
Bài 6: Lạm phát
NEU_ECO102_Bai6_v1.0013101216 75
BÀI 6 LẠM PHÁT
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, học viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
thảo luận trên diễn đàn.
Đọc tài liệu:
1. Giáo trình Kinh tế học - Tập II – NXB Kinh tế Quốc dân, 2012
Chủ biên. PGS.TS. Vũ Kim Dung và PGS.TS. Nguyễn Văn Công.
2. Bộ môn Kinh tế vĩ mô (Đại học Kinh tế Quốc dân), Giáo trình Nguyên lý kinh tế
học vĩ mô, Nhà Xuất Bản Lao động, 2012.
3. Bộ môn Kinh tế vĩ mô (Đại học Kinh tế Quốc dân), Bài tập Nguyên lý kinh tế v
ĩ
mô, Nhà Xuất Bản Lao động, 2012.
Học viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
Trang Web môn học.
Nội dung
Khái niệm và đo lường lạm phát
Các nguyên nhân của lạm phát
Tác động của lạm phát
Mục tiêu
Giúp học viên nhận biết được bản chất của hiện tượng lạm phát;
Giúp học viên nhận biết được nguyên nhân gây lạm phát;
Giúp học viên nhận biết được tác động của lạm phát;

Bài 6: Lạm phát
76 NEU_ECO102_Bai6_v1.0013101216
Tình huống dẫn nhập
Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam năm 2011 theo Tổng cục thống kê là 18,1%. Lạm phát là gì, nó có ảnh
hưởng như thế nào đến đời sống của người dân Việt Nam? Nguyên nhân nào gây ra lạm phát?
1. Để giải quyết các câu hỏi trên, cần làm rõ: bản chất của lạm phát; cách thức
đo lường lạm phát; tác động của lạm phát.
2. Tất cả những vấn đề trên được nghiên cứu trong bài học này.

Bài 6: Lạm phát
NEU_ECO102_Bai6_v1.0013101216 77
6.1. Khái niệm và đo lường
6.1.1. Khái niệm
Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung. Điều này không
nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng
một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên. Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá của
một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh.
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền. Trong
bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch
vụ hơn. Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày
càng nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định.
Nếu thu nhập bằng tiền không tăng kịp tốc độ trượt
giá, thì thu nhập thực tế, tức là sức mua của thu nhập
bằng tiền sẽ giảm. Do vậy, thu nhập thực tế tăng lên
hay giảm xuống trong thời kỳ lạm phát phụ thuộc vào
điều gì xảy ra với thu nhập bằng tiền, tức là, phải
chăng các cá nhân có nhận thêm lượng tiền đã giảm
giá trị đủ để bù đắp cho sự gia tăng của mức giá hay
không. Người dân vẫn có thể trở nên khá giả hơn khi
thu nhập bằng tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng giá.
Một điều quan trọng mà chúng ta cần nhận thức là lạm
phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục
trong mức giá. Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá, thì dường như
mức giá chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó. Hiện tượng
tăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát. Tuy nhiên, trong thực tế mỗi cú
sốc thường có ảnh hưởng kéo dài đối với nền kinh tế và do đó có thể gây ra lạm phát.
Chúng ta sẽ xét một tình huống như được mô tả trong Bảng 6.1. Trong mỗi trường hợp,
chúng ta giả thiết chỉ có một cú sốc xuất hiện vào thời kỳ 3 mà trước đó mức giá được
ổn định ở mức 100. Trong trường hợp thứ nhất, mức giá tăng 100% trong thời kỳ 3, sau
đó giảm 50% trong thời kỳ 4 và lại ổn định trong các thời kỳ tiếp theo. Như vậy, từ thời
kỳ 4 giá cả trở lại mức ban đầu giống như trước khi cú sốc tác động đến nền kinh tế.
Trong trường hợp thứ hai, mức giá tăng 100% trong thời kỳ 3, sau đó ổn định trong các
thời kỳ tiếp theo. Vấn đề trở nên phức tạp hơn trong trường hợp thứ ba, khi mức giá
tăng 50% trong thời kỳ 3, sau đó tăng chậm lại trong các thời kỳ tiếp theo do mọi người
điều chỉnh một phần theo sai số dự báo về lạm phát. Trong trường hợp này mức giá
chung tăng liên tục và gây ra lạm phát kéo dài nhưng giảm dần theo thời gian.
Trường hợp 1 Trường hợp 2 Trường hợp 3
Thời
kỳ Mức
giá Lạm phát Mức
giá
Lạm
phát Mức giá Lạm phát
1 100 100 100
2 100 0 100 0 100 0
3 200 100 200 100 150 50
4 100 -50 200 0 175 16,7
5 100 0 200 0 187,50 7,1
6 100 0 200 0 193,75 3,3
Bảng 6.1 Tác động của một cú sốc đến tỷ lệ lạm phát
Lạm phát cũng có thể được định
nghĩa là sự suy giảm sức mua
của đồng tiền

Bài 6: Lạm phát
78 NEU_ECO102_Bai6_v1.0013101216
Trong thực tế, việc phân biệt được các sự kiện chỉ xảy ra một lần nhưng có ảnh hưởng
kéo dài với sự gia tăng liên tục được lặp lại của mức giá trong mỗi thời kỳ có ý nghĩa
rất quan trọng đối với việc điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô. Chính phủ thường
chỉ điều chỉnh chính sách trước các cú sốc kéo dài, còn các mất cân đối tạm thời
thường để thị trường tự giải quyết.
Trường hợp ngược lại của lạm phát là giảm phát, diễn ra khi mức giá chung liên tục
giảm. Khi đó, sức mua của đồng nội tệ liên tục tăng.
6.1.2. Đo lường lạm phát
Để đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định, các
nhà thống kê kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi
của mức giá chung. Tỷ lệ lạm phát cho thời kỳ t được tính theo công thức sau:
tt1
t
t1
PP 100%
P
Trong đó:
t : tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t (có thể là tháng, quí, hoặc năm)
P
t : mức giá của thời kỳ t
P
t-1 : mức giá của thời kỳ trước đó
Rõ ràng là để tính được tỷ lệ lạm phát, trước hết các nhà thống kê phải quyết định sử
dụng chỉ số giá nào để phản ánh mức giá. Như chúng ta đã biết từ bài học trước, người
ta thường sử dụng chỉ số điều chỉnh GDP (D) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để đo
lường mức giá chung. Tuy nhiên, nếu mục tiêu là xác định ảnh hưởng của lạm phát
đến mức sống, thì rõ ràng chỉ số giá tiêu dùng tỏ ra thích hợp hơn. Trong thực tế, các
số liệu công bố chính thức về lạm phát trên toàn thế giới đều được tính trên cơ sở CPI.
6.2. Các nguyên nhân gây ra lạm phát
Điều gì gây ra lạm phát là một câu hỏi phổ biến, song các nhà kinh tế vẫn còn những
bất đồng. Có nhiều lý thuyết giải thích về nguyên nhân gây ra lạm phát mà dưới đây
chúng ta sẽ giới thiệu những lý thuyết chính.
6.2.1. Trong ngắn hạn
Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát do cầu kéo xảy ra do tổng cầu tăng, đặc biệt khi sản lượng đã đạt hoặc vượt
quá mức tự nhiên. Thực ra đây cũng là một cách định nghĩa về lạm phát dựa vào
nguyên nhân gây ra lạm phát: lạm phát được coi là do sự tồn tại của một mức cầu quá
cao. Theo lý thuyết này nguyên nhân của tình trạng dư cầu được giải thích do nền kinh
tế chi tiêu nhiều hơn năng lực sản xuất. Tuy nhiên để cho định nghĩa này có sức thuyết
phục thì cần phải giải thích tại sao chi tiêu lại liên tục lớn hơn mức sản xuất. Chúng ta
sẽ lần lượt xem xét các thành tố của tổng cầu.
Lạm phát có thể hình thành khi xuất hiện sự gia tăng đột biến trong nhu cầu về tiêu
dùng và đầu tư. Chẳng hạn, khi có những làn sóng mua sắm mới làm tăng mạnh tiêu
dùng, giá cả của những mặt hàng này sẽ tăng, làm cho lạm phát dâng lên và ngược lại.
Tương tự, lạm phát cũng phụ thuộc vào sự biến động trong nhu cầu đầu tư: sự lạc
quan của các nhà đầu tư làm tăng nhu cầu đầu tư và do đó đẩy mức giá tăng lên.

Bài 6: Lạm phát
NEU_ECO102_Bai6_v1.0013101216 79
Trong nhiều trường hợp, lạm phát thường bắt nguồn từ sự gia tăng quá mức trong các
chương trình chi tiêu của chính phủ. Khi chính phủ quyết định tăng chi tiêu cho tiêu
dùng và đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng, thì mức giá sẽ tăng. Ngược lại, khi chính
phủ quyết định cắt giảm các chương trình chi tiêu công cộng, hoặc các công trình đầu
tư lớn đã kết thúc, thì mức giá sẽ giảm.
Hình 6.1. Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát cũng có nguyên nhân từ nhu cầu xuất khẩu. Tuy nhiên, hàng xuất khẩu tác động
tới lạm phát trong nước theo một cách khác: khi nhu cầu xuất khẩu tăng, lượng còn lại để
cung ứng trong nước giảm và do vậy làm tăng mức giá trong nước. Ngoài ra, nhu cầu
xuất khẩu và luồng vốn chảy vào cũng có thể gây ra lạm phát, đặc biệt trong chế độ tỷ giá
hối đoái cố định, vì điều này có thể là nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng lượng tiền cung
ứng. Tình hình ngược lại sẽ xảy ra khi nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn nước ngoài chảy
vào giảm do nền kinh tế thế giới hay trong khu vực lâm vào suy thoái.
Trong đồ thị tổng cung - tổng cầu, lạm phát do cầu kéo xuất hiện khi có sự dịch chuyển
sang bên phải của đường tổng cầu. Như minh họa trong hình 6.1, sự gia tăng của một
thành tố nào đó của tổng cầu sẽ làm dịch chuyển đường tổng cầu sang bên phải. Do
đường tổng cung dốc lên trong ngắn hạn, nền kinh tế sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn
và thất nghiệp thấp hơn, nhưng đồng thời lại phải đối mặt với lạm phát. Rõ ràng lạm
phát do cầu kéo sẽ không phải là vấn đề mà thực ra còn cần thiết và có lợi cho nền kinh
tế nếu như nền kinh tế còn nhiều nguồn lực chưa sử dụng như trong trường hợp đường
tổng cầu dịch chuyển từ AD0 đến AD1: lạm phát sẽ khá thấp trong khi sản lượng và việc
làm sẽ tăng đáng kể. Ngược lại, lạm phát do cầu kéo sẽ trở thành vấn đề thực sự nếu
như toàn bộ nguồn lực đã sử dụng hết và đường tổng cung trở nên rất dốc như trong
trường hợp đường tổng cầu dịch chuyển từ AD1 đến AD2. Khi đó, sự gia tăng tổng cầu
chủ yếu đẩy lạm phát dâng cao trong khi sản lượng và việc làm tăng lên rất ít.
Lạm phát do chi phí đẩy
Lạm phát cũng có thể xảy ra khi một số loại chi phí đồng loạt tăng lên trong toàn bộ
nền kinh tế. Trong đồ thị tổng cung - tổng cầu, một cú sốc như vậy sẽ làm đường tổng
cung dịch chuyển lên trên và sang bên trái. Trong bối cảnh đó, mọi biến số kinh tế vĩ
mô trong nền kinh tế đều biến động theo chiều hướng bất lợi: sản lượng giảm, cả thất
nghiệp và lạm phát đều tăng. Chính vì vậy, loại lạm phát này được gọi là lạm phát do
chi phí đẩy hay lạm phát đi kèm suy thoái (stagflation).
Ba loại chi phí thường gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu
nhập khẩu. Khi công đoàn thành công trong việc đẩy tiền lương lên cao, các doanh
nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện. Vòng xoáy đi lên của tiền
lương và giá cả sẽ tiếp diễn và trở nên nghiêm trọng nếu chính phủ tìm cách tránh suy
thoái bằng cách mở rộng tiền tệ.
B
A
AD1
AS1
P
P2
AD2
Y* Y2Y

