
Biểu mô - Mô phôi
BIỂU MÔ
Mục tiêu học tập
1. Trình bày được định nghĩa, nguyên tắc và phân loại biểu mô.
2. Mô tả được các cấu trúc cơ bản của biểu mô.
I. ÐỊNH NGHĨA
Biểu mô là tập hợp những tế bào, về phương diện hiển vi quang học chúng đứng sát
nhau. Biểu mô không có mao mạch nuôi dưỡng, sự nuôi dưỡng được thực hiện theo cơ chế
thẩm thấu từ lớp mô liên kết ở bên dưới qua màng đáy.
II. NHỮNG CẤU TRÚC CĂN BẢN CỦA BIỂU MÔ
1. Màng đáy
Tất cả các tế bào biểu mô ở lớp dưới cùng( lớp căn bản, lớp sinh sản) được ngăn cách
với mô liên kết bên dưới bởi màng đáy.
Màng đáy chỉ quan sát được dưới kính hiển vi điện tử có độ dày từ 20-100nm, ở giữa
là một tấm đậm đặc chứa các sợi rất mảnh, hai bên là hai lớp sáng ( tấm sáng). Thành phần
chính của màng đáy gồm sợi Collagene type IV, glycoprotein gọi là laminine và
proteoglycan, thường là Heparansulfate.
Màng đáy thường được nối với lớp mô liên kết ở trên bởi các sợi neo, những sợi này
xuất phát từ tấm đặc, chạy qua tấm sáng và gắn với cấu trúc lưới nằm ở lớp đệm của mô liên
kết (Hình 1). Tấm sáng bên trên gắn với lớp căn bản của biểu mô bằng thể bán liên kết.
2. Những cấu trúc liên kết các tế bào biểu mô
Các tế bào biểu mô thường được gắn chặt với nhau để chống lại các lực co kéo, ép
hoặc ngăn cản quá trình trao đổi chất qua khoảng gian bào.
Các tế bào biểu mô thường được gắn với nhau bởi proteoglycan và các ion calcium,
các cấu trúc này vô định hình và không quan sát được dưới kính hiển vi điện tử.
Một số cấu trúc có thể quan sát được dưới kính hiển vi điện tử gồm:
1
H e p a r a n sul f at e
pro t e o g l y c a n
Tế bào
có chân
Tấm sáng
Tấm đặc
Bảng đy
Tấm sáng
Nội mô
A B
Thể bán liên kết
Vi sợi
Sợi neo
Tấm sợi võng
Hình 1: Cấu tạo của măng đy
A. Mng đy của chm mao mạch Malpighy tiểu cầu thận
B: Cấu trc của mng đy ở biểu mơ v mơ lin kết.
Biểu mô

Biểu mô - Mô phôi
2.1. Dải bịt ( Tight junction, zonulae occluden)
Thường nằm ở giới hạn bên của lớp tế
bào bề mặt tự do của biểu mô, tạo thành một vòng
bao quanh thành tế bào, ở đây hai màng tế bào
cận nhau hoà nhập vào nhau.
Dải bịt thường thấy ở những biểu mô xảy
ra sự trao đổi chất như biểu mô ruột non, chúng
ngăn cản nước và các ion điện giải đi qua dịch
gian bào, ở đây sự trao đổi chất phải được thực
hiện bằng sự thông qua màng tế bào biểu mô ở
cực ngọn và cực đáy (Hình 2).
2.2. Vùng dính (Zonulae adherens)
Thường nằm dưới dải bịt, ở đây hai màng
tế bào biểu mô kế cận cách nhau bằng một
khoảng hẹp chừng 20nm. Bên trong màng bào
tương của tế bào biểu mô, các vi sợi tụ tập lại tạo
thành một tấm đặc (dense plaque).
Tấm đặc chứa nhiều sợi myosin, tropomyosin,a
actinin, vinculin. Từ tấm đặc này xuất phát nhiều
sợi actin, các sợi actin xuyên màng tế bào vào
khoảng gian bào hẹp của vùng dính (20nm) và gắn vào tấm đặc biểu mô kế cận.
2.3. Thể liên kết
Thể liên kết là một cấu trúc phức tạp hình đĩa, khoảng gian bào ở đây thường lớn hơn
30nm. Ở trong bào tương của mỗi tế bào biểu mô, hình thành một tấm gắn (attachement
plaque), ít nhất có 12 loại protein tham gia vào cấu tạo tấm gắn. Từ tấm gắn này sẽ xuất phát
sợi tơ trương lực chạy sâu vào trong bào tương của tế bào, một số sợi khác chạy xuyên qua
màng tế bào vào khoảng gian bào ( 30nm) và đến gắn với tấm gắn của tế bào biểu mô kế cận (
Hình 3).
Hình 3: Sơ đồ cấu trúc thể liên kết
2.4. Thể bán liên kết
2
Thể liên kết
Vòng bịt
Vòng dính
Liên kết khe
Nếp gấp của
màng tế bào
Vi nhung mao
Hình 2: Cấu trúc bề mặt và các cấu trúc
liên kết tế bào biểu môbiểu mô
Thể liín kết
Ba í n g âà û c
nà ò m tro n g
ba ì o tæ å n g
Sợi nối trung gian
giữa haimàng
tế bào
Tấm trung gian
Khoản gian bào

Biểu mô - Mô phôi
Là cấu trúc nối biểu mô bên dưới với màng đáy, chỉ có 1 bản gắn, nằm bên trong tế
bào biểu mô, từ đây xuất phát các tơ trương lực chạy đến gắn với tấm đặc của màng đáy.
2.5. Thể liên kết khe ( Gap junction, neuxus)
Ở đây khoảng gian bào giữa hai tế bào kế cận rất hẹp ( 2nm). liên kết khe thường thấy
ở tế bào gan, võng mạc thị giác, cơ tim. Liên kết khe được cấu tạo bởi 1 loại protein có trọng
lượng phân tử chừng 26000-30000 Daltons, tạo thành một phức hợp hình khối lục giác, ở giữa
có lỗ thủng ưa nước, đường kính chừng1,5 nm, lỗ thủng này cho phép sự trao đổi ion giữa hai
tế bào kế cận nhau. Ở cơ tim đây là kênh dẫn truyền ion từ tế bào này qua tế bào khác, đặc
biệt là các ion tạo nên điện thế màng (K, Na).
Hình 4: Sơ đồ siêu cấu trúc lông chuyển
3.
Cấu trúc bề mặt tế bào biểu mô
3.1. Lông chuyển
3
Cắt ngang
Cắt dọc
α tu b u lin
β tu b u lin
Nexin
L ô n g c h u y n c t n g a n gể ắ
Bao trung tâm
Dây nối
Màng bào tương
Vi ống ngoại biên
Dynein
Protein nối
T i u tr u n g th ể ể

Biểu mô - Mô phôi
Lông chuyển là những cấu trúc nằm trên bề mặt một số biểu mô ( biểu mô dẫn khí
đường hô hấp, ống dẫn trứng,..).
Lông chuyển biệt hoá từ tiểu trung thể. Lông chuyển gắn trên thể đáy, dưới kính hiển
vi điện tử lông chuyển được bao quanh bởi màng tế bào. Ở trong chia 2 vùng:
- Vùng trung tâm chứa 2 vi ống chạy dài theo chiều của lông chuyển.
- Vùng ngoài gồm 9 cặp vi ống.
Mỗi vi ống tạo nên do sự đa trùng hợp các phức hợp Tubulin, mỗi cặp vi ống phía
ngoài có cấu trúc dạng sợi gọi là cánh tay (Arm) hay dynein, nhiệm vụ của dynein là gắn với
vi ống kế cận, sự gắn này cho lông có thể chuyển động được, sự chuyển động này cần năng
lượng do ATP cung cấp ( Hình 4).
3.2. Vi nhung mao:
Vi nhung mao còn gọi là bờ bàn chải; ở bề mặt tế bào biểu mô xảy ra sự trao đổi chất
như ruột non, ống lượn gần, màng tế bào gấp lại thành nhiều nếp để gia tăng diện tích hấp thụ.
3.3. Mê đạo đáy
Thường thì lớp biểu mô nằm sát màng đáy phẳng, nhưng một số tế bào biểu mô như
biểu mô lợp cho ống lượn gần, ống lượn xa, đám rối màng mạch lại có màng tế bào phía đáy
gấp lại thành nhiều nếp, bên trong chứa nhiều ty thể, gọi là mê đạo đáy. Sự gấp nếp của mê
đạo đáy thực ra cũng là hình thức làm gia tăng bề mặt trao đổi chất qua màng tế bào.
III. PHÂN LOẠI BIỂU MÔ
Dựa vào chức năng và cấu trúc người ta chia biểu mô làm hai loại là biểu mô phủ và
biểu mô tuyến.
1. Biểu mô phủ
Biểu mô phủ có nhiệm vụ phủ mặt ngoài hoặc lót mặt trong của cơ thể. Dựa vào số
hàng tế bào kể từ màng đáy và hình dạng tế bào ở lớp trên cùng mà người ta chia biểu mô phủ
ra làm 8 loại chính:
1.1. Biểu mô lát đơn
Ðó là loại biểu mô được lót bởi một hàng tế bào mỏng, trung tâm tế bào chứa 1 nhân
hơi lồi vào lòng khoang. Biểu mô này thường lót cho màng bụng, màng phổi, mặt trong của
thành tai trong, mặt trong của màng nhĩ.
1.2. Biểu mô vuông đơn
Tạo thành bởi 1 hàng khối vuông nằm trên màng đáy, nhân tròn, nằm giữa tế bào. Ðó
là trường hợp của biểu mô sắc tố võng mạc.
1.3. Biểu mô trụ đơn
Gồm một hàng tế bào hình trụ nhân nằm ở đáy biểu mô, lót cho phần lớn ống tiêu hoà
từ dạ dày đến ruột già.
1.4. Biểu mô lát tầng
Có nhiều hàng tế bào kể từ màng đáy, hàng trên cùng dẹp. Người ta chia làm 2 loại
biểu mô lát tầng dẹp:
- Biểu mô lát tầng kiểu Malpighi: hàng tế bào trên cùng dẹp, còn có nhân. Ðó là biểu
mô lót cho niêm mạc miệng, thực quản, ống ngoài hậu môn, âm đạo.
- Biểu mô lát tầng sừng hoá: lớp tế bào trên cùng mất nhân, bào tương tẩm nhuộm
Keratohyaline và biến thành các lá mỏng. Ðó là trường hợp biểu mô phủ của da (Hình 5).
4

Biểu mô - Mô phôi
1.5. Biểu mô vuông tầng
Có nhiều hàng tế bào, hàng trên cùng có hình khối vuông. Ðó là trường hợp biểu mô
lót cho võng mạc thể mi.
Hình 5: Các loại biểu mô
1.6. Biểu mô trụ tầng
Có nhiều hàng tế bào, hàng trên cùng có hình trụ. Ðó là trường hợp biểu mô màng tiếp
hợp mi mắt, biểu mô niệu đạo đoạn tiền liệt.
5
Biểu mô lát đơn
Biểu mô vuông đơn
Biểu mô
Màng đáy
Lớp đệm
B iã ø u m ä
M a ì n g â a ï y
L å ï p â ã û m
Mao mạch
Mao mạch
B iã ø u m ä tr u û
â å n
B iã ø u m ä
M a ì n g â a ï y
L å ï p â ã û m
Vòng bịt
Vi nhung mao
B iã ø u m ä la ï t
â å n
L å ï p â ã û m
M a ì n g â a ï y
B iã ø u m ä
B iã ø u m ä b ã ö
m à û t
L å ï p â ã û m
M a ì n g â a ï y
B iã ø u m ä
B iã ø u m ä t r u û
c h u y ã ø n tiã ú p
L å ï p â ã û m
M a ì n g â a ï y
V o ì n g b ë t
B iã ø u m ä t r u û g ia í t á ö n g c o ï lä n g
c h u y ã ø n
B iã ø u m ä
T ã ú b a ì o â a ï y
C h á ú t n h á ö y
T ã ú b a ì o t iã ú t
nháöy

