
• GEN VÀ GENOME CỦA SINH VẬT

HAI HỆ THỐNG SINH VẬT
• Dựa trên cơ sở cấu trúc và thành phần tế bào:
– Sinh vật tiền nhân (Prokaryote) đại diện là các vi
khuẩn (Bacteria) và tảo lam (Cyanobacteria);
– Sinh vật nhân chuẩn (Eukaryote).

PROKARYOTE
• Chưa có nhân hoàn chỉnh
• Không có phần lớn các bào quan và
màng nhân, có vùng tương tự nhân gọi
là nucleoid;
• Bộ gen gồm DNA cấu trúc sơ khai và
cuộn với protein histone gọi là nhiễm
sắc thể sơ khai.
• Prokaryote phân chia tế bào theo kiểu phân đôi, không
có trung thể, không hình thành sợi tơ vô sắc và không có
ty thể.
• DNA vòng nhỏ gọi là plasmid;
• Các yêú tố di truyền ngoài nhiễm sắc khác.

EUKARYOTE
• Cấu trúc nhân hoàn chỉnh với màng nhân kép bao quanh,
thỉnh thoảng bên trên có chứa các lỗ nhân.
• Hệ thống màng phức tạp, chứa mạng lưới nội chất (nhẵn
và hạt), bộ máy Golgi, lysosome, ty thể và lục lạp (ở sinh vật
quang hợp).
• Nhiễm sắc thể của eukaryote thẳng, có cấu trúc phức tạp
giữa DNA, RNA và các protein histone.

• Gene di truyền
– Thời Mendel (1865), gen là yếu tố quyết định
sự hình thành và phát triển một tính trạng bên
ngoài. Có thể nói mỗi gen Mendel là một
nhiễm sắc thể
– Morgan (1926) cho rằng: không phải
một gen mà nhiều gen cùng nằm trên
một nhiễm sắc thể và là các đơn vị
không thể chia nhỏ hơn được nữa.
– Theo giả thuyết ”một gen – một enzym” của G.Beadle và E.Tatum
(1940) cho rằng mỗi gen quyết định sự tồn tại và hoạt tính của một
enzym.

