQPPL (văn bản quy các thi thể, việc cụ công để dùng công các chép hình, giao tin thông tổ quan quyết

giải quyết dịch, trao chức. Nội định không

-

loại: (công có loại: Điều lệ, quy

văn hành chính) định, kế chế, quy án, thông

hành - Văn bản HCTT là hành nhằm thực pháp luật), hoặc tình ánh phản việc trong các cơ chất tính mang không các ra đưa VBQPPL hoặc VBCB cho thay thế VBHCTT: thức hình Các tên + VBHC không + VBHC có tên trình, chiến lược, đề hoạch, chương quy cáo…

hoạch, báo, báo

Văn bản chuyên - Văn bản

chuyên

môn-kỹ môn-kỹ

do một cơ

quan định, được

đặc

NN theo

thuật: (VBCM-KT) thuật là loại văn QLNN trong một lính quyền NN ủy ban hành điều vực QL một lĩnh tính mang VB này riêng ban hành của định

quy

pháp

ban

bản vực nhất hành, dùng để của bộ NN, loại máy thuộc thẩm quyền và thù quan cơ của từng luật. pháp khai (+ Giấy hành; Bệnh

sinh: do cơ án: do Bộ

ban hành…)

quan Y tế

Sơ đồ

VBQLNN

Sơ đồ hệ

hệ thống

thống VBQLNN

CTN: L, QĐ (Đ 14)

CQLP (Đ13)

CQHP (Đ15,16)

CQTP (Đ17)

CQHP-QLCM

CQHP-QLC

QH HP,Lt, NQ

VKSNDTC

Các

Bộ:

TANDTC HĐTPTANDTC NQ

CP: NQ,NĐ

UBTVQH PL,NQ

TTg: QĐ, CT

QĐ CT TT TTLT

VT VKSNDTC QĐ CT TT

HĐNN cấp các

cấp

CA.TANDTC QĐ CT TT

NQ

UBNN các QĐ. CT

QUY TRÌNH SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN

soạn thảo

ban hành

VB là hành văn bản

trình ban hành được sắp xếp khoa học mà cơ trong theo

động

cương, viết bản thảo

đề duyệt, ký thiện thủ

ban hành

trình Quy bước các tự QLNN nhất thiết phải tiến quan và soạn thảo tác công chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và đúng (4 bước) phạm vi hoạt - Chuẩn bị - Lập trình - Hoàn - VB

văn bản hành tục

chính

để

QUY TRÌNH SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN

soạn thảo: cơ

hoặc cá

quan

đơn vị

VB, đối tượng

ban hành của VB

tên

Bước 1: chuẩn bị công Phân - soạn thảo nhân đích mục định Xác - phạm vi áp dụng và - -

định Xác Thu thập và xử

loại VB lý

thông

tin

BAN HÀNH VĂN BẢN

viết bản thảo

bản trình bày những

điểm cốt yếu dự định

thể

đề cương: VB là dung VB

sở

trên

dựng

những

vấn

đề

được xác

giới hạn của VB lược chi tiết, hoặc sơ

những

hóa

thể

ý tưởng, những

dự

được

lập

xác

sát

đề

cương, phân

từng

chia dụng thành

dung linh một

dung và

nhất, trọn vẹn về

nội

soát

lôgic

phù

hợp

VB hay chưa, ý trọng

lý. Sử VB trở thức. cục nội ý trình tâm

dung: đã đã bày của VB đã nổi

thức VB, về

thể

ngôn

diễn

ngữ

đạt và trình bày

QUY TRÌNH SOẠN THẢO VÀ cương Bước 2: lập - Lập đề + Đề cương hiện nội ở + Đề xây VB được cương định và đích mục trong + Có cương XD đề thể - Viết bản thảo: chữ để cụ + Dùng lời văn, câu ở đề cương kiến viết bản thảo, cần phải bám + Khi chương, mục, đoạn cho hợp trong lượng để kết các câu, đoạn hoạt các từ, cụm từ, liên hình thống thể + Kiểm tra, rà bản thảo: kiểm tra bố đủ ý cần trình bày chưa, các các chưa, đầy với mục ban hành đích hay chưa. bật + Kiểm tra về

BAN HÀNH VĂN BẢN

văn bản

thảo

soạn thảo VB trình hồ

qua.

trên

trình xét

duyệt dự thông

xem sau:

duyệt

nhân) để giấy tờ thảo VB

(nếu có)

quan

(nếu có)

văn bản giấy tờ có

duyệt thì phải trực tiếp tường

liên trình

khác sơ hồ VB

hợp với thủ

VB thông

không trưởng

phần, có

dự

về qua theo đúng họp phải qua khi thông

chế độ tập thể thành đảm bảo số

và QĐ theo cách tư theo

đủ phiếu

qua theo

đa số: các thẩm và định quy trưởng: trên

chế độ một thủ

thông hiểu, thống ký

phải chịu

nhiệm pháp lý về

QUY TRÌNH SOẠN THẢO VÀ 3: trình duyệt, ký Bước quan, đơn vị - Cơ cá hoặc (tập thể VB lên cấp gồm các bao trình sơ - Hồ hoặc phiếu trình dự trình + Tờ thảo + Bản dự + VB thẩm định + Bản tập hợp ý kiến tham gia (nếu có) + Các Trường trình * Đối với thành viên quyền. VB được của PL. * Đối với VB được sở bàn trưởng VB mình

nhất ý kiến với ban lãnh đạo, thủ trách ban hành

bạc, tìm xét xem ký. đã

Bước

ban hành

thiện thủ nhiệm vụ tháng VB đi, sổ

thức VB

lượng số quan

chuyển giao VB

Đóng Bao

gói

kèm phản hồi của cơ

theo

phiếu

4: hoàn tục VB (thuộc của - Ghi số, ngày năm lưu VB - Vào sổ thể - Kiểm tra lần cuối về ban hành - Nhân VB đủ dấu cơ - và - VB quan Với những gửi VB, cần tiếp tục nhận VB. quan

trọng, ban hành theo

dõi

sự

QUY TRÌNH SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN hành để chính văn thư) bộ cán VB ban hành

loại VBHC

thành phần

bản và một số lượng tên

ban hành). Trình loại. căn cứ để ban hành

quyết (được trình bày dưới dạng định

dung: nêu 2-5 điều)

quy vào

định đề vấn cần

chính được điều tiếp theo quyđị nh

(đã trình những

các từ điều 1 cùng: quy định. (xem thi

Phương soạn thảo một số pháp 1. Soạn thảo biệt: cá định quyết thể - phần cơ 9 thành thức: gồm Về sung (tên máy, số đánh người bổ 1 VBHC có của định quy theo bày cục: gồm 2 phần bố - Về các + Phần mở đầu: nêu + Phần nội các điều: từ thẳng * Điều 1: quyđị nh dung, nhưng phần trích yếu nội hơn) * Điều 2, và lý sinh nãy * Điều cuối quyết hành

định phụ được nêu ở thể cụ bày pháp quả hệ hiệu lực và các đối tượng lục I)

Phương

soạn thảo một số

loại VBHC

pháp

1 chủ đề

chứa

định

Mỗi một sự

văn chỉ nhất

-

ràng, ý

đựng tích, rõ

-

sử

khoa

Yêu chỉ và Công tưởng Ngôn lịch - Phải

học, luật, đặc

trong dụng túc, có quy thức

đúng

2. Soạn thảo công văn công cầu: - a. vụ nêu văn phải viết ngắn gọn, súc phản ánh sát với chủ đề. văn phải công ngữ thuyết phục tính sự, nghiêm pháp của định với thể dung biệt phải có phần trích yếu nội

soạn thảo một số

loại VBHC

pháp

cơ quản và tên cơ

chủ quan ban

ban hành văn (tên công

Phương 2. Soạn thảo công văn. b. Bố - Phải có quốc hiệu và tiêu ngữ quan - văn

công cục của ban hành văn bản) hiệu của Địa danh và ngày tháng năm nhận công văn

dung của công văn

và ký

tên người công văn

giả Tác hành ký và - số - thể - Chủ - Trích yếu nội - Nội dung của công văn - chữ dấu, họ đóng và ký công - Nơi gửi văn

loại VBHC

soạn thảo một số

Phương pháp thuật soạn thảo nội c. Kỹ - Viện dẫn (Phần mở đầu): phải

- CV đó. (Lý

loại chủ

từng hợp. Trước cách

văn. Sắp xếp ý nào nêu trước, ý nào

theo phù được hướng hiện tính logic. Văn

ơn: nhẹ

nhàng, chân mềm dẻo, khiêm

để

xuất: phải chối: thẻ chủ đề

sự

hiện sự nhấn mạnh yếu nhiệm của người thực hiện và có ý cần phải có lời chào lịch

dung của công văn do tại sao phải nêu CV) do hoặc cơ sở để ban hành ban hành dung chính: Phải nêu sát với chủ đề hoặc những Nội vấn được nêu trong viện dẫn. Tùy đã đề đề, công cho viết văn có những khi để viết phải xin ý kiến của lãnh đạo dẫn về dung công nội nêu công để sau phù văn thể phải phong hợp với từng loại công việc và cần phải có lập luận chặt đề vấn các chẽ đưa ra. (CV cám tình, CV đề thu nêu đáng, CV tiếp do xác lý tốn, CV từ ý kiến: thể động lịch hện sự an ủi..) viên sự, phải có lời - Kết thúc: phải ngắn gọn và chủ định xác và công những trách văn lưư

loại VBHC

báo

điểm, những khách

soạn thảo một số soạn thảo báo cáo cáo ánh đọng, không

thực được thiên vị, thêm

đảm bảo tính trung phải quan. và trung việc cần giải quyết và bớt,

Phương 3. Phương a. Yêu thực Nêu những bóp - Nội

điểm. Yêu

phải cụ là đề

-

trọng tâm, trọng chung được viết vào đưa liệu chức kỷ việc, để kịp thời và đưa ra những chung, thu phải cáo báo luật và tôn lãnh đạo hiện ý thức tổ công

pháp pháp soạn thảo cầu: khi xác, phải phản chính và ưu, khuyết đúng việc còn tồn thật. sự méo cáo dung báo cầu nàyđặ t ra vấn thập và xữ số lý chính tuyệt Báo trọng nắm quyết

nhiệm với cách

thể, có không liệu, chọn lọc tư xác. đối phải kịp thời: thể cáo trách cấp tin một được xác. định trên, có thông chính

loại VBHC

số

soạn thảo một soạn thảo báo cáo

pháp pháp pháp

đó.

báo báo cáo cáo:

tình

định chức hoạt

những động

những báo vào

và đưa liệu + Đề - - Xử - Dự

Phương 3. Phương b. Phương * Chuẩn bị: đích, yêu mục - Phải xác định cương đề - Phải xây dựng + Đánh hình, mô tình giá nguyên tích + Phân việc cần phải công phương ra Thu thập số tư lý kiến

cầu của bản của quan khách việc … đã xẩy ra sự tả hình, xác giá nhân, đánh được tiếp tục biện pháp tổ hướng cáo để liệu liệu và số xuất đề

soạn thảo báo cáo

pháp

đến việc bài: dựng

ảnh hưởng

việc làm được và chưa làm được

thực hiện kinh nghiệm

khuyết và quát và

trình học đấu sót, khuyết

điểm

nghị đối với cấp trên

Phương b. Phương pháp dàn * Xây - Mở đầu: Nêu điều kiện và hoàn cảnh thực hiện. dung: Nội - + Đánh những giá những ra + Nêu điểm trong quá khái giá + Đánh bài những ra rút Kết luận: - mục tiêu phấn những hướng + Phương nhiệm vụ để khắc phục thiếu + Những chức thực hiện biện pháp tổ + Các + Những kiến để xuất đề ý kiến sắp tới triển vọng những lên + Nêu

soạn thảo báo cáo

số

đánh giá

lạc, rõ rỗng. Nếu

ràng, lôgic, chặt báo

cáo sáo lục. Nếu báo cáo quan qua thông

Phương pháp pháp b. Phương thảo * Viết dự cáo: báo - ngôn dùng Nên thông phổ ngữ - Cần nêu những liệu theo kèm kiện sự bày - Có thể trình kiểu mẩu, sơ đồ theo trong văn Hành - phải mạch cáo báo chẽ, tránh trương phô hiện tượng bản phụ theo kèm phải đề chuyên thì chức lấy ý kiến cần phải tổ trọng đạo thông qua: lãnh * Trình duyệt của lãnh đạo trước khi gửi báo cáo hoặc xét - Phải có sự trước khi trình bày

Phương

soạn thảo một số

loại VBHC

pháp

chính thành, đầy

thể. xác, cụ đủ, không

chủ

cầu của biên bản: kiện phải trung

suy

diễn

4. Soạn thảo biên bản a. Yêu liệu và sự - Số - Ghi chép phải quan.

tâm, trọng

- Ghi chép phải có trọng -

điểm độ tin có kèm phải

hỏi trách nhiệm

-

tin cậy cao, biên theo của người lập biên bản và

người ký xác nhận.

tục phải chặt chẽ, thông Thủ nếu có tang vật hoặc vật chứng bản Đòi những

cao

soạn thảo biên bản

cục của biên bản:

chính.

Phương dựng b. Cách xây - Tuân theo thể số có

thức của một văn bản và

hiệu)

pháp bố ký của biên bản và trích yếu nội

hành dung

năm, giờ

phút

dung: ghi

đầy thúc: ghi

(không Tên - Ngày - Địa - Thành - - Nội - Phần kết

của ký của người xác

tháng điểm phần tham dự theo đủ trình kết ngày, giờ bản và chữ người ghi (lập) biên nhận (nhân chứng: ký nếu có)

tự thúc, chữ ký

THỂ

THỨC VĂN BẢN

1. Quốc hiệu Quốc hiệu ghi trên văn bản

bao

gồm 2 dòng chữ: “Cộng

hoà

hội

do -

phúc”.

ban hành

VB bao

quan, tổ

của pháp luật hoặc căn cứ

ngang

quan, tổ quản cấp trên văn chức có quan

Hạnh văn bản (VB) gồm tên của cơ chức chủ quan, tổ định máy chức bộ đối với các Bộ, cơ đồng

quan, tổ Bộ, cơ tộc và các Ủy Ban của

(UBND), Hội

như: uỷ

chủ nghĩa Việt Nam” và “Độc lập - Tự 2. Tên chức cơ Tên cơ ban hành chức quan, tổ chức của cơ tên VB và ban hành có) căn cứ quy trực tiếp (nếu tổ định bản thành lập, quy của cơ thẩm quyền, trừ hợp trường quan Quốc hội, Hội phòng phủ, Văn Chính thuộc dân Quốc hội. ban hành chức quan, tổ của cơ Tên văn bản được ghi đầy VB thành gọi chính thức căn cứ tên lập, quy tổ định công động hoạt phép chuẩn, cấp giấy phê nhận tư hoặc nhân của cơ chức có thẩm quyền; tên quan, tổ của cơ viết tắt những quản cấp trên trực tiếp có thể chức chủ đồng dân ban nhân dụng thông (HĐND).

theo đủ máy, chức bộ pháp cách quan, tổ cụm từ dân nhân

hiệu của văn bản hiệu của văn bản

3. Số, ký a. Số, ký Số, ký

phạm quy luật pháp hiệu của văn bản quy do Quốc luật phạm pháp hội, Uỷ vụ ban thường nhà quan Quốc hội và các cơ nước có thẩm quyền khác ở ban hành Trung ương theo được thực hiện định quy Điều 3 của Nghị tại định 101/CP ngày số 1997 của 9 năm 23 tháng một số điều của hành thi chi tiết định quy phủ Chính văn bản quy phạm Ban hành Luật thể này, cụ tư Thông dẫn tại hướng

luật và sau:

pháp như

pháp loại văn bản

tự đăng thứ ban hành quan đó. Số được ghi đầu năm và ngày

luật bao gồm chữ

lục

quy dân

của văn bản quy phạm - Số luật bao gồm số do cơ đánh theo từng được ký trong một năm và năm ban hành văn bản 01 vào đầu từ số ả- r ập, bắt chữ bằng số năm; năm ban hành 31 tháng vào thúc kết 12 hàng ngày dụ: 2004, 2005, số, ví phải ghiđầy các đủ pháp viết - Ký hiệu của văn bản quy phạm chữ viết tắt tên loại văn bản tắt tên loại văn bản theo Bảng viết I) và (Phụ này Thông theo chữ và tư kèm sao bản nước, tịch hoặc chức danh nhà nước (Chủ quan tắt tên cơ văn bản. phủ) ban hành Chính tướng Thủ phạm quy đồng luật do Hội pháp hiệu của văn bản - Số, ký được thực hiện theo ban hành dân ban nhân dân, Uỷ nhân phạm Điều 7 của Luật Ban hành văn bản quy tại định số ban nhân dân, Uỷ nhân đồng luật của Hội pháp 2004. 12 năm 03 tháng 31/2004/QH11 ngày

cụ

hiệu của văn bản hành chính thứ văn bản do ký tự đăng tổng theo một năm. Tuỳ mỗi loại văn bản hành chínhđược đăng việc thể chữ được ghi bằng đầu năm và kết thúc

chức quy định của văn bản ngày

b. Số, ký * Số của văn bản hành chính là số cơ trong chức quan, tổ ban hành văn bản và số số lượng cơ ban hành, các quan, tổ văn bản. Số số đánh và ký 01 vào số đầu từ số ả - rập, bắt ngày năm. 12 hàng 31 tháng vào hiệu của văn bản hành chính * Ký - Ký hiệu của quyết biệt), chỉ

định thị (cá

biệt) và của các viết tắt viết tắt tên loại văn bản và viết tắt (phụ

(cá hình thức văn bản có tên loại khác bao gồm chữ tên chữ loại văn bản theo Bảng bản chữ I) và này tư theo kèm sao ban hành chức hoặc chức danh nhà nước quan, tổ cơ tên văn bản. Ví dụ: (CT)… định (QĐ), Chỉ lục thị Thông Quyết

viết tắt tên cơ

ban hành trì soạn thảo hoặc chủ

công soạn thảo Văn chính phòng

Công phủ Công Văn xã Văn

Chính Hành HC; phủ –

Công - Ký hiệu của công văn bao gồm chữ chức hoặc chức danh nhà nước viết tắt tênđơ n vị dụ: đó (nếu có), ví do Vụ Chính văn của soạn thảo: Số:.../CP – do Vụ Chính văn của Thủ phủ VX; do Cục quản lý nhà Bộ văn của Bộ

soạn thảo: Số:.../TTg dựng soạn thảo: Số:.../BXD – phủ tướng Xây

Xây (hoặc thư Công QLN; UBND tỉnh...do tổ

vực văn hoá – xã hội soạn thảo: Số:.../ UBND quan, tổ văn và chữ văn công Chính phòng dựng ký) chuyên viên

văn của dõi lĩnh

nghiệp tỉnh...do Văn theo – Công

phòng Sở

soạn chức ban hành văn bản và chữ Chữ

chức phải viết được quy

cụ

VX; Công văn của Sở thảo: Số:.../SCN – VP. quan, tổ viết tắt tên cơ quan, tổ mỗi cơ trong tắt tên cácđơ n vị đảm ngắn ngọn, dễ thể, bảo định hiểu.

của tỉnh, thành

ngày, tháng, năm ban hành chính

(tên

4. Địa và a. Địa danh ghi trên văn bản là tên gọi chính ương, huyện, quận, thị

đơn vị

tên gọi

-

quan, tổ trực thuộc

của tỉnh, thành

danh văn bản thức của hành trực phố Trung phố xã, thành trấn) nơi cơ chức quan, tổ hành đơn vị trụ được chính phải ghi thì số chữ người hoặc bằng tên theo như thể đó, cụ chính hành của đủ đầy chức (nếu

tên quan, tổ

riêng đơn vị thuộc thuộc tỉnh, xã, phường, thị sở, đối với những đóng đặt tên sau: Địa danh ghi trên văn bản của các cơ phố Trung ương Trung thuộc tỉnh phố ương sở. có) nơi cơ

là hoặc tên của chức

thành đóng

trụ

chức cấp tỉnh:

các

tên của quan, tổ cơ trên ghi trực thuộc Trung ương; là thành các dụ trực thuộc Trung ương, ví

phố phố: thành thuộc tỉnh

hoặc

chức cấp -

thuộc tỉnh của các tổ - văn bản của HĐND, UBND và

là danh tên ghi

-

và là pháp quy

văn bản của danh Địa - phố + Đối với phố thành UBND thành Hà phố Văn bản của phố: Hà thành Nội,...; của thuộc ngành của các sở, ban ngành và Minh Chí Hồ …, Minh Chí Hồ phố Thành của thị tên + Đối với các tỉnh: là xã, thành đóng chức quan, tổ của huyện nơi cơ Địa danh ghi trên văn bản của các cơ xã, thành huyện, quận, thị huyện trên Địa chức cấp xã là tên của xã, phường, thị Ngày, tháng, năm ban hành văn bản hành văn bản khác được ký ban hành. Nội và của các sở, ban, UBND thành thuộc phố trụ, sở quan, tổ phố đó trấn luật phạm ngày, tháng, năm văn bản chính

5. Tên a. Tên

loại và trích yếu nội loại văn bản là tên của từng

loại văn bản ban hành

ban hành. Khi

dung của văn bản do cơ văn bản quy chính, đều phải

hành

ghi

quan, tổ chức pháp phạm loại, trừ tên b. Trích

luật và văn bản văn. công dung của văn bản là một yếu nội gọn hoặc một cụm từ, phản chủ

yếu của văn bản

khái

ánh

câu nội

ngắn dung

quát

6. Nội a. Nội Nội

yếu của một văn bản,

trong phạm việc luật (đối với văn bản quy được ra; các vấn đề, sự phần chủ pháp định

dung văn bản đó, các pháp được

đảm những

Nội - Phù hợp với đặt yêu trương, chính

hợp với qui định phù

được trình bày ngắn gọn, rõ cầu cơ sách hay các ràng, chính

- Sử -

được giải

Dùng ngữ ngữ thích

dung văn bản dung văn bản thành là quy phạm quy luật), các bày trình dung văn bản phải bảo lối, chủ đường của pháp luật luật, các pháp viết, cách ngữ thông; không phổ không cần xác định môn văn bản;

bản sau: Đảng của đề, sự qui định vấn xác; hiểu; đơn giản dễ đạt diễn từ và ngữ địa phương từ dùng thực sự cần thiết. Đối với thuật nội rõ dung thì phải

- Các qui phạm vciệc phải ngôn dụnh ngữ từ nước ngoài nếu chuyên trong

cục của văn bản

b. Bố Tuỳ

dung, văn bản có thể

loại và nội để được phần đến nhỏ

nhất

• - Quyết

định; theo

theo biệt); theo định) ban hànhkèm

(cá

quy

theo thể phần căn cứ ban hành, phần mở đầu và có thể pháp cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, được bố các điểm hoặc phần, mục từ thành chia định. một trình tự lớn sau: cục như Văn bản hành chính có thể được bố điều, khoản, điểm; các quyết

định theo chế( quy chương, mục, điều, khoản, điểm; biệt); theo thức văn bản

khác; theo

khoản, điểm; chính hành

- Chỉ - Các mục, khoản, điểm

thị( cá hình

phần,

của người có thẩm quyền sau:

mặt) vào

"TM" (thay

7. Chúc ghi a/ Việc - Trường

trước tên tập thể

tên hợp ký thay mặt tập thể lãnh

- Trường

phải ghi chữ

viết tắt

"KT" (ký

viết tắt phải ghi chữ chức; quan, tổ quan, tổchức thì đầu. đứng

- Trường

trước

"TL" (thừa lệnh) vào

"TUQ" (thừa uỷ

viết tắt

-

quyền)

trước chứuc

chức

vụ

chức; chỉ

ký chữ vụ: họ quyền hạn của người kýđược th ực hiện như thì đạo hoặc tên cơ đầu cơ hợp ký thay người đứng của người thay) vào trước chức vụ phải ghi chữ thì hợp ký thừa lệnh quan, tổ đầu cơ đứng của người thì quyền hợp ký thừa uỷ đúng của người văn bản là chức danh lãnh đạo ghi tịch, Phó

lại tên cơ

viết tắt chức; phải ghi chữ quan, tổ đầu cơ thức của người ký văn chính trưởng, Chủ trường Bộ vv.. đốc đốc, Phó chức, ban hành; văn bản ký thừa lệnh, thừa uỷ định quy quan, tổ

(Bộ Giám chức

trường

cụ

chức danh như tịch, Giám Chủ hợp cần thiết khác do các cơ

chức vụ Trường vào b. Chức vụ của người ký trên Chức vụ ghi quan, tổ bản trong cơ nhiệm), Thứ trưởng, Chủ không quan, tổ ghi quyền và những thể.

c. Họ

có) và

của người ký văn bản. Đối với văn của người ký, chính, trước họ

tên

tên hành

các

khác, trừ

những

văn bản của các hợp trường

ghi

hiệu danh dự cứu khoa học, trong học hàm, học vị

đệm (nếu gồm họ, tên tên luật và văn bản phạm pháp quy bản danh và ghi học hàm, học vụ không nghiệp giáo dục, y tế, nghiên chức sự tổ thêm cần thiết, có

thể

quan, tổ

8. Dấu của cơ đóng Việc

định

tại Nghị

chức được thực hiện

theo 4 năm

định phủ

tác

dấu trên văn bản số 110/2004/NĐ-CP ngày quy về

văn thư

quy 2004 của Chính của pháp luật có liên quan

08 tháng định

chức, đơn vị

nhân

cơ trach

quan, tổ snhiệm cụ thi

thể hành; để

văn cá như để kiểm tra, giám việc; để công

đổi

những và đích xét, giải quyết; để

trao

công 9. Nơi nhận Nơi nhận xác định bản với mục sát; để xem lưu biết vàđể Nơi nhận phải

trong

văn bản. Căn cứ

quy

định

cụ

thể

được xácđị nh

yêu

nhiệm để

trách

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ hoặc cá nhân xuất những

trì chức, đơn vị

cầu giải quyết công việc, đơn vị cơ có nhận văn bản trình người ký văn

soạn thảo nhân và

của pháp luật; căn cứ quan; căn cứ soạn thảo hoặc chủ quan, tổ bản quyết

cụ

phải ghi tên

thì

định. Đối với văn bản chỉ quan, tổ cơ

thể nhận văn bản; đối với văn bản đối tượng nhóm

định

nhất

nơi

thì

từng nhân được gửi cho một hoặc một số nhận

gửi cho một số đối tượng chức, cá chung

được

ghi

khẩn, mật

được thực hiện như 10. Dấu chỉ mức a. Dấu chỉ Việc xác định

nhanh, văn bản tốc, thượng mức độ khẩn, mật độ khẩn của văn bản độ mức cần độ chuyển được được

sau: mức phát - Tuỳ theo xác khẩn theo ba mức sau: hoả độ định hoặc khẩn;

khẩn hoặc cá nhân - Khi soạn thảo văn bản có tính chất khẩn, đơn vị

đề độ

soạn thảo văn bản bản quyết xuất mức khẩn trình người ký văn

độ Dấu

định khẩn phải khoản 2 Mục độ dẫn tại để dùng điểm k dấu đóng

Thông khẩn dùng mực màu đỏ độ được khắc sẵn theo hướng này. Mực tư tươi.

độ và mức b. Dấu chỉ Việc xác định

dấu

được thực hiện theo quyđị nh

III của mật mật (tuyệt mật, tối mật hoặc đóng mật), dấu thu hồi mật nhà đối với văn bản có nội dung bí của pháp luật về nước bí mật nhà nước. bảo vệ

phần thể

gồm:

11. Các thành Các a, Địa chỉ

chức; địa chỉ

mạng

trên

khác E - Telex, số

bao Mail; địa chỉ Fax đối với công văn, công điều

để

tạo

thức thành thức khác của văn bản phần thể quan, tổ cơ (Website); số điện thoại, số điện, giấy giới thiệu, giấy mời, phiếu gữi, phiếu chuyển kiện thuận lợi cho việc liên hệ.

b, Các

lại

khi

sau

dẫn về

phạm vi lưu hành như

họp (hội

trả

văn

xong

phổ

hạn chế

"Trả lại", "lưu hành nội bộ" đối với những dụng

hoặc chỉ

dẫn

sự

chỉ để

chỉ nghị)", "xem bản có phạm vi, đối tượng "dự thảo văn bản như về dẫn trên có thể được đánh văn bản hoặc dự đóng và đánh

máy

c, ký

hành; văn bản phải

bản thì

bản cần d, Trường

biến, sử thảo lần...". Các thảo" hay "dự con dấu khắc sẵn dùng hoặc máy thảo văn bản; lên lượng số hiệu người số về được quản lý chặt chẽ kèm lục hợp văn bản có phụ

phát trong lục văn bản phải có tiêuđề , văn bản lục phải thì

bản phát hành đối với những lượng theo phụ

đó. Phụ lên

được

đánh

số

phụ lục phụ lục trở La Mã;

các

dẫn về chỉ có hai phải có từ số bằng tự thứ trang: văn bản và phụ đ. Số trở đi phải

hai

đánh

thứ trang

trang số

lục.

củ

phụ

lục văn bản

số đánh

chữ từng

lục văn bản gồm nhiều trang thì từ tự được thứ riêng được

bằng theo

số ả-rập; phụ

KỸ

bày

1. Khổ lề và văn bản.

trình trang

giấy khổ A4 (210 mm x 297 mm).

giấy, kiểu giấy bày trên loại văn bản như

giấy giới thiệu, giấy biên nhận hồ khổ trình trên bày sơ, A5

chiều dài của A4 (định giấy khổ

trang hướng

phụ các chiều rộng

THUẬT TRÌNH BÀY định a. Khổ Văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chínhđược trình Các phiếu gửi, phiếu chuyển có thể được (148 mm x 210 mm) hoặc trên giấy mẫu in sẵn. b. Kiểu trình bày Văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính được theo trình bày bản in theo chiều dài). hợp nội dung văn bản có các bảng, biểu nhưng Trường không thành làm được được theo bày trình bản in theo chiều rộng).

lục riêng thì văn bản có thể hướng của trang giấy (định

KỸ

THUẬT TRÌNH BÀY

c. Định

văn bản (đối với khổ

giấy A4)

lề

20-25 mm;

15-20mm;

20-25 mm;

30-35 mm;

trang - Trang mặt trước: trên: cách Lề mép méo dưới: cách Lề mép trái: cách Lề mép phải: cách Lề - Trang mặt sau: mép trên: cách Lề Lề mép dưới mép trái Lề mép phải Lề

: cách : cách : cách

20-25 mm; từ trên dưới từ 30-35 mm; từ trái phải từ từ trên 20-25 mm; dưới từ 15-20 mm; từ trái phải từ

phần thể thức văn bản. thức văn bản trên một

thành

trí tư

trí trình bày các thành phần thể

A5 được áp dụng tự

phần thể thức văn bản được trình bày như :

: "Cộng bằng chữ

Nam" nghĩa Việt 13, kiểu 12 đến từ phúc" được 13, kiểu chữ trình

hoa, giữa ngang,

2. Kỹ thuật trình bày các thành phần thể trí Vị các bày trình trang các A4 được thực hiện theo sơ đồ bố giấy khổ thành (Phụ này Thông theo kèm phần thwr thức văn bản lục thức văn bản trên II). Vị sơ đồ theo tương một trang giấy khổ trên. Các sau thành a. Quốc hiệu được trình bày tại ô số Quốc hiệu trên chữ Dòng bày trình được chữ đứng, đậm. chữ Dòng bằng bày đứng, đậm; chữ cụm từ các liền, có nét 1. hội chủ xã hoà chữ in hoa, cỡ dưới : "Độc lập - Tự Hạnh do - 12 đến từ chư in thường, cỡ chữ đầu của các cụm từ được viết cái dưới có dòng kẻ nhỏ; phía ngang gạch có của dài độ bằng dài độ dòng chữ.

ban hành

cơ cơ

được chức văn bản. chức ban hành văn bản

chức chủ tại ô bày được trình trình quản cấp trên trực tiếp

in hoa, cỡ

độ

độ

bày 1/3 đến từ chữ. của

13, kiểu chữ đứng. bằng trình được 13, kiểu chữ đứng, đậm; phía bằng dài kiền, có dòng đặt cânđối so v ới 3. hiệu bằng

ô số in thường, ký từ

dấu hai

hiệu văn

chữ 13, kiểu chữ đứng; sau "số" có hiệu văn bản có dâu kí và ban hành kí trong viết tắt chữ nhóm các : dụ (-), ví chữ không

quan, tổ b. Tên quan, tổ Tên số 2. quan, tổ cơ Tên chữ bằng bày 12 đến từ chữ quan, tổ cơ Tên chức ban hành văn bản in hoa, cỡ chữ 12 đến chữ từ dưới cóđườ ng ngang, nét kẻ và chữ dòng dài ½ hiệu của văn bản. c. Số, ký Số, ký hiệu của văn bản dược trình bày ở "số" được trình bày bằng Từ chữ in hoa, cỡ chữ chấm; giữa số, năm (/); giữa chéo gạch cách nối bản có dấu gạch Số: 33/2002/NĐ-CP; Số: 15/QĐ-UBND; Số: 23/BC-BNV; Số: 234/SCN-VP.

trình

bày

được 14, kiểu chữ

chữ

in thường, cỡ

văn bản. văn bản 13 đến

02 năm 2008

từ địa danh có dấu phẩy. 05 tháng

quyết,

5a; tên và

dụ: Hà và loại và loại trình hoạch, báo

ban hành ngày, tháng, năm ngày, tháng, năm ban hành chữ ; sau Nội, ngày yếu nội trích yếu nội trích tại ô số bày cáo, tờ ở

khác) được từ

giữa (cân đối

đặt 14 đến

gữa, ngay

dung văn bản. dung của các loại văn bản có ghi tên loại loại văn bản (nghị định, nghị loại văn bản các trình chữ in hoa, cỡ dòng) bằng giữa dung văn bản yếu nội chữ

dưới trích yếu có đường

chữ

bằng

dài

dài

từ

1/3 đến 1/2 độ

chữ đặt được in thường, cỡ ngang, kẻ đặt và

của dòng chữ

độ liền, có đối với dòng chữ.

dung công

trình

bày

chữ

tại in thường, cỡ

5b, sau từ

yếu nội "V/v" (Về

văn việc) bằng

12 đến

13,

d. Địa và danh Địa và danh ô só 4, bằng nghiêng Ví đ. Tên Tên được kế canh 15, kiểu chữ đứng, đậm; trích canh dưới tên loại văn bản, bằng 14, kiểu chữ đứng, đậm; bên nét cân Trích viết tắt kiểu chữ đứng.

được chữ

ô só chữ

e. Nội Nội dung văn bản. dung văn bản được trình bày tại ô số 6.

in dung (văn bản) được trình bày bằng

chữ dòng, chữ đầu đến 1,27 cách mạng dòng (1default

(paragraph) đặt tối

cách

hay hay đơn 15pt (exactly line spacing) trở

-

các cách pháp ban hành qui phạm để lý

- Phần nội xuống 14; khi 13 đến từ chữ thường, cõ mạng 1 cách từ vào lùi thể có giữa các đoạn văn cách tab); khoảng giữa 6pt; khoảng là thiểu (line spacing) chọn tối thiểu từ spacing) hoặc từ Đối với những văn bản phần căn cứ có chính cứ dòng phải xuống cùng kết thúc bằng dòng dòng cách (single line dòng lên. luật và văn bản hành mỗi căn cuỗi sau thì pháp có căn cứ dấu chấm phẩy, riêng dấu phẩy.

g. Chức vụ, họ

in hoa, cỡ

chữ trình

ký của người có chữ của người ký được của người ký được khác viết tắt bày

chữ

7b; bằng

tên và - Quyền hạn, chức vụ 7a; Chức vụ ô số 7b; các tại ô số "TUQ" hoặc người ký được 13 đến tên - Họ (nếu có) được chữ thường, cỡ - Chữ ô số

thẩm quyền tại bày trình bày trình "TM"; "KT"; "TL", của "Q" (quyền), quyền hạn và chức vụ từ chữ bằng 14, kiễu chữ đứng, đậm. của người ký văn bản và học làm, học vị in tại ô số trình bày 14, kiễu chữ đứng, đậm. 13 đến từ bày được của người có thẩm

chữ trình

quyền

tại

ký 7c.

8 quan, tổ tổ chức được trình bày tại ô số

h, Dấu của cơ Dấu của cơ I, Nơi nhận Nơi nhận Phân quan được nơi nhận tại ô số

9b. đối với văn bản hành

- Từ

in thường, cỡ

chữ

chức hoặc cá nhân nhận 14, kiểu chấm; nếu công văn gửi cho từ thì trình

công tên thì lên quan, tổ cơ

dấu hai gửi" và "kính nhân chức hoặc một cùng trên bày chức hoặc cá nhân được quan, tổ văn gửi cho hai cơ chức, cá quan, tổ mỗi cơ được trình nhân chức, cá ngang, cuối riêng, đầu dòng có gạch cuối cùng có dấu chấm.

chức 9a và tại ô số bày trình dụng áp 9 a (chỉ chính) được sau: như bày trình "kính gữi' và quan, tổ cơ các tên văn bản chữ được trình bày bằng chữ đứng; gửi" có - Sau từ" kính quan, tổ một cơ quan, tổ cơ tên hợp dòng; trường một chức hoặc cá nhân trở nhân nhóm hoặc mỗi bày trên một dòng dấu chấm phẩy, cuối có dòng dòng

và chung loại văn bản khác) được 9b (áp dụng

Phần nơi nhận tại ô số hành sau: đối với công văn bày trình chính

- Từ

riêng, sau 12, kiểu chữ như đó có

các "nơi nhận" được dấu hai chấm, bằng nghiêng, đậm; - Phần liệt kê các cơ bày một trên in thường, cỡ chức, đơn vị

dòng chữ và in thường, cỡ và chữ chức, đơn vị

riêng, đầu dòng có gạch

hợp cần thiết) được dòng "lưu" viết tắt "VT"( văn phận) (hoặc bộ trong đơn, cuối cùng những

trình chữ nhận văn nhân cá quan, tổ được trình bày bằng bản 11, kiểu chữ chữ mỗi cơ đứng; tên quan, tổ hoặc mỗi nhân cá quan, tổ cơ nhóm được trình bày chức, đơn vịnhận văn bản trên có ngang, cuối dòng một cuối cùng bao gồm chữ dấu chấm phẩy; riêng dòng đó có dấu hai chấm, tiếp theo là chữ sau chức), chữ quan, tổ cơ thư soạn thảo văn bản và số trường là dấu chấm. viết tắt tênđơ n vị bản lưu (chỉ ngoặc trong lượng đặt

khẩn, mật

độ

mật (tuyệt mật, tối mật hoặc mật) và

mức độ

dấu nước bảo ô số khẩu

từ

chữ

k. Dấu chỉ Mẫu dấu dung bí đối với văn bản có nội nhà mật hồi thi pháp của định quy theo luật về được thực hiện được vào đóng mật độ nước. Dấu mật vệ nhà độ 11. dấu ô số vào đóng được 10a, dấu thu hồi khẩn có 10b. Con dấu các độ ô số vào đóng được tốc“, "hoả đó, các nhật, trên chữ hình bằng bày khẩn" hoặc "khẩn" được "thượng từ chữ 13 đến in hoa, cỡ được trong đối cân đặt ứng thước tương kích 20mm x 8mm và

chữ trình 14, kiểu chữ đứng, đậm và khung đơn, có nhật viền 30mmx8mm, 40mmx8mm là

phần thể

thành

thành phần thể

thức phạm vi lưu hành được khác thức khácđược trình bày nh ư bày

trình

họp (hội nghị)", "xem

khi

lại

dẫn về "trả

sau

chữ

sau: tại ô số trả xong khung nội bộ" được trình bày cân đối trong một

in hoa, cỡ

chữ

từ

13 đến

đơn, bằng

chữ

11; các lại" , “lưu hình 14, kiểu chữ

3. Các Các - Các chỉ cụm từ hành nhật viền đứng, đậm dẫn về

- Chỉ

dự

thảo văn bản

trình

chữ

"dự nhật viền

được bày được thảo lần…” chữ đơn, bằng

tại ô số bày trình in hoa, cỡ

"dự một 13 đến

12; từ trong từ chữ

- Ký hiệu người

bản phát hành được trình

in hoa, số

lượng

bản bằng

chữ

số

bày ả

tại ô số - rập, cỡ

-

Địa chỉ

thảo" hoặc cụm từ khung hình 14, kiểu chữ đứng, đậm; số máy lượng chữ hiệu bằng 11, kiểu chữ đứng; chức; địa chỉ thoại, số

trên

E-Mail; địa chỉ Fax được chữ

mạng bày

chữ

Telex, số 14, bằng đường

trên trình từ in thường, cỡ liền kéo dài hết

đầu của văn bản, tại ô số 12, kiểu chữ đứng, dưới một

kẻ

nét

đánh 13; ký chữ quan, tổ (Website); số địên trang 11 đến bề

ngang

của vùng trình bày văn bản;

giấy hợp có từ

riêng; từ hai riêng, canh

được trình bày lục kèm theo văn bản của phụ tự thứ số lục" và "phụ phụ bày trình lên) được lục trở chữ in thường, cỡ chữ giữa, bằng được trình (tên) của phục lục đề từ in hoa, cỡ

- đậm, tiêu chữ chữ của văn bản: được trình bày tại

trang giấy (phần footer) bằng

-

chữ trình tại Phụ thức văn bản và thể

- thành các bày lục IV- Mẫu chữ keo thức bản và

lục văn bản: phụ - Phụ trang các trên lục (trường dòng một trên 14, kiểu chữ đứng bày canh giữa, bừng 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm; Số chính giữa trên đầu trang heaher) hoặc tại góc phải, ở cuối giấy trang (phần bằng chữ số ả- r ập, cỡ của chữ cỡ phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng thức văn phần thể chi tiết và Mẫu chữ chi tiết trình và được minh hoạ bản theo thể bày Phông VnTimeH chữ: VnTime với chữ sao in thường đối với chữ Times New Roman) in hoa. (hoặc đối

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU

LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY

PHẠM PHÁP LUẬT

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002 là công cụ trực tiếp xác lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động lập pháp nhờ đó, công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam ngày càng có nhiều tiến bộ, cải thiện hệ thống pháp luật cả về số lượng các văn bản quy phạm pháp luật và chất lượng của hệ thống pháp luật. Việc triển khai thực hiện các luật này, một mặt, đã giúp đẩy nhanh quá trình xây dựng hệ thống pháp luật và mặt khác, đã tạo sự chuyển biến một bước về chất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói chung và trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói riêng; cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo đường lối, chính sách của Đảng.

Bên cạnh những thành tựu nêu trên, trong công tác xây dựng, ban hành văn

bản quy phạm pháp luật hiện nay vẫn còn những tồn tại, hạn chế lớn như sau:

Thứ nhất, về việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Về nguyên tắc, việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là giai đoạn hết sức quan trọng, cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, nhằm xác định nhu cầu xã hội, chính sách pháp luật phù hợp để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội phát sinh, cũng như để điều chỉnh công tác quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhìn chung còn chưa thực sự khoa học, thiếu những định hướng chính sách pháp luật, làm cho quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật ít nhiều gặp khó khăn, lúng túng, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng soạn thảo văn bản. Một số luật, pháp lệnh được ban hành thiếu tính khả thi hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội, gây lãng phí các nguồn lực.

Mặt khác, việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cũng chưa quan tâm đúng mức đến việc xác định thứ tự ưu tiên của văn bản, dẫn đến trên thực tế có văn bản thực sự cần thiết lại chưa được ban hành hoặc có văn bản cần ban hành trước, nhưng lại được ban hành sau.

Thứ hai, về việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật

- Chưa có sự phân công thật rành mạch và hợp lý giữa các cơ quan trong quá trình soạn thảo, chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan liên quan trong quá trình đó, dẫn đến tình trạng chờ đợi, dựa dẫm nhau, làm chậm tiến độ soạn thảo và giảm chất lượng của văn bản (ví dụ: chưa quy định hợp lý trách nhiệm của cơ quan trình, cơ quan chủ trì soạn thảo, ban soạn thảo, ...).

1

- Còn thiếu các quy định bảo đảm việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải dựa trên những nghiên cứu, đánh giá khoa học, đánh giá ảnh hưởng dự kiến của những chính sách pháp luật hoặc những quy định của pháp luật sẽ được ban hành; các kết quả nghiên cứu, đánh giá đã có cũng chưa được công bố rộng rãi hoặc cung cấp đầy đủ cho các cơ quan có thẩm quyền như Chính phủ, Quốc hội khi xem xét, thảo luận, thông qua văn bản.

- Quy trình soạn thảo văn bản chưa phát huy triệt để sự tham gia của các tổ chức, cá nhân liên quan. Việc lấy ý kiến của nhân dân, của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản còn hình thức; thiếu cơ chế đề cao trách nhiệm của cơ quan soạn thảo trong việc nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự thảo.

- Chưa có cơ chế giải quyết tốt mối quan hệ giữa luật, pháp lệnh với việc soạn thảo các văn bản quy định chi tiết thi hành theo hướng bảo đảm cho luật, pháp lệnh đi vào cuộc sống đúng vào thời điểm có hiệu lực.

Thứ ba, về quy trình thảo luận, xem xét, thông qua dự thảo văn bản của

Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Vai trò của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự thảo luật, pháp lệnh chưa được quy định đúng mức, đầy đủ trong việc bảo vệ, giải trình trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự thảo, nhất là trong trường hợp dự thảo luật, pháp lệnh được xem xét, thông qua tại hai kỳ họp, hai phiên họp, dẫn đến việc hướng dẫn thi hành và triển khai thi hành một số văn bản gặp khó khăn nhất định và trong một số trường hợp dẫn đến sự không rõ ràng về trách nhiệm trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ tư, về vấn đề áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

Quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành còn nhiều chồng chéo, trùng lắp, mâu thuẫn do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đang rất phức tạp, nhiều tầng nấc, nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành với nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật khác nhau; thiếu quy định ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan trong việc hợp nhất, pháp điển hoá văn bản quy phạm pháp luật, càng làm cho việc tra cứu, áp dụng pháp luật gặp khó khăn hơn. Mặt khác, việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế cũng chưa thống nhất, bởi thiếu một số quy định có tính nguyên tắc về áp dụng pháp luật, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về áp dụng văn bản.

Do những tồn tại, hạn chế lớn nêu trên, năm 2002, đồng thời với việc phải khẩn trương sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, tập trung vào đổi mới quy trình thông qua luật, pháp lệnh và việc minh bạch hoá quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Quốc hội đã giao Chính phủ tiếp tục nghiên cứu để trình Quốc hội xem xét sửa đổi Luật này một cách toàn diện hơn. Do vậy, việc tiếp tục sửa đổi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật lần này là cần thiết, nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế và vướng mắc phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 2

của Bộ Chính trị và các cam kết của nước ta khi gia nhập WTO.

Ngày 02 tháng 6 năm 2008 tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thay thế Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002.

II. NHỮNG QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG, BAN

HÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 được xây dựng, ban

hành dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:

- Thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới quy trình lập pháp, lập quy, về hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm tăng cường dân chủ, công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật;

- Bảo đảm sự phù hợp của Luật với Hiến pháp và tính thống nhất của Luật

trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật;

- Bảo đảm tính kế thừa, luật hoá một số quy định của các văn bản dưới luật liên quan đến hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được thực tiễn kiểm nghiệm; giải quyết những vướng mắc phát sinh trong quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

- Thể hiện tinh thần cải cách hành chính thông qua việc phân định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan tham gia vào quá trình xây dựng, ban hành văn bản, đơn giản hoá các hình thức văn bản quy phạm pháp luật;

- Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhằm đẩy nhanh tiến độ soạn thảo, ban hành văn bản, nhưng vẫn phải bảo đảm chất lượng của văn bản; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tham mưu trong việc bảo đảm chất lượng của dự thảo, cũng như kỹ thuật soạn thảo văn bản để Chính phủ, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Quốc hội dành nhiều thời gian tập trung vào thảo luận, biểu quyết những chính sách lớn, những vấn đề lớn của dự thảo văn bản.

III. BỐ CỤC CỦA LUẬT

Luật gồm 12 chương, 95 điều được bố cục như sau:

Chương I - Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 10), gồm các quy định về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; các nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và một số quy định chung khác.

Chương II - Nội dung văn bản quy phạm pháp luật (từ Điều 11 đến Điều 21) quy định về nội dung điều chỉnh của mỗi hình thức văn bản quy phạm pháp luật, gồm nội dung của Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; nội dung của pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;...

Chương III - Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp 3

luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (từ Điều 22 đến Điều 57).

Chương này gồm 6 mục: Mục 1 - Lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Mục 2 - Soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Mục 3 - Thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. Mục 4 - Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội. Mục 5 - Thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý và thông qua dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. Mục 6 - Công bố văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Chương IV, V, VI và VII từ Điều 58 đến Điều 74 quy định quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước và văn bản quy phạm pháp luật liên tịch.

Chương VIII - Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy trình rút gọn (từ Điều 74 đến Điều 77), quy định các trường hợp xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn; hồ sơ trình dự án, dự thảo và việc xem xét, thông qua dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Chương IX - Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật và nguyên tắc áp dụng, công khai văn bản quy phạm pháp luật (từ Điều 78 đến Điều 84) trong đó quy định cụ thể thời điểm có hiệu lực và việc đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật, vấn đề hiệu lực trở về trước, ngưng hiệu lực, những trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng và việc đăng tải, đưa tin văn bản quy phạm pháp luật.

Chương X - Giải thích văn bản quy phạm pháp luật (Điều 85 và Điều 86) gồm các quy định về thẩm quyền giải thích luật, pháp lệnh; xây dựng, ban hành dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh.

Chương XI - Giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, hợp nhất văn bản và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (từ Điều 87 đến Điều 93), quy định việc kiểm tra, giám sát, nội dung kiểm tra, giám sát văn bản quy phạm pháp luật, xử lý và thẩm quyền xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật, việc hợp nhất, rà soát, hệ thống hóa, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật.

Chương XII - Điều khoản thi hành (Điều 94 và Điều 95) quy định thời điểm có hiệu lực thi hành của Luật, kinh phí xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

IV. MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY

PHẠM PHÁP LUẬT

Với mục đích nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, Luật đã 4

sửa đổi một cách toàn diện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ khâu lập dự kiến chương trình, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và thông qua văn bản theo hướng tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tham mưu trong việc soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý dự thảo, cơ quan ban hành chỉ tập trung vào việc thảo luận và quyết định chính sách. Bên cạnh đó, Luật cũng bổ sung các quy định nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm hệ thống pháp luật có chất lượng, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận và có tính khả thi cao.

Sau đây là một số điểm mới quan trọng của Luật ban hành văn bản quy

phạm pháp luật :

1. Thu gọn các loại văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta bao gồm hơn 20 loại văn bản, do nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành; mỗi cơ quan ban hành từ 2 đến 3 loại văn bản. Điều này làm cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật rất phức tạp, việc theo dõi, áp dụng và xác định thứ bậc hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật gặp không ít khó khăn, đặc biệt là khó xác định được khi nào, về vấn đề gì thì cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức nào.

Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên, đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Điều 2 của Luật quy định một số cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới một hình thức văn bản. Theo đó, Chính phủ chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức nghị định, thay vì nghị quyết và nghị định; Thủ tướng Chính phủ chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức quyết định, thay vì chỉ thị và quyết định; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối cao chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức thông tư, thay vì quyết định, chỉ thị, thông tư như trước đây.

Tuy nhiên, để phù hợp với quy định của Luật Kiểm toán, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 bổ sung thẩm quyền của Tổng Kiểm toán Nhà nước trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức quyết định.

2. Văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản, điều, khoản, điểm được quy định chi tiết

Để khắc phục tình trạng luật, pháp lệnh chờ nghị định, nghị định chờ thông tư…, cũng như tình trạng hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh một cách tràn lan, thậm chí sao chép lại các quy định của luật, pháp lệnh, các quy định của Luật đặt ra các yêu cầu cụ thể:

- Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định trực tiếp nội dung cần điều

chỉnh, không quy định chung chung (khoản 2 Điều 5 của Luật).

5

- Văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định cụ thể để khi văn bản đó có hiệu lực thì thi hành được ngay, chỉ trường hợp văn bản có nội dung liên quan đến quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, những vấn đề chưa có tính ổn định cao thì có thể giao cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định chi tiết. Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được uỷ quyền tiếp (khoản 1 Điều 8 của Luật).

- Xác định trách nhiệm của cơ quan ban hành khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới phải đồng thời sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, bãi bỏ văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới (dù là văn bản luật, pháp lệnh hay là văn bản quy định chi tiết); có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, bãi bỏ văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản đã ban hành trái với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới trước khi văn bản, điều, khoản, điểm mới đó có hiệu lực (khoản 2 Điều 9 của Luật).

- Văn bản quy định chi tiết phải quy định cụ thể, không lặp lại nội dung của văn bản được quy định chi tiết và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết (khoản 2 Điều 8 của Luật).

- Trong trường hợp một cơ quan được giao ban hành quy định chi tiết về nhiều nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật thì có thể ban hành một văn bản để quy định chi tiết nhiều nội dung của một văn bản hoặc các nội dung của nhiều văn bản khác nhau (khoản 3 Điều 8 của Luật)

- Quy định cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật, pháp lệnh có trách nhiệm kiến nghị việc phân công cơ quan soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các điều, khoản, điểm của dự thảo (khoản 8 Điều 33 của Luật).

- Áp dụng kỹ thuật "một văn bản sửa nhiều văn bản", theo đó, một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ nhiều văn bản do cùng một cơ quan ban hành...(khoản 3 Điều 9 của Luật)

Như vậy, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đặt ra yêu cầu văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng để khi có hiệu lực thì thi hành được ngay, hạn chế tình trạng giao Chính phủ ban hành quá nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết và bỏ quy định giao Chính phủ ban hành nghị định để hướng dẫn toàn bộ nội dung của luật, pháp lệnh một cách chung chung. Các nội dung cần được quy định chi tiết phải được giới hạn cụ thể hơn và việc uỷ quyền ban hành văn bản quy định chi tiết phải tuân theo nguyên tắc cơ quan đã được giao ban hành văn bản quy định chi tiết phải ban hành văn bản, không được phép uỷ quyền tiếp cho cơ quan khác ban hành văn bản quy định chi tiết. Đồng thời, với yêu cầu việc ban hành văn bản quy định chi tiết phải được thực hiện trước khi văn bản, điều, khoản, điểm được quy định chi tiết có hiệu lực để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết, sẽ hạn chế được tình trạng văn bản quy định

6

chi tiết được ban hành chậm, việc soạn thảo kéo dài làm ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản được hướng dẫn.

Ngoài ra, nhằm hạn chế tình trạng một cơ quan được giao nhiệm vụ quy định chi tiết nhiều nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật phải ban hành nhiều văn bản để quy định chi tiết các nội dung đó, Luật quy định theo hướng trừ trường hợp cần phải quy định trong nhiều văn bản khác nhau, cơ quan được giao quy định chi tiết soạn thảo, ban hành một văn bản để quy định chi tiết các nội dung cần hướng dẫn thi hành. Trong trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết các nội dung ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau thì có thể ban hành một văn bản để quy định chi tiết (khoản 3 Điều 8).

3. Áp dụng kỹ thuật “một văn bản sửa nhiều văn bản”

Quy trình lập pháp, lập quy chặt chẽ, nhiều công đoạn là nhằm mục đích bảo đảm có sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, công dân, bảo đảm trách nhiệm của các cơ quan đối với chất lượng của dự án, dự thảo. Do vậy, việc cắt bỏ một khâu nào trong quy trình này khi xây dựng một văn bản sửa đổi, bổ sung một văn bản đều khó thuyết phục mặc dù giữa việc soạn thảo một văn bản hoàn toàn mới với việc sửa đổi một vài điều hoặc chỉ rất ít điều, thậm chí 1 hoặc 2 điều là có sự khác nhau. Với trình tự soạn thảo, ban hành văn bản được quy định chặt chẽ, khi soạn thảo văn bản, mỗi Ban soạn thảo hoặc cơ quan chủ trì soạn thảo chỉ quan tâm đến việc soạn thảo hoặc sửa đổi, bổ sung một dự án, dự thảo. Việc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật thường áp dụng theo trình tự xây dựng, ban hành văn bản mới.

Việc nghiên cứu, sửa đổi đồng thời một lúc nhiều văn bản cho phép tuân thủ các bước tối thiểu của quy trình xây dựng, ban hành văn bản mà vẫn bảo đảm đúng chức năng, thẩm quyền của các cơ quan, đồng thời khắc phục được sự mâu thuẫn của hệ thống pháp luật, khắc phục được sự lãng phí về thời gian nghiên cứu, thời gian tổ chức soạn thảo, thông qua văn bản cũng như tiết kiệm kinh phí nghiên cứu, soạn thảo, ban hành văn bản.

Chính vì lý do trên, Khoản 3 Điều 9 của Luật quy định “Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành”. Như vậy, trong trường hợp có nhiều văn bản cần phải sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ do cùng một cơ quan ban hành, cơ quan đó chỉ cần ban hành một văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ tất cả các nội dung đó mà không cần phải ban hành nhiều văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ từng văn bản.

4. Trách nhiệm xây dựng báo cáo đánh giá tác động

Nhằm tiết kiệm thời gian, công sức, kinh phí và tăng cường hiệu quả của việc xây dựng và thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và chương trình xây dựng nghị định, tránh tình trạng đưa vào chương trình cả những văn bản mà tính thực tế, tính khả thi và tính hợp lý còn thấp, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị 7

định phải được gửi kèm báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản (Khoản 1 Điều 23, Khoản 1 Điều 59 của Luật).

Để cung cấp thêm thông tin cho cơ quan có thẩm quyền cũng như các đối tượng liên quan trong việc xem xét, thảo luận, thông qua văn bản, đồng thời, nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo phải bảo đảm chất lượng của dự thảo, Luật quy định cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm xây dựng báo cáo đánh giá tác động của văn bản. Nội dung báo cáo phải nêu rõ được các vấn đề cần giải quyết và các giải pháp đối với từng vấn đề đó, chi phí, lợi ích của các giải pháp, so sánh chi phí- lợi ích của các giải pháp (Khoản 2 Điều 33 và Khoản 2 Điều 61 của Luật).

Đánh giá tác động pháp luật (viết tắt Tiếng Anh là RIA)1 là một tập hợp các bước lôgíc hỗ trợ cho việc chuẩn bị các đề xuất chính sách. Nó bao gồm việc nghiên cứu sâu các hoạt động đi kèm với quá trình xây dựng chính sách và chính thức hóa các kết quả nghiên cứu bằng một bản báo cáo độc lập. Tiến hành RIA bao gồm việc trả lời một số câu hỏi chủ yếu sau: Đâu là bản chất, mức độ và sự phát triển của vấn đề? Đâu là các mục tiêu mà quốc gia theo đuổi? Đâu là các tác động về môi trường, xã hội và kinh tế của các lựa chọn chính sách? Đâu là ưu và nhược điểm của các lựa chọn chính sách chính? Việc giám sát và đánh giá về sau được tổ chức như thế nào?

Thực hiện RIA là bảo đảm, thu hút sự tham gia của công chúng vào quá trình hoạch định chính sách. Quá trình thực hiện RIA giúp cơ quan soạn thảo có cái nhìn tổng thể, toàn diện về vấn đề sẽ được giải quyết trong văn bản, trong đó bao gồm những đánh giá mặt được và mặt hạn chế của các phương án đưa ra; từ đó tham mưu cho cơ quan có thẩm quyền hướng giải quyết đúng và sát thực hơn. Về phía cơ quan ban hành, RIA chính là nguồn cung cấp thông tin đầy đủ, toàn diện về các phương án lựa chọn, không lựa chọn – làm cơ sở để các thành viên Chính phủ, đại biểu Quốc hội, thảo luận, quyết định phương án giải quyết vấn đề một cách phù hợp, hiệu quả và kinh tế.

Đứng về mặt ban hành chính sách mang tính vĩ mô, RIA mang lại những

kết quả sau đây:

Thứ nhất: giảm bớt rủi ro các lỗi về chính sách, vì các cơ quan có thẩm

quyền đã:

- Xác định được mục tiêu của việc ban hành văn bản;

- Đánh giá tác động đầy đủ sự thay đổi dự kiến;

- Xác định và đánh giá các phương án lựa chọn để đạt được mục tiêu;

- Đảm bảo tính hài hoà, thống nhất với các phương án đang sử dụng;

- Biết trước là liệu lợi ích có lớn hơn chi phí hay không;

- Đảm bảo quá trình xây dựng chính sách có sự tham gia của người dân và

đảm bảo tính minh bạch của việc xây dựng chính sách;

8

1 (Regulatory Impact Assesment )

- Tính đến bảo đảm tuân thủ các thoả thuận quốc tế.

Thứ hai: cải thiện tình hình lạm phát về văn bản quy phạm pháp luật, vì văn bản chỉ được ban hành sau khi đã cân nhắc tương đối đầy đủ các tác động kinh tế - xã hội và thấy lợi ích của việc thi hành lớn hơn chi phí.

Về nguyên tắc, cơ quan nào đề xuất các biện pháp thực hiện thì cơ quan đó chịu trách nhiệm thực hiện RIA. Điều này không hạn chế quyền thuê các chủ thể khác đánh giá ở một số công đoạn nhất định, nhưng cơ quan đề xuất phải là người chịu trách nhiệm về nội dung đánh giá.

RIA là một quá trình gồm nhiều giai đoạn, từ lúc đề xuất xây dựng chương trình cho đến khi ban hành văn bản. Tuy nhiên, ở giai đoạn đề xuất đưa vào chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (tức là giai đoạn đánh giá để giúp xác định liệu có đưa vào chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật không), thì việc đánh giá chỉ dừng ở mức độ sơ bộ.

Trong quá trình soạn thảo văn bản, cơ quan được giao soạn thảo chịu trách nhiệm thực hiện RIA tổng thể (đánh giá tổng thể). Nội dung của bản đánh giá phải luôn luôn được bổ sung cùng với quá trình chỉnh lý dự thảo. Đặc biệt là sau giai đoạn thẩm định, giai đoạn trình, giai đoạn thẩm tra.

5. Công khai, minh bạch trong xây dựng, ban hành văn bản quy

phạm pháp luật và công bố, công khai văn bản quy phạm pháp luật

Công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật nói chung cũng như trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là vấn đề được đặc biệt quan tâm trong việc sửa đổi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật lần này. Việc công khai, minh bạch từ khâu soạn thảo cho đến khâu ban hành không những giúp cho người dân sớm biết được định hướng chính sách, pháp luật trong tương lai để chuẩn bị các điều kiện cho việc thực hiện mà còn là một trong những kênh để người dân có thể tham gia vào hoạt động xây dựng thể chế, làm cho pháp luật phản ánh được sát hơn ý chí, nguyện vọng của nhân dân... Đây cũng là một nội dung quan trọng nhằm thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được đề ra trong nhiều Nghị quyết của Đảng. Đồng thời, cũng là để thực hiện các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO).

Vì vậy, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định trong quá trình soạn thảo, toàn văn dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thời gian tiếp cận, chủ động nghiên cứu, tham gia ý kiến (khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 61, khoản 1 Điều 62, khoản 2 Điều 67, khoản 2 Điều 68, khoản 2 Điều 69, khoản 2 Điều 70, khoản 2 Điều 71, khoản 2 Điều 72, khoản 3 Điều 73 và khoản 3 Điều 74 của Luật); cơ quan tổ chức lấy ý kiến có trách nhiệm nghiên cứu các ý kiến góp ý để tiếp thu, chỉnh lý dự thảo văn bản. Ngoài ra, Luật cũng quy định rõ thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định ngay trong văn bản nhưng không sớm hơn 45 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ngày ban hành để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thời gian 9

chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện (đoạn 1 khoản 1 Điều 78 của Luật); văn bản quy phạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lực, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước và văn bản ban hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng chống thiên tai, dịch bệnh; văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo là văn bản chính thức và có giá trị như văn bản gốc (khoản 2 Điều 78 của Luật).

Bên cạnh đó, Luật quy định trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời hạn chậm nhất là hai ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo; trách nhiệm của cơ quan Công báo phải đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản (khoản 2 Điều 78 của Luật).

6. Quy định trách nhiệm của các Bộ, cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc phát biểu ý kiến về những vấn đề của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách

Nhằm nâng cao chất lượng dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết và tạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền có thêm cơ sở thuyết phục khi xem xét, đánh giá các quy định của dự án, dự thảo, Luật quy định các cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về dự án, dự thảo, trong đó, Bộ Tài chính có trách nhiệm góp ý kiến về nguồn tài chính, Bộ Nội vụ có trách nhiệm góp ý về nguồn nhân lực, Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm góp ý kiến về tác động đối với môi truờng, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm góp ý kiến về sự tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Khoản 3 Điều 35 của Luật).

Cũng với mục đích nâng cao chất lượng của dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Luật bổ sung quy định về chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và dự thảo nghị định của Chính phủ trước khi trình Chính phủ. Theo đó, trong trường hợp còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ về những vấn đề lớn thuộc nội dung của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ triệu tập cuộc họp gồm đại diện lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan để giải quyết trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định. Căn cứ vào ý kiến tại cuộc họp này, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan có liên quan tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo để trình Chính phủ (Điều 38 và Điều 65 của Luật).

7. Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ

tục rút gọn

Quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002) là rất chặt chẽ, phải qua nhiều bước để bảo đảm chất lượng của văn bản. Tuy nhiên, quy trình này, nếu áp dụng cho tất cả các văn bản, thì sẽ

01

cứng nhắc và thiếu hiệu quả, vì trên thực tế có những văn bản có nội dung sửa đổi, bổ sung đơn giản, là do hệ quả, tác động của các văn bản quy phạm pháp luật khác nhằm bảo đảm thống nhất với nội dung của các văn bản đã được ban hành trước đó; hoặc có những văn bản cần được ban hành trong trường hợp khẩn cấp, nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý nhà nước, bảo đảm lợi ích chung.

Vì vậy, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã bổ sung một chương (Chương VIII, từ Điều 75 đến Điều 77 của Luật) quy định về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn. Theo đó, việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn chỉ được thực hiện trong trường hợp khẩn cấp hoặc cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành. Đồng thời, thủ tục rút gọn cũng chỉ áp dụng đối với việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được quy định như sau: Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành pháp lệnh, nghị quyết của mình và trình Quốc hội xem xét quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội; Chủ tịch nước quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủ quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ và quyết định của mình. Bên cạnh đó, quy định rõ các bước, các khâu có thể được rút gọn khi áp dụng trình tự, thủ tục này (Điều 76 và Điều 77 của Luật). Tuy nhiên, để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, khả thi của văn bản, dù là soạn thảo theo quy trình rút gọn thì vẫn phải tiến hành thẩm định, thẩm tra dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền.

8. Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật

Trong thực tế, có nhiều văn bản được sửa đổi, bổ sung nhiều lần hoặc có những văn bản được sửa đổi, bổ sung khá nhiều nội dung so với văn bản gốc. Điều này gây khó khăn cho quá trình thực hiện khi cùng một lúc phải có sự so sánh, đối chiếu trên nhiều văn bản để áp dụng cho một vấn đề.

Do vậy, để tạo điều kiện cho việc áp dụng, tra cứu văn bản được thuận lợi, tăng thêm tính minh bạch của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tính rõ ràng của pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 bổ sung quy định về hợp nhất văn bản (Điều 92 của Luật). Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật là việc đưa các nội dung của văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung vào văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm sự toàn vẹn về hình thức và nội dung của văn bản sau khi được sửa đổi, bổ sung. Việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật sau khi sửa đổi, bổ sung không được làm ảnh hưởng đến nội dung và hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật được hợp nhất. Như vậy, việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật sau khi sửa đổi, bổ sung là một hoạt động thuần tuý có tính kỹ thuật, không tạo ra quy phạm pháp luật mới và cũng không tạo ra văn bản quy phạm pháp luật mới.

11

Theo quy định tại Điều 92 của Luật, văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản quy phạm pháp luật phải được hợp nhất về mặt kỹ thuật với văn bản được sửa đổi, bổ sung. Những vấn đề cụ thể của việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, Luật giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.

9. Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật

Ở nước ta, có nhiều cơ quan được ban hành văn bản quy phạm pháp luật, và trên thực tế, các văn bản hướng dẫn thường được quan tâm hơn là văn bản được hướng dẫn vì các văn bản hướng dẫn thường gắn với thẩm quyền quản lý của một cơ quan hoặc hệ thống cơ quan cụ thể cũng như quy định những nội dung cụ thể mà các đối tượng thi hành văn bản phải tuân thủ. Trong khi đó, hệ thống quy phạm pháp luật hiện nay chưa được tập hợp theo từng chủ đề nên gây rất nhiều khó khăn cho công tác tra cứu và áp dụng, nhất là khó có thể biết được quy phạm pháp luật có còn hiệu lực hay không. Việc pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật không những tạo điều kiện thuận lợi cho người dân dễ tra cứu, thực hiện pháp luật mà còn giúp cho cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ, áp dụng được chính xác các quy định của pháp luật; đồng thời, qua đó cũng phát hiện ra được các quy định của pháp luật còn chồng chéo để đề xuất tiến hành sửa đổi, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, với mục đích là tạo thuận lợi cho mọi đối tượng trong việc tra cứu, trích dẫn và áp dụng pháp luật, việc pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật theo chủ đề thành những bộ pháp điển đã và đang được nhiều nước áp dụng.

Tuy nhiên, do đây là vấn đề mới, Việt Nam lại chưa có nhiều kinh nghiệm nên trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 chỉ quy định một số nguyên tắc tạo cơ sở pháp lý cho công tác pháp điển hoá và giao Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể việc pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (khoản 2 Điều 93 của Luật).

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Luật có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009. Để các quy định của Luật có thể đi ngay vào cuộc sống khi Luật có hiệu lực, các cơ quan có liên quan đã và đang triển khai các hoạt động sau đây:

- Xây dựng văn bản quy định chi tiết thi hành Luật. Theo quy định của Luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội được giao ban hành văn bản để quy định về việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (Điều 92 và Điều 93 của Luật); Chính phủ cần khẩn trương ban hành văn bản quy định chi tiết một số điều của Luật.

Bên cạnh đó, các Bộ, cơ quan ngang Bộ cần căn cứ vào những nguyên tắc đã được Luật quy định để ban hành quyết định quy định cụ thể và đầy đủ cơ chế xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền cũng như xây dựng các văn bản được giao chuẩn bị để trình cơ quan nhà nước cấp trên.

- Tổ chức tập huấn, giới thiệu các quy định của Luật đến các cơ quan, tổ chức và nhân dân: đây là công việc quan trọng, thiết thực nhằm đưa các quy định của Luật đi vào cuộc sống, nâng cao ý thức, trách nhiệm của từng người

12

dân cũng như các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện các quy định của Luật, tham gia tích cực và có hiệu quả vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

- Củng cố tổ chức, lực lượng cán bộ, công chức tham gia xây dựng văn

bản.

- Cần bảo đảm tốt hơn các điều kiện về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm

cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

13