intTypePromotion=1

Bài Giảng Nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp

Chia sẻ: Le Chi Hung Cuong | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:108

0
546
lượt xem
188
download

Bài Giảng Nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài giảng cung cấp những kiến thức cơ bản về nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp. Trang bị những ứng dụng lý thuyết hệ thống trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp hiện nay. Hiểu lịch sử và các loại hệ thống nông nghiệp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài Giảng Nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp

  1. BÀI GIẢNG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP
  2. Bài Giảng NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP (Chương trình 2 ĐVHT) * Phân Phối chương trình: Bài 1: Vai trò nông nghiệp, lịch sử phát triển và các lo ại hệ thống nông nghiệp (5 tiết) Bài 2: Tổng quan nghiên cứu & phát triển Hệ thống nông nghiệp (8 tiết). Bài 3: Lựa chọn khu vực, điểm nghiên cứu và Mô tả Hệ thống nông nghiệp (3 tiết) Bài 4: Phát hiện vấn đề và khai thác tiềm năng của Hệ thống nông nghiệp (3 tiết) Bài 5: Nghiên c ứu thử nghiệm đồng ruộng và chuyển giao kết quả nghiên cứu (3 tiết) P hần Semina và th ực hành môn học: 8 tiết (2 buổi) cho cả lớp. Một ng ày đi về thôn xã và một ngày thảo luận nhóm. * Mục tiêu: Cung cấp những kiến thức c ơ b ản về nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp. Trang bị những ứng dụng lý thuyết hệ thống trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp hiện nay. Hi ểu lịch s ử và các loại hệ thống nông nghi ệp. Cung cấp phương pháp và tiến trình thực hiện trong nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp và hệ thống canh tác. * Nội dung chung: - Vai trò nông nghiệp, lịch sử phát triển và các loại hệ thống nông nghiệp. - Tổng quan về nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp và hệ thống canh tác. - Áp dụng lý thuyết hệ thống vào nông nghiệp - Nghiên c ứu phát triển hệ thống nông nghiệp và hệ thống canh tác 1
  3. BÀI I VAI TRÒ NÔNG NGHIỆP, LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ CÁC LOẠI HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP (5 tiết) 1.1. VAI TRÒ CỦ A NÔNG NGHIỆP VÀ SỰ P HÁT TRIỂ N XÃ H ỘI. 1.1.1 Các khái ni ệm khác nhau về nông nghi ệp. Trước khi đề cập đến vấn đề hệ thống nông nghiệp, chúng ta cấn thảo luận và hiểu định nghĩa nông nghiệp. Khó có thể định nghĩa chính xác nông nghiệp l à gì. Tất nhiên, có thể có một sự đồng ý chung về những thứ bao gồm công cụ và vật dụng, cùng với con ngư ời, cây trồng và vật nuôi, nh ư thế đ ã có thể gọi là nông nghiệp. Nhưng như thế sẽ là không đ ủ nếu chúng ta còn phải quan tâm thực sự tới những vấn đề như vai trò của khoa học trong nông nghiệp. Vai trò và tầm quan trọng của nông nghiệp đối với sự tồn tại và hưng thịnh của lo ài người cũng như vấn đề làm thế nào đ ể nâng cao hiệu quả của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên ngày nay người ta đã đi đến thống nhất và định nghĩa Nông nghiệp nh ư sau: - Nông nghiệp là s ản xuất đặc biệt mở ra trên địa b àn rộng lớn, lệ thuộc vào tự nhiên (Đ ặc biệt là ngành trồng trọt). Trong nông nghiệp ng ành trồng trọt là sản xuất đầu tiên. Không có sản xuất ng ành trồng trọt thì không có sản xuất nông nghiệp, vì nó cung c ấp lương thực, thực phẩm rất thiết yếu cho con ng ười. - Nông nghiệp là Sinh học áp dụng cho việc trồng trọt và chăn nuôi. Là những tác đ ộng có m ục đích của con ng ười vào các c ảnh quan dùng đ ể canh tác nhằm lấy ra ngày một nhiều hơn các sản phẩm nông nghiệp. Đó là sự kiểm soát và điều khiển cây trồng vật nuôi trong hoạt động của h àng ngày của con người. - Theo Spedding 1979 đ ã định nghĩa nông nghiệp là một loại hoạt động của con người, đ ược tiến h ành trước hết là đ ể sản xuất ra lương thực, sợi, củi đốt cũng như các nguyên vật liệu khác, bằng sự cân nhắc kỹ lưỡng và sử dụng có điều khiển cây trồng và vật nuôi. - Hoạt động của nông nghiệp chỉ là một bộ phận của cuộc sống x ã hội, do vậy nó phải được gắn liền với nhiều ng ành khoa học khác nhau, bao gồm cả khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, và sinh học . - Nông nghiệp tự nó đ ã rất rõ rằng, đó là hoạt động có mục đích của con người để tạo ra sản phẩm nhằm thỏa m ãn nhiều nhu cầu khác nhau của con ng ười. Những hoạt động đặc th ù của nông nghiệp l à các ho ạt động về trồng trọt và chăn nuôi để tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho con người. Nền kinh tế Khoa học tự nhiên và xã hội Näng nghiãû p Sinh học 2
  4. Sơ đồ 1: Nông nghiệp và sự gối lên nhau của 3 ngành khoa học. * Trình độ kiểm soát v à đi ều khiển trong nông nghiệp: Mức độ kiểm soát và điều khiển trong nông nghiệp rất khác nhau là: - Kiểm soát tình trạng vật lý của cơ thể sinh vật (Xem hình thể của cây và tác động lên hình thể của cây đó tạo c ơ thể sinh vật phát triển cân đối và thuận lợi về thu ho ạch). - Kiểm soát tình trạng dinh d ưỡng của cơ thể thực vật, động vật để cho chế độ thức ăn nhiều hay ít. - Kiểm soát đối với quá trình tái sản xuất hoặc sản xuất của cơ thể. - Điều khiển theo ph ương thức thu hoạch để bố trí hoạt động sản xuất ph ù hợp. Theo Famer và King (1971) thì ho ạt động nông nghiệp của con người mới chỉ kiểm soát và điều khiển chừng 1000 - 2000 loài. Trong đó số lo ài cung cấp lương thực, thực phẩm l à 15, động vật có vú khoảng 20 - 30 loài và số lo ài cho thịt, sữa, lông..... Như vậy là số lo ài động vật và thực vật m à con người thực sự kiểm soát đ ược chưa đầy 1% tổng số quỹ gen của thế giới. Những loại động thực vật cho năng suất và ph ẩm chất ngon sẽ đ ược chọn lọc và phát triển nhanh. Mục đích của sản xuất nông nghiệp cũng đ ược Spedding mô hính hoá khá cụ thể th ành 1 hệ thống sau đây 1.1.2. Mục đích củ a nông nghi ệp. - Thoả m ãn nhu c ầu các nhu c ầu: Cá nhân và xã hội về lương th ực thực phẩm. - Cung cấp nguyên nhiên liệu cho chế biế n và xuất khẩu. - Làm hạn chế môi trường qua ch ất lượ ng nước và không khí. - Tạo c ảnh quan cho du lịch giải trí. - Chung cấp các nguyên liệu cho công nghiệp dược. 3
  5. Sơ đồ 2: Những mục đích của NN Lµm tho¶ m∙n c¸c nhu cÇu D©n téc C¸ nh©n §em b¸n Tån t¹i An ninh b¶o XuÊt khÈu NhËp khÈu tån L­¬ng thùc Nhiªn liÖu Lao ®éng Nguyªn vËt liÖu Thøc ¨n cho gia sóc L­¬ng thùc Thøc ¨n cho ch¨n Ph­¬ng tiÖn gi¶i Nguyªn liÖu th« nu«i trÝ Cña ®éng vËt Cña thùc vËt C«ng viªn Nhµ nghØ vµ b·i cá §éng vËt kh«ng §éng vËt Cña ®éng vËt Cña thùc nhai l¹i nhai l¹i vËt 4
  6. 1.2. KHÁI QUÁT L ỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA NÔNG NGHIỆP 1.2.1 Lịch sử nông nghiệp thế giới. Trên thế giới đ ã có nhiều quan điểm và ý kiến về vấn đề lịch sử phát triển nông nghiệp của con ngư ời. Để nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp có kết quả, trước hết cần phải hiểu rõ lịch sử phát triển của nền sản xuất n ày. Nền sản xuất nông nghiệp phát triển ng ày nay đã trải qua một lịch sử lâu d ài từ một nền xản xuất thô sơ, đơn giản đến hiện đại và phức tạp, gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người. Các hệ thống sản xuất xuất hiện và có nhiều những biến đổi Theo Mazoyer (1997) lịch sử nông nghiệp bắt đầu từ các trung tâm khởi nguyên lớn và từ các trung tâm này cũng xuất hiện những trung tâm thứ cấp. Tác giả cho rằng Việc khai khẩn nông nghiệp có cách đây 10.000 - 12.000 năm, ở thời kỳ đồ đá người ta xác định có 6 trung tâm khởi nguyên cụ thể như sau: - Trung tâm trung đông chúng được sách định ở vùng Sê ry - P alestin và xung quanh vùng chúng có thời gian cách hiện tại vào khoảng 10.000 - 9.000 năm. - Trung tâm Trung Mỹ chúng đ ược xác định ở vùng phía Nam của Mê -xi-cô chúng có thời gian cách chúng ta hiện nay vào kho ảng 90000 - 4000 năm. - Trung tâm kh ởi nguyên Trung Quốc chúng đ ược sách định ở vùng phía bắc của Trung Quốc chúng có lan tỏa ra phía Đông Bắc và phía Đông Nam thời gian cách chúng ta hiện nay vào khoảng 8.000 - 6.000 năm. - Trung tâm kh ởi nguyên xuất hiện ở Miền trung tâm vào kho ảng 10.000 năm. - Trung tâm Nam Mỹ xuất hiện vào 6.000 năm - Trung tâm Bắc Mỹ xuất hiện vào khoảng từ 4.000 -1.800 năm. Một số học giả lại cho rằng lịch sử phát triển của hệ thống nông nghiệp thế giới gắn liền với hệ thống nông cụ.  Markow (1972) cho rằng yếu tố quyết định sự tiến hoá của nền nông nghiệp là sự cải tiến và phát triển không ngừng công cụ lao động, quan trọng nhất là công cụ làm đ ất. Vì vậy, ông chia thành 5 giai đoạn của lịch sử phát triển nông nghiệp: + Canh tác chọc lỗ, bỏ hạt: đặc trưng cho q uan hệ cây và đ ất, t ương tự quan hệ đồng cỏ của tự nhiên. + Canh tác bằng cuốc đá, rồi đến cuốc đồng, đến cuốc sắt: Xuất hiện quan hệ ruộng cây trồng + Canh tác bằng cày gỗ: Quan hệ đồng ruộng đ ược xác lập + Canh tác bằng cày sắt: Quan hệ đồng ruộng điển hình + Canh tác bằng cày máy: Quan hệ đồng ruộng hiện đại.  Grigg (1977) lại cho rằng yếu tố quyết định đến các kiểu hệ thống nông nghiệp trong lịch sử l à sự thay đổi về kinh tế, kỹ thuật và dân số tiến tới công nghiệp hoá nông nghiệp như luân canh, sử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu, chọn giống cây con, cơ giới hoá...Ví dụ có các kiểu nông nghiệp như sau: + Làm nương r ẫy + Trồng lúa nư ớc châu á + Du m ục 5
  7. + Sản xuất kiểu đồn điền + Chăn nuôi l ấy thịt + Sản xuất cây lấy hạt ở quy mô lớn  Đường Hồng Dật (1980); Cao Liêm, Tr ần Đức Viên (1990 ) và một số tác giả khác chia lịch sử phát triển nông nghiệp th ành 3 giai đoạn: + Giai đo ạn nông nghiệp thủ công: Con người tác động vào thiên nhiên là chủ yếu và phổ biến là b ằng lao động sống, lao động c ơ b ắp giản đ ơn, còn trí tuệ chủ yếu là kinh nghiệm, vật tư kỹ thuật sản xuất và công cụ lao động cũng rất đ ơn giản nên sản phẩm nông nghiệp đ ược tạo ra ít, năng suất cây con thấp. Trí tuệ Con người Thiên nhiên Vật tư, công c ụ Lao động sống Sơ đồ 3: Phương thức chính trong khai thác tài nguyên + Giai đo ạn nông nghiệp cơ giới hoá: B ắt đầu từ thế kỷ 18 đến thập kỷ 70 của thế kỷ 20. Sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn này có những bước tiến nhảy vọt nhờ có lao động sống đ ược hỗ trợ bởi vật tư và công c ụ sản xuất đ ược cải tiến không ngừng và nhờ đó mà sản phẩm tạo ra ng ày thêm nhiều , năng su ất tăng rõ rệt, góp phần cải thiện đời sống người lao động. Trong giai đo ạn này Con người đ ã thực hiện "5 hoá" trong sản xuất nông nghiệp: cơ khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá, điện khí hoá và sinh học hoá. Tuy nhiên đây c ũng là giai đo ạn sản xuất nông nghiệp đ ã sử dụng quá nhiều năng lượng vật tư, chủ yếu là năng lượng hoá thạch nên đã làm tổn thương đ ến môi trường sống rõ rệt nh ư tài nguyên thiên nhiên kiệt quệ, suy thoái, ô nhiễm môi trường, thiên tai....dẫn đến những hiểm hoạ kinh tế x ã hội khác như chiến tranh, đói nghèo. Vấn đề này đang được con người chú ý để giải quyết trong quá trình phát triển sản xuất, đảm bảo an to àn trong lao động hướng phát triển ổn định và bền vững người ta quan tâm nghiên cứu. Trí tuệ Con người Vật tư, công c ụ Thiên nhiên Lao động sống 6
  8. Sơ đồ 4: Phương thức chính trong khai thác tài nguyên + Giai đo ạn phát triển nông nghiệp hiện đại trên cơ sở khoa học kỹ thuật tiên tiến: Những phản ứng tự nhiên c ủa thiên nhiên đ ã buộc con ng ười phải cân nhắc và có những biện pháp tích cực và thận trọng h ơn trong s ản xuất nông nghiệp. Các hoạt động sản xuất ở giai đoạn n ày được định h ướng ph ù hợp với các quy luật tự nhiên của hệ sinh thái và dựa trên cơ sở điều khiển sản xuất bền vững bằng trí tuệ - đó là các tri thức khoa học và k ỹ thuật hiện đại, tiên tiến. Tuy nhiên, thực trạng sản xuất nông nghiệp trên thế giới cho thấy mới chỉ có một số nước phát triển bư ớc vào giai đoạn thứ ba này. Nhìn chung ở nhiều nước giai đoạn n ày chưa phát triển rõ, mới thể hiện ở lý thuyết cấu trúc hệ thống và lý thuyết sinh thái nông nghiệp, sinh thái mô i trường. Trí tuệ Con người Vật tư, công c ụ Thiên nhiên Lao động sống Sơ đồ 5: Phương thức chính trong khai thác tài nguyên  Harrison (1964) và một số tác giả khác nhìn nhận lịch sử phát triển nông nghiệp do áp lực gia tăng dân số của con ng ười. Kết quả nghiên cứu cho thấy số ng ười cư trú trên một dặm vuôn g của các kiểu canh tác khác nhau r õ rệt, các hoạt động sản xuất mang tính đặc trưng riêng cho mỗi vùng: Số ngư ời cư trú/Km2 Kiểu canh tác ----------------- ----------------- --------------- Hái lượm 2 người Săn bắn và câu cá 2 người Trồng trọt đ ơn giản 2 - 50 ngưởi Chăn thả du mục 10 - 100 người Trồng trọt tiến bộ 10 - 100 người Như vậy, tốc độ phát triển nông nghiệp gắn liền với: + Sự tăng dân số và quá trình sản xuất theo kiểu di cư và tiến bộ. + Sự tăng lên về khả năng kiểm soát cây trồng và vật nuôi do số người sản xuất tăng lên như kiểm soát về sinh sản, về phòng trừ dịch hại, về cung cấp dinh dưỡng (sản xuất thêm thức ăn, phân bón cho cây, con ) + Sự tăng lên về khả năng sử dụng năng lượng tái tạo như sức gió, sức nước, sử dụng sức kéo động vật đến chế tạo máy kéo, ô tô, tìm kiếm ra các loại nguyên liệu mới từ thiên nhiên. 7
  9. + Sự thay đổi về kinh tế xã hội cộng đồng: từ sản xuất tự cung tự cấp đến có thừa để bán/ sản xuất hàng hoá, từ chuyên sản xuất nông nghiệp đến phi nông nghiệp, ngoài nông nghiệp. 1.2.2. Lịch sử nông nghiệp Việt Nam 1.2.2.1. Từ thời kỳ nguyên thuỷ đến cuối thế kỉ XIX  Thời kỳ nguyên thu ỷ - Người vượn và người hiện đại: săn bắt, hái lượm, cuộc sống rất hoang dã và phụ thuộc vào tự nhiên. Cư dân văn hoá Hoà Bình: trồng rau củ, săn bắt, đánh cá (Kho ảng hơn 1 vạn năm trước đây) Có thể coi các cư dân nông nghiệp sơ khai thuộc nền văn hoá Ho à Bình. Công cụ đá thuộc văn hoá Ho à Bình có thể dùng để chế tác các công cụ bằng tre, gỗ và để dùng trực tiếp trong săn bắt. Nông nghiệp đã nảy sinh trong lòng nền văn hoá Ho à Bình, người ta đ ã thấy phấn hoa cây bộ đậu ở Việt Nam, thấy hạt bầu bí và các lo ại đậu ở Thái Lan. Trong một số hang thuộc văn hoá Ho à Bình, ở Xóm Trại (Ho à Bình) đã tìm thấy nhiều hạt thóc, vỏ trấu và h ạt gạo cháy. Từ đó, người t a cho r ằng nông nghiệp ra đời bắt đầu bằng giai đoạn trồng rau, củ rồi đến giai đoạn trồng lúa. Ở thời kỳ n ày, các bộ lạc vùng núi lấy săn bắt làm chính, các bộ lạc vùng biển lấy khai thác thuỷ hải sản l àm chính. - Thời đại đá mới: Các bộ lạc trồng lúa. Thời đại đá mới, nghề săn bắt trên cạn và dưới nước vẫn phát triển. Vào cuối thời kỳ đá mới, khoảng 5000 - 6000 năm trước đây, phần lớn các bộ lạc nguyên thu ỷ trên đ ất nước Việt Nam đ ã phát triển đến giai đoạn nông nghiệp trồng lúa. Các cư dân nông nghiệp trồng lúa ở lưu vực sông Hồng thuộc các bộ lạc Phùng Nguyên (Vĩnh Phúc) mà người ta cho là cội nguồn của nền văn minh sông Hồng mang nét đặc trưng của vùng. Ở P hùng Nguyên, ngoài các công cụ bằng đá, tre, gỗ, đã bắt đầu có đồng thau. Có một di chỉ rất quý, đó là ruộng có bờ cao xung quanh, mặt ruộng đã được san bằng phẳng và còn được giữ lại cho đến ngày nay. Nhờ có bờ ruộng giữ được nước việc thay thế hình thức chọc lỗ bỏ hạt bằng kỹ thuật cấy lúa đ ã đảm bảo cho lúa cấy phát triển. Người Phùng Nguyên đã biết chăn nuôi, ít ra đã nuôi chó, lợn, trâu, bò, gà.  Thời kỳ dựng nước: các vua Hùng, nước Văn Lang (khoảng 4000 năm trước đây) Thời kỳ này thuộc nền văn hoá Đồng Thau rực rỡ, gọi là văn hoá Đông Sơn. Nước Văn Lang thời các vua Hùng ở vào sơ kì thời đại Đồng Thau đến sơ kỳ thời đại đồ sắt phát triển qua 4 giai đoạn kế tiếp: + Giai đoạn Phùng Nguyên (Vĩnh Phú): sơ kỳ thời đại Đồng Thau khoảng nửa đầu thiên niên kỷ II trước công nguyên. ở giai đoạn này, nghề trồng lúa nước, chăn nuôi, nghề gốm, nghề chế tác đá đã phát triển, nhất là xuất hiện nghề luyện đồng thau. + Giai đo ạn Đồng Đậu (Vĩnh Phú): trung kỳ thời đại Đồng Thau khoảng nửa sau thiên niên kỷ II trước công nguyên. ở giai đoạn này các đồ đá, đồ gốm, luyện kim đồng thau đã phát triển, những thứ này dùng làm công cụ sản xuất cho nông nghiệp và nhiều công dụng khác để phục vụ sản xuất. 8
  10. + Giai đo ạn Gò Mun (Vĩnh Phú): thời đại Đồng Thau phát triển khoảng đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên. Đồ gốm, đồ đồng thau phát triển mạnh. + Giai đo ạn Đông Sơn (Thanh Hoá): cách đây 3000 - 2500 năm. Nghề luyện đồng thau phát triển rực rỡ, c ùng với nghề trồng lúa nước đ ã tạo nên nền văn minh Sông Hồng mang nét đặc trưng. Người Văn Lang đã có tư hữu về nhà cửa, vật dụng sinh hoạt, công cụ lao động, đồ trang sức, nông phẩm thu hoạch và gia súc nuôi được. Nhưng chưa có tư hữu về ruộng đất. Dân số chưa tới 1 triệu người, ruộng đất chưa phải là quý hiếm với mọi người. Người Văn Lang đ ã biết trồng lúa, khoai, đậu đỗ, cây ăn quả, rau, dưa... Với những sản phẩm ấy đ ã t ạo nên những món ăn đậm đ à hương vị dân tộc và còn tồn tại đến ng ày nay (đ ồ xôi, l àm bánh chưng, bánh dày, n ấu rượu, dùng gia vị, ăn cau trầu...). Người ta đ ã dùng trâu bò làm sức kéo: kéo c ày, dẫm đất ruộng... Người ta dùng lưỡi cày đồng thau với sức kéo súc vật trước khi l ưỡi cày s ắt ra đời.Người ta đã biết trồng đay, gai, trồng dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải. Cả một vùng đ ất bãi ven sông Đuống, vùng Thu ận Th ành (Hà B ắc) mang tên bộ lạc Dâu. Ngay từ thời kỳ đó, ngành chăn nuôi phát triển gắn liền với trồng trọt. * Thời kỳ đấu tranh lâu dài giành độc lập dân tộc (từ sau thời các vua Hùng đến thế kỷ XX) Trong hơn mười thế kỷ bị phong kiến phương Bắc đô hộ, trên cơ sở văn minh nông nghiệp và xóm làng, nông nghiệp Việt Nam vẫn phát triển. Ngoài những diện tích đã khai phá ở miền núi, trung du, những diện tích khai phá thêm ở vùng đồng bằng, ven biển ngày càng nhiều. An Dương Vương dựng nước Âu Lạc, dời đô xuống đồng bằng. Nhân dân ta tiếp thu một số yếu tố văn hóa và tư liệu sản xuất từ nước ngo ài: giống cây trồng mới (kê, ngô, cao lương, một số loại đậu...), kỹ thuật nông nghiệp mới (bón phân bắc, guồng nước), kỹ thuật thủ công (dệt lụa gấm, làm đồ sứ, thuộc da...) Từ đầu công nguyên, việc dùng lưỡi cày sắt đã phổ biến., ở thời kỳ này cũng đã tìm thấy rìu, mai, cuốc... bằng sắt. C ùng với việc dùng công cụ bằng sắt sắc bén hơn, đất đ ược cày bừa tốt hơn, diệt trừ cỏ dại, khai hoang, làm thuỷ lợi, làm ruộng bậc thang, đắp đê sông, đê biển, đ ào sông ngòi... nông dân đã biết thâm canh hơn, dùng nhiều loại phân (tro than, phân bắc). Lúa được gieo cấy theo vụ, tăng vụ. Về lương th ực và hoa màu, nông dân trồng nhiều lúa gạo, khoai, đậu đỗ, củ. Cây ăn quả có chuối, cam, quít, vải, nhãn, dừa... Trong vườn còn có dưa, rau (cà, hành, gừng, hẹ, rau muống...). Để chống sâu bọ đục thân và quả cam, người ta nuôi loại kiến vàng cho làm tổ trên cành cam, bán cành cam chiết, bán luôn cả tổ kiến vàng trên cành có bó chiếu. Nh ư thế nghề làm vườn đ ã biết chiết, ghép... Người ta trồng mía, ép mía làm đường, mật. Ven sông trồng dâu nuôi tằm. Nông dân đ ã biết khai thác những loại gỗ quý và lâm sản (trầm h ương, tre, mây), cây làm thuốc (quế, xương bồ, ý dĩ, sa nhân...). Về chăn nuôi, người Lạc Việt nuôi trâu, bò, lợn, gà, dê, chó, vịt, ngỗng và voi. Nghề nuôi tằm đ ược mở rộng, đ ã có thả cá ao. Việc đánh cá, săn bắt không còn vị trí độc thân như trước. 9
  11.  Thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến thống nhất độc lập (từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII) Thời kỳ này có thể chia thành 2 giai đoạn: - Giai đo ạn nhà nước phong kiến độc lập: từ thế kỷ X đến thế kỷ XV. Ở giai đoạn này nhà nước phong kiến trải qua các triều đại: Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Tiền Lê, Lý (thế kỷ XI, XII), Trần (thế kỷ XIII), Hậu Lê (thế kỷ XV, XVI). Có sự khác nhau trong mỗi giai đoạn lịch sử. + Theo lịch sử, vua Lê Đại Hành là người đầu tiên tổ chức lễ cày ruộng tịch điền. Nhà Tiền Lê chú ý các công trình vét sông, đào kênh dùng vào giao thông và thuỷ lợi trong giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ. + Nhà Lý coi trọng nông nghiệp và đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển. Đã làm được nhiều cô ng trình khẩn hoang, thuỷ lợi... ví dụ đ ê Cơ Xá (Sông Hồng), kênh ngòi ở Thanh Hoá. Chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nước chiếm ưu thế. Đại bộ phận là ruộng đất của công xã. Công xã bảo lưu quyền tự trị rộng rãi về nhiều mặt. Ruộng đất của công xã nào do cô ng xã đó quản lý và phân phối cho các thành viên cày cấy, nhưng dưới quyền tối cao của nhà vua (phải nộp tô thuế, phải đi lao dịch và đi lính). Nhà vua có quyền phong cấp, người đ ược phong thì được cấp thực phong và thực ấp tính theo số hộ nông dân trong đó, nông dân phải nộp tô thuế và đi lao dịch, đi lính cho người được phong. Thái ấp của quí tộc, quan lại: Trừ một tỉ lệ ruộng đất không nhiều cấp vĩnh viễn (thành ruộng đất tư), phần lớn ruộng vẫn thuộc sở hữu nhà nước phong kiến. Người được phong chỉ có quyền chiếm giữ và sử dụng khi còn sống. Kế thừa thái ấp do vua quyết định. Bên trong thái ấp, công xã vẫn tồn tại, chỉ phải lao dịch và nộp tô cho thái ấp. Ruộng quốc khố: Là ruộng sở hữu của nhà nước phong kiến, do nh à nước trực tiếp quản lý, tù binh và tội nhân làm việc và bị bóc lột như nông nô. Tô ruộng quốc khố nặng hơn tô ruộng công xã và thái ấp. Theo hình thư đời Lý thấy đã có chế độ tư hữu ruộng đất: sở hữu cá nhân của địa chủ và một phần nông dân tự canh. Có những điều khoản luật về mua bán, cầm đợ, tranh chấp ruộng đất. + Nhà Trần: Sự kiện đáng chú ý nhất trong đời Trần là đ ắp đê phòng lụt hàng năm trên quy mô lớn. Nhờ thuỷ lợi và các biện pháp khác, nông nghiệp đã được thâm canh, tăng vụ khá cao. Ruộng lúa mầu, các b ãi dâu tằm, các vườn cây ăn q uả đ ược nhận xét là phồn thịnh. Chính quyền khuyến khích tư nhân và nhà nước đứng ra khẩn hoang mở mang đồng ruộng và thôn xóm. Đến cuối đời Trần, các quí tộc không ngừng chiếm đoạt thêm ruộng đất của nông dân, lấy hàng loạt ruộng đất của công xã phong cấp, chế độ điền trang, thái ấp mở rộng. Cuối năm 1343, mất mùa to, nạn đói dữ dội, nô tỳ các nhà quí tộc và nông dân nghèo nổi dậy bạo động ở nhiều nơi. Đời Trần suy vong, chính quyền về tay Hồ Quý Ly. Đối với nông nghiệp họ Hồ có hai cải cách lớn. Năm 1347 nhà vua thực hiện chính sách hạn điền quy định số lượng ruộng đất cho người có ruộng. 10
  12. Nhà Hồ suy vong, tiếp theo là thời kỳ nhà Minh đô hộ. Thóc gạo, trâu bò bị cướp bóc. Nhiều thứ thuế mới được đặt ra, lao dịch nặng nề... + Nhà Hậu Lê: đ ầu thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI. Đây là thời kỳ nông nghiệp Việt Nam phong kiến thịnh đạt nhất. Sau 20 năm bị nhà Minh đô hộ, nhà nước chủ trương mở rộng khẩn hoang lập đồn điền, mở mang thuỷ lợi. Chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nước đ ược mở rộng thêm, có mấy điểm đáng chú ý: * Lộc điền: theo luật lệ ban hành 1447 họ hàng nhà vua và quan lại từ tứ phẩm trở lên được cấp lộc điền, một phần cấp vĩnh viễn, một phần cấp cho sử dụng, sau khi chết 3 năm hoàn trả lại cho nhà nước. * Quân điền: 1429 quy định cách phân phối và sử dụng ruộng đất của công xã. Về nguyên tắc, mọi người đều đ ược chia ruộng, nhưng một viên quan tam phẩm được chia 11 phần thì nông dân nghèo chỉ được 3 phần rưỡi. Thời gian quân cấp 6 năm một lần. Nông dân làm ruộng đất công, thực tế là tá điền cho nhà nước, nên ph ải nộp tô thuế, lao dịch, đi lính. * Mở rộng chế độ tư hữu ruộng đất: triều đình miễn thuế ruộng tư và ban hành nhiều điều luật nhằm hợp pháp hoá việc chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của giai cấp địa chủ. Khi triều Lê suy vong thì nông nghiệp cũng b ắt đầu suy thoái, đê điều bỏ mặc không ai trông nom, các công trình thuỷ lợi bị hư hỏng. - Giai đo ạn nhà nước phong kiến suy yếu: từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ X VII. Thời kỳ vua Lê chúa Trịnh ở đàng ngoài và chúa Nguyễn ở đàng trong, sản xuất nông nghiệp thu nhập rất thấp. Thời kỳ vua Lê chúa Trịnh, Nam Bắc phân tranh, cuộc nội chiến Nam Bắc kéo dài hơn hai trăm năm là nguyên nhân chính làm kinh tế suy sụp, đời sống người lao động rất vất vả, không bình đẳng trong cuộc sống. + Đàng trong: trong chiến tranh Nam Bắc, vùng Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh bị tàn phá nặng nề, ruộng đất hoang hoá, chính quyền họ Trịnh phải miễn lao dịch 3 năm cho dân lưu tán, bãi bỏ các khoản thuế thiếu và giảm nhẹ các khoản thuế cho người lao động trên các hoạt động sản xuất khác nhau. + Đàng ngoài: đ ến cuối thế kỷ XVI vùng Thuận Hoá, Quảng Nam ruộng đất còn hoang hoá nhiều. Chính quyền họ Nguyễn thực hiện chính sách khẩn hoang lập làng. Ruộng đất khai khẩn sung làm ruộng đất công của làng ấp mới, quyền sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc chúa Nguyễn. Nông dân tập hợp theo tổ chức công xã, phải nộp tô thuế và lao dịch, binh dịch. Từ Thuận Hoá, ruộng đất mở rộng dần theo năm tháng đến phía nam đồng bằng sông Cửu Long. Từ Thuận Hoá đến Bình Thuận, đã có những công trình đắp đê, đào kênh, làm ruộng bậc thang. ở đồng bằng sông Cửu Long, năng suất lúa của loại ruộng cỏ và ruộng dầm từ 100 đến 300 lần (1 đơn vị thóc giống thu hoạch 100-300 đơn vị hạt lúa). Đó là năng suất rất cao vào thời kỳ ấy. 11
  13. * Thời kỳ sụp đổ của chế độ phong kiến - P hong trào nông dân Tây Sơn - Nông nghiệp Việt Nam tr ước khi thực dân Pháp xâm l ược (thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX) Chính sách ruộng đất thời cuối Hậu Lê đã là một yếu tố làm kinh tế nông nghiệp đình đốn, nông dân bị áp bức bóc lột thậm tệ dẫn đến phong trào Tây Sơn, một phong trào khởi nghĩa của nông dân. ở đ àng ngoài, ruộng đất ngày càng tập trung vào quan lại, địa chủ. Sản xuất nông nghiệp đình đốn, dân đói phải bỏ làng. ở đ àng trong, ruộng đất công tương đối nhiều, nông dân sống chủ yếu dựa vào ruộng quân cấp nhưng cường hào địa chủ giành ruộng đất tốt, lấn chiếm ruộng đất công. Do đó phần lớn nông dân không có ruộng, phải thuê ruộng để sản xuất, đời sống khó khăn. Khi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kết thúc, 1789 vua Quang Trung ra “chiếu khuyến nông” nhằm ổn định dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang. Chính sách quân điền được sửa đổi nhằm làm cho nông dân có đủ ruộng khẩu phần để sinh sống. Ruộng đất tư của bọn phản động, ruộng đất bỏ hoang quá thời hạn, theo quy định bị tịch thu giao cho làng xã quản lý, tô thuế giảm nhẹ hơn. Sau 3 năm, ruộng đất bỏ hoang được thanh toán, sản xuất nông nghiệp phục hồi. Nhà Nguyễn Gia Long thiết lập nền cai trị bằng những hình phạt khắc nghiệt, dã man. Về chính sách ruộng đất, Gia Long ra lệnh tịch thu ruộng đất của những người theo Tây Sơn, tr ả lại cho chủ cũ những ruộng đất Tây Sơn đ ã chia cho nông dân. Ruộng đất công của l àng xã được chuyển th ành quân điền. Thuế ruộng đất của đàng ngoài cao hơn đàng trong kho ảng hai lần. Tô thuế nộp bằng sản phẩm, khi mất mùa nộp thay bằng tiền. Phải tiến cống các sản phẩm quý, thuế thân, thuế đi buôn, thuế nghề thủ công, lao dịch nặng nề. Triều Nguyễn bất lực trong việc bảo vệ đ ê điều. Thiên tai xảy ra liên tiếp. Để giải quyết những khó khăn về kinh tế, tài chính nhà Nguyễn chú trọng khẩn hoang. Công việc khai hoang có kết quả, nh ưng thành qu ả khai hoang trước hết lọt vào tay giai cấp địa chủ phong kiến. Dư ới triều Nguyễn, ruộng công không c òn được một nữa tổng số. Cả ruộng công lẫn ruộng tư đều bị địa chủ, cường h ào lũng đoạn. Đời sống người dân lao động rất vất vả. 1. 2.2.2 Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ (1884-1945) * Từ khi lập nền đô hộ trên toàn cõi Việt Nam đến chiến tranh thế giới thứ nhất (1884 -1918) Trong công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, chính sách cơ bản là thuộc địa (Đông Dương) phải được giành riêng cho thị trường Pháp, cung cấp nguyên liệu cho Pháp và mua hàng hoá của Pháp. Ngành nông nghiệp là ngành đầu tư ít vốn m à dễ dàng thu được lợi nhuận. Thực dân Pháp cướp đoạt ruộng đất của nông dân Việt Nam. Lao động phần lớn chính là những người nông dân bị chúng chiếm đoạt ruộng đất trở thành tá điền hay phu đồn điền. Chúng khai thác lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, sau đó khai thác cao su là chính ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Ngoài ra chúng còn khai thác cà phê, chè. P hương thức khai thác lúa ở đồng bằng sông Cửu Long là đào nhiều kênh mương bằng máy xáng để khai hoang và vận chuyển lúa, bán các diện tích được hưởng thuỷ lợi với 12
  14. giá cao hơn (gần kênh 4 tạ lúa/ha, xa kênh 2 tạ lúa/ha) để thu ngay đ ược nhiều lợi nhuận. Nông dân tá điền phải nộp tô tức bằng lúa với giá rẻ mạt. Chúng c òn thu lợi trong việc độc quyền xuất khẩu lúa gạo, tác động đến nền kinh tế. Nhờ có thuỷ lợi mở đ ường và khai hoang diện tích trồng lúa, dân số và lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long tăng lên rất nhanh mặc d ù diện tích này chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong số 4 triệu hecta đất tự nhiên trong vùng. Xuất khẩu gạo tăng nhanh, đánh dấu một thời kỳ phát triển nông nghiệp mạnh mẽ, từng bước năng suất cây trồng tăng và sản xuất cho thu nhập cao hơn, cải thiện đời sống người lao động. Không chỉ bọn địa chủ thực dân c ướp đất mà cả bọn tay sai phong kiến “có công” giúp thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam, đ àn áp những cuộc khởi nghĩa của nông dân, cũng được phân thêm ruộng đất. Nạn cướp đoạt ruộng đất diễn ra liên tiếp song song với sự bần cùng hoá nông dân. Sưu thuế, phu phen, tạp dịch cũng như lũ, bão, hạn hán đều là những nguyên nhân làm nông dân m ất ruộng. Lao động vất vả và đời sống không được đảm bảo ở nhiều vùng trong nước. Bảng1: Tình hình ph át triển lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (1880-1930) Tổng chiều dài Diện tích trồng Dân số Nam Lúa gạo xuất cảng Năm các kênh chính l úa (nghìn ha) B ộ (triệu (nghìn tấn/năm) (km) người) 1880 132 236 1,56 300 1900 164 905 2,60 775 1920 1.139 1.659 3,58 975 1930 1.790 2.125 4,30 1.300 Chế độ ruộng công cũng bị bọn địa chủ c ường h ào lũng đoạn. Chúng tranh phần ruộng tốt, gian lận chia công điền cho con em hoặc tay sai của chúng, gạt những người cùng đinh không có thế lực ra ngo ài. Đế quốc, phong kiến cấu kết chặt chẽ với nhau áp bức, bóc lột làm cho nông dân Việt Nam bần cùng và phá sản ngày càng trầm trọng. Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), Đông Dương ph ải cung cấp lính, chịu nhiều thứ thuế, cung cấp hàng vạn tấn quặng kim loại và 336 nghìn tấn nông lâm sản (Gạo, ngô, cao su, đường, gỗ...) cho Pháp. Nông nghiệp từ chỗ chỉ trồng lúa là chính được chuyển một phần sang trồng các cây phục vụ chiến tranh như thầu dầu, đay, lạc, đậu...  Sau chi ến tranh thế giới lần thứ nhất đến cách mạng tháng 8/1945 Thực dân Pháp tăng c ường chiếm đoạt ruộng đất, mở thêm đ ồn điền, vơ vét nông sản xuất khẩu. Đến 1930, tổng số ruộng đất mà thực dân Pháp chiếm đoạt để lập đồn điền là 1,2 triệu hécta, bằng 1/4 tổng diện tích đất canh tác của cả nước lúc bấy giờ. Theo tài liệu của ủy ban cải cách ruộng đất Trung ương (sau 1945) giai c ấp địa chủ chiếm 3% số dân nhưng chiếm tới 24,5% ruộng đất, nếu tính cả ruộng đất công mà chúng thao túng bằng cách này hay cách khác thì giai cấp địa chủ đã chi phối khoảng 50% diện tích đất ruộng ở miền Bắc. Nông dân lao động mà tầng lớp đông đảo nhất là bần nông (gần 60% số dân) chỉ có 12% ruộng đất, phần lớn lại là ruộng đất xấu. Riêng cố nông (20% số dân) chỉ có 1,2% tổng số ruộng đất. 13
  15. Ở giai đoạn này nông nghiệp vẫn xoay quanh nghề trồng lúa. Hầu hết đất đai và lao động dành cho việc trồng lúa. Nhưng do chế độ chiếm đoạt ruộng đất của thực dân P háp và phong kiến, dù dân ta có nhiều kinh nghiệm phong phú và quý báu về trồng lúa từ mấy nghìn năm, vẫn không có điều kiện và cũng không có quyền lợi gì trong việc thâm canh nên năng su ất lúa rất thấp (trung bình 12 tạ/ha). Tuy nhiên, do liên tục mở rộng diện tích canh tác, do thu tô hết sức nặng nề, và một phần đáng kể do vơ vét thóc gạo với giá rẻ trên thị trường, số gạo mà tư bản Pháp xuất khẩu vẫn không ngừng tăng lên. Ở thời kỳ này tư bản Pháp đua nhau mở các đồn điền cao su ở những vùng đất đỏ và đất xám thuộc miền Đông Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ. Việc trồng cao su bắt đầu từ năm 1897 ở trạm thí nghiệm Ông Yêm, Bến Cát, Sông Bé (Nam Bộ), Suối Dầu (Trung Bộ) và phát triển mạnh từ 1920 đến 1945. Ngoài cao su, thực dân Pháp chiếm thêm những vùng đ ất đỏ ở Trung Bộ và Nam Bộ để mở rộng hoặc lập mới những đồn điền c à phê, mía, chè, dừa, bông, hồ tiêu... Tư bản đã bắt đầu dùng một số máy nông nghiệp và phân hoá học. Chỉ ở những nơi đất màu mỡ, bỏ ít vốn m à kiếm được nhiều lãi chúng mới khai thác. Nông nghiệp Việt Nam vẫn l à nông nghiệp độc canh lúa với canh tác lạc hậu, năng suất thấp. Tuy vậy nông dân Việt Nam vẫn phát huy kinh nghiệm lâu đời về nông nghiệp nhất là về nghề trồng lúa, thể hiện trong những nguyên lý nh ư “nước, phân, c ần, giống”, “nhất thì nhì thục”... đ ã biết vận dụng nông lịch gồm 24 tiết trong năm của phương B ắc vào điều kiện Việt Nam, lấy bèo hoa dâu bón cho ruộng...Trong thời kỳ này có nh ập một số cây mới như cây cao su (1897), cà phê (1857), canh ki na (1930 -1940), khoai tây, một số giống mới: mía, cây ăn quả, rau ôn đ ới, cỏ chăn nuôi... và một số giống vật nuôi: bò Ôngôn, Sind, lợn Ioocsai, Becsai, ngựa ả Rập, cừu Vân Nam... Để phục vụ cho việc khai thác thuộc địa, người Pháp trong gần một thế kỷ đã có nhiều kết quả nghiên cứu khoa học về những điều kiện và tài nguyên của kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Những nghiên cứu này đã đặt nền móng cho nền khoa học nông nghiệp Việt Nam, đến nay và sau này vẫn còn giá trị khoa học về lý luận và thực tiễn. Ví dụ nghiên cứu về khí hậu của P. Carton, về đất và địa chất của F.M Castagnol và J. Hoffet, về sử dụng đất của Ch. Robequin, về bảo vệ thực vật của R. Pasquier, về thú y A. Yersin, về lúa gạo của Y. Coyaud, về bông của A. Angladetle... Người Pháp cũng mở trường đ ào tạo công chức chuyên môn về nông nghiệp trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp. Người Pháp cũng mở một số cơ quan nghiên cứu như Sở Túc Mễ Đông Dương, Viện Pasteur Nha Trang (189 5), Bệnh viện thú y H à Nội (1897), Viện nghiên cứu nông nghiệp và k ỹ nghệ S ài Gòn (1898)... cho việc phục vụ các hoạt động sản xuất nông nghiệp. 1.2.2.3. Từ cách mạng tháng 8/1945 đến nay  Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954) Cách mạng tháng 8/1945 thành công sau nạn đói khủng khiếp do phát xít Nhật, P háp gây ra, đê điều bị vỡ từng mảng làm ngập 35 vạn ha ruộng đất thuộc 9 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, 14
  16. diệt giặc ngoại xâm”, “tăng gia sản xuất”, “sản xuất và tiết kiệm”, nhiều phong trào quần chúng được phát động và toàn dân đã hưởng ứng. Chỉ sau một năm nhân dân Việt Nam đã chiến thắng đ ược nạn đói. Năm 1946 thực dân Pháp phát động cuộc chiến tranh xâm lược hòng chiếm Việt Nam lần thứ hai, chúng đ ã chiếm đóng các vùng ruộng đất phì nhiêu, ra sức phá hoại vùng tự do của ta. Nhưng nhân dân ta vẫn đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đáp ứng về cơ bản nhu cầu ăn no, đánh thắng theo chiến lược tự lực cánh sinh, kháng chiến lâu dài. P hục vụ các phong trào trên, nhân dân ta đ ã vận dụng những kinh nghiệm lâu đời của dân tộc kết hợp khoa học kỹ thuật hiện đại đưa ra những phong trào: “toàn dân canh tác”, phong trào thâm canh, dùng phân hữu cơ, phân bắc, nước giải, chọn giống và ngâm ủ giống (ba sôi hai lạnh), cày ải, cào cỏ cải tiến để tăng năng suất lúa, phòng toi dịch gia súc... Đồng thời bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, lập Viện khảo cứu nông nghiệp ở Tuyên Quang, trường trung cấp nông nghiệp Bản Thuỷ (Thanh Hoá), trường trung cấp nông lâm Phước Sơn (Qu ảng Nam), đào tạo đội ngũ khoa học kỹ thuật, tuyên truyền sâu rộng các biện pháp kỹ thuật mới cho quần chúng.  Sau hi ệp định Gi ơnevơ đến hoàn toàn gi ải phóng đất nước (1954-1975) * Mi ền Bắc Hoà bình được lập lại ở miền Bắc, công việc đầu tiên là hàn g ắn những vết thương do chiến tranh để lại: 14,5 vạn ha ruộng hoang, nhiều công trình thuỷ lợi lớn bị phá huỷ, đê điều hư hỏng nặng nề, công cụ sản xuất bị phá hoại, trâu bò cày kéo bị bắn giết. Qua các cuộc vận động giảm tô, cải cách ruộng đất (1953-1957) hơn 810.000 ha ruộng đất đã được chia cho nông dân và nhân dân lao đ ộng. Nông dân còn được chia thêm nông cụ, trâu bò, nhà cửa. Sau khi khôi phục kinh tế (1958), chính quyền nhân dân đ ã đề ra nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế, xây dựng thành phần kinh tế quốc doanh. Riêng với nông nghiệp, chủ trương vận động hợp tác hoá kết hợp với cải tiến kỹ thuật và phát triển sản xuất. Bước đi của hợp tác hoá nông nghiệp là từ tổ đổi công lên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp, rồi bậc cao, đồng thời phát triển hợp tác xã mua bán và tín dụng. Trong kế hoạch 3 năm (1958 -1960), sản lượng lúa 1959 đ ã đạt 5.193.000 tấn, năng suất bình quân 22,84 tạ/ha/vụ. Năm 1959 là năm đạt mức năng suất và sản lượng cao nhất từ trước đến lúc đó. Từ năm 1961, khi nhân dân ta bước vào th ực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất thì đế quốc Mỹ bắt đầu leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc. Ta thực hiện kế hoạch chuyển hướng kinh tế hai năm, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Trong thời kỳ này, đ ã có những thành tựu rõ về xây dựng c ơ sở vật chất kỹ thu ật cho nông nghiệp, đ ưa tiến bộ kỹ thuật vào s ản xuất và quan trọng nhất là làm cách m ạng cơ cấu trong nông nghiệp, trước hết là cơ cấu trồng trọt. Các hợp tác xã nông nghiệp đ ược tăng c ường và c ủng cố, phong trào l àm thuỷ lợi và xây d ựng đồng ruộng rộng khắp. Một số vật tư kỹ thuật mới (phân hoá học, thuốc trừ sâu) trở thành quen thuộc. Có các phong trào: phòng trừ bệnh vàng lụi, làm lúa xuân, giống ngô lai, phát triển bèo dâu, điền thanh, sử dụng lợn lai thế 15
  17. hệ 1, c ác giống tằm mới... Thái Bình là tỉnh đầu tiên đạt 5 tấn thóc/ha. Diện tích lúa, màu, số đầu con trong đ àn trâu, bò, lợn liên t ục tăng. Về cơ cấu trồng trọt, vụ lúa chiêm được thay thế bằng vụ lúa xuân trên 60% diện tích. Năm 1967, vụ đông đã hình thành và bắt đầu phát triển. Do thay đổi cơ cấu mùa vụ cùng với việc củng cố phong trào hợp tác hoá, cải tiến kỹ thuật, cho đến trước ngày thống nhất đất nước (1974) sản xuất nông nghiệp miền Bắc đạt năng suất bình quân 24,2 tạ/ha/vụ, toàn miền Bắc đã đạt 5 tấn thóc/ha/năm trên diện tích cấy 2 vụ. S ản lượng lương thực gấp hai lần trước cách mạng tháng 8. Có những tiến bộ rõ nét trong sản xuất hoa màu, cây công nghiệp, gia cầm, cá. Về mặt khoa học kỹ thuật có thể ghi lại một số tiến bộ: - Nhập nội, lai tạo và sử dụng nhiều giống lúa mới năng suất cao với quy trình thâm canh thích hợp: làm mạ, cày ải, bón phân, cấy nông tay thẳng hàng, cấy dầy vừa phải, bảo vệ thực vật, bèo dâu, điền thanh, rất có ý nghĩa trong cải tạo đất đai và đất phì nhiêu và góp phần cho năng suất cây trồng cao hơn... - Thâm canh nhiều loại hoa màu, rau quả, cây công nghiệp. - Đưa lợn lai thế hệ 1, các giống gà công nghiệp vào sản xuất với tiến bộ kỹ thuật về giống, thức ăn, thú y. - Xây dựng quy trình kỹ thuật cho một số cây trồng, vật nuôi cho việc phát triển sản xuất, cải thiện thu nhập. - Cải tiến quản lý sản xuất, tổ chức và định mức lao động trong hợp tác xã. - Cải tiến công cụ và máy móc dùng trong nông nghiệp. - Điều tra cơ bản, lập bản đồ thổ nhưỡng ở miền Bắc, các tỉnh huyện, nông lâm trường và một số hợp tác xã, điều tra về giống cây trồng, gia súc, sâu bệnh, dịch bệnh...làm cơ sở cho việc xây dựng qui trình sản xuất nông nghiệp. - Đào tạo lực lượng khoa học kỹ thuật và quản lý, mở viện nghiên cứu...phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội * Mi ền Nam : Ở thời kỳ này nông nghi ệp Miền Nam có những đặc điểm sau: - Về quan hệ sản xuất: Cơ bản là sản xuất cá thể, những người có nhiều ruộng đất chủ yếu nằm trong bộ máy thống trị. Lao động bị tách khỏi đất đai. Do chính sách dồn điền của Mỹ-Nguỵ, hàng triệu nông dân đ ã phải đổ ra thành phố, thị trấn để trở thành người thất nghiệp, trong khi đó đất đai bị bỏ hoá vì thiếu nhân lực. Do chính sách cải cách điền địa hàng triệu nông dân thiếu ruộng hoặc trở thành không có ruộng. Sản xuất của nông dân lệ thuộc vào vật tư công nghiệp nhập khẩu, bị ảnh hưởng của phương thức kinh doanh chạy theo lợi nhuận tối đa, trong khi đó giá cả ở thị tr ường thường không ổn định. - Về tình hình sản xuất: phải nhập khẩu lương thực khoảng 800.000 tấn/năm. Về nguyên liệu cho công nghiệp, trước đây miền Nam có nhiều cao su, c à phê, chè, thuốc lá, mía, đường, dừa... đến năm 1975 chỉ còn rất ít. Riêng cao su trước có 143.000 ha (1963), năm 1975 còn 78.856 ha nhưng có 80% đã già cỗi. - Về cơ sở vật chất và kỹ thuật đối với nông nghiệp: Các công trình thuỷ lợi trong 30 năm hầu như không thêm gì. Các công trình cũ bị huỷ hoại, các kênh mương 16
  18. và đê biển không đ ược tu sửa. Trại giống lúa ở miền Nam chỉ có 20 ha phục vụ cho hơn 3 triệu ha gieo cấy. Đã nhập nội và phát triển các giống lúa mới IR. Dùng phân hoá học và hoá ch ất phòng trừ sâu bệnh. Ruộng đồng trồng cấy quanh năm, xen kẽ nhiều vụ làm sâu bệnh có điều kiện lan tràn triền miên. Giải quyết hạn chỉ trông vào máy bơm và xăng d ầu. Nông thôn tuy có nhiều loại cơ khí nhỏ nhưng từ nhiều nước khác nhau, lệ thuộc rất nhiều vào phụ tùng thay thế.  Từ thống nhất đất nư ớc đến nay Sau ngày giải phóng (1975) nông nghiệp miền Nam bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Hàng triệu nông dân sau chiến tranh trở về làng cũ với hai bàn tay trắng. Mọi người đã phải dựa vào nhau, tương trợ nhau khai hoang phục hoá với nhiều thương vong. Trong tình hình đó, vụ lúa mùa 1975 là một vụ mùa vượt dự kiến. Đến cuối 1976 hơn nửa triệu hecta hoang hoá đ ã được cày cấy lại. Năm 1978 lại khai hoang thêm 600.000 ha. Nhờ chính sách phân cấp lại ruộng đất cho nông dân ngay từ sau khi giải phóng, một thế hệ nông dân lao động mới đ ược hình thành. Tầng lớp trung nông là lực lượng cách mạng và lực lượng sản xuất chủ yếu ở nông thôn. Thực hiện hợp tác hoá sản xuất nông nghiệp ở Nam Bộ đ ã xây dựng các tập đoàn sản xuất và các hợp tác xã nông nghiệp. Nông dân Nam Bộ tiếp thu và vận dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Các giống lúa mới được áp dụng rộng rãi và đạt hiệu quả ngày càng cao cùng với việc sử dụng cơ khí, phân hoá học, các biện pháp bảo vệ thực vật. Đã từng bước hình thành các bộ giống cho các vùng khác nhau (ngọt, phèn, mặn, lũ lụt...) Các chính sách kinh tế-xã hội của Đảng ngày càng đổi mới đã khuyến khích và đẩy mạnh phong trào thâm canh tăng vụ ở miền Nam. ở đồng bằng sông Cửu Long diện tích lúa tăng vụ Đông xuân và Hè thu 1974 mới có 200.000 ha, đến năm 1993 đã lên đến hơn 2 triệu ha và đạt năng suất bình quân 8-10 tấn/năm. Những năm gần đây, nông nghiệp miền Nam phát triển tương đối toàn diện. Ngoài lúa, các loại cây hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn, dài ngày... đều có bước phát triển mới. Các loại gia súc, các lo ại thuỷ sản đều phát triển với tốc độ cao. Nhìn chung cả nước nông nghiệp có những thuận lợi để phát triển. Có nhiều kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật về thâm canh được đưa vào sản xuất trên diện rộng. Các giống mới lai tạo, các giống nhập nội được thuần hoá cho năng suất cao, các giống chống rầy... cho phép xác định những bộ giống lúa thích hợp cho mỗi vùng và mỗi vụ. Tăng hiệu quả sử dụng phân vô cơ, phát triển các loại phân xanh, cải tạo đất bạc màu, phèn... Có các tiến bộ kỹ thuật về xác định thời vụ để tăng vụ, chống rét, sâu bệnh. Trong chăn nuôi có các kết quả về thụ tinh nhân tạo, thức ăn hỗn hợp, thú y... Vụ đông trở thành vụ sản xuất chính, các phương thức nông lâm kết hợp được mở rộng, có các phương án phân vùng quy hoạch, công tác điều tra cơ bản sâu và rộng về các điều kiện và tài nguyên của nông, lâm, ngư nghiệp. Đã nghiên cứu sâu và phát triển những yêu cầu mới về: quy mô hợp tác xã, phương thức quản lý đất đai, lao động, phân phối thu nhập, lưu thông thương mại, nhất là các thành ph ần kinh tế trong nông nghiệp như quốc doanh, tập thể, gia đ ình. Qua những nghiên cứu này đã thấy rõ chính những thiếu sót về quản lý kinh tế đ ã làm cho 17
  19. sản xuất nông nghiệp phát triển chậm lại, đời sống nông thôn nảy sinh nhiều vướng mắc, nông dân không yên tâm sản xuất và sinh sống. Từ những năm 1980 những khuyết điểm trong việc quản lý kinh tế và riêng quản lý nông nghiệp đã bộc lộ rõ. Đường lối trong từng giai đoạn sản xuất đối với sản xuất nông nghiệp, nông thôn và nông dân chưa được cụ thể, cơ chế quản lý không phù hợp, quá tập trung bao cấp, cửa quyền đã ngăn cản mọi năng lực lao động, sáng tạo, cần cù đã có từ bao đời của người nông dân. Việc củng cố và phát triển sản xuất ở các hợp tác xã và nông trường quốc doanh bị chế độ quản lý nặng tính hành chính ràng buộc, chưa vận dụng đúng đắn các quy luật phát triển của một nền nông nghiệp tự cấp tự túc tiến đến sản xuất hàng hoá. Kế hoạch hoá nông nghiệp không phản ánh đúng thực tế sản xuất và phân phối. Kế hoạch ở cơ sở không được người lao động tham gia. Kinh tế gia đình bị xem nhẹ và có phần hạn chế. Các chính sách thúc đẩy và khuyến khích phát triển nông nghiệp chưa được ban hành và bổ sung kịp thời. Chưa làm tốt dịch vụ vật tư nông nghiệp, chế biến, lưu thông và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, có trường hợp làm đình đốn hoặc triệt tiêu sản xuất. Việc chỉ đạo sản xuất và chỉ đạo khoa học kỹ thuật nông nghiệp kém hiệu lực, nặng tính chất quan liêu, giấy tờ. Trước thực trạng đó, Ban bí thư trung ương ra chỉ thị 100 (1/1981) hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ và nhóm người lao động và cho phép xã viên được đầu tư vốn, sức lao động trên ruộng đất được khoán và hưởng trọn phần vượt khoán. Nhưng do còn có những hạn chế trong việc giải quyết đồng bộ các khâu vướng mắc ở các cấp từ cơ sở đến trung ương, nên đến 1985, trong nông nghiệp lại xuất hiện những khó khăn mới với người lao động. Năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị trung ương Đảng khoá VI về đổi mới quản lý trong nông nghiệp. Nhằm giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất trong nông thôn, trong từng hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn. Những nhân tố mới này đã thúc đẩy việc đổi mới trong quản lý và điều hành sản xuất nông nghiệp nên hiệu quả hơn nhiều. Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) và lần thứ VII (1991), với những chủ trương về phát triển năm thành phần kinh tế, ba chương trình kinh tế lớn, hộ gia đình là chủ thể của sản xuất, ban hành những chính sách giao đất, lưu thông tự do giá cả thoả thuận, tín dụng nông thôn... dịch vụ kỹ thuật và dịch vụ thương m ại được cải tiến, dân chủ hoá trong bộ máy chỉ đạo sản xuất và chỉ đạo khoa học kỹ thuật đã đưa đến những kết quả bước đầu trong thực tiễn sản xuất: - Sản xuất nông nghiệp phát triển: Tổng sản lượng lương thực quy thóc bình quân ngày càng tăng, hàng tiêu dùng chế biến từ nông sản tăng, nhiều sản phẩm đ ã được thị trường nước ngoài chấp nhận. - Việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp được tăng cường, kết hợp với khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế, nâng cao trình độ của nông dân và đưa một số tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất... chúng ta đã thực hiện từng bước xoá đói giảm nghèo trong nông thôn và nông dân. - Nông nghiệp đã có những bước phát triển mới trên con đường thâm canh, mở rộng diện tích, tăng vụ. Xây dựng những vùng sản xuất chuyên canh, có hiệu quả đưa 18
  20. nền nông nghiệp nước ta từng bước tiến lên con đường trở thành nền nông nghiệp hàng hoá tạo ra nhiều sản phẩm. - Năm 1993 Nghị định 64 /CP ra đời chia đất lâu dài cho nông dân 20 năm là một động lực thúc đẩy cho nông nghiệp phát triển. Chiến lược kinh tế-xã hội đến năm 2000 có những định hướng có nhiều triển vọng thực hiện. Bên cạnh những nổ lực trong nước, việc hợp tác quốc tế về nông nghiệp đ ược mở rộng. Nền nông nghiệp hàng hoá phát triển theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa đã bắt đầu xuất hiện trên đất nước ta. Tuy nhiên, trên bước đường phát triển, nông nghiệp nước ta còn gặp một số hạn chế: đất canh tác hẹp, dân số đông, c ơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật yếu, nhất là vùng trung du miền núi trình độ khoa học và công nghệ còn thấp kém, vốn đầu tư của nhà nước và nhân dân vào phát triển nông nghiệp còn hạn chế, tổ chức quản lý nông nghiệp đang trên đường tìm tòi đổi mới và hoàn thiện, sản phẩm nông lâm ngư nghiệp chưa nhiều, chất lượng chưa cao. Đó là h ạn chế cần khắc phục để phát huy mạnh mẽ tiềm năng còn rất to lớn của nền nông nghiệp Việt Nam. 1.3. CÁC LOẠI HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP. 1. 3.1. Nông nghi ệp du canh  Đị nh nghĩa Nông nghiệ p du canh là sự thay đ ổi nơi sản xuất từ vùng này sang vùng khác, từ khu vực này sang khu vực đất khác sau khi đ ộ phì của đất đã nghèo kiệt. Nói một cách khác: Hệ t hống nông nghiệp có sự l uân phiên về m ặt trồng trọt trong một vài năm giữ a những nơi được chọn và nhữ ng nơi bỏ tr ắng một thời gian dài cho đ ất nghỉ . Việc trồng trọt được tiếp tục trên nhữ ng diện tích được ph ục hồi bởi thảm thực vật tự nhiên. Mức đ ộ du canh thay đ ổi khá nhiều, một tiêu chu ẩn khá đơn giản và hợ p lý về m ức đ ộ sử dụng đất là mối quan hệ giữ a thời kỳ trồng trọt và thời kỳ bỏ hóa.  Đặc trưng Nông nghiệp du canh người nông dân chỉ biết lợi dụng các điều kiện tự nhiên sẵn có để làm ra s ản phẩm mình mong muốn. Khi điều kiện thuận lợi đ ã bị khai thác hết họ l ại đi tìm chỗ khác có điều kiệ n tốt hơn về dinh dưỡ ng của đ ất để phát triển sản xuất ph ục vụ c ho cuộc sống hàng ngày của họ. Việc thay đ ổi nơi sản xuất xảy ra ở những m ảnh ruộng, những khu rừ ng quanh nơi họ ở, khi tất cả nhữ ng khu quanh đ ấy đều cạn kiệt dinh dưỡ ng thì họ lại chuyển cả nhà cử a đến định cư ở một nơi mới. Tùy theo kh ả năng ph ục hồi dinh dưỡ ng của đất nhanh hay ch ậm mà người ta có thể quay về những nơi c ũ. Thườ ng xảy ra ở nh ững nơi đ ất dốc, rừng núi có mật độ dân cư thưa thớt. Nếu mật độ dân cư thưa, chu kỳ c ủa du canh dài hơn, ngược lại thì chu k ỳ sẽ ng ắn hơn, biểu hiện sự r ất khác nhau của mỗi vùng. Do tình trạng du canh như vậy mà người nông dân ít quan tâm đến việc phục hồi trả lại dinh dưỡ ng cho đ ất và cũng không có biện pháp b ảo vệ đ ất, nên thườ ng làm đ ất bị thoái hóa. Nạn phá rừ ng hiện nay xảy ra ở các nước trên thế giới c ũng như nước ta chính là h ậu quả c ủa nền nông nghiệp du canh. 19
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2